Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, đóng vai trònhư là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vicủa từng bộ phận cho nhà
Trang 1NGÔ THỊ DIỆU THÚY
XÂY DỰNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC
BẦU TRỜI XANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2NGÔ THỊ DIỆU THÚY
XÂY DỰNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC
BẦU TRỜI XANH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN ANH HOA
Tp Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3viên Hướng dẫn khoa học TS Trần Anh Hoa Số liệu sử dụng trong luận văn làtrung thực Những kết quả của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ côngtrình nào.
Tác giả luận văn
Ngô Thị Diệu Thúy
Trang 4Lời cam đoan
Mục Lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục sơ đồ
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
2 Tổng quan các nghiên cứu trước
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa thực tiễn thực hiện đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1 Tổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm
1.2 Vai trò, chức năng đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
1.3 Các bộ phận cấu thành kế toán trách nhiệm
Trang 51.3.3.2 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt
1.3.3.3 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt
1.3.3.4 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt
động của trung tâm đầu tư 22 1.3.4 Báo cáo kế toán trách nhiệm 25 1.3.4.1 Mục tiêu, đặc điểm và yêu cầu của báo cáo kế toán trách
nhiệm 26
1.4 Đặc điểm của ngành giáo dục chi phối đến công tác xây dựng kế toán trách
nhiệm 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC BẦU TRỜI XANH 37
2.1 Giới thiệu tổng quan về công ty tình hình hoạt động tổ chức 37
2.1.1 Tổng quan về Công Ty 37
2.1.2 Quá trình hình thành và Phát triển 37
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý công ty 41
2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán công ty 46
2.1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán tài chính 46
2.1.4.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán 47
2.1.4.3 Đặc điểm phần mềm Misa 48
Trang 62.2.2 Hệ thống dự toán tại công ty 54
2.2.2.1 Kế hoạch thu học phí và dự toán chi phí hoạt động tại trường 54
2.2.2.2 Dự toán chi phí của các phòng ban công ty 60
2.2.3 Đo lường và đánh giá thành quả hoạt động của công ty 62
2.2.3.1 Đo lường thành quả hoạt động các trường 62
2.2.3.2 Đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh và quản lý của công ty 68
2.3 Đánh giá thực trạng việc tổ chức công tác đánh giá thanh quả hoạt động tại Công ty Cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh 68
2.3.1 Đánh giá về phân cấp quản lý 68
2.3.2 Đánh giá về hệ thống dự toán 69
2.3.3 Đánh giá về công tác đo lường đánh giá thành quả hoạt động của công ty 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC BẦU TRỜI XANH 71
3.1 Các quan điểm định hướng xây dựng kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh 71
3.1.1 Phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý của công ty 71
3.1.2 Phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý 71
3.1.3 Tính thống nhất giữa BCTN với báo cáo chung công ty 72
3.1.4 Phù hợp và hài hòa giữa chi phí lợi nhuận 72
3.2 Xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty 73
3.2.1 Phân cấp quản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm 73
3.2.1.1 Trung tâm chi phí 75
Trang 73.2.2 Xác định các chỉ tiêu đánh giá thành quả hoạt động kinh doanh và
thành quả quản lý cho từng trung tâm trách nhiệm cụ thể 79
3.2.2.1 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm chi phí 79 3.2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu 80 3.2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm lợi nhuận 80 3.2.2.4 Chỉ tiêu đánh giá trung tâm đầu tư 80 3.2.3 Xây dựng hệ thống báo cáo trách nhiệm tương ứng với từng trung tâm trách nhiệm 82
3.2.3.1 Hệ thống báo cáo trung tâm chi phí 82 3.2.3.2 Hệ thống báo cáo trung tâm doanh thu 89 3.2.3.3 Hệ thống báo cáo trung tâm lợi nhuận 92 3.2.3.4 Hệ thống báo cáo trung tâm đầu tư 95 3.3 Các giải hỗ trợ xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần giáo dục bầu trời xanh 96
3.3.1 Hoàn thiện quá trình lập dự toán 96
3.3.2 Thu thập thông tin kế toán gắn với trung tâm trách nhiệm 97
3.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng nhân viên 99
3.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phân tích và xử lý kịp thời các thông tin 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
Danh mục tài liệu tham khảo
I.Danh mục tài liệu tham khảo tiếng Việt
Phụ lục 1
Trang 8BCTN: Báo cáo trách nhiệm
DN: Doanh nghiệp
EVA: Economic value added (Giá trị kinh tế tăng thêm)HARV: Blue Sky HARV
HĐKD: Hoạt động kinh doanh
HP: Blue Sky Hưng Phát
RI: Residual Income (LN còn lại)
ROI: Return on Investment (Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư)
SU: Blue Sky Sunview
TTTN: trung tâm trách nhiệm
TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn
TH: Thực hiện
Trang 9Bảng 1.3 Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu 32
Bảng 1.4 Báo cáo trách nhiệm trung tâm lợi nhuận 33
Bảng 1.5 Trách nhiệm báo cáo của các trung tâm đầu tư 33
Bảng 2.1 Tổng hợp báo cáo tài chính năm 2014, 2015 và 2016 40
Bảng 2.2 Danh sách khảo sát 49
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả khảo sát việc tổ chức kế toán trách nhiệm tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh 53
Bảng 2.4 Bảng học phí dự toán trường 58
Bảng 2.5 Đề xuất chi phí hoạt động trường 59
Bảng 2.6 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động Phòng học vụ 60
Bảng 2.7 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động phòng nhân sự 61
Bảng 2.8 Kế hoạch dự trù kinh phí hoạt động phòng dự án 62
Bảng 2.9 Báo cáo hoạt động trường 63
Bảng 2.10 Báo cáo hoạt động toàn công ty 65
Bảng 2.11 Báo cáo so sánh hoạt động thực tế giữa các trường 67
Bảng 3.1 Bảng chỉ tiêu đánh giá đối với từng trung tâm trách nhiệm 82
Bảng 3.2 Bảng chi tiết chi phí theo khoản mục 85
Bảng 3.3 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí các phòng ban công ty 86
Bảng 3.4 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí các trường 88
Bảng 3.5 Báo cáo thực hiện kế hoạch chi phí toàn công ty 89
Bảng 3.6 Báo cáo thực hiện kế hoạch doanh thu 91
Bảng 3.7 Báo cáo phân tích quan hệ chi phí doanh thu 92
Bảng 3.8 Báo cáo kế hoạch thực hiện lợi nhuận tại các trường 93
Bảng 3.9 Báo cáo thực hiện kế hoạch lợi nhuận toàn công ty 94
Bảng 3.10 Báo cáo trách nhiệm trung tâm đầu tư 95
Bảng 3.11 Bảng mã hóa tài khoản kế toán 98
Trang 10Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức các trường 44
Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức kế toán 46
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ trung tâm trách nhiệm 74
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ trung tâm chi phí 76
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ trung tâm doanh thu 77
Sơ đồ 3.4 Sơ đồ trung tâm lợi nhuận 78
Sơ đồ 3.5 Sơ đồ trung tâm đầu tư 79
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nghiệp trong nềnkinh tế luôn phải đối phó với những cạnh tranh ngày càng gay gắt Làm sao để tồntại và phát triển luôn là câu hỏi mà các nhà quản trị đặt ra Ngoài việc đổi mới mẫu
mã sản phẩm, công nghệ sản xuất, phát triển thị trường thì các doanh nghiệp cũngphải đổi mới trong cách tổ chức quản lý doanh nghiệp Sự phát triển nhanh của côngnghệ thông tin làm cho những yêu cầu của khách hàng ngày càng cao, dẫn đến vòngđời sản phẩm cũng bị rút ngắn lại, vì thế các doanh nghiệp phải không ngừng đổimới toàn diện để đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng Để có được nhữngquyết định đúng đắn thì nhu cầu thông tin đóng vai trò rất quan trọng Trong môitrường kinh tế phát triển và nhiều biến động như vậy thì công tác kế toán mà đặcbiệt là kế toán quản trị đóng một vài trò hết sức to lớn vì đây là một trong nhữngcông cụ cung cấp thông tin hữu hiệu cho các nhà quản trị trong việc ra quyết định
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị, đóng vai trònhư là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vicủa từng bộ phận cho nhà quản trị, nhằm đưa ra các tiêu chí đánh giá kết quả công việccủa mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong tổ chức, đây là công cụ quản lý kinh tế tài chính cóvai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp Thông qua các báo cáo của nhà quản trị sẽ thấy được những hạn chế còn tồnđọng trong hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp, đồng thời cũng cho thấynhững tác động của các quyết định ảnh hưởng đến doanh nghiệp như thế nào, từ đó sẽđưa ra được quyết định phù hợp nhất với tình hình của doanh nghiệp
Được thành lập từ cuối năm 2013, Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh
là một công ty chuyên về giáo dục mầm non với quy mô vừa và nhỏ, qua bốn năm hoạtđộng công ty ngày càng phát triển nhanh chóng, cơ cấu công ty không ngừng được thayđổi để phù hợp với quy mô cũng như định hướng phát triển, các cấp quản lý, các bộphận đã được tổ chức hoạt động.Tuy nhiên, công tác quản lý chưa hữu hiệu dẫn đến các
hệ thống thông tin trong công ty còn nhiều hạn chế, việc kiểm soát cung
Trang 12cấp thông tin chưa thật sự hiệu quả Phân quyền chưa rõ ràng dẫn đến tránh né tráchnhiệm, vì vậy đặt ra yêu cầu cần có một công cụ quản trị đánh giá trách nhiệm quảntrị, đánh giá trách nhiệm của mỗi cá nhân mỗi bộ phận trong tổ chức giúp các nhàquản trị làm rõ được nguyên nhân yếu kém của doanh nghiệp là do bộ phận nào, cánhân nào.
Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán trách nhiệm tác động đến tổ
chức, từ hoạt động thực tế kế toán tại doanh nghiệp tác giả thực hiện đề tài “Xây
dựng kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần Giáo dục Bầu Trời Xanh” làm
đề tài nghiên cứu nhằm giúp doanh nghiệp có thể vận dụng kế toán trách nhiệm vào
hoạt động quản lý thực tiễn, đáp ứng tốt hơn trong việc cung cấp thông tin đến nhàquản trị, cung cấp một công cụ điều hành hoạt động kinh doanh một cách tốt nhất
2 Tổng quan các nghiên cứu trước
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về kế toán trách nhiệm,KTTN được đề cập đầu tiên năm 1950 Từ đó đến nay, vấn đề về KTTN được quantâm nhiều hơn với những quan điểm khác nhau, bởi những tác giả khác nhau
- Rehana Fowzia (2011) Use of Responsibility Accounting and Measure the
satisfaction levels of service organizations in Bangladesh, International Review of
Buisiness Research Papers Vol 7 No 5 September 2011, Pp.53-67; đây là một nghiêncứu tại Bangladesh về các loại của kế toán trách nhiệm đang được sử dụng trong ngànhcác ngành dịch vụ và cũng tập trung vào đánh giá mức độ hài lòng của hệ thống kế toántrách nhiệm Tác giả sử dụng phương pháp định lượng thông qua khảo sát 88 tổ chứcdịch vụ từ tháng 7 đến tháng 9/2010, trong đó có 25 ngân hàng, 15 công ty cho vay, 20
tổ chức phi chính phủ, 20 công ty bảo hiểm và 8 công ty khác (khách sạn, bệnhviện…) Kết quả cho thấy các doanh nghiệp không chỉ sử dụng một loại mà sử dụngnhiều loại mô hình kế toán trách nhiệm Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự hài lòng của hệthống kế toán trách nhiệm tổng thể bị ảnh hưởng bởi sự hài lòng của phân công tráchnhiệm, kỹ thuật đo lường hiệu suất và hệ thống khen thưởng Tuy nhiên, hạn chế củanghiên cứu là chỉ tập trung vào những mô hình KTTN và loại hệ thống KTTN đã đượcxem xét, một hướng nghiên cứu mới có thể mở ra là xem
Trang 13xét đến các hoạt động của người quản lý và bằng cấp của họ có thể sẽ cho ra nhữngkết luận khác, và nghiên cứu này chỉ tập trung ở Bangladesh nên tính đại diệnkhông cao
- Công trình “Examining the Role of responsibility accounting in organization
structure” của tác giả Mojgan được công bố năm 2012 trên tạp chí “American
Academic & Scholarly Research” Tác giả cho rằng trong một tổ chức khi kinh doanhphát triển nhanh thì nhu cầu ủy quyền sẽ phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp Nếuquyền quản lý hoạt động chuyển từ nhà quản lý cấp cao xuống cho nhà quản lý cấptrrung, thì nhà quản lý cấp cao sẽ có nhiều thời gian tập trung vào kế hoạch chiếnlược của công ty Theo tác giả thì hệ thống báo cáo trách nhiệm tập hợp chi phí theotừng cấp độ trách nhiệm, có ba loại trung tâm trách nhiệm là trung tâm chi phí,trung tâm doanh thu và trung tâm đầu tư
matter?” của Philip Owino, John C Munene và Joseph M Ntayi được đăng
14/12/2016 Bài nghiên cứu thực hiện khảo sát vấn đề kế toán trách nhiệm tại cáctrường đại học công ở Uganda Nghiên cứu này được thiết kế sử dụng cả haiphương pháp định tính và định lượng, thực hiện khảo sát 256 quản lý tại năm trườngđại học Kết quả cho thấy tại các trường công có thực hiện hệ thống KTTN, chi phí
và doanh thu được quản lý bởi các phòng ban tương ứng Các trưởng bộ phận cóquyền quyết với ngân sách mà họ quản lý Nghiên cứu cũng cho thấy rằng kế toántrách nhiệm tuân theo các mô hình phân cấp trong trường đại học
Như vậy, nhìn chung thì kế toán trách nhiệm trên thế giới đã được nghiên cứu ởnhiều quốc gia ở nhiều góc độ khác nhau Trên các cơ sở nghiên cứu trên thế giới đềtài nghiên cứu kế thừa các lý luận về KTTN như là khái niệm, bản chất, vai trò củaKTTN trong tổ chức, cũng như mối quan hệ giữa KTTN và sự phân cấp trong tổchức, các công cụ sử dụng, nội dung của các trung tâm trách nhiệm Tại Việt Namcông tác xây dựng kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng ở cácdoanh nghiệp còn hạn chế Vì vậy việc xây dựng thực hiện KTTN tại các doanhnghiệp ở Việt Nam là hết sức cần thiết
Trang 14+ Trong nước
Đề tài “Tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển
viễn thông miền Tây” của Đặng Quang Sang (2013) – luận văn thạc sĩ kinh tế trường
đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh: đề tài được thực hiện dựa trên quan điểm duy vậtlịch sử, thông qua phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, phân tích hệ thống và tổnghợp để đánh giá thực trạng quản lý tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển viễn thôngmiền Tây, từ đó nêu ra được những vấn đề còn bất cập từ đó làm nổi bật lên nhu cầucần xây dựng kế toán trách nhiệm của doanh nghiệp, đồng thời đề ra được cách thứcxây dựng kế toán trách nhiệm phù hợp với cách thức tổ chức của doanh nghiệp
Đề tài “Vận dụng KTTN trong trường đại học” của Thái Anh Tuấn đượcđăng trên Tạp Chí Tài Chính số thứ 3 năm 2014 Nội dung nghiên cứu trình bày cácquan điểm về KTTN, nêu lên tầm quan trọng và những lợi ích khi vận dụng KTTNvào các trường đại học, cũng như cách thức để vận dụng KTTN vào các trường đạihọc, tác giả tập trung nhấn mạnh vào trung tâm chi phí như sau: (1) Xác định cáctrung tâm chi phí của trường học; (2) xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâmchi phí; (3) Phương pháp đánh giá trung tâm chi phí
Đề tài “Xây dựng Kế toán trách nhiệm cho các trường trung cấp, cao đẳng
công lập thuộc sở giáo dục và đào tạo TP Hồ Chí Minh” của Triệu Mộng Lan (2014)
– luận văn thạc sĩ kinh tế trường đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh: đề tài là nghiêncứu ứng dụng, dựa trên nên tảng là để ứng dụng thực tế, phương pháp luận duy luậtbiển chứng tập trung nghiên cứu và xây dựng kế toán trách nhiệm cho các cơ sởgiáo dục như trường Trung Cấp, Cao đẳng công lập trực thuộc sở Giáo Dục và Đàotạo TP Hồ Chí Minh Đề tài đã đưa ra được các nhận định nhu cầu thông tin, sự cầnthiết của trung tâm trách nhiệm, nhằm đề ra các giải pháp xây dựng kế toán tráchnhiệm một cách phù hợp với môi trường giáo dục
Đề tài “Xây dựng Kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần chế biến xuất nhập
khẩu thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu” của Nguyễn Thị Hồng Ngân (2015) – luận văn
thạc sĩ kinh tế trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh: đề tài tập trung trình bày về đặc
điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tổ chức công tác kế toán
Trang 15đánh giá trách nhiệm quản lý của các bộ phận trong công ty để từ đó đề ra các giảipháp nhằm xây dựng kế toán trách nhiệm cho công ty.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các lý thuyết về kế toán trách nhiệm đã được
đề cập rất nhiều, vận dụng những kiến thức trên vào mỗi doanh nghiệp là khácnhau Các nghiên cứu thường tập trung vào các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là là cáctập đoàn, các công ty sản xuất, trên thế giới đã có những nghiên cứu đính tính, địnhlượng về các mô hình KTTN từ doanh nghiệp đến các trường đại học Nhữngnghiên cứu về trường tư nhân còn hạn chế, đặc biệt là ngành giáo dục mầm non vẫnchưa được nghiên cứu Trong khi công ty ngày càng phát triển, yêu cầu về tổ chức
bộ máy quản lý, phân công trách nhiệm là nhu cầu cấp thiết của công ty đặt ra, cần
có giải pháp thực hiện ngay Từ những vấn đề trên tác giả nhận thấy đề tài “Xâydựng hệ thống kế toán trách nhiệm của công ty Cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh”càng cần phải thực hiện ngay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài: Tìm hiểu về kế toán trách nhiệm và đánh giá thựctrạng công tác đánh giá đo lường thành quả hoạt động của các bộ phận và đánh giátrách nhiệm quản lý tại Công ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh từ đó đề xuấtnhững giải pháp phương hương nhằm xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tạidoanh nghiệp
Đề tài tập trung vào ba mục tiêu cụ thể như sau:
quả hoạt động tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục bầu Trời Xanh thông qua việc mô tảcác đặc điểm, cơ cấu tổ chức, trách nhiệm quản lý của các bộ phận đối với mục tiêuchung của tổ chức, từ đó đưa ra được những đặc thù của doanh nghiệp hoạt độngngành giáo dục, rút ra được những ưu điểm và hạn chế của hệ thống cần khắc phục
nhiệm tại công ty Cổ Phần Giáo dục bầu Trời Xanh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 16Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Xây dựng kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần Giáo Dục BầuTrười Xanh” tập trung vào nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán trách nhiệm củaCông ty cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh, một công ty hoạt động trong lĩnh vựcdịch vụ giáo dục
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về kế toán quản trị, trong đó tập trung nghiên cứu về kế toántrách nhiệm Đề tài khảo sát thực tiễn công tác đánh giá hiệu quả đo lường thànhquả hoạt động và trách nhiệm quản lý tại Công Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu TrờiXanh Số liệu sử dụng trong đề tài là từ năm 2014 -2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nghiên cứu định tính Thông qua các phương phápthống kê, phương pháp logic, phương pháp phân tích, so sánh, khảo sát để đạt đượccác mục tiêu nghiên cứu
Nền tảng lý thuyết về kế toán trách nhiệm được hệ thống hóa bằng phươngpháp thu thập, thống kê các quan điểm lý luận của nhiều tác giả trong và ngoàinước Dùng pháp pháp thu thập, phân tích khảo sát, phương pháp so sánh tổng hợpcác số liệu, báo cáo thực tế tại công ty cổ phần giáo dục Bầu Trời Xanh làm căn cứ
đo lường đánh giá thành quả hoạt động của công ty
6 Ý nghĩa thực tiễn đề tài
Đề tài tập trung việc đánh giá về tình hình cụ thể tại Công ty cổ phần giáodục Bầu Trời Xanh, để từ đó đề xuất những ý kiến xây dựng hệ thống kế toán tráchnhiệm phù hợp với đặc thù của công ty, đồng thời cung cấp các thông tin một cáchđầy đủ cho nhà quản trị công ty, hướng đến việc sử dụng kế toán trung tâm tráchnhiệm một cách hiệu quả
Bên cạnh đó, đề tài sẽ góp phần tích cực trong việc xây dựng hệ thống kế toántrách nhiệm cho các doanh nghiệp khác trong cùng ngành hệ thống trường mầm non
BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bố cục của đề tài bao gồm 3 chương
Trang 17Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm
Chương 2: Thực trạng việc tổ chức công tác đánh giá thành quả hoạt động tại Công
Ty Cổ Phần Giáo Dục Bầu Trời Xanh
Chương 3: Giải pháp xây dựng trung tâm kế toán trách nhiệm tại công ty Cổ Phần
Giáo Dục Bầu Trời Xanh
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM
1.1 Tổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm
1.1.1 Các quan niệm về kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm là một phần của kế toán quản trị, sự hình thành của kế toántrách nhiệm gắn liền với sự hình thành của kế toán quản trị Kế toán trách nhiệm được
đề cập đầu tiên ở Mỹ vào năm 1950 trong tác phẩm “Basic Organizational Planning totie in with Responsibility Accounting” của Ailman, H.B.1950 Từ đó đến nay, vấn đềKTTN được quan tâm nhiều vơi những quan điểm khác nhau, bởi những tác giả khácnhau ở nhiều quốc gia trên thế giới như Atkinson; R.D Banker; R.S Kaplan; S.M.Young; James R Martin Các quan điểm nổi bật của kế toán trách nhiệm
Quan điểm 1: Kế toán trách nhiệm để kiểm soát chi phí (Thái Anh Tuấn, 2014) Từ
năm 1952 John A Higgins đã nghiên cứu về KTTN là công cụ để kiểm soát chiphí và đánh giá kết quả hoạt động cho từng cá nhân, xác định trách nhiệm của ngườiđứng đầu tổ chức Hệ thống kiểm soát này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lýtrong đơn vị Đến năm 1997, nhóm tác giả Anthony A Athinson, Rajiv.D Banker,Robert S và S Mark Young quan điểm KTTN là một bộ phận của hệ thống kế toán
có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các thông tin liên quan đến trách nhiệmcủa nhà quản lý các cấp trong tổ chức Qua đó để cung cấp các thông tin liên quanđến chi phí, thu thập, kết quả hoạt động của từng bộ phận mà họ có trách nhiệmkiểm soát
Tính kiểm soát trong KTTN còn được hai tác giả Prof.B Venkat Rathnam vàProf.K Raji Reddy thể hiện qua khái niệm về KTTN: KTTN là một hệ thống kiểmsoát của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền, phê chuẩn vàxác định trách nhiệm Sự ủy quyền được giao đến từng trung tâm trách nhiệm, nhàquản lý phải chịu trách nhiệm theo từng phân khu, các phân khu này có thể là các bộphận, chi phí hay phòng ban…
Mục đích chính của KTTN là quá trình kiểm soát của nhà quản lý đối với bộ phậnmình Theo nhóm tác giả Jerry J Weygandt, Paul D Kimmel Donald E Kieso (2008),
kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, nó liên quan đến
Trang 19việc tích lũy, báo cáo về thu thập và chi phí, trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ranhững quyết định trong hoạt động hàng ngày và các vấn đề đó Chỉ cần thông quaviệc kiểm soát chi phí, nhà quản lý có thể điều hành tổ chức một cách hiệu quả.
Quan điểm 2: Kế toán trách nhiệm đề cao vai trò của các trung tâm trách nhiệm
(Thái Anh Tuấn, 2014)
James R Martin định nghĩa: “KTTN là hệ thống kế toán cung cấp thông tin vàkết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong tổ chức Đó là công
cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận,doanh thu và chi phí mà mỗi bộ phận đều có quyền và trách nhiệm riêng biệt” Vớiquan điểm này, tác giả đã dựa trên cơ sở phân chia tổ chức thành những trung tâmtrách nhiệm, các bộ phận được giao quyền để thực hiện một phần hay toàn bộ côngviệc nào đó Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên sự phân cấp và đòi hỏi cấp trênphải theo dõi và đánh giá kết quả của cấp dưới
Nhóm tác giả Clive R Emmanuel, David T Otley, Kenneth A Merchant đã cóquan điểm về KTTN như sau: KTTN là việc thu thập và báo cáo những thông tin tàichính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức Theo quan điểm này KTTNđược xem xét chi phí, thu nhập, lợi nhuận đến những người chịu trách nhiệm về cácchỉ tiêu đó, KTTN phù hợp với các tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiệnchuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp dưới
Quan điểm 3: Kế toán trách nhiệm nhấn mạnh kiểm soát chi phí và đề cao vài trò của các trung tâm trách nhiệm (Thái Anh Tuấn, 2014)
Ngoài tính kiểm soát của KTTN các tác giả còn đề cập đến các trung tâm tráchnhiệm, sự phân cấp trong quản lý và các chỉ tiêu chi phí, doanh thu và lợi nhuận.Charles T Hongreen định nghĩa: “KTTN là hệ thống kế toán được nhìn nhận qua cáctrung tâm trách nhiệm khác nhau trong toàn bộ tổ chức và phản ánh các kết quả hoạtđộng của mỗi trung tâm này bằng các chỉ tiêu khác nhau về doanh thu và chi phí” Mộtquan điểm khác nhau của nhóm tác giả David F Hawkins, Jacob Cohen, MicheleJurgens, V.G Naryanan cho rằng KTTN không chỉ được đề cập đến các trung tâm tráchnhiệm ở góc độ về chi phí, thu nhập hay tính kiểm soát mà KTTN còn được là
Trang 20một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính về những hoạt độngthực tế và lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một đơn vị Trungtâm trách nhiệm là những đơn vị thuộc tổ chức mà người đứng đầu chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động của đơn vị đó
Như vậy mỗi quan điểm của các nhà khoa học, KTTN được nhìn nhận khai thác
ở các khía cạnh khác nhau Song sự khác nhau không mang tính đối nghịch mà nhìnchung bổ trợ cho nhau tạo nên một cái nhìn toàn diện về KTTN (Thái Anh Tuấn,2014)
1.1.2 Khái niệm kế toán trách nhiệm
Anthony A Atikinson, Rajive D.Banker, Robert S.Kaplan and S.mark Young
(2001) chapter 12, Responsibity Accounting in Managerment Accounting; Theo
nhóm tác giả thì KTTN là:
Một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kếtoán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổchức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí, thu thập và các số liệu hoạt độngbởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức
Một hệ thống cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗinhà quản lý, chủ yếu ở khía cạnh thu thập và những khoản chi phí mà họ có quyềnkiểm soát đầu tiên (quyền gây ảnh hưởng)
Một hệ thống tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát vàkhông thể kiểm soát đối với một cấp quản lý Theo đó, những đối tượng có thể kiểmsoát và không thể kiểm soát cần được phân tách rõ ràng và sự nhận diện những đốitượng cụ thể kiểm soát được là một nhiệm vụ cơ bản trong kế toán trách nhiệm vàbáo cáo trách nhiệm
Một vài yêu cầu cơ bản cũng như cơ cấu của trung tâm trách nhiệm bao gồm 4 phần:trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuân, và trung tâm đàu tư.Theo James R Martin, “Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin
về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, đơn vị trong một DN Đó là công cụ đolường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận,
Trang 21doanh thu và chi phí mà mỗi bộ phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tươngứng”
Theo nhóm tác giả David F Hawkins, V.G Narayanan, Jacob Cohen, MicheleJurgens, thì KTTN là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính
có liên quan, về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâmtrách nhiệm trong một công ty – những đơn vị trong tổ chức được đứng đầu bởinhững nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý.Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về KTTN, tuy nhiên có thể thấy rằng sựkhác nhau này được thể hiện dựa trên cách nhìn nhận của mỗi tác giả về đặc điểm, ýnghĩa và cơ chế tổ chức KTTN ở DN Từ những quan điểm trên, KTTN có thể đượcđịnh nghĩa như sau:
Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thểkiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêuchung của tổ chức Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin
về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư… mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đưa racác quyết định tác động lên nó Thông tin có thể kiểm soát cụ thể đối với từng nhàquản trị phụ thuộc vào trách nhiệm quản lý của nhà quản trị đó (Phạm Văn Dược vàcộng sự, 2010, trang 7-8)
1.2 Vai trò, chức năng đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
1.2.1 Vai trò
Trong một doanh nghiệp, muốn điều hành quá trình hoạt động SXKD được hiệu quảnhà quản trị cần xác lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch và triển khai việc thực hiện mụctiêu của mình Trong quá trình hoạt động, nhà quản trị phải không ngừng kiểm tra, đônđốc và đánh giá việc thực hiện mục tiêu chung của các cấp thừa hành, thông qua việcphân tích, tính toán hiệu quả của từng hoạt động, từng khâu, từng sản phẩm
Với yêu cầu đó, hệ thống KTNN được thiết lập để ghi nhận, đo lường kết quả hoạtđộng của từng bộ phận trong một tổ chức, nhằm giúp các nhà quản lý kiểm soát đượchoạt động và chi phí của họ, đồng thời qua đó đánh giá được trách nhiệm của nhà quảntrị ở từng cấp độ quản lý khác nhau Do vậy, KTTN được thực hiện trên nguyên
Trang 22tắc là nó tập hợp và báo cáo những thông tin kế toán thực tế và được dự toán về cácđầu vào, đầu ra của các trung tâm trách nhiệm.
KTTN được thực hiện dựa trên những thông tin có liên quan đến các đầu vào vàđầu ra Những nguồn lực được sử dụng được gọi là đầu vào Những nguồn lực được
sử dụng, bởi một tổ chức về cơ bản là có bản chất tự nhiên, vật chất, như số lượngnguyên liệu được tiêu dùng, số lượng lao động… Với sự kiểm soát mang tính quản
lý, những nguồn lực vật chất mang tính hỗn tạp này được biểu hiện dưới dạngnhững đơn vị tiền tệ, và được gọi là chi phí Do vậy, các đầu vào được biểu hiệndưới dạng chi phí Một cách hoàn toàn tương tự, các đầu vào được đo lường theonhững đơn vị tiền tệ dưới tên gọi “thu nhập” Nói cách khác, KTTN được dựa trên
dữ liệu chi phí và thu nhập của từng trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức PhạmVăn Dược (2010, trang 8-9)
1.2.2 Chức năng kế toán trách nhiệm
KTTN là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trungtâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, KTTN làmột “công cụ” để do lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức,qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản lýkhác nhau Chức năng của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn
bộ tổ chức
KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động củanhững nhà quản lý bộ phận
KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do
đó, nó ảnh hưởng đến cách thực hiện hành vi của các nhà quản lý này
KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theophương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn bộ tổ chức
1.2.3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
Thông tin KTTN là một bộ phận thông tin quan trọng của KTQT, và do vậy đốitượng sử dụng thông tin KTTN cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp
Trang 23cao, nhằm đánh giá trách nhiệm quả trị của từng bộ phận cấu thành từng cấp quản lý
cụ thể
Đối với nhà quản trị cấp cao
KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hànhdoanh nghiệp KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể
hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá.KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp
Đối với nhà quản trị cấp trung
KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính vàkiểm soát quản lý Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích đánh giá chi phí,doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận Báo cáo trách nhiệm phản hồicho người quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn
đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lược mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh
là tốt nhất Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng caohiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng làtối đa lợi nhuận
Đối với nhà quản trị cấp thấp
KTTN khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức Mụctiêu chiến lược của DN được gắn với các trung tâm trách nhiệm Khi KTTN có thểkiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý, sẽ điều chỉnh hoạt độnghướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp Đồng thời, bản thân các giám đốctrung tâm trách nhiệm được khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơbản của toàn doanh nghiệp
Tóm lại, một nhà quản trị chịu trách nhiệm cho hiệu quả hoạt động của bộ phận
do mình quản lý thì họ sẽ cần thông tin về hoạt động đó Về cơ bản, dù ở cấp quảntrị nào, nhà quản lý cũng cần ba loại thông tin KTTN có thể cung cấp như sau:Nguồn gốc của bộ phận: đó là các thông tin về tài chính, nguyên vật liệu nhânlực, máy móc, thời gian yêu cầu hoàn thành công việc
Trang 24Mức độ tiêu hao của các nguồn lực đó là thông tin về mức độ nhanh chóng, thuầnthục của công nhân, mức độ phát sinh các chi phí, mức độ tận dụng nguyên vật liệuCác nguồn lực được sử dụng như thế nào đó là thông tin về mức độ hoàn thànhcông việc
1.3 Các bộ phận cấu thành kế toán trách nhiệm
Từ các vấn đề khái quát chung về KTTN, có thể xác định rằng các nội dung cơbản để thực hiện hệ thống KTTN bao gồm những vấn đề cụ thể sau: (1) Phân cấpquản lý và xác định các trung tâm trách nhiệm; (2) Xác định các chỉ tiêu được sửdụng đề đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận; (3) Xác định trách nhiệm báo cáocủa từng trung tâm trách nhiệm
1.3.1 Sự phân cấp quản lý
KTTN là công việc được thực hiện không thể tách rời các trung tâm trách nhiệm.Các trung tâm náy được hình thành thông qua việc phân cấp quản lý Theo đó, để thựchiện các chức năng quản lý của mình, người quản lý cấp cao phải thể hiện được đúngđắn quyền lực của mình, phải gây được ảnh hưởng và sức thuyết phục đối với nhânviên, đồng thời phải tiến hành phân cấp, ủy quyền cho cấp dưới nhằm giúp cấp dưới cóthể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ quản lý
Ưu điểm của sự phân cấp quản lý
Người quản lý có thể giảm bớt khối lượng công việc và san sẻ cho người khác, từ
đó có thể tiết kiệm thời gian làm việc của mình, và có thể tập trung vào thực hiệncác mục tiêu và chỉ tiêu lớn hơn cho DN như đầu tư thời gian để đề ra những côngviệc mang tính chất chiến lược lâu dài
Nguồn thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời hơn, chính sự phân quyền trongquản lý mà các bộ phận có thể chủ động trong tiếp cận các thông tin và phản hồinhanh chóng
Tạo môi trường thuận lợi phát triển những nhà quản lý cấp thấp hơn Nhà quản lý
có thể đánh giá nhân viên tốt và đào tạo lớp quản lý mới để kế thừa Cấp dưới có thểtập trung học tập, rèn luyện, nâng cao nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm khi thực hiệncác công việc quyết định của mình
Trang 25Cơ cấu tổ chức được thiết lập phù hợp với môi trường hoạt động hơn Bởi nếucác lĩnh vực kinh doanh đa dạng, quy mô kinh doanh lớn, thị trường và thị phần mởrộng, thì nhất thiết có nhiều nhân sự quan trọng cùng gánh vác trách nhiệm vàngược lại Các bộ phận trong cơ cấu tổ chức có thể điều chỉnh để thích nghi với môitrường kinh doanh một phần là nhờ vào việc phân cấp đó
Khuyến khích nhân nhiên nỗ lực với trách nhiệm được giao hơn, từ đó góp phầnhoàn thành mục tiêu chung của toàn DN Khi kết quả thực hiện của mỗi bộ phận,mỗi con người trong tổ chức được xác định và thừa nhận một cách rõ ràng sẽkhuyến khích họ làm việc tốt hơn Bên cạnh đó, tạo môi trường thi đua tích cực vàlành mạnh giữa các cá nhân, các đơn vị, và khuyến khích họ đạt được các chỉ tiêucủa từng bộ phận cũng như mục tiêu chung của toàn đơn vị
1.3.2 Trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một doanh nghiệp mà các nhà quảntrị của nó chịu trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của chính bộ phận do mìnhphụ trách Có 4 loại trung tâm trách nhiệm:
Trung tâm chi phí
Trung tâm doanh thu
Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm đầu tư
1.3.2.1 Trung tâm chi phí
Thành quả của các trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh
Trung tâm chi phí là một loại trung tâm trách nhiệm thể hiện phạm vi cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động như:
Lập dự toán chi phí
Phân loại chi phí thực tế phát sinh
So sánh chi phí thực tế với định mức chi phí tiêu chuẩn
Trung tâm chi phí gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo rasản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh (như phân xưởng sản xuất,
Trang 26các phòng ban chức năng) Theo đó, Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhàquản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận
đó, không có quyền với việc tiêu thụ và đầu tư vốn
Trung tâm chi phí được chia làm hai dạng
Trung tâm chi phí tiêu chuẩn: là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi phí và cácmức hao phí về các nguồn lực sử dụng để sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụđều được xây đựng định mức cụ thể Nhà quản trị trung tâm chi phí tiêu chuẩn cótrách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh, để vẫn đảm bảo kế hoạch sản xuấtcũng như đảm bảo kế hoạch chi phí cho từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ và tính chotoàn bộ Trung tâm chi phí tiêu chuẩn được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xácđịnh, đo lường một cách chắc chắn đầu ra, và có thể xác định được định mức cácđầu vào cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra đó Theo đó, nhà quản lý khôngchịu trách nhiệm về những biến động gây ra bởi các mức độ hoạt động cao hơn tiêuchuẩn trung tâm, mà chỉ chịu trách nhiệm về tính hiệu quả trong phạm vi hoạt độngcủa trung tâm Đối với trung tâm này thì hiệu suất được đo lường bởi mối liên hệgiữa đầu vào và đầu ra, còn tính hiệu quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạtđược sản lượng mong muốn tại những mức độ về chất lượng và thời gian đã định.Các trung tâm chi phí thường gắn với cấp quản trị cơ sở và có thể là các nhà máysản xuất, các phân xưởng sản xuất, và các tổ chức sản xuất…
Trung tâm chi phí dự toán: là trung tâm chi phí mà các yếu tố được dự toán và đánhgiá căn cứ trên nhiệm vụ được giao tính chung, không thể xác định cụ thể cho từng đơn
vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Nhà quản tri trung tâm chi phí này
có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực hiện nhiệm vụ được giao Đặc điểm của trungtâm chi phí này là các đầu ra không thể đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính, hoặckhông có sự liên hệ rõ ràng giữa các chi phí đã được sử dụng để tạo ra các kết quả đầu
ra tương ứng Các trung tâm này bao gồm phòng kế toán, phòng quản trị nhân sự - hànhchính, phòng nghiên cứu, và phát triển… Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thườngbằng cách so sánh chi phí giữa dự toán ngân sách đã định sẵn và thực tế thực hiện Tuynhiên, cách so sánh này chỉ cho các kết quả tương đối, nên cần phải
Trang 27kết hợp một số chỉ tiêu phi tài chính về mức độ và chất lượng của các dịch vụ mà cáctrung tâm cung cấp
1.3.2.2 Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền raquyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó, không chịu trách nhiệmvới lợi nhuận và vốn đầu tư Trung tâm doanh thu thường được gắn với bậc quản lýcấp trung hoặc cấp cơ sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chinhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm
Trên thực tế khi xác định chỉ tiêu đánh giá trung tâm doanh thu, cần xem xét giáthành sản phẩm để khuyến khích trung tâm này tạo ra lợi nhuận chứ không chi đơnthuần là tạo ra doanh thu Các quản lý bán hàng thường chiết khấu giảm giá hàngbán khi bán hàng số lượng lớn, hay thực hiện các chiến dịch quản cáo, khuyến mại.Các hoạt động này sẽ làm tăng doanh thu nhưng đều làm giản lợi nhuận mà DN chỉchấp nhận trong một thời gian kinh doanh có hạn Như vậy, trung tâm này có chínhsách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa trên giá thành,chi phí, và các mục tiêu lâu dài của công ty
1.3.2.3 Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuận là loại trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị phải chịu tráchnhiệm với kết quả sản xuất và tiêu thụ của trung tâm Trong trường hợp này nhàquản lý có thể ra quyết định loại sản phẩm nào cần sản xuất, sản xuất như thế nào,mức độ chất lượng, giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Nhà quản lý phải quyếtđịnh các nguồn lực sản xuất được phân bổ như thế nào giữa các sản phẩm, điều đócũng có nghĩa là họ phải đạt được sự cân bằng trong việc phối hợp giữa yếu tố giá
cả, sản lượng, chất lượng và chi phí
Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung, đó làgiám đốc điều hành công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như công typhụ thuộc, các chi nhánh… Nếu nhà quản lý không có quyền quyết định mức độđầu tư tại trung tâm của họ, thì tiêu chí lợi nhuận được xem là tiêu chí thích hợpnhất để đánh giá kết quả thực hiện trung tâm này
Trang 281.3.2.4 Trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền ra quyếtđịnh đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó Đây là loại trung tâm tráchnhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như Hội Đồng quản trị công ty, các công ty độclập, … Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận, trong đó khả năng sinhlời được gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâmtrách nhiệm được xem là một trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đókhông những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn sử dụng đểtiến hành quá trình đó
Bằng cách tạo ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận
đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ rahay không Thông qua đó cũng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụnghiệu quả vốn lưu động, đặc biệt là các khoản phải thu và hàng tồn kho được sử dụngtại trung tâm
Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụngthước đo:
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
Lợi nhuận còn lại (RI)
Như vậy, các loại trung tâm trách nhiệm gắn liền với từng cấp quản trị trong tổchức Mỗi loại trung tâm trách nhiệm sẽ xác định trách nhiệm hoặc quyền kiểm soátđối với từng đối tượng cụ thể của nhà quản trị các cấp Trong thực tế, việc chọn lựamột trung tâm thích hợp nhất cho một đơn vị trong tổ chức là điều không dễ dàng
Cơ sở để xác đinh một bộ phận trong tổ chức là trung tâm loại gì, là căn cứ trên loạinguồn lực hoặc trách nhiệm mà nhà quản lý trung tâm trách nhiệm đó được giao
Do vậy, việc phân biệt rõ ràng loại trung tâm trách nhiệm cho các bộ phận, đơn vịtrong một tổ chức chỉ mang tính tương đối, và phụ thuộc vào quan điểm của nhàquản trị cấp cao nhất Trong thực tế, để có thể phân loại các bộ phận, đơn vị trong tổchức vào các trung tâm trách nhiệm hợp lý thì nên căn cứ vào nhiệm vụ chính của
bộ phận, đơn vị đó
Trang 291.3.3 Xác định các chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận
Để đo lường đánh giá các trung tâm trách nhiệm, có hai loại chỉ tiêu cơ bảnthường sử dụng lầ chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu kết quả là mức độcác trung tâm trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ đề ra, có thể là số tuyệt đối hay
số tương đối Ví dụ như nhà quản lý đặt ra doanh thu cần đạt cho trung tâm doanhthu, mức tỷ lệ hòa vốn của trung tâm lợi nhuận, mức thực hiện thực tế so với kếhoạch của mỗi bộ phận
Đối với chỉ tiêu hiệu quả, là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào củamột trung tâm trách nhiệm Nó cho thấy kết quả thực tế đạt được so với các nguồnlực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, tức xác định mức trung bình kết quả mang lạitrên mỗi đơn vị đầu vào Ví dụ như chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn, trên tài sản Ngượclại, tỷ lệ so sánh giữa đầu vào và đầu ra cho ta trung bình số lượng đầu vào tiêu haotrên mỗi đơn vị đầu ra và đầu vào cho ta trung bình số lượng đầu vào tiêu hao trênmỗi đơn vị đầu ra, như tỷ lệ chi phí trên mỗi sản phẩm làm được, chi phí vốn
Phương pháp đánh giá trách nhiệm quản trị bộ phận: Đánh giá trách nhiệm quảntrị của các cấp quản lý cũng như việc đo lường thành quả hoạt động của các trungtâm trách nhiệm, bằng cách lấy kết quả thực hiện của các trung tâm trách nhiệm, sosánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt hiệu quả và hiệu năng Dođầu ra và đầu vào của mỗi trung tâm trách nhiệm khác nhau, vì vậy các chỉ tiêu đolường cho từng loại trung tâm cũng khác nhau
1.3.3.1 Đánh giá thành quả quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm chi phí
Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm chiphí:
Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm chi phí được đánh giá quabáo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm chi phí riêng biệt
Thông tin đưa vào báo cáo thành quả để đánh giá thành quả của các nhà quản trị
ở trung tâm chi phí chỉ là chi phí có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở từngtrung tâm chi phí
Trang 30Cần được phân biệt làm hai dạng là trung tâm chi phí tiêu chuẩn và trung tâm chiphí dự toán Thông tin chủ yếu sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản trị ởtrung tâm chi phí, là chi phí có thể kiểm soát bởi từng nhà quản trị đối với bộ phận
do mình phụ trách Bằng phương pháp so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán(hay định mức), nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là thuận lợi, chênhlệch nào là bất lợi Chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênhlệch nào do thành quả kiểm soát chi phí mang lại
Nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinhdoanh ở trung tâm sao cho đạt được kế hoạch được giao, đồng thời đảm bảo chi phíthực tế phát sinh không vượt quá chi phí tiêu chuẩn (hoặc dự toán) Do vậy, khiđánh giá trách nhiệm quản trị cũng như đo lường kết quả hoạt động của loại trungtâm này, chúng ta cần đánh giá hai chỉ tiêu cơ bản sau:
Có hoàn thành nhiệm vụ được giao về sản lượng sản xuất kinh doanh hay không?Chi phí thực tế phát sinh có vượt quá định mức tiêu chuẩn (hoặc dự toán) haykhông? Trường hợp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh như chi phí thực tếvượt quá định mức (dự toán), thì sẽ tiến hành phân tích xác định nguyên nhân đểlàm cơ sở đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp độ một cách chính xác nhất
Bảng 1.1 Đánh giá trách nhiệm trung tâm chi phí
mức (hoặc dự toán)]
Trang 312 Kết quả âm [thực tế <địnhmức (hay dự toán)]
sở đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan, nhưđơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ
Do đầu ra của trung tâm doan thu được lượng hóa bằng tiền, nhưng đầu vào thìtrung tâm này không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm hay giá vốn hàng bán.Trong khi đó chi phí phát sinh tại trung tâm doanh thu thì không thể so sánh đượcvới doanh thu của trung tâm, vì vậy để đo lường hiệu năng hoạt động của trung tâmnày, chúng ta sẽ so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán của trung tâm
1.3.3.3 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm lợi nhuận
Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là tổ chức hoạt động kinhdoanh sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất Nhà quản trị trung tâm lợi nhuậnđược giao vốn và quyền quyết định trong việc sử dụng số vốn đó để tạo ra lợinhuận Do vậy, bên cạnh trách nhiệm phải tạo ra lợi nhuận cao, trung tâm lợi nhuậncòn có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh Chính vì lẽ đó, để đánh giá kết quảcủa trung tâm lợi nhuận, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận,giá bán và lượng bán
Trang 32Đối với chỉ tiêu lợi nhuận: cần xác định sai biệt giữa lợi nhuận thực hiện so vớilợi nhuận kế hoạch được giao cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối
Do lợi nhuận tạo ra trong kỳ của DN là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ chiphí phát sinh tương ứng tạo ra doanh thu đó, nên doanh thu và chi phí là hai nhân tố
có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Để đánh giá chính xác kết quả của trung tâmlợi nhuận, chúng ta cần xác định phạm vi chi phí mà nhà quản trị trung tâm có thểkiểm soát được, rồi áp dụng phương pháp phân tích biến động chi phí như phươngpháp áp dụng ở các trung tâm chi phí Riêng chỉ tiêu doanh thu, cần đánh giá ở cáckhía cạnh sau:
Trung tâm có đạt được mức tiêu thụ dự toán hay không?
Trung tâm có thực hiện giá bán đúng như dự toán hay không
Trung tâm có thực hiện cơ cấu hàng bán đúng như dự toán hay không (trườnghợp kinh doanh nhiều loại sản phẩm)
Khi đánh giá chênh lệch giữa doanh thu thực hiện so với doanh thu dự toán ta cầntiến hành phân tích xác định các nhân tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó xác định cácnguyên nhân chủ quan và khách quan làm biến động doanh thu
Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chỉ tiêu như số dư bộ phận, tỷ suất lợi nhuậntrên doanh thu; tỷ suất doanh thu trên chi phí, để đánh giá thành quả hoạt động củacác trung tâm lợi nhuận
1.3.3.4 Đánh giá trách nhiệm quản trị và đo lường kết quả hoạt động của trung tâm đầu tư:
Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợinhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việcđưa ra các quyết định ngắn hạn như xác định các cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phísản phẩm, … họ còn có quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định về vốn đầu tư củadoanh nghiệp Vì vậy về mặt hiệu quả hoạt động của trung tâm đầu tư có thể được
đo lường giống như trung tâm lợi nhuận, nhưng về hiệu năng hoạt động thì cần sosánh lợi nhuận đạt được với tài sản hay giá trị đã đầu tư vào trung tâm
Trang 33Các chỉ tiêu cơ bản có thể sử dụng để đánh giá hiệu năng hoạt động của trungtâm đầu tư như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI); Lãi thặng dư (RI); Giá trị thị trườngcủa tài sản doanh nghiệp
Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI)
Khái niệm về tỷ lệ hoàn vốn đầu tư: là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tư
đã bỏ ra, hay theo Du Pont thì ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanhthu nhân với vòng quay của vốn đầu tư
Mục tiêu sử dụng chỉ số tỷ lệ hoàn vốn đầu tư
Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là việc đánh giá hiệu quả đầu tư của cáctrung tâm đầu tư và các doanh nghiệp có quy mô vốn khác nhau, để phân tích xemnơi nào đạt hiệu quả cao nhất, từ đó làm cơ sở đánh giá thành quả quản lý
Mục tiêu thứ 2 khi sử dụng ROI để tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả quản
lý, nhằm tìm ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn Đó là cácbiện pháp cải thiện doanh thu, kiểm soát chi phí hay tính tái cơ cấu vốn đầu tư
Công thức tính phổ biến là
Tỷ lệ vốn đầu tư =
Hay ROI = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x số vòng quay của vốn đầu tưLợi nhuận được sử dụng trong công thức là lợi nhuận thuần trước thuế thu nhập
Lý do sử dụng lợi nhuận thuần là để phù hợp với doanh thu và vốn hoạt động đã tạo
ra nó, và để xác định vòng quay vốn Vốn hoạt động được sử dụng trong ROI ở điềukiện bình thường là vốn bình quân giữa đầu năm và cuối năm Nếu vốn trong nămbiến động liên tục thì phải tính bình quân từng tháng
ROI phụ thuộc vào hai nhân tố quan trọng: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và sốvòng quay tài sản
Trang 34Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cho biết khi một đồng doanh thu thực hiện sẽthu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ số này cao hay thấp phụ thuộc vào việckiểm soát doanh thu và chi phí của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư.
Số vòng quay của vốn đầu tư cho biết một đồng vốn vào trung tâm đầu tư đã thựchiện được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ số này cho thấy hiệu quả suất sử dụngvốn Chỉ số này càng hay thấp phụ thuộc vào việc kiểm soát doanh thu và tài sảncủa các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và số vòng quay của tài sản giúp chúng ta giảithích sự biến động của ROI của một trung tâm đầu tư, sự khác nhau của ROI giữacác trung tâm đầu tư
Nhược điểm của ROI
Mặc dù chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) được các nhà quản trị sử dụng rộngrãi để đánh giá thành quả quản lý của các trung tâm đầu tư, tuy nhiên nó vẫn cònmột số điểm hạn chế như sau:
ROI có khuynh hướng chú trọng đến quá trình sinh lợi ngắn hạn hơn là quá trìnhsinh lợi dài hạn, do vậy nhà quản trị nếu chỉ quan tâm đến ROI có thể bỏ qua nhiều
cơ hội đầu tư mới mà kết quả của chúng chỉ có thể thể hiện trong tương lai dài thay
vì một hai kì sắp đến, làm cản trở việc hướng đến mục tiêu chung của tổ chức.ROI không phù hợp với mô hình vận động của các dòng tiền nên bị hạn chế sửdụng để đánh giá thành quả quản lý của trung tâm đầu tư
ROI có thể không hoàn toàn chịu sự điều hành của nhà quản trị trung tâm đầu tư,
vì tài sản của nó có thể được quyết định bởi các nhà quản trị cấp trên
Nếu các nhà quản trị được đánh giá bằng ROI, họ sẽ tìm mọi cách để tăng ROI.Điều này có thể sẽ không phù hợp với chiến lược của toàn công ty, chẳng hạn việccắt giảm các chi phí nghiên cứu phát triển
Lãi thặng dư (RI)
Khái niệm về lãi thặng dư: Lãi thặng dư (hay còn gọi lợi tức còn lại) là khoản thunhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp, được trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi
Trang 35đã đầu tư vào bộ phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trênchi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay toàn doanh nghiệp.
Mục đích sử dụng của chỉ số lãi thặng dư – RI:
Mục tiêu thứ nhất của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết lợi nhuận thực tế đãmang về là bao nhiêu, sau khi trừ đi các khoản chi phí sử dụng vốn để có được lợinhuận trên
Mục tiêu thứ hai của việc sử dụng chỉ số RI là cho biết có nên đầu tư gia tăng haykhông, mà khi sử dụng chỉ số ROI không đủ cơ sở ra quyết định
Công thức tính của RI: RI = P – R
Với RI: lãi thặng dư, P: Lợi tức của trung tâm đầu tư
Tuy nhiên, RI cũng có nhược điểm là do RI là một chỉ tiêu được thể hiện bằng sốtuyệt đối, nên không thể sử dụng RI để so sánh thành quả quản lý của các nhà quảntrị ở các trung tâm đàu tư có tài sản được đầu tư khác nhau Vì trong thực tế, nếudùng RI đánh giá thì RI thường có khuynh hướng lạc quan nghiêng về những nơi cóquy mô vốn lớn
Như vậy để đánh giá kết quả của trung tâm đầu tư, nhà quản trị cần sử dụng kếthợp các chỉ tiêu cơ bản như ROI, RI, với việc xem xét mức chênh lệch trong việcthực hiện các chỉ tiêu thực tế so với kế hoạch
1.3.4 Báo cáo kế toán trách nhiệm
Trang 36Thành quả của mỗi trung tâm trách nhiệm được tổng hợp định kì trên một báo cáo kếtoán trách nhiệm (gọi tắt là báo cáo trách nhiệm) Báo cáo trách nhiệm của từng trungtâm sẽ phản ánh kết quả tài chính chủ yếu theo thực tế và theo dự toán, đồng thời chỉ racác chênh lệch giữa kết quả thực hiện so với dự toán, theo từng chỉ tiêu được chuyển tảitrong báo cáo phù hợp với từng loại trung tâm trách nhiệm Ví dụ, báo cáo trách nhiệmcủa trung tâm chi phí bao gồm các khoản mục chi phí thực tế, chi phí dự toán và cáckhoản chênh lệch giữa chi phí thực tế so với dự toán, báo cáo trách nhiệm của trungtâm lợi nhuận là báo cáo tình hình thực hiện dự toán lợi nhuận theo hình thức số dưđảm phí, báo cáo thu nhập bộ phận Nhu vậy báo cáo trách nhiệm chú trọng vào việcđánh giá các khoản chênh lệch này một cách phù hợp và đúng đắn, người ta thường sửdụng dự toán linh hoạt nhằm cung cấp một mức chuẩn cho việc so sánh, đánh giá tìnhhình thực hiện dự toán doanh thu, chi phí và lợi nhuận
1.3.4.1 Mục tiêu, đặc điểm và yêu cầu của báo cáo kế toán trách nhiệm Mục tiêu của báo cáo kế toán trách nhiệm
Cũng như hệ thống kế toán khác, sản phẩm cuối cùng của hệ thống KTTN cũng lànhững báo cáo, đó là những báo cáo kế toán trách nhiệm (hay gọi tắt là báo cáo tráchnhiệm) Những báo cáo trách nhiệm được chuẩn bị cho mỗi cá nhân có sự kiểm soáttrên thu nhập và chỉ tiêu của bộ phận mình phu trách Nhóm tác giá Atkinson, A A., R
D Banker, R S Kaplan and S M Young đã đưa ra khái niệm về báo cáo trách nhiệmnhư sau: Báo cáo trách nhiệm là sản phẩm của kế toán trách nhiệm Đó là những báocáo kết quả hoạt động cho mỗi cấp bậc của trách nhiệm theo sơ đồ tổ chức quản lý của
DN Hệ thống báo cáo này ghi nhận việc thực hiện mục tiêu và so sánh với mục tiêuđược phân công của mỗi bộ phận trong DN Sau đó hệ thống sẽ tổng hợp thực hiện mụctiêu của các cấp dưới lên cấp cao hơn, và cứ thực hiện như vậy cho đến khi tổng hợpđược việc thực hiện mục tiêu của toàn doanh nghiệp, so sánh với mục tiêu của toàn
DN, và tạo báo cáo thực hiện theo từng bộ phận và toàn DN Sự khác biệt giữa thôngtin thực hiện với mục tiêu dự toán sẽ giúp nhà quản trị đánh giá kết quả và hiệu quảhoạt động của các cấp quản trị của bộ phận
Đặc điểm của báo cáo trách nhiệm
Trang 37Theo R S Kaplan, một hệ thống báo cáo trách nhiệm thường có những đặcđiểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mức độ chi tiết của thông tin trên các báo cáo sẽ khác nhau đối vớinhững cấp độ quản lý khác nhau Theo đó, cấp quản lý càng thấp thì các mức độ chitiết của các chỉ tiêu báo cáo càng nhiều, những kết quả tổng cộng từ báo cáo của cáccấp quản lý sẽ được báo cáo cho cấp quản lý cao hơn kế tiếp Dữ liệu được tổnghợp, chắt lọc và cô đọng khi thông tin được báo cáo lên cho những cấp độ quản lýcao hơn, hay nói một cách khác, mức độ chi tiết của các chỉ tiêu giảm dần ở cấp qản
lý càng cao
Thứ hai, mặc dù lượng thông tin của các báo cáo có sự biến đổi, nhưng nhữngbản báo cáo được phát hành dưới một hệ thống báo cáo trách nhiệm có mối liên hệmật thiết với nhau Thông tin trong báo cáo ở cấp thấp sẽ mang tính giải thích,chứng minh cho các chỉ tiêu trong báo cáo ở cấp cao hơn
Thứ ba, báo cáo phải bao gồm tất cả những chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợinhuận, mà có thể xác định một cách trực tiếp hay phân bổ một cách gián tiếp đếnmột cấp quản lý cụ thể, điều này phải căn cứ vào tính có thể kiểm soát được haykhông đối với từng chỉ tiêu cụ thể Theo đó khi áp dụng phương pháp này, cần phải
có sự thận trọng khi phân tách giữa những hạng mục có thể kiểm soát được vàkhông thể kiểm soát được, để xác định rõ những hạng mục mà một nhà quản lý cóthể và phải chịu trách nhiệm đối với nó
Các yêu cầu cơ bản của kế toán trách nhiệm
Báo cáo trách nhiệm là một bộ phận của báo cáo KTQT, do vậy trước hết báo cáo
kế toán trách nhiệm phải đáp ứng được các yêu cầu chung của báo cáo KTQT.Ngoài ra, do tính đặc thù riêng có cũng như để phát huy được tác dụng, thì báo cáo
kế toán trách nhiệm phải thỏa mãn những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, báo cáo phải được lập và truyển đạt một cách kịp thời
Thứ hai, báo cáo phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục
Thứ ba, hình thức phải tương đối đơn giản, dễ hiểu và có sự so sánh điều này thểhiện:
Trang 38Người lập nên tránh những thuật ngữ có thể gây hiều lầm
Những kết quả nên được thể hiện bằng những con số thích hợp, vì như vậy sẽquen thuộc và dễ hiểu với những nhà quả lý hơn
Để giúp đỡ cho nhà quản lý trong việc nhanh chóng phát hiện ra những biến động
so với dự toán ngân sách, thì cả những lượng thực tế và dự toán đều phải được báocáo
Một sự biến động là sự chênh lệch giữa lượng thực tế và lượng được dự toán củamột hạng mục nào đó
Các bảng báo cáo thường bao gồm cả phân tích hiện thời và phân tích cả quátrình nhằm đưa ra các loại thông tin hướng đến tương lai
1.3.4.2 Các loại báo cáo trách nhiệm
Như đã trình bày ở trên, thông tin KTTN cung cấp cho nhà quản lý trong DN cơ
sở để đánh giá trách nhiệm quản trị của từng đơn vị, bộ phận, gắn với từng trungtâm trách nhiệm cụ thể, thông qua trách nhiệm quản trị nguồn lực của bộ phận, mứctiêu hao của các nguồn lực và mức độ hoàn thành công việc của họ Do vậy, căn cứvào trách nhiệm báo cáo thì hệ thống báo cáo trách nhiệm được chia thành bốnnhóm báo cáo, ứng với bốn loại trung tâm trách nhiệm sau:
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm lợi nhuận
Nhóm báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư
Dù là báo cáo của trung tâm trách nhiệm nào, căn cứ vào nội dung và hình thứcbáo cáo, chúng ta có thể chia báo cáo trách nhiệm trong DN thành hai nhóm báo cáosau đây:
Nhóm báo cáo thực hiện:
Đây là loại báo cáo phản ánh cụ thể, chi tiết tình hình hoạt động, tình hình tài chính,kết quả sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, từng chức năng, từng lĩnh vực hoạt độngcủa DN Định kì các trung tâm trách nhiệm từ cấp thấp nhất phải báo cáo dần lên cấpcao hơn, về tình hình thực hiện những chỉ tiêu chủ yếu của trung tâm mình
Trang 39Trong mỗi báo cáo thực hiện trình bày các số liệu về kế hoạch, thực hiện và các sốchênh lệch Thông qua các báo cáo thực hiện, cấp nhận báo cáo sẽ kiểm soát đượccác hoạt động của cấp dưới trực thuộc.
Báo cáo chi phí: Là báo cáo thực hiện của các trung tâm chi phí, tùy thuộc vàoyêu cầu của việc đánh giá trách nhiệm ở các trung tâm chi phí, báo cáo này có thểđược chi tiết theo yếu tố hoặc theo khoản mục Trong trường hợp DN đã thực hiện
kế toán chi phí theo mối quan hệ với quy mô hoạt động, thì trong báo cáo chi phí cóthể chi tiết thành định phí và biến phí Dựa vào báo cáo này, cấp nhận báo cáo sẽđánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi phí, cũng như trách nhiệm quản trị củanhà quản lý trong các trung tâm chi phí
Báo cáo doanh thu: Báo cáo doanh thu dùng ở các trung tâm doanh thu để báocáo tình hình thực hiệ kế hoạch tiêu thu sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ ở từngtrung tâm, cũng như tổng hợp doanh thu của toàn DN Tùy thuộc vào đặc điểm, tìnhhình tiêu thụ của từng đơn vị, báo cáo này có thể chi tiết theo từng lĩnh vực hoạtđộng, theo từng chi nhánh, khu vực cửa hàng tiêu thụ hoặc theo từng nhóm mặthàng, sản phẩm cụ thể
Báo cáo lợi nhuận bộ phận: Báo cáo lợi nhuận bộ phận là công cụ đánh giá tình hìnhthực hiện của các trung tâm lợi nhuận và trách nhiệm của những người đứng đầu trungtâm đó Bộ phận ở đây được hiểu là bất cứ một đơn vị hay một hoạt động nào đó trong
tổ chức, mà ở ở đó ta có thể xác định được doanh thu, chi phí và lợi nhuận
Báo cáo lợi nhuận toàn DN: thực chất đây là báo cáo kết quả hoạt động của toàndoanh nghiệp và được tổng hợp từ các báo cáo lợi nhuận bộ phận, tuy nhiên trongbáo cáo còn thể hiện các chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư như ROI, RI,
lý ở cá trung tâm đầu tư
Nhóm báo cáo phân tích
Nhằm có cơ sở đầy đủ hơn trong việc đánh giá trách nhiệm quản trị các chỉ tiêuđược bàn giao cho các trung tâm trách nhiệm cũng như từng bộ phận trong DN ngoàinhững báo cáo thực hiện, nhà quản trị cần thông tin từ các báo cáo phân tích sự biến
Trang 40động của các chỉ tiêu thực hiện so với kế hoạch, trong mối quan hệ với các yếu tốcấu thành từng chỉ tiêu đó Nhóm báo cáo phân tích bao gồm: Báo cáo phân tíchtình hình thực hiện chi phí của các trung tâm chi phí, báo cáo phân tích tình hìnhthực hiện doanh thu của các trung tâm doanh thu, báo cáo phân tích tình hình thựchiện lợi nhuận của các trung tâm lợi nhuận; báo cáo phân tích phản ánh tình hình sửdụng hiệu quả vốn đầu tư của các trung tâm đầu tư.
1.3.4.3 Nội dung của hệ thống báo cáo trách nhiệm
Báo cáo trách nhiệm được thiết kế chứa đựng những thông tin về các dữ liệu tàichính, theo các trung tâm trách nhiệm trong một tổ chức và cho các cấp quản lýkhác nhau Thông qua việc tính những khoản doanh thu, chi phí mà một nhà quản lýnào đó có thể kiểm soát được đối với bộ phận mình Đồng thời, số lượng các cấpquản lý trong một trung tâm trách nhiệm tùy thuộc vào cấu trúc tổ chức của DNTrong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kếtquả hoạt động của từng bộ phận trong các DN, mà vấn đề này phụ thuộc vào đặc thùcủa từng tổ chức kinh tế, từng DN cụ thể và bản chất của trung tâm trách nhiệm.Thông thường, những bảng báo cáo sẽ cung cấp sự so sánh giữa dữ liệu thực tế và
dự toán ban đầu, với sự chênh lệch dược báo cáo như một sự biến động so với ngânsách Những bảng báo cáo kết quả hoạt động này thường phải tương thích với cấutrúc tổ chức của DN Tại những bộ phận quản lý cấp cao, những báo cáo có khuynhhướng trình bày tổng hợp, ít các sự kiện, ít chi tiết, và nhiều sự tổng hợp của cácđơn vị sản xuất kinh doanh bộ phận
Tùy thuộc vào mỗi loại trung tâm trách nhiệm mà nội dung báo cáo sẽ khácnhau và mang lại đặc trưng riêng, điều này thể hiện như sau:
Trách nhiệm báo cáo của các trung tâm chi phí
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí là bảng so sánh chi phí thực hiện và
dự toán, và xác định mức chênh lệch giữa chi phí thực hiện so với dự toán Ngoài
ra, các chênh lệch còn có thể được phân tích chi tiết tùy theo yêu cầu quản lý thànhcác biến động theo các nhân tố cấu thành chi phí đó