1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải CO2 nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia asean

92 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nỗ lực tìm kiếm các yếu tố tác động đến chất lượng môi trường-đượcđại diện bởi lượng phát thải carbon dioxideCO2, vai trò của chi tiêu chính phủ gầnđây nhận được rất nhiều sự quan

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY TRINH

TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH

-NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI 5

QUỐC GIA ASEAN

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số ngành: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN KIM QUYẾN

Trang 3

ASEAN” là công trình nghiên cứu của tôi cùng với sự hỗ trợ của Giảng viên hướngdẫn TS.Nguyễn Kim Quyến và chưa từng được công bố trước đây.

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Tôi sẽ chịu trách nhiệm vềnội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thuỳ Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do thực hiện đề tài: 1

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu: 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

6 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ ĐẾN LƯỢNG KHÍ THẢI CO2 5

1.1 Lý thuyết về chi tiêu chính phủ 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phân loại 5

1.1.3 Chức năng của chi tiêu chính phủ 6

1.2 Khí CO2 và tác động tiêu cực đến môi trường 8

1.2.1 Giới thiệu khí CO2 8

1.2.2 Nguồn phát thải khí CO2 8

1.2.3 Tác động của khí CO2 đến môi trường 9

1.3 Lý thuyết về tác động của chi tiêu chính phủ đến môi trường 10

1.3.1 Cơ sở lý luận của Lopez và cộng sự (2011) 11

1.3.2 Tác động gián tiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường 14

1.4 Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI CÁC NƯỚC ASEAN-5 HIỆN NAY 22

Trang 5

2.3.1 Lượng khí thải CO2 ngày càng gia tăng 27

2.3.2 Hậu quả kinh tế 29

2.3.3 Hướng đến công nghệ CCS-Phát triển nền kinh tế carbon thấp 30

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Mô hình nghiên cứu 32

3.2 Mô tả dữ liệu 34

3.3 Phương pháp nghiên cứu 37

3.3.1 Phương pháp hồi quy 37

3.3.2 Các kiểm định mô hình 40

3.3.2.1 Hiện tượng đa cộng tuyến 40

3.3.2.2 Hiện tượng phương sai thay đổi 41

3.3.2.3 Hiện tượng tự tương quan 42

3.3.2.4 Hiện tượng nội sinh 42

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

4.1 Kiểm định sự tương quan và đa cộng tuyến 44

4.1.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 44

4.1.2 Kiểm định đa cộng tuyến 45

4.2 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher-type 45

4.3 Kiểm định đồng liên kết trên dữ liệu bảng 46

4.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi trên dữ liệu bảng 48

4.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng 48

4.6 Phân tích kết quả hồi quy dài hạn 49

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Kiến nghị 58

5.3 Hạn chế của đề tài 60

Trang 7

GFS Government Finance Statistics

moments

IMF Internationnal Monetary Fund

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Công nghệ thu hồi và ngưng tụ

cacbonKhí cacbonicĐường cong môi trường Kuznets

Mô hình hiệu ứng cố địnhBình phương bé nhất đã được hiệu

chỉnh hoàn toànTổng sản phẩm quốc nội

Cẩm nang thống kê tài chính Chính

Trang 8

Bảng 4.1: Ma trận tương quan tuyến tính giữa các cặp biến trong mô hình 44

Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến trong 2 mô hình với nhân tử phóng đại phương sai VIF 45

Bảng 4.3: Kiểm định tính dừng 46

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Kao (1999) 47

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng Pedroni 47

Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của 2 mô hình 48

Bảng 4.7 : Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình nghiên cứu 49

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình tác động gián tiếp chi tiêu-thu nhập 51

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình tác động trực tiếp 53 Bảng 4.10: Tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải CO2 (hệ số co giãn) 55

Trang 9

Hình 2.1: Tỷ lệ chi tiêu chính phủ trong GDP của nhóm nước ASEAN-5 giai đoạn1984-2013 ĐVT: % 22Hình 2.2: Thu nhập bình quân đầu người theo giá so sánh 2010 của nhóm nướcASEAN-5 giai đoạn 1984-2013 ĐVT: nghìn USD 26Hình 2.3: Lượng khí thải CO2 bình quân đầu người của nhóm nước ASEAN-5 giaiđoạn 1984-2013 ĐVT: tấn/người 27Hình 2.4: Tỷ lệ các nguồn phát thải khí CO2 nhìn từ quá trình đốt cháy nhiên liệu,giai đoạn 1984-2013 cho các nước ASEAN-5 28Hình 2.5: Tỷ lệ các nguồn phát thải khí CO2 nhìn từ quá trình đốt cháy nhiên liệucho các nước ASEAN-5, năm 2013 29Hình 3.1: Cơ chế tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải CO2 và SO2

theo Halkos và Paizanos (2012) 32

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, biến đối khí hậu đã trở thành vấn đề được quan tâmtrên phạm vi toàn cầu, vì những tác động của nó đối với các hoạt động kinh tế - xãhội của loài người Biến đối khí hậu đã gây ra những tác động tiêu cực đến một bộphận dân số trên thế giới, đặc biệt tại các nước đang phát triển như khu vực ĐôngNam Á

Đối với nền kinh tế đang trên đà phát triển, tốc độ đô thị hoá và công nghiệphoá diễn ra rất nhanh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm môitrường.Điều này có nghĩa là nếu đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế mà không cóbiện pháp kiểm soát ô nhiễm thích hợp thì môi trường sống của chúng ta thực sựđang phải đối mặt với những nguy cơ.Tuy nhiên, khi phải lựa chọn giữa phát triểnkinh tế và hậu quả về ô nhiễm môi trường, đa số các quốc gia đang phát triển phảichọn con đường phát triển kinh tế mà bất chấp các hậu quả về môi trường

Kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008, chính phủnhiều nước đã theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng nhằm vực dậy nền kinh tế, từ

đó tác động đến nhiều biến kinh tế vĩ mô cũng như chất lượng môi trường Và mặc

dù việc nâng cao chất lượng môi trường không phải là mục tiêu chính của chínhsách tài khóa nhưng cũng không thể phủ nhận các tác động trực tiếp cũng như giántiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường Bằng chứng là ngày càng có nhiều cácbài nghiên cứu trên cả hai phương diện lý thuyết và thực nghiệm đã kiểm chứngmối quan hệ này Việc xem xét tác động của chi tiêu chính phủ đến chất lượng môitrường sẽ giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các kiến nghị chính sách kinh tế vĩ mô đốivới giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng như các hậu quả mà nó gây ra

Trong thời kỳ từ năm 1984 đến năm 2013, nhóm các nước ASEAN-5 baogồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, bên cạnh tốc độ tăngtrưởng kinh tế ấn tượng đã đạt được thì các quốc gia này đã và đang phải đối mặtvới nhiều vấn đề môi trường, điển hình là khói mù và ô nhiễm xuyên biên giới, đedọa sức khỏe người dân Mặt khác, ngoại trừ Malaysia thì 4 nước còn lại phải gánh

Trang 11

chịu nhiều hậu quả nặng nề từ thiên tai và biến đổi khí hậu, tình trạng đó đã cản trở

nghiêm trọng nỗ lực phát triển kinh tế và giảm nghèo của các quốc gia này.

Trong nỗ lực tìm kiếm các yếu tố tác động đến chất lượng môi trường-đượcđại diện bởi lượng phát thải carbon dioxide(CO2), vai trò của chi tiêu chính phủ gầnđây nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiêncứu thực nghiệm cho khu vực ASEAN vẫn còn rất hạn chế Chính vì thế tác giảchọn nghiên cứu đề tài “Tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải CO2:Nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia ASEAN” nhằm làm rõ tác động này

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm ra tác động của chi tiêu chính phủ đếnlượng khí thải CO2 cho 5 quốc gia ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, TháiLan và Việt Nam) trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2013

Dựa vào mục tiêu trên, luận văn tập trung trả lời cho các câu hỏi nghiên cứusau:

- Chi tiêu chính phủ có tác động đến lượng khí thải CO2 ở các quốc gia ASEAN-5 hay không ?

- Tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải CO2 ở các quốc gia ASEAN-5 là cùng chiều hay ngược chiều?

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm xác địnhtác động của chi tiêu chính phủ đến khí thải CO2.

Ước lượng một mô hình bao gồm biến khí thải CO2, chi tiêu chính phủ vàcác biến kiểm soát tương tự mô hình nghiên cứu của Halkos và Paizanos (2012).Thông qua phương pháp ước lượng PMG để ước lượng các hệ số hồi quy dài hạntrong trường hợp tồn tại đồng liên kết giữa các biến trong mô hình, đồng thời kiểmsoát tương quan phụ thuộc chéo Ngoài ra, phương pháp ước lượng dữ liệu bảngGMM cũng được đưa vào để kiểm soát nội sinh và kiểm chứng lại kết quả tác độngcần nghiên cứu Việc lựa chọn mô hình phù hợp được thực hiện để đảm bảo tínhthống nhất về kết quả nghiên cứu Từ đó, tác giả rút ra các kết luận và đề xuất một

Trang 12

số biện pháp giảm thiểu khí thải CO2 tại Việt Nam cũng như các quốc gia nghiên cứu với mục tiêu tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là sự tác động của chi tiêu chínhphủ đến lượng khí thải CO2 cho 5 quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1984 đến năm

2013 Ngoài ra luận văn còn xem xét các sự tác động của tỷ lệ đầu tư trong tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) và độ mở của nền kinh tếđối với lượng khí thải CO2 tại cácquốc gia này

Luận văn không xem xét đến giá trị và đặc điểm cụ thể của từng khoản chitiêu chính phủ mà tiếp cận tổng thể ở dạng vĩ mô trên toàn bộ chi tiêu chính phủ.Theo đó luận văn xem xét sự tác động của chi tiêu chính phủ đến khí thải CO2 ởdạng tổng quát

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn với đề tài “Tác động của chi tiêu chính phủ đến lượng khí thải

CO2: Nghiên cứu thực nghiệm tại 5 quốc gia ASEAN” khi đạt được những mục tiêunghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để nhà hoạch định chính sách tham khảo trong quátrình phân tích và đề ra chính sách hợp lý nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế và pháttriển một cách bền vững

Bổ sung vào chuỗi các nghiên cứu trong nước về tác động của chi tiêu chínhphủ đến lượng khí thải CO2, tiếp tục hoàn thiện các lỗ hổng nghiên cứu còn tồn tạicũng như gợi mở những hướng phát triển tiếp theo của vấn đề nghiên cứu Bên cạnh

đó, luận văn cũng đóng vai trò là tài liệu tham khảo trong lĩnh vực tài chính côngtrong tương lai

Bài nghiên cứu được thiết kế thành 5 chương như sau:

Chương 1: Lý thuyết về tác động của chi tiêu chính phủ đến khí thải CO2

Chương 2: Thực trạng chi tiêu chính phủ và ô nhiễm khí thải CO2tại các nước ASEAN-5

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Trang 13

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách

Trang 14

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ

ĐẾN LƯỢNG KHÍ THẢI CO2

Mở đầu chương 1, luận văn sẽ trình bày lý thuyết về chi tiêu chính phủ và tác động của khí thải CO 2 đến môi trường.Sau đó, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu chính phủ lên lượng khí thải CO 2 Nội dung chương này làm cơ sở để thực hiện mô hình nghiên cứu ở Chương 3.

1.1 Lý thuyết về chi tiêu chính phủ

1.1.1 Khái niệm

Trên phương diện quốc tế, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ban hành Cẩm nangThống kê tài chính Chính phủ (GFS) trong đó khái niệm chi ngân sách được kháiquát như sau:

Chi ngân sách là các khoản chi ra từ ngân sách không làm phát sinh nghĩa vụphải bồi hoàn trực tiếp đối với các đối tượng thụ hưởng ngân sách, đó chính là toàn

bộ khoản thực chi ngân sách trong một năm tài khóa.Chi ngân sách chính phủ baogồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi chuyển nhượng, chi trả lãi vaynhưng không bao gồm chi trả nợ gốc và các khoản chi khác

1.1.2 Phân loại

Chi tiêu của chính phủ được các nhà kinh tế học phân ra làm 3 loại chính:1

- Các khoản mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng hiện tại được gọi là Tiêu dùng của chính phủ (Government consumption);

- Các khoản chính phủ để mua các hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra lợi íchtrong tương lai, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nghiên cứu, được gọi là Đầu tư củachính phủ (Government investment)

- Các khoản không phải để mua hàng hóa dịch vụ, mà chỉ là hành động dichuyển tiền, như trả cho phúc lợi xã hội, được gọi là chi chuyển giao (Transferpayments)

1

http://www.saga.vn/thuat-ngu/government-spending-chi-tieu-cua-chinh-phu~2580

Trang 15

Các khoản chi tiêu của chính phủ có thể được tài trợ bởi lãi do phát hànhtiền, thuế và vay mượn.

Hai loại chi tiêu trên của chính phủ hợp thành một trong những bộ phậnchính của Tổng sản phẩm quốc nội

Ngoài ra, Lopez và Galinato (2007) trong một nghiên cứu xem liệu chínhphủ có nên ngừng trợ cấp cho hàng hoá tư nhân hay không, đã phân loại chi tiêuchính phủ dựa trên kết quả tác động của chúng lên thị trường.Loại thứ nhất được gọi

là "chi tiêu hàng hoá công", đó là chi tiêu chính phủ làm giảm bớt sự thất bại của thịtrường Ví dụ, chi tiêu cho y tế và giáo dục để giảm bớt khó khăn của thị trường tíndụng, chi tiêu về môi trường để giảm thiểu ô nhiễm, chi tiêu vào các nguồn tàinguyên thiên nhiên để thiết lập quyền sở hữu, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển

để nội hoá hiệu ứng lan tỏa tích cực và chi tiêu vào việc cung cấp tối ưu hàng hóacông

Mặt khác, "chi hàng hoá tư nhân" chiếm một phần chi tiêu chính phủ màkhông làm giảm bớt sự thất bại của thị trường hay thậm chí có thể làm trầm trọngthêm.Trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp cho sản xuất nhiên liệu hóa thạch và giảm thuếcho một số doanh nghiệp đặc biệt là những ví dụ của các khoản chi này

1.1.3 Chức năng của chi tiêu chính phủ

Mục tiêu truyền thống của chi tiêu chính phủ là sử dụng nó như một công cụcủa chính sách nhà nước để bảo vệ một khu vực bằng cách cung cấp pháp luật, trật

tự và công lý (Sobhan và cộng sự, 1993).Tuy nhiên, quan điểm hiện đại về chi tiêucủa chính phủ cung cấp một mục tiêu rộng lớn hơn nhiều

Ngày nay, chi tiêu chính phủ bao gồm các vấn đề như phát triển cơ sở hạtầng, cải thiện về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thúc đẩy pháttriển cơ cấu kinh tế.Để mở rộng các mục tiêu không cần thiết tùy thuộc vào đườnglối chính trịcủa Nhà nước

Mức chi tiêu của chính phủ có thể được giải thích hướng theo một khuôn khổvới ba mô hình giải thích mức độ chi tiêu của chính phủ Các mô hình này phân loại

Trang 16

chi tiêu chính phủ phù hợp với chức năng kinh tế vĩ mô của họ liên quan đến hình thái của chính phủ về triết lý chính trị.

- Thứ nhất, nhà nước tối thiểu, còn được gọi là trạng thái canh gác ban đêm,được xem xét đến Trong mô hình này, chính phủ giới hạn trách nhiệm của mình để bảo

vệ các công dân khỏi ép buộc, lừa đảo và trộm cắp, cung cấp bồi thường cho cácnạn nhân

và bảo vệ đất nước khỏi nguy hiểm từ nước ngoài Vì vậy, vai trò của nhànước sẽ bị giớihạn trong việc cung cấp đơn thuần về cảnh sát, hệ thống tòa án, nhàtù và quân đội

- Thứ hai, nhà nước phúc lợi, là nhà nước chịu trách nhiệm về các phúc lợicủa công dân mình Chính phủ có trách nhiệm cung cấp vật chất và đáp ứng các nhu cầu

xã hội Triết lý là có một nền tảng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu chính là tạo ra một xãhội công bằng và giảm bất bình đẳng thu nhập Do đó, trách nhiệm của nhà nước sẽ được

mở rộng và bên cạnh đó phải chịu trách nhiệm cung cấp an ninh nhà nước cũng như chịutrách nhiệm về các vấn đề như giáo dục, nhà ở, y tế, bảo hiểm, nghỉ ốm, thu nhập bổsung, trả lương công bằng …

- Cuối cùng, nhà nước phát triển, là hình thái khó khăn để đạt được Thuậtngữ này được sử dụng để xác định một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô do nhà nướclãnh đạo được áp dụng ở một số nước Đông Á Trong mô hình này, nhà nước có quyềnlực chính trị gần như đủ để kiểm soát nền kinh tế Do đó, chính phủ có thể áp dụng rộngrãi các quy định, lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ Tuy nhiên,nền tảng của mô hình này nằm trong bối cảnh tư bản.Điều này là bởi vì một khi nhà nướchoàn toàn phát triển; chính phủ chia sẻ quyền sở hữu của mình và cho phép các lực lượngthị trường tham dự vào quá trình của mình.Trong mô hình này, chính phủ chịu hoàn toàntrách nhiệm trong phát triển kinh tế Chi tiêu chính phủ do đó sẽ tập trung thúc đẩy sảnxuất nói chung, thông qua cơ sở hạ tầng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp và xuất khẩu

Từ phân tích này, có thể kết luận rằng một yếu tố quan trọng có ảnh hưởngđến quyết định về mức độ chi tiêu của chính phủ là động lực chính trị của nhà nước.Hơn nữa, nhà nước cũng gặp phải hạn chế về tình hình tài chính trong việc lựa chọn

Trang 17

mô hình mà nhà nước mong muốn Do đó, nếu chi tiêu chính phủ được coi là mộtbiến ngoại sinh, mức độ có thể được hoàn toàn dựa trên các mục tiêu chính trị củangười ra quyết định thay vì lý do kinh tế.

1.2 Khí CO 2 và tác động tiêu cực đến môi trường

1.2.1 Giới thiệu khí CO2

Carbon dioxide (các tên gọi khác là thán khí, khí cacbonic) là một hợp chất ởđiều kiện bình thường tồn tại ở dạng khí, bao gồm một nguyên tử cacbon và hainguyên tử oxy Nó thường được gọi theo công thức hóa học là CO2 Trong dạngrắn, nó được gọi là băng khô

Carbon dioxide là sản phẩm cuối cùng trong quá trình hô hấp của cở thể sinhvật, bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn.Trong các động vật bậc cao, carbon dioxide di chuyển trong máu từ các mô của cơthể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài

1.2.2 Nguồn phát thải khí CO2

Ngoài ra, khi cây cối và động vật chết, xácchết bị phân huỷ làm choCO2

thoát ra Lượng CO2 ra khỏi khí quyển hàng năm được cân bằng với lượng CO2

sinh ra Nhờ cơ chế này mà môi trường được ổn định

-Đốt phá rừng

Khi cây cối chết, chúng thải ra CO2, đó là quá trình bình thường của chutrình cacbon Nhưng khi cây cối bị đốn chặt để làm chất đốt thì CO2 thải ra khôngkhí nhiều hơn Theo thống kê của Liên hợp quốc, việc phá rừng mạnh trong 2 thập

kỷ 80 và 90 (thế kỷ XX) đã làm cho lượng CO2 trong không khí tăng lên, đồng thờilượng oxy trong không khí giảm đi rõ rệt

Trang 18

-Nhiên liệu hoá thạch

Nguồn cacbon trong nhiên liệu hoá thạch được lưu trữ từ hàng triệu nămtrước vì cơ thể sống không bị phân hủy hoàn toàn, cacbon không bị phát thải vàokhí quyển dưới dạng CO2, trái lại được lưu trữ trong lòng đất.Trong khi khai thác vàđốt nhiên liệu hoá thạch, nguồn cacbon này mới được giải phóng.Như vậy, việc đốtnhiên liệu hoá thạch đã nhanh chóng làm cho cacbon bị giam giữ hàng triệu nămtrước phát thải mạnh lượng CO2.Đây là nguyên nhân lớn nhất làm ô nhiễm bầukhông khí

1.2.3 Tác động của khí CO2 đến môi trường

Sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong bầu khí quyển đã gây ra những tác độngtiêu cực tới trái đất như làm giảm pH của môi trường nước Sự hòa tan của khí CO2

vào trong nước mưa và nước biển từ đó làm thay đổi điều kiện sống của các loàisinh vật trong những môi trường đó Tuy nhiên hệ quả lớn nhất từ sự gia tăng quámức của nồng độ CO2 trong khí quyển đó là gây ra sự ấm lên của trái đất do “hiệuứng nhà kính”

Trong bầu khí quyển, các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầukhí quyển đến mặt đất và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài Một

số phân tử trong bầu khí quyển, trong đó trước hết là CO2 và hơi nước có thể hấpthụ những bức xạ nhiệt này và giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển.Nếu không cóhiệu ứng nhà kính tự nhiên nhiệt độ trái đất chỉ vào khoảng -15°C

Tuy nhiên, sự gia tăng nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm lạiđây (CO2 tăng 20%, mêtan tăng 90%) đã làm tăng nhiệt độ thêm 2°C Các khí nhàkính do loài người phát thải ra sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu và sẽ làm thayđổikhí hậu trong tương lai Một số hậu quả liên đới với việc thay đổi khí hậu dohiệu ứng này có thể gây ra:

Các nguồn nước: chất lượng và số lượng của nước uống, nước tưới tiêu,nước cho công nghiệp sẽ bị suy giảm Mưa tăng có thể gây lụt lội thường xuyên hơntại một vài nơi và ngược lại gây hạn hán tại một vài nơi khác

Các tài nguyên bờ biển: mực nước biển dâng cao có thể làm mất đi diện tích

Trang 19

lớn đất đai, đe dọa đến cuộc sống của cư dân ven biển và gây tổn thất lớn về kinh tế.Sức khỏe: Số người chết vì nóng có thể tăng do nhiệt độ cao trong những chu kì dài

hơn trước Sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ có thể đẩy mạnh các bệnhtruyền nhiễm

Nhiệt độ tăng lên làm tăng các quá trình chuyển hóa sinh học cũng như hóahọc trong cơ thể sống, làm thay đổi nhịp sinh học gây nên sự mất cân bằng

Lâm nghiệp: nhiệt độ cao hơn tạo điều kiện cho nạn cháy rừng dễ xảy ra hơn.Năng lượng: nhiệt độ ấm hơn tăng nhu cầu làm lạnh, từ đó làm tăng nhu cầukhai thác nhiên liệu hóa thạch, khí carbon dioxide sẽ lại càng được sinh ra nhiềuhơn

Khí hậu: nhiệt độ ấm của khí quyển cung cấp nhiều năng lượng hơn cho cáccơn bão khiến chúng mạnh hơn và khó dự đoán hơn Các hiện tượng thời tiết cựcđoan như hạn hán, lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên hơn

Những khối băng ở Bắc cực và Nam cực đang tan nhanh trong những nămgần đây mà do đó mực nước biển sẽ tăng quá cao, có thể dẫn đến nạn hồng thủy.2

1.3 Lý thuyết về tác động của chi tiêu chính phủ đến môi trường

Các lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêuchính phủ đến lượng khí thải CO2, tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm gần đâychỉ ra rằng việc tăng hay giảm tổng chi tiêu chính phủ hay từng loại chi tiêu cụ thểđều có tác động đến ô nhiễm không khí, mà cụ thể là lượng khí thải CO2 Đặc biệt,tác động này có thể được tăng cường đáng kể bằng cách tập trung vào một khoảnchi tiêu cụ thể, một đồng chi tiêu thêm cho hàng hóa công sẽ có tác động làm giảmkhí thải CO2 nhiều hơn so với một đồng tổng chi tiêu Ngoài ra, chi tiêu bảo vệ môitrường được chứng minh là hiệu quả nhất trong các loại chi tiêu xem xét, kết quảước tính giảm khí thải hơn 17 lần so với cùng một khoản chi cho tổng chi tiêu chínhphủ

2

http://vea.gov.vn/vn/khoahoccongnghe/congnghemt/xulykhithai/Pages/default.aspx

Trang 20

1.3.1 Cơ sở lý luận của Lopez và cộng sự (2011)

Lopez và cộng sự của mình đã phát triển một cơ sở lý luận cho tác động của

chi tiêu chính phủ đến môi trường, mà cụ thể là ô nhiễm không khí sinh ra từ quá

trình sản xuất Mô hình xem xét ba ngành sản xuất: công nghiệp (được gọi là

“ngành bẩn”, bao gồm ngành sản xuất, khai thác mỏ, nông nghiệp và các ngành liên

quan), dịch vụ (được gọi là “ngành sạch”) và ngành sản xuất vốn con người (lĩnh

vực kiến thức) Trong đó, ô nhiễm chủ yếu được tạo ra từ “ngành bẩn” ( Mani và

Wheeler, 1997) Dựa vào bốn giả định:

-A1 Các nền kinh tế nhỏ và mở cửa, tự do giao dịch trên thị trường quốc tế

đối với hàng hóa cuối cùng ngụ ý giá đầu ra ngoại sinh, tất cả các ngành trong nước

và thị trường đầu ra hoàn toàn cạnh tranh

-A2 Hàng hóa công chính phủ cung cấp được giả định là có lợi cho tất cả

các lĩnh vực của nền kinh tế nhưng mức tác động khác nhau tùytừng lĩnh

vực.Ngược lại, chi tiêu chính phủ trong hàng tư nhân được hướng đến lĩnh vực cụ

thể, giả định rằng tất cả các khoản chi tiêu của chính phủ trong hàng tư nhân đi đến

ngành bẩn vàcó thể thay thế hoàn hảo cho vốn tư nhân

-A3 Độ co giãn đầu ra của chi tiêu chính phủ cho hàng hóa công trong lĩnh

vực sạch và bẩn tương ứng là Ω và Giả định rằng Ω ≥

-A4 Hàm hữu dụng gia tăng và lõm tại c ,với u '(c)> 0 và u' '(c) <0 và độ co

giãn lợi ích biên của tiêu dùng, a(c)≡ -cu''(c) / u'(c), a(c) ≥ 1

Tác giả sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas.Ngành bẩn sử dụng vốn vật

chất k, lao động ld, và các đầu vào bẩn (ví dụ: nhiên liệu hóa thạch) là nguồn gốc ô

nhiễmsản xuất Z,3 hàng hoá công g và hàng hoá tư xdo chính phủ cung cấp Hàm

sản xuất là:

3 Đại diện ô nhiễm như là một đầu vào sản xuất khá phổ biến trong lý thuyết Xem Baumol và Oates(1988) và

Copeland và Taylor (1994)

Trang 21

Trong đó D là năng suất toàn ngành, α>0, β>0, α+ β<1 >0 là độ co dãn đầu

ra của g, ld là lao động thô và h được giả định là lớn hơn 1 Như vậy hld là một đơn

vị lao động hiệu quả

Các nhà sản xuất trong ngành bẩn giảm thiểu chi phí sản xuất bằng cách tối

thiểu hóalao động và đầu vào bẩnZ

d (2.2)

( hl d ), ZTrong đó w là tiền lương trên mỗi đơn vị lao động hiệu quả và τ là thuế suất

thuế đơn vị trên ô nhiễm

Hàm chi phí tiềm ẩn trong (2.2) là

Sự gia tăng trong chi tiêu hàng hóa công ở đây hoàn toàn được tài trợ thông

qua việc giảm chi hàng hóa tư nhân với tổng ngân sách giữ cố định Sử dụng x =

G-g, lấy đạo hàm phương trình (2.4) theo g

được sử dụng bởi khu vực tư nhân

Phương trình (2.5) phân tích các tác động của sự thay đổi trong thành phần

chi tiêu chính phủ đối với ô nhiễm thành 5 phần:

Trang 23

-Thứ nhất, tác động trực tiếp là tiêu cực Điều này ngụ ý rằng cùng một mức

ô nhiễm có thể được tạo ra với ít nguyên liệu đầu vào bẩn hơn khi g tăng, các yếu tốkhác không đổi

-Thứ hai là hiệu ứng quy mô sản lượng bẩn Một g cao hơn làm tăng năngsuất lao động và có thể ảnh hưởng đến mức độ ô nhiễm, các yếu tố khác không đổi.Mức ô nhiễm không nhất thiết phải tăng, vì g tăng sẽ làm tăng năng suất lao độngtrong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế chứ không chỉ riêng khu vực sản xuất côngnghiệp Nếu hiệu ứng này làm tăng (giảm) sản lượng bẩn, nó sẽ làm ô nhiễm ngàycàng tăng (giảm)

-Thứ ba là tác động thay thế ô nhiễm và lao động g cao hơn làm tăng tỷ lệtiền lương của nền kinh tế, tăng ô nhiễm bởi vì lao động và ô nhiễm thay thế chonhau

-Thứ tư là tác động của ngân sách chính phủ Sự gia tăng g giảm x hàm ýtổng số vốn được sử dụng trong sản xuất thấp hơn Với một mức sản lượng khôngđổi, việc giảm tổng số vốn phải được bù đắp bằng mức tăng các biến yếu tố đầu vàokhác, bao gồm cả ô nhiễm

-Thứ năm là tác động của quy định về môi trường Sự gia tăng g dẫn đến thunhập cao hơn, gây ra một thuế ô nhiễm cao hơn và làm giảm ô nhiễm, các yếu tốkhác không đổi

Các kết quả được tóm tắt trong 3 giả thuyết sau:

Giả thuyết 1 Nếu giả định A3 và A4 thỏa, Ω≥µ và a(c)≥1, tăng chi tiêu

chính phủ trong hàng hóa công tài trợ hoàn toàn bằng cách giảm chi tiêu hàng hóa

tư nhân có tác động làm giảm ô nhiễm

Nếu độ co giãn sản lượng theo g trong lĩnh vực sạch cộng với tác động tỷtrọng ngân sách của chính phủ lớn hơn tỷ trọng độ co giãn sản lượng của g tronglĩnh vực bẩn thì ô nhiễm sẽ giảm khi tăng chi tiêu hàng hóa công Ngay cả khi giảđịnh A3 không thỏa mà Ω<µ, ô nhiễm vẫn có thể giảm miễn là tác động ngân sáchcủa chính phủ là đáng kể

Trang 24

Giả thuyết 2 Tăng hàng hóa công chính phủ cung cấp tài trợ bởi việc giảm

đồng thời chi phí hàng hóa tư nhân làm giảm mức độ ô nhiễm của ngành bẩn, làmngành bẩn sạch hơn

Tính toán riêng cho “ngành bẩn”, tác động của tăng tỷ lệ chi tiêu cho hànghóa công làm giảm mức độ ô nhiễm.Lưu ý rằng không giống như các tác động lêntổng ô nhiễm ở giả thuyết 1, kết quả rõ ràng không phụ thuộc vào các giả định A3

và A4

Giả thuyết 3 Tăng vay tài trợ chi tiêu tài khóa tổng hợp và giữ không đổi

thành phần chi tiêu có tác độngkhông rõ ràng đến ô nhiễm Chi tiêu tài khóa tổnghợp làm tăng ô nhiễm nhiều hơn (ít hơn) khi phần vốn trong ngành bẩn và tỷ lệhàng hóa tư nhân do chính phủ cung cấp trong tổng nguồn vốn tư nhân của cácngành này cao (thấp) với sự khác nhau giữa độ co giãn của hàng hóa công trong cácngành sạch và bẩn là nhỏ (lớn)

Xem xét các tác động của sự gia tăng tổng chi tiêu chính phủ được tài trợ bởimột khoản vay chính phủ thay vì tác động của việc tái phân bổ chi tiêu Tác độngròng của chi tiêu tài chính mở rộng với ô nhiễm nhìn chung là không rõ ràng Khi tỷ

lệ các nguồn vốn vật chất trong “ngành bẩn” (1-α-β) và tỷ lệ hàng hóa tư chính phủcung cấp trong tổng số vốn (πx) đều nhỏ, có nhiều khả năng ô nhiễm sẽ giảm khix) đều nhỏ, có nhiều khả năng ô nhiễm sẽ giảm khităng tổng chi tiêu chính phủ Đây là suy đoán xác đáng bởi vì tác động tăng ô nhiễmtừng phần của x thì nhỏ trong trường hợp này Ngoài ra, G ít có khả năng làm tăng ônhiễm khi có sự khác biệt lớn giữa độ co giãn hàng hoá công trong “ngành sạch” và

“ngành bẩn” Nếu Ω lớn và µ nhỏ, có nhiều khả năng rằng tác động giảm ô nhiễm

do g tăng có thể bù đắp tác động tăng ô nhiễm do x tăng

1.3.2 Tác động gián tiếp của chi tiêu chính phủ đến môi trường

Thông qua tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế (chi tăng trưởng) và tiếp theo đó tăng trưởng kinh tế lại tác động lên môi trường theo lýthuyết đường cong Kuznets về môi trường (tăng trưởng-môi trường)

tiêu- Tác động của chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế

Trang 25

Mối quan hệ giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề đượcnghiên cứu khá rộng rãi trên phương diện lý thuyết và kiểm định thực nghiệm Các

lý thuyết thường không chỉ ra một cách rõ ràng tác động của chi tiêu công đối vớităng trưởng kinh tế Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhaurằng: Trong một số trường hợp, việc cắt giảm hay gia tăng quy mô chi tiêu công đều

có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (Đặng Văn Cường và Bùi Thanh Hoài, 2014)

Việc phân tích mối quan hệ giữa quy mô chính phủ đối với mức độ phát triểncủa nền kinh tế đã nhận được sự chú ý lớn trong lĩnh vực học thuật.Cụ thể, việcphân tích về mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế đãdẫn đến những kết luận khác nhau Nói chung, những lý thuyết khác nhau về mốiquan hệ này có thể được tạm chia thành hai trường phái kinh tế; học thuyết Keynes

và trường phái tư tưởng của Wagner Sự tương phản cơ bản của những lý thuyết này

là hướng theo quan hệ nhân quả Wagner (1883) cho rằng tăng trưởng kinh tế, doquá trình công nghiệp hóa sẽ đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ chi tiêu công trong tổngsản lượng quốc gia Ngược lại, quan điểm của Keynes giả định rằng chi tiêu củachính phủ là một công cụ của nhà nước trong việc tạo ảnh hưởng đến chính sách tàikhóa và với công cụ này sẽ làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Lý thuyết đường cong Kuznets về môi trường

Đường cong Kuznets (EKC) được chính tác giả là Simon Kuznets, ngườitừng đoạt giải thưởng Nobel về Khoa học Kinh tế, công bố lần đầu tiên vào năm

1954 Lý thuyết này mô tả mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bất bình đẳng thunhập Đến đầu những năm 90, khái niệm mới được biết đến là “Lý thuyết đườngcong Kuznets về môi trường” được một số nghiên cứu sử dụng khi phân tích mốiquan hệ giữa chất lượng môi trường và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang pháttriển

Trang 26

Hình 1.1: Đường cong Kuznets về môi trường (EKC) bậc 2

Nguồn: Nguyễn Đinh Tuấn và Phạm Nguyễn Bảo Hạnh (2014) Trên thế giới đã córất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường dựa trên nền tảng lýthuyết đường cong môi trường Kuznets (EKC) Theo lý thuyết này thì mức độ suythoái môi trường và mức thu nhập đầu người sẽ tuân theo quy luật đường cong Ungược Kuznets: suy thoái môi trường sẽ gia tăng trong các giai đọan đầu của pháttriển, nhưng cuối cùng sẽ đạt đến đỉnh hay ngưỡng chuyển đổi (turning point) và bắt

đầu giảm khi mức thu nhập vượt một ngưỡng nào đó(hình 1.1)

Hình dạng của đường cong có thể giải thích như sau: trong giai đoạn đầu củaphát triển, ô nhiễm gia tăng một cách nhanh chóng do đặt ưu tiên cao cho việc giatăng năng suất, và người dân quan tâm nhiều đến việc làm và thu nhập hơn là khôngkhí hay nguồn nước sạch Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến việc sử dụng nhiềuhơn nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát thải nhiều hơn các chất ô nhiễm làm suythoái môi trường trầm trọng Khi thu nhập tăng lên, ngườidân có ý thức hơn về giátrị môi trường, luật pháp, chính sách môi trường cũng như các cơ quan thi hành trởnên nghiêm khắc và hiệu quả hơn, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến đượcnghiên cứu và áp dụng rộng răi tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường(Nguyễn Đinh Tuấn và Phạm Nguyễn Bảo Hạnh, 2014)

Trang 27

Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm gần đây còn cho thấy bằng chứng tồntại đường cong EKC bậc 3 với hình dạng chữ N Điển hình như nghiên cứu củaMartinez-Zarzoso và cộng sự (2004), dùng ước lượng PMG để kiểm tra sự tồn tạicủa đường cong EKC cho biến khí thải CO2 với nhóm các nước OECD và chỉ ra sựtồn tại của một EKC bật 3 dạng chữ N cho đa số các nước trong mẫu Balin và Akan(2015) cũng đưa ra kết luận tương tự khi sử dụng mô hình tác động cố định FEMcho dữ liệu bảng của 27 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1997-2009.

Hình 1.2: Đường cong Kuznets về môi trường (EKC) bậc 3

Nguồn: Balin và Akan (2015)

1.4 Tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan

Đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu xem xét tác động của chi tiêu chính phủđến chất lượng môi trường với các biến số đo lường như lượng khí thải CO2, lưuhuỳnh dioxit (SO2), bụi PM2.5,5tiêu thụ năng lượng, việc sử dụng các hoá chất độchại và sự xuống cấp của hệ sinh thái,…

Frederik và Lundström (2001) báo cáo rằng tự do kinh tế cao có tác độngkhiến mức phát thải CO2 nhỏ hơn khi quy mô chính phủ là nhỏ, nhưng mức phát

5 Bụi PM2,5 (hay bụi mịn) là tên dùng để chỉ những hạt bụi li ti trong không khí có kích thước 2,5 micron trở xuống 1micron (micromet) bằng 1/1000mm Các hạt bụi trong phạm vi kích thước PM2,5 có thể đi sâu vào đường hô hấp và tới phổi Phơi nhiễm với bụi mịn có thể gây những tác động sức khỏe tức thời như kích ứng mắt, mũi, họng và phổi, ho, hắt hơi, chảy nước mũi và khó thở Phơi nhiễm với bụi mịn cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng của phổi và làm nặng thêm những tình trạng bệnh như hen và bệnh tim.

Trang 28

thải CO2 sẽ tồi tệ hơn khi quy mô chính phủ đang rất cao Dữ liệu cho 77 quốc giatrong gia đoạn 1977-1996 Mặc dù mục tiêu chính của tác giả là điều tra những ảnhhưởng của tự do chính trị và kinh tế lên lượng khí thải CO2 nhưng điều thú vị là lạitìm thấy tác động tiêu cực của chi tiêu chính phủ đến khí thải ở các nước có thunhập cao Tác giả lập luận rằng: nếu chất lượng của môi trường được xem là hànghóa công xa xỉ thì nó chỉ có thể được yêu cầu sau khi các nhu cầu công cộng cầnthiết hơn đã được giải quyết, điều này có nhiều khả năng xảy ra ở các quốc gia cóchi tiêu chính phủ với quy mô lớn.

Bernauer và Koubi (2006) tiến hành thực nghiệm kiểm tra các lý thuyết vềcung cấp hàng hoá công tác động đến chất lượng môi trường, sử dụng nồng độ SO2

từ các Dự án Giám sát Môi trường toàn cầu cho 107 thành phố ở 42 quốc gia từ năm

1971 đến năm 1996.Tác giả kết luận rằng tăng tỷ trọng chi tiêu chính phủ trongGDP dẫn đến không khí ô nhiễm nhiều hơn và mối quan hệ này không bị ảnh hưởngbởi chất lượng của chính phủ Tuy nhiên, họ không xem xét đến bậc hai và bậc bacủa thu nhập trong phân tích mà gán phát hiện của họ với các giả thuyết mơ hồ rằngthu nhập cao hơn dẫn đến chính phủ lớn hơn và chất lượng không khí xấu hơn

Lopez và cộng sự (2011) đã cung cấp một cơ sở lý luận cho việc xác định tácđộng của chi tiêu chính phủ đến ô nhiễm, dùng nhu cầu ôxy sinh học (BOD) vànồng độ SO2 làm biến đại diện Cụ thể, họ nhấn mạnh tầm quan trọng và tính toánthực nghiệm tác động của các thành phần trong chi tiêu chính phủ đối với môitrường Họ cho rằng việc phân bổ lại thành phần chi tiêu của chính phủ đối với xãhội và hàng hóa công có tác dụng làm giảm ô nhiễm Kết quả này là do sự kết hợpcủa bốn yếu tố, cụ thể là:

• Hiệu ứng quy mô: theo đường cong Kuznets (EKC), tăng chi tiêu chính phủ làm tăng ô nhiễm môi trường do tăng trưởng kinh tế cao

• Hiệu ứng thu nhập: mức thu nhập cao, nhu cầu cải thiện chất lượng môi trường cao

Trang 29

• Hiệu ứng thành phần: tăng hoạt động thâm dụng vốn con người thay

vì các ngành công nghiệp thâm dụng vốn vật chất gây nguy hại môi trường nhiều hơn

• Hiệu ứng kỹ thuật : giảm thiểu ô nhiễm môi trường do năng suất lao động được cải tiến nhờ chi tiêu nhiều cho các lĩnh vực y tế và giáo dục

Hơn nữa, họ thấy rằng việc tăng tổng chi tiêu chính phủ mà không thay đổi

tỷ lệ các khoản mục chi của nó sẽ có tác động không tích cực lên chất lượng môitrường

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu liên quan, Lopez và Palacios (2010) xemxét vai trò chi tiêu chính phủ và thuế môi trường6 đến chất lượng môi trường ở châu

Âu, sử dụng dữ liệu phân tích cho 21 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 1995-2006

và kết luận rằng tổng chi tiêu chính phủ là một yếu tố tiêu cực quan trọng quyếtđịnh ô nhiễm không khí, ngay cả khi đã kiểm soát các thành phần chi tiêu công

Halkos và Paizanos (2012) đã sử dụng dữ liệu của 77 nước trong giai đoạn1980-2000 để thực nghiệm kiểm tra tác động của chi tiêu chính phủ đến ô nhiễm,đại diện bằng hai khí thải nhà kính là SO2 và CO2 Tác giả chia tác động này thànhtrực tiếp và gián tiếp, tiến hành ước lượng đồng thời hai phương trình bằng mô hìnhhồi quy dữ liệu bảng.Đối với cả SO2 và CO2, chi tiêu chính phủ ước tính có tácđộng trực tiếp tiêu cực đến lượng phát thải bình quân đầu người Các tác động giántiếp lên SO2 được tìm thấy là tiêu cực đối với mức thu nhập thấp và sau đó trở nêntích cực khi mức thu nhập tăng lên, trong khi đó chi tiêu chính phủ có tác động tiêucực đến CO2 ở tất cả các mức thu nhập của mẫu Việc ước tính ảnh hưởng trực tiếptiêu cực của chi tiêu chính phủ đến ô nhiễm là phù hợp với những phát hiện trước

đó từ Lopez và cộng sự (2011), Lopez và Palacios (2010) Tuy nhiên, tác động giántiếp lần đầu tiên được ước tính trong bài nghiên cứu của hai tác giả đã đưa rakhuyến nghị chính sách khác nhau tùy theo mức thu nhập của một quốc gia Đối vớicác quốc gia có GDP thấp hơn 7.094USD, giảm tỷ trọng chi tiêu của chính phủ

6 Đối với nghiên cứu mở rộng về tác động của thuế môi trường lên ô nhiễm ,có thể tham khảo Fullerton

và cộng sự (2010).

Trang 30

trong GDP không chỉ có xu hướng làm tăng thu nhập mà còn làm tăng mức phátthải SO2 Mặt khác, khi xem xét lượng khí thải CO2 vớimột tác động đến hệ sinhthái toàn cẩu, giảm chi tiêu chính phủ dẫn đến môi trường xuống cấp,không phụthuộc vào mức thu nhập Và do đó cần phải có hệ thống pháp luật phù hợp cùng với

sự thành lập các điều ước môi trường quốc tế

Xiao Huimin và cộng sự (2013) đã sử dụng dữ liệu bảng cho các tỉnh thànhcủa Trung Quốc- một trong những nước phát thải khí CO2 lớn nhất, trong giai đoạn2000-2008 để phân tích những tác động trực tiếp và gián tiếp của chi tiêu chính phủđịa phương đến phát thải CO2 Kết quả cho thấy tác động trực tiếp của chi tiêuchính phủ địa phương đến lượng khí thải CO2 là tiêu cực đáng kể.Chính quyền địaphương cũng có tác động gián tiếp đến khí thải CO2 thông qua thay đổi quy môkinh tế, cơ cấu công nghiệp và trình độ công nghệ Trong phạm vi toàn bộ mẫu, các

hệ số ước tính của tác động gián tiếp là tiêu cực và hàm ý rằng chi tiêu chính phủcải thiện chất lượng môi trường thông qua kênh quy mô kinh tế Các hệ số ướclượng tổng tác động là tiêu cực hay nói cách khác, tăng tổng chi tiêu chính phủ cótác động làm giảm lượng khí thải CO2 ở Trung Quốc

Galinato và Galinato (2015) trình bày một mô hình lý thuyết và thực nghiệmxem xét ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ đến độ che phủ rừng và lượng khí thải

CO2 do phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp gây ra Trái với các kết luận củaLopez và cộng sự (2011), kết quả cho thấy rằng tăng chi tiêu trên hàng hóa côngkhông có tác động đáng kể đối với khí thải CO2 do sự tăng lên đồng thời của chi phíbiên và lợi ích biên của phát quang đất Tuy nhiên, tăng tổng chi tiêu của chính phủlại làm tăng đáng kể ô nhiễm từ khí thải CO2 Các kết quả có ý nghĩa chính sáchquan trọng, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái, khi các nước đang phát triển sử dụngchính sách chi tiêu phản chu kỳ làm tăng tỷ lệ chi tiêu của chính phủ trong tổngGDP

Gần đây hơn, Halkos và Paizanos (2015) xem xét tác động của chi tiêu chínhphủ đến ô nhiễm không khí ở Mỹ, tập trung vào lượng khí thải CO2, với bộ dữ liệutheo quý trong giai đoạn 1973-2013 Phân loạiphát thải CO2 theo hai nguồn do sản

Trang 31

xuất tạo ra và tiêu dùng tạo ra, Halkos và Paizanos ước lượng một mô hình gồmtổng chi tiêu chính phủ, lượng phát thải CO2 và các biến có liên quan khác bằngcách sử dụng phương pháp vectơ tự hồi quy Phân tích cho thấy rằng tăng chi tiêuchính phủ làm giảm lượng CO2 ở cả hai nguồn phát thải Đặc biệt, tác động này cóthể được tăng cường đáng kể bằng cách tập trung vào một khoản chi tiêu cụ thể.Phù hợp với những phát hiện của các nghiên cứu gần đây, một đồng chi tiêu chohàng hóa công sẽ có tác động làm giảm khí thải CO2 nhiều hơn so với một đồngtổngchi tiêu, cho cả khí thải CO2 do sản xuất và tiêu dùng tạo ra Ngoài ra, chi tiêu bảo

vệ môi trường được chứng minh là hiệu quả nhất trong các loại chi tiêu xem xét, kếtquả ước tính giảm khí thải hơn 17 lần so với cùng một khoản chi cho tổng chi tiêuchính phủ Cuối cùng, tác động trên lên lượng khí thải CO2 là tương tự về độ lớncho cả hai nguồn gây ô nhiễm, nhưng khí thải do sản xuất tạo ra diễn ra nhanhhơn.Tuy nhiên, tác giả lại không phân tích các mô hình lý thuyết cũng như cung cấpnền tảng cho mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và chất lượng môi trường Hơnnữa,các yếu tố dân chủ và tham nhũng được chứng minh thực nghiệm có tác độngđến lượng khí thải CO2 nhưnglại không được xem xét trong bài nghiên cứu Trongkhi đó, Mỹ lại thuộc nhóm quốc gia cómức độ dân chủ cao và mức độ tham nhũngthấp nhất thế giới

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ Ô NHIỄM

KHÔNG KHÍ TẠI CÁC NƯỚC ASEAN-5 HIỆN NAY

Nội dung chương 2 giới thiệu về tình hình chi tiêu chính phủ ở các quốc gia nghiên cứu cũng như thực trạng lượng khí thải CO 2 ngày càng tăng ở các quốc gia này Bên cạnh đó, chương 2 cũngđưa ra cái nhìn tổng quan về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực ASEAN.

Trang 33

Riêng về mức chi tuyệt đối thì chính phủ Việt Nam đã tăng mức chi tiêu từ246.711 tỷ đồng trong năm 2014lên đến 265.545 tỷ đồng năm 2015 Chi tiêu củachính phủ trung bình giai đoạn 1990-2015 khoảng 74.287,27 tỷ đồng, đạt mức caonhất 265.545 tỷ đồng trong năm 2015 và mức thấp kỷ lục là 3164 tỷ đồng trong năm

1990 (Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam)

Chi tiêu chính phủ của Indonesia tăng lên đến 187.645,48 tỷ IDR trong quý

II năm 2016 từ 137.794,47 IDR tỷ trong quý đầu tiên của năm 2016 Chi trung bình88.989,28 tỷ IDR trong giai đoạn 2000 - 2016, đạt mức cao nhất 272.591,10 tỷ IDR trongquý IV năm 2015 và mức thấp kỷ lục là 21.713,30 tỷ IDR trong quý III năm 2000 (Theobáo cáo của Cục Thống kê Indonesia)

Tương tự, chi tiêu của chính phủ ở Malaysia cũng tăng từ 31.560 triệu MYRtrong quý đầu tiên năm 2016 lên 34.649 triệu MYR trong quý II năm 2016 Chi tiêucủa chính phủ trung bình là 25.565,37 triệu MYR từ năm 2005 đến năm 2016, đạtmức cao nhất 46.893 triệu MYR trong quý IV năm 2015 và thấp nhất là 12.420triệu MYR trong quý đầu tiên của năm 2005 (Theo báo cáo của Cục Thống kêMalaysia)

Chi tiêu của chính phủ tại Philippines tăng từ 207.461,23 triệu PHP trongquý đầu tiên của năm 2016 lên 254.929,73 triệu PHP trong quý II năm 2016 Bìnhquân từ năm 1981 đến năm 2016 chi 109.057,90 triệu PHP, mức chi cao nhất là254.929,73 triệu PHP trong quý II năm 2016 và thấp nhất 62.728,31 triệu PHP trongquý đầu tiên của năm 1986 (Theo báo cáo của Ban điều phối thống kê quốc giaPhilippines)

Khác với bốn nước trên, tại Thái Lan chi tiêu chính phủ trong hai quý đầunăm 2016 có xu hướng giảm từ 391.454 triệu THB trong quý I giảm xuống còn375.513 triệu THB trong quý II năm 2016 Chính phủThái Lan chi trung bình

236.970,18 triệu THB từ năm 1993 đến năm 2016, đạt mức chi cao nhất 391.454triệu THB trong quý I năm 2016 và mức thấp nhất là 113.953 triệu THB trong quý Inăm 1993 (Theo báo cáo của NESDB, Thái Lan)

Nhìn chung, chính phủ các nước ASEAN-5 đều có xu hướng giảm tỷ lệ chi

Trang 34

tiêu trong GDP qua các năm nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng Tuynhiên, tại các quốc gia này thường hoạt động chủ yếu của thị trường không đảm bảoquy luật tự do cạnh tranh Phần lớn giá cả tại những nước này được quyết định bởichính phủ, nhằm tạo điều kiện cho kinh tế tiếp tục phát triển hoặc đảm bảo mứcsống tối thiểu cho nhân dân Bên cạnh đó, sự can thiệp của chính phủ cũng làm lệch

đi hoạt động của thị trường tự do đã đưa đến một số tác động tiêu cực lên môitrường như sau:

- Phần lớn nguồn thu của chính phủ được sử dụng vào các khoản chi trợ cấp

ổn định giá mà không dùng đúng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc cải thiện môitrường

-Trợ giá các mặt hàng có liên quan đến môi trường sẽ khuyến khích sự lạm dụng tài nguyên hoặc hủy hoại môi trường (ví dụ, trợ giá cho phân bón…)

-Thu hút việc sử dụng tài nguyên vào những ngành được trợ giá do nhà sảnxuất có thể tìm thấy lợi nhuận trong các lĩnh vực này, khiến cho mục đích sử dụngtài nguyên vào những hoạt động quan trọng, cần thiết hơn không đạt được

2.2 Tăng trưởng kinh tế của quốc gia ASEAN-5

ASEAN lâu nay luôn là khu vực tăng trưởng cao và ổn định hơn các khu vựckhác Theo nhóm Nghiên cứu vĩ mô ASEAN-Ngân hàng Standard Chartered, tronggiai đoạn 1980-2013, tốc độ tăng trưởng hàng năm của ASEAN cao hơn tốc độ tăngtrưởng toàn cầu 2 điểm phần trăm Thành tựu này đã thu hẹp khoảng cách GDPbình quân đầu người giữa ASEAN và mức bình quân toàn cầu từ 6 lần vào năm

1980 xuống còn 2,7 lần vào năm 2013 Đáng chú ý hơn nữa là tốc độ tăng trưởngcủa khu vực luôn được duy trì ổn định Từ 1980 đến 2013, tốc độ tăng trưởng chungđạt trên 5%/năm, ngoại trừ thời gian khủng hoảng tài chính châu Á và khủng hoảngtài chính toàn cầu

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã khiến tốc độ tăng trưởng GDPcủa các nước ASEAN trồi sụt mạnh trong khoảng thời gian từ năm 2007 - 2011 Ít

có nước nào trong khu vực có được sự ổn định trong giai đoạn này

Trang 35

Trường hợp ổn định nhất trong ASEAN là Indonesia với tốc độ tăng trưởng

ở mức 6,2% vào năm 2010, 6,5% vào năm 2011 và khoảng 6,1% vào năm 2012.Trước đó, ngay cả năm tệ hại nhất của kinh tế thế giới là năm 2009 thì tăng trưởng GDPcủa Indonesia cũng chỉ giảm xuống mức 4,6%

Trường hợp trải qua nhiều sóng gió nhất có lẽ là Thái Lan, với mức thụt lùi 2,3% vào năm 2009 và mức tăng trưởng gần như bằng 0 vào năm 2011 Xen kẽ giữacác năm đó, Thái Lan đạt được tốc độ tăng trưởng bùng nổ năm 2010 với7,8%.Malaysia cùng chịu chung số phận với tốc độ tăng trưởng GDP giảm liên tụctrong 3 năm gần nhất Nước này cũng chứng kiến sự suy giảm điểm tăng trưởng từ7,2% (năm 2010) xuống còn 5,1% năm 2011

-Philippines cũng có tăng trưởng trồi sụt đáng đáng kể trong những năm vừaqua Tốc độ tăng GDP của nước này đã lên tới mức 7,6% năm 2010, nhưng lại tụtxuống 3,7% vào năm 2011

Tăng trưởng GDP các nước còn lại trong ASEAN cũng có những diễn biếntương tự, tuy nhiên, xét về tổng thể đến hết năm 2011, các nước ASEAN đã vượtqua những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

Trên thực tế, trong thời gian qua, mặc dù chịu sự tác động của cuộc khủnghoảng nợ công châu Âu, sự suy yếu của kinh tế Mỹ và sự tăng trưởng chậm lại củanền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ, song trong năm 2013, kinh tế khu vực ASEAN-5vẫn giữ được mức tăng trưởng cao Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởngkinh tế của ASEAN năm 2013 đạt khoảng 5,2% Trong đó, tốc độ tăng trưởng GDPcủa Indonesia khoảng 6,1%, Malaysia khoảng 4,4%, Philippines khoảng 4,2%, TháiLan khoảng 5,5%.Riêng về Việt Nam,năm 2013, quy mô GDP của Việt Nam đạt

171 tỷ USD, ghi nhận mức tăng trưởng 5,4%, cao hơn so với mức 5,2% của năm

2012 và cũng cao hơn mức bình quân 5,2% của các nước ASEAN trong cùng năm.Điều này cho thấy những nỗ lực của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiệnnay, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp Dịch vụ hiện đang là ngành đóng góp lớntrong tăng trưởng kinh tế năm 2013 của Việt Nam chiếm 43,3% GDP, cao hơn mức

Trang 36

41,7% của năm trước đó, tốc độ tăng trưởng đạt 6,6%, cao hơn tốc độ 5,9% của nămtrước đó.

Hình2.2: Thu nhập bình quân đầu người theo giá so sánh 2010 của nhóm nước

ASEAN-5 giai đoạn 1984-2013 ĐVT: nghìn USD

Nguồn: World BankQuy mô nền kinh tế hiện hành của Việt Nam tương đối thấp so với các nướcASEAN, nhưng mức chênh lệch này ngày càng thu hẹp đáng kể trong những nămgần đây Nếu như năm 2005, quy mô tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Namchỉ bằng 1/3 Thái Lan, gần 1/2 Singapore, gần 1/5 Indonesia thì đến năm 2013 con

số này đã cải thiện đáng kể: bằng 1/2 Thái Lan và trên 1/2 Singapore

Mạc dù khoảng cách thu nhập giữa Việt Nam và các nước trong khu vựcASEAN được thu hẹp trong 20 năm qua nhưng so với các nước trong khu vựcASEAN, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đứng thứ 7/10 và thấp nhất trong

số các quốc qia đang nghiên cứu Thực tế này cho thấy, sự chênh lệch này vẫn cònlớn vào thời điểm hiện tại Việt Nam vẫn bị tụt hậurất xa so với các nền kinh tế lớncủa ASEAN và phải mất thời gian dài mới có thể theo kịp

Trang 37

2.3 Tình hình ô nhiễm không khí

2.3.1 Lượng khí thải CO2 ngày càng gia tăng

Hình 2.3: Lượng khí thải CO 2 bình quân đầu người của nhóm nước

ASEAN-5 giai đoạn 1984-2013 ĐVT: tấn/người

Nguồn: WorldBankLượng khí thải CO2 bình quân đầu người ở các quốc gia nghiên cứu vẫn liêntục tăng trong giai đoạn 1984-2013 Ngoại trừ Indonesia, Việt Nam và Philippinesthì 2 quốc gia còn lại là Malaysia và Thái Lan có lượng khí thải CO2 bình quân đầungười cao vượt trội với 8.03 tấn/người đối với Malaysia vào năm 2013, cao hơn gấp

8 lần so với Philippines tại thởi điểm đó

Trang 38

Hình 2.4: Tỷ lệ các nguồn phát thải khí CO 2 nhìntừ quá trình đốt cháy nhiên liệu, giai đoạn 1984-2013 cho các nước ASEAN-5

Nguồn: Tính toán từ số liệu của WorldBank Trong các nguồn phát thải khí CO2 từquá trình đốt cháy năng lượng thì nguồn sản xuất nhiệt điện chiếm tỷ lệ cao nhất vàvẫn đang có xu hướng tăng lên Theo đánh giá của Tổng cục Năng lượng (Bộ CôngThương), cũng như các nền kinh tế khác trên thế giới, nhiệt điện than là một trongcác nguồn thải CO2 chính và lớn ở Việt Nam Năm 2010, hơn 1/2 công suất đặttrong hệ thống điện Việt Nam thuộc về nhiệt điện Trong đó, nhiệt điện than chiếm

18,5 %, nhiệt điện khí và dầuchiếm 36,6%

Trang 39

Hình 2.5: Tỷ lệ các nguồn phát thải khí CO 2 nhìn từ quá trình đốt cháy

nhiên liệu cho các nước ASEAN-5, năm 2013.

Nguồn: Số liệu WorldBank

Tỷ lệ này ở các quốc gia khác còn cao hơn, đặc biệt là Malaysia với 54% khíthải CO2 là từ các nhà máy nhiệt điện

Trong các nguồn thải CO2 trong nền kinh tế của Việt Nam thì ba lĩnh vựcluôn dẫn đầu từ năm 1984 đến nay đó là: ngành công nghiệp và xây dựng, ngànhsản xuất nhiệt điện và khí thải từ các phương tiện giao thông Việc chậm đổi mới và

sử dụng các công nghệ lạc hậu của phần lớn các doanh nghiệp đang là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

2.3.2 Hậu quả kinh tế

Biến đổi khí hậu là một trong các yếu tố quan trọng quyết định đến việcASEAN có thể giải quyết được vấn đề đói nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sốngcho người dân hay không Theo một nghiên cứu năm 2015 của ADB, ước tính thiệthại kinh tế do biến đổi khí hậu tại khu vực lên đến 60%, cao hơn dự toán năm 2009

và có xu hướng tiếp tục tăng nếu các biện pháp giảm thiểu tác động không được

Trang 40

nhanh chóng thực hiện Dự đoán điều này sẽ gây sụt giảm 11% tổng GDP trong khuvực vào năm 2100.

Hơn nữa, thời tiết khắc nghiệt liên quan đến biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến lũlụt thường xuyên Lũ lụt kết hợp với nước biển dâng sẽ nhấn chìm nhiều vùng đấtđai ven biển, tàn phá cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và buộc hàng triệu người phải di

cư Cái vòng luẩn quẩn sẽ tiếp tục diễn ra như vậy với những hậu quả ngày mộtnặng nề hơn.Trong khi đó, chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu là tương đối cao.Tuy vậy, những lợi ích kinh tế thu về từ các hoạt động nhằm ổn định khí hậu vàthích ứng với tác động của biến đổi khí hậu vượt xa chi phí bỏ ra, mà theo các nhànghiên cứu ước tính có thể gấp tới 11 lần

2.3.3 Hướng đến công nghệ CCS-Phát triển nền kinh tế carbon thấp

Ở cá nước Đông Nam Á, một trong những vấn đề cần ưu tiên hàng đầu làgiảm tốc độ phá rừng, tạo ra hiệu quả tức thì đối với việc giảm phát thải và thậm chí cóthể giảm một nửa tổng thiệt hại từ biến đổi khí hậu

Vụ cháy rừng năm 2015 ở Indonesia đã phá hủy 3 triệu hecta đất và làm thiệthại khoảng 14 tỷ USD.Nông lâm nghiệp, y tế, giao thông vận tải và du lịch chịu tổnthất nặng nề.Nhưng đáng báo động hơn cả là tác động của thực trạng này tới khí hậucủa Indonesia và các nước lân cận.Năm 2015, Indonesia đã trở thành quốc gia phátthải lượng carbon lớn nhất thế giới.Vì các đám cháy này mà khói mù trung bìnhhàng ngày trong tháng 9 và tháng 10 tại Indonesia cao hơn bình thường tới 10 lần

Giải pháp hiệu quả hiện nay mà các nước Đông Nam Á cần triển khai là đẩymạnh nỗ lực sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường như thu giữ và ngưng tụcarbon (CCS), các công nghệ tiết kiệm năng lượng, cải thiện và giảm sử dụng nănglượng Đây chính là phương án tối ưu nhằm giảm lượng khí thải dài hạn Nếu khôngthay đổi mô hình sử dụng năng lượng hiện có, bao gồm từ than đá và dầu mỏ, ướctính lượng khí thải nhà kính trong khu vực có thể tăng thêm 60% vào năm 2050

Ngày 29/10/2015, tại Hà Nội, Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN lầnthứ 13 đã thông qua Tuyên bố chung ASEAN về Biến đổi khí hậu năm 2015 Sự

Ngày đăng: 24/09/2020, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w