1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

120 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 199,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng chú ý, là phạm vi điều chỉnh của Luật thuế TNCN đã bao gồm cả cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh, trong khi trướcđây những đối tượng này chịu sự điều chỉn

Trang 1

NGUYỄN THANH LIÊM

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

NGUYỄN THANH LIÊM

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ VŨ NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn là hoàn toàn do tôi thựchiện, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các thông tin, tư liệu, số liệu được

sử dụng, tham khảo trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đềuđược trích dẫn nguồn gốc, xuất xứ một cách đầy đủ và cẩn thận./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 4

Qua 2 năm học tập Chương trình cao học Luật kinh tế của khoa Luật trườngĐại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, bản thân có nhiều cố gắng nghiên cứu và

đã tích lũy kiến thức có giá trị phục vụ cho việc viết luận văn thạc sỹ

Để hoàn thành được đề tài này, bên cạnh nỗ lực, cố gắng tìm hiểu, nghiêncứu học tập của bản thân, tác giả còn nhận sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của quýThầy, Cô, bạn bè và đồng ngiệp

Trước tiên, xin được gởi lời cảm ơn quý thầy (cô) đã giảng dạy và truyền đạtkiến thức quý báu cho tác giả trong suốt 2 năm nghiên cứu tại trường Đại học Kinh

tế Thành phố Hồ chí Minh Đây chính là nền tảng để tác giả hoàn thành tốt luận văncủa mình Và xin gửi lời cảm ơn đến, bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian tác giảthực hiện đề tài đã động viên, giúp đỡ tin thần rất lớn để có động lực hoàn thành tốtluận văn của mình

Và cuối cùng, đặc biệt tác giả gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đếnPGS.TS: Lê Vũ Nam, nhờ sự giảng dạy, giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của Thầy

đã giúp tác giả định hướng đúng trong hoạt động nghiên cứu đề tài Và đây cũngchính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để có thể giúp tác giả hoàn thànhtốt luận văn này

Trân trọng

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 5

Số thứ tự Viết tắt Diễn giải

Trang 6

Biểu đồ 1 Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập

trang 57sản xuất, kinh doanh qua các năm năm 2014, 2015, 2016

Biểu đồ 2 Tổng thu nhập từ thuế thu nhập cá nhân qua các năm

trang 58

2014, 2015, 2016

Biểu đồ 3 Mức doanh thu mà cơ quan thuế khoán cho cá nhân

trang 61

kinh doanh và hộ kinh doanh

Biểu đồ 4 Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có người phụ

trang 65

thuộc

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọ đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng 6

7 Bố cục luận văn 6

CHƯƠNG 1 7

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI 7

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 7

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 7

1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của thuế thu nhập cá nhân 7

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 9

1.1.3 Vai trò thuế thu nhập cá nhân 12

1.1.3.1 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước 12

1.1.3.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội 14

1.1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân góp phần tích cực vào mạng lưới bảo hiểm 15

Trang 8

1.1.3.5 Thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập ngầm và góp

phần phòng chống tội phạm 15

1.1.4 Nội dung cơ bản thuế thu nhập cá nhân 16

1.1.4.1 Đối tượng chịu thuế 16

1.1.4.2 Đối tượng nộp thuế 18

1.1.4.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân 18

1.1.4.4 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 19

1.2 Thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.1 Khái quát về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.1.1 Khái niệm về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 23

1.2.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 28

1.2.3 Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 29

1.2.4 Lược sử phát triển đối với thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 30

1.2.4.1 Trước khi có Luật thuế thu nhập cá nhân 30

1.2.4.2 Sau khi có Luật thuế thu nhập cá nhân 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 35

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 35

ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 35

2.1 Người nộp thuế 35

2.2 Thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn giảm thuế 37

2.2.1 Thu nhập chịu thuế 37

2.2.2 Đối với thu nhập miễn thuế 38

2.3 Nguyên tắc áp dụng 40

Trang 9

2.3.3 Đối với các nhân cho thuê tài sản 41

2.3.4 Đối với cá nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp 42

2.4 Căn cứ tính thuế 43

2.4.1 Doanh thu tính thuế 43

2.4.2 Thuế suất 46

2.5 Quản lý thuế thu nhập cá nhân 46

2.5.1 Đăng ký, kê khai thuế 46

2.5.2 Nộp thuế, quyết toán thuế 51

2.5.3 Xác định doanh thu và mức thuế khoán đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán 52

2.5.4 Ủy nhiệm thu thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán 53

2.5.5 Công khai thông tin cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán 54

2.5.6 Một số nội dung khác về công tác quản lý thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3 60

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ 60

THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 60

VÀ HỘ KINH DOANH VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 60

3.1 Đánh giá quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 60

3.1.1 Một số ý kiến đánh giá quy định pháp luật với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 61

3.1.1.1 Kê khai thuế 69

3.1.1.2 Về quyết toán thuế 70

Trang 10

doanh nộp thuế khoán 71

3.1.1.5 Công khai thông tin thuế khoán 72

3.1.2 Thực trạng áp dụng Luật pháp về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 74

3.1.2.1 Trước khi có Luật sửa đổi, bổ sung một sô Điều của các Luật về thuế năm 2014 74

3.1.2.2 Sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật về thuế năm 2014 78

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 89

3.2.1 Một số kiến nghị về mặt quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 89

3.2.2 Một số kiến nghị về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96

KẾT LUẬN CHUNG 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọ đề tài

Thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN) là một trong những loại thuế đã xuấthiện cách nay hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành một trong những loại thuế rấtquan trọng đối với sự phát triển của các Quốc gia, đó là một trong những nguồn thuquan trọng đóng góp vào ngân sách Nhà nước Với vai trò quan trọng đó, trong quátrình phát triển của đất nước, đặc biệt từ khi nước ta gia nhập tổ chức thương mạiThế giới (WTO) Năm 2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN là cơ sở pháp lýquan trọng để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, tạo hành lang pháp lý và hoànthiện hệ thống thuế thu nhập ở Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc

tế Với vai trò quan trọng đó, để toàn diện hơn Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung Luậtthuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 bằng Luật số 26/2012/QH13 ngày22/11/2012 Đáng chú ý, là phạm vi điều chỉnh của Luật thuế TNCN đã bao gồm cả

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh, trong khi trướcđây những đối tượng này chịu sự điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.Như vậy, sự ra đời của Luật thuế TNCN đã đảm bảo công bằng hơn giữa cá nhânkinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh với cá nhân có thu nhập từtiền lương, tiền công

Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định của luật này thì không tránh khỏinhững bất cập như: thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh đang

áp dụng quy trình tính thuế phức tạp Trường hợp cá nhân kinh doanh chưa thựchiện được chế độ kế toán, không xác định được thu nhập chịu thuế thì cơ quan thuế

ấn định thu nhập, sau đó lại xác định thu nhập tính thuế trên cơ sở trừ gia cảnh để

áp dụng biểu thuế lũy tiến Trên thực tế đa số cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanhkhông thực hiện chế độ kế toán nên phải thực hiện ấn định thu nhập chịu thuế

Ngoài ra, công tác quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanhcũng rất phức tạp, tiêu tốn nhân lực nhưng không hiệu quả Theo bản thuyết minhchi tiết dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế ngày 17 tháng

10 năm 2014 của Chính phủ, tổng số thu từ nhóm cá nhân kinh doanh và hộ kinh

Trang 12

doanh chỉ chiếm khoảng 2% tổng thu (trừ dầu) nhưng tổng số nhân lực ngành thuế

để quản lý đối tượng này lên đến 60% Mặc dù ngành thuế đã thực hiện việc côngkhai thông tin hộ khoán trước và sau khi ấn định thuế Tuy nhiên, do chính sáchthuế phức tạp nên cá nhân cũng không thể tự biết được việc tính thuế như thế nào đểxác định số thuế mình phải nộp Việc công khai minh bạch về chính sách thuế đốivới cá nhân kinh doanh cũng không đạt hiệu quả Do đó, để tạo điều kiện thuận lợicho người nộp thuế và giảm gánh nặng quản lý đối với cơ quan thuế, ngày 26 tháng

11 năm 2014, Quốc hội đã ban hành Luật số 71/2014/QH13 về việc sửa đổi, bổsung một số Điều của các Luật về thuế Theo đó, sửa đổi quy định về phương pháptính thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh theo hướng đơn giản để cánhân có thể tự khai, tự nộp Đồng thời, bổ sung nguyên tắc thu thuế đối với cá nhânkinh doanh và hộ kinh doanh, quy định mức thuế khoán chi tiết đối với từng lĩnhvực, ngành nghề, sản xuất kinh doanh Do đó, đây chính là quy định mới so vớitrước đây nên câu hỏi đặt ra là việc áp dụng quy định mới này đạt được hiệu quảnhư thế nào ? Mức thuế có hợp lý không ? Việc áp dụng quy định mới có đảm bảocông bằng so với trước đây không ?

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó trong công tác áp dụng Luậtthuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thu nhập từ hoạt động

kinh doanh, sản xuất vào thực tiễn người viết đã chọn đề tài “Pháp luật về Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh” làm luận văn

Thạc sỹ Luật học của mình Với mong muốn thông qua phân tích, đánh giá củamình về những quy định của Luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộkinh doanh có thu nhập từ kinh doanh để từ đó đưa ra những kiến nghị góp phầnhoàn thiện pháp luật về thuế TNCN để áp dụng một cách có hiệu quả hơn Từ đóhạn chế những bất cập trong việc triển khai thực hiện Luật thuế TNCN, đặc biệt làtình trạng thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước và giúp cho công tác quản lý thuế

dễ dàng, thuận lợi hơn Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho những cá nhân kinhdoanh và hộ kinh doanh phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh

Trang 13

2 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh làmột vấn đề khá mới chưa có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện về thuế TNCNđối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Tuy nhiên, đã có một số công trìnhnghiên cứu liên quan đến đề tài như:

- Đề tài: “Pháp luật về thu nhập chịu thuế trong thuế thu nhập cá nhân:

Thực trạng và định hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Nguyễn

Đăng Bình, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011

- Đề tài: “Thực tiễn thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và

định hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả La Thị Tuyết Anh, Hà

Nội năm 2011

- Đề tài: “Pháp luật Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam - Thực trạng

và giải pháp” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Tạ Minh Hảo, Hà Nội năm

2013

- Đề tài: “Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh tiền lương,

tiền công và thực tiễn áp dụng trên một số địa bàn của Thành phố Cần Thơ và tỉnh Tiền Giang” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Nguyễn Thị Huỳnh Như, Cần Thơ năm

2014

- Đề tài: “Một số vấn đề pháp lý về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam - Thực

trạng và giải pháp hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ Luật học, của tác giả Hồ Thị Hải, Hà

Nội năm 2014

- Đề tài nguyên cứu khoa học: “Bảo đảm quyền con người trong Luật thuế

thu nhập cá nhân”, Đề tài nghiên cứu khoa học, của tác giả Trần Minh Hiệp, Đại học

Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012

Nhìn chung, các công trình trên đều có đề cập ở mức độ nhất định về thuếTNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng như phân tích những quyđịnh pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Tuynhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và

Trang 14

sâu sắc về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh dưới góc độluật học.

Bên cạnh đó, các bài báo cáo khoa học rất ít viết về vấn đề này, chỉ tập trung

đề cập đến những vấn đề chung của TNCN như: “Bản chất thuế thu nhập cá nhân”,

Trần Đình Thiên, Vũ Thành Tự Anh, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội số

12, năm 2006; “Thuế thu nhập cá nhân nên thu như thế nào?”, Lê Nết, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội số 7, năm 2007; “Thực trạng pháp luật thuế thu

nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, Trần Vũ Hải,

Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội số 10, năm 2007; “Luật thuế thu nhập cá

nhân: Những bất cập và hướng hoàn thiện” Lê Thị Thu Thủy, nghiên cứu lập pháp,

Văn phòng Quốc hội số 19, năm 2012; “Cơ sở xác định thu nhập thuế trong pháp

luật thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ công bằng”, Trần Minh Đức, Nhà nước và

Pháp luật, viện Nhà nước và Pháp luật số 2, năm 2012; “Bảo đảm công bằng trong

thuế thu nhập cá nhân”, Trần Minh Đức, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội

số 6 năm 2012; “Vấn đề kiểm soát thu nhập pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt

Nam”, Nguyễn Hải Ninh, Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội số 3, năm 2015.

Từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật năm 2014 có hiệu lựcthì vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến thuế TNCN đốivới cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh trong pháp luật thuế TNCN, mặc dù vấn

đề này còn chứa đựng nhiều vấn đề cần bàn luận về lý luận và thực tiễn Hy vọngrằng, đây sẽ là đề tài nghiên cứu tổng quát về thuế TNCN đối với cá nhân kinhdoanh và hộ kinh doanh thông qua việc phân tích đánh giá các quy định và tìm hiểuthực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích là phân tích, đánh giá và tổng hợp cácquy định của pháp luật nhằm làm rõ những vấn đề lý luận; nêu lên thực trạng và kếtquả thực hiện thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh Thông quaviệc nghiên cứu đó, luận văn sẽ làm rõ những điểm tiến bộ so với những quy địnhtrước đây, đồng thời cho thấy được ưu, nhược điểm đang tồn tại trong các văn bản

Trang 15

quy phạm pháp luật hiện hành Để từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm hoànthiện quy định pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinhdoanh.

Mục đích cụ thể của tác giả khi thực hiện đề tài này là:

- Tổng hợp, hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận, quy định pháp luật về thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

- Làm rõ tình hình và kết quả thực hiện thuế TNCN đối với cá nhân kinhdoanh và hộ kinh doanh trong những năm vừa qua Song song đó, tác giả phân tích

và đánh giá quy định của Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộkinh doanh

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

4 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện khách quan về thời gian và để nhằm đạt được mục tiêu nghiêncứu trên phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá những quyđịnh của Pháp luật thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, vàthực trạng áp dụng Pháp luật thuế TNCN từ năm 2013 đến năm 2017 (sau khi Luậtthuế TNCN số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số26/2012/QH13 ngày 22/11/2012) Ngoài ra, tác giả còn tiến hành khảo sát một sốđịa bàn tỉnh Cà Mau

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụthể như sau:

- Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quán triệt quan điểm đường lối, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước

liệu như: văn bản pháp luật, sách báo, tạp chí, các trang mạng và các công trình nghiên cứukhác có các vấn đề liên quan đến mục đích nghiên cứu của đề tài Từ đó,

Trang 16

tác giả có thể xây dựng các cơ sở lý thuyết và để có thể đưa ra các so sánh, phân tích phục vụ cho đề tài.

- Tác giả sử dụng phương pháp xử lý câu hỏi, tổng hợp, phân tích, đánh giá,thống kê, lưu trữ số liệu thực tế, bảng số liệu, biểu đồ… để kết quả khảo sát phản ánhđúng thực tế khách quan

- Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng một số phươngpháp cơ bản khác như: phương pháp bình luận những quy định pháp luật, phương

pháp so sánh, đối chiếu những văn bản trước đây với văn bản hiện hành để rút ranhững hạn chế, những bài học kinh nghiệm

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng

Đề tài có sự kết hợp với việc phân tích quy định pháp luật hiện hành về thuếTNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh và những hạn chế của thuếTNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh để đưa ra một số kiến nghịnhằm hoàn thiện hơn những quy định thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộkinh doanh góp phần thu ngân sách Nhà nước

Bên cạnh đó, tác giả hy vọng nội dung được trình bày trong đề tài này sẽ làtài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến vấn đề của đề tài Ngoài ra, đề tài hoànthành sẽ là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu thuế TNCN, đặc biệt làthuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

Chương 3 Đánh giá thực trạng pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với

cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh và kiến nghị hoàn thiện.

Trang 17

CHƯƠNG 1 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ HỘ KINH DOANH 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc của thuế thu nhập cá nhân.

Thuế là một khoản nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng nhucầu chi tiêu của Nhà nước1 Thông thường hệ thống thuế của một quốc gia có cấutrúc bởi ba nhóm thuế, bao gồm: thuế đánh trên thu nhập, thuế đánh trên tài sản vàthuế đánh trên hành vi người tiêu dùng2, dựa trên đó mà các sắc thuế được thiết lập.Thuế đánh trên tài sản như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế đánh vào ngườitiêu dùng thường được sử dụng là thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… Đốivới thuế thu nhập, hiện nay hầu hết các nước trên thế giới người sử dụng hai sắcthuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Các sắc thuế nàythường phức tạp và khó thu nhưng nó được xem là sắc thuế bình đẳng bởi nó gópphần điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh

cụ thể của người nộp thuế Chính vì vậy, thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thuvào thu nhập của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định3 Hay nói cách khác,thuế TNCN là khoản tiền mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lươnghoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nước

Thuế TNCN ra đời rất sớm, lần đầu tiên thuế TNCN được áp dụng tại HàLan vào năm 1797, nước Anh áp dụng vào năm 1799, nước Pháp áp dụng vào năm

1808, nước Mỹ áp dụng thuế TNCN từ năm 1864 Tại các nước Châu Á: Nhật Bản

áp dụng thuế TNCN vào cuối thuế kỉ XIX, Thái Lan áp dụng vào năm 1939, lip-pin áp dụng vào năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-si-a áp dụng vào năm

Phi-1949, Trung Quốc năm 1984, các nước Đông Âu mới áp dụng như: Ru-ma-ni vàonăm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 19924 Tại các quốc gia phát triển, thuế

1 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11.

2 Lê Thị Nguyệt Châu (2009), Giáo Trình Luật tài chính 2 (thuế), NXB Đại học Cần Thơ, trang 9, trang 11.

3 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205.

4 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205.

Trang 18

TNCN đóng góp một nguồn thu khổng lồ vào ngân sách Nhà nước Ví dụ: Ở nước

Mỹ, Nhật, Canada, Úc, thuế TNCN chiếm 50% nguồn thu ngân sách Nhà nước từthuế Ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaixia, Phi-lip-pin chiếm từ 15%đến 30% nguồn thu ngân sách Nhà nước từ thuế5

Hiện nay trên giới có hai phương pháp đánh thuế TNCN: có nước tính thuếvào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, có nước tính thuế trên tổng thunhập của cả hộ gia đình:

- Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở các nước Anh, Nhật, Thụy Điển,các nước Châu Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp Khắc… Ưu điểm của cách này là đơn giản,

dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước, nhược điểm là chưa đảm bảoyêu cầu cần phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứngđược sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều phụ thuộc

- Cách thứ hai áp dụng ở các nước Pháp, Hà Lan… các chuyên gia cho rằngcách này công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều

có ít nhất 2 người trở lên Đã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau,

do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơiphát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứ hai6

- Ở Việt Nam, trước năm 1975 ở miền Nam thì chính quyền Sài Gòn đã ápdụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là Thuế lợi tức lương bổng được ban hành vào năm

1962 và sau đó được cải cách vào năm 1972 Năm 1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đãthông qua Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Để cho phù hợp vớitừng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Pháp lệnh thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao đã có 6 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm: lần thứ nhất vào năm

1992, lần thứ 2 vào năm 1994, lần thứ ba vào năm 1997,

5 Nguyễn Thị Mỹ Linh (2009), Thuế Thực Hành, Nxb Thống kê, trang 262

6 Trang công ty Luật Minh Khuê, Kiến thức cơ bản về thuế thu nhập cá nhân,

https://luatminhkhue.vn/kien-thuc-phap-luat-thue/kien-thuc-co-ban-ve-thue-thu-nhap-ca-nhan.asp, [Truy cập ngày 15/3//2017].

Trang 19

lần thứ tư vào năm 1999, lần thứ năm vào năm 2001 và lần thứ sáu là Pháp lệnh sửađổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 Do Pháp luật thuếTNCN của Việt Nam với tên gọi là Thuế thu nhập đối với những người có thu nhậpcao nên phạm vi điều chỉnh hẹp và còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, cùng với quátrình hội nhập quốc tế hiện nay vấn đề đặt ra hành lang pháp lý chặt chẽ cũng nhưcác biện pháp chế tài đủ mạnh và có tính thuyết phục để thuế TNCN được thực thimột cách có hiệu lực và hiệu quả Với tính cấp thiết đó, Quốc hội đã thông qua Luật

số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007 và được sửa đổi bằng Luật số 26/2012/QH13ngày 22/11/2012 đã điều chỉnh phù hợp hơn với các loại thuế thu nhập mà cá nhân

có được, không phân biệt mức độ cao, thấp như trước

1.1.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

Chính vì thuế TNCN là một loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của cá nhântrong một khoảng thời gian nhất định nên có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu nên luôn tạo cảm giác gánh

nặng thuế cho người chịu thuế, hay nói theo một cách khác, người nộp thuế khôngthể chuyển giao gánh nặng thuế cho người khác7

Tính trực thu của thuế TNCN còn thể hiện ở chỗ, người nộp thuế cũng đồngthời là người chịu thuế, tức là Nhà nước sẽ trực tiếp đánh thuế vào thu nhập phátsinh của đối tượng nộp thuế, theo đó đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai vànộp thuế

Bên cạnh đó, thuế TNCN với tính trực thu thường đụng chạm trực tiếp đếnlợi ích của người nộp thuế bởi tính nhạy cảm và dễ gây ra phản ứng trong xã hội vì

nó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập bản thân, tình hình tài chính cũng như cuộcsống của gia đình của bản thân người nộp thuế

Vì vậy, việc điều tiết một phần TNCN không đơn giản, hơn nữa thuế TNCNđược xem là một loại thuế khá phức tạp Do đó, Nhà nước phải xác định mức thuhợp lý, phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp thuế

7 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205.

Trang 20

Thứ hai, thuế TNCN có phạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế

đến người nộp thuế8 Cụ thể: Đối tượng chịu thuế bao gồm toàn bộ các khoảnTNCN không phân biệt thu nhập có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ngoàinước Đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các công dân của nước sở tại và nhữngngười nước ngoài cư trú thường xuyên hoặc không thường xuyên tại nước sở tại

Việc xác định đối tượng nộp thuế TNCN phụ thuộc vào phương pháp đánhthuế mà mỗi quốc gia áp dụng Hiện nay, trên thế giới có hai phương thức đánh thuế

TNCN phổ biến, đó là phương thức đánh thuế dựa trên tiêu chí “nơi cư trú” và “địa

điểm phát sinh thu nhập” 9

Theo phương thức đánh thuế trên cơ sở “địa điểm phát sinh thu nhập”, đối

tượng nộp thuế TNCN là mọi cá nhân có thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổcủa một quốc gia Theo đó, cá nhân chỉ nộp thuế TNCN đối với khoản thu nhậpchịu thuế phát sinh tại nước sở tại, còn đối với những khoản thu nhập phát sinh ởnước ngoài thì không phải nộp thuế Cách điều tiết thuế theo phương thức này thìkhông được phổ biến, nhưng nó lại tạo được sự hấp dẫn về thuế để thu hút vốn đầu

tư nước ngoài

Tuy nhiên, phương thức đánh thuế này chỉ thích hợp với những nước cónhiều nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước có ít người làm việchoặc đầu tư ở nước ngoài Điển hình như Hồng Kông đây là nơi mà có số lượng khálớn người nước ngoài đến làm việc và đầu tư10

Tuy cùng căn cứ vào tiêu chí “nơi cư trú” để đánh thuế nhưng mỗi quốc gia

có định nghĩa khác nhau về khái niệm thế nào là một đối tượng cư trú tại một nướctrong Luật thuế TNCN của nước mình Nhiều nước quy định cá nhân cư trú làngười định cư ở nước đó hoặc là những người không sống thường xuyên nhưng cótổng số ngày cư trú là người định cư ở nước đó vượt qua 183 ngày trong một năm

8 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 205.

9 Lê Nết (2007), “Thuế thu nhập cá nhân nên thu như thế nào?”, tạp chí nghiên cứu lập pháp, (07), trang 19.

10 Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam, NXB Tài Chính, trang 28.

Trang 21

tính thuế (có thể là năm dương lịch hoặc là năm tài chính) hoặc trong khoản thờigian 12 tháng liên tục11.

Phương thức đánh thuế dựa vào “nơi cư trú” lại được sử dụng rộng rãi ở hầu

hết các nước trên trên thế giới Theo phương thức này, các cá nhân cư trú ở mộtnước phải nộp thuế tại nước sở tại đối với thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnhthổ quốc gia đó, cá nhân không cư trú chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập phátsinh tại nước đó Như vậy, cá nhân là đối tượng cư trú hay không cư trú nhưng cóphát sinh thu nhập chịu thuế trong năm hoặc kỳ tính thuế đều là đối tượng phải nộpthuế TNCN

Ngoài ra, một số quốc gia lại có quy định một cách cụ thể hơn và có điểmkhác biệt với định nghĩa nêu trên Ví dụ: Luật thuế TNCN của Mỹ quy định cá nhân

cư trú là: công dân Mỹ và những người sinh sống ở Mỹ tối thiểu là 330 ngày đêm12

Tuy theo điều kiện kinh tế xã hội, chính sách và trình độ quản lý của mỗiquốc gia mà có thể lựa chọn nguyên tắc đánh thuế phù hợp Ở Việt Nam, pháp Luậtthuế TNCN từ khi ban hành đến nay vẫn áp dụng đồng thời hai tiêu chí khi xác địnhđối tượng nộp thuế nhưng Luật thuế TNCN đã được điều chỉnh theo hướng phù hợp

hơn với thông lệ quốc tế khi quy định đối tượng nộp thuế dựa vào tiêu chí “nơi cư

trú” 13

Thứ ba, thuế TNCN thường điều tiết theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần,

thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư14 Việc điềutiết này thực hiện theo nguyên tắc phù hợp với khả năng chi trả thuế Do đó, thuếsuất thường được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến15 Khi đánh thuế TNCN, Nhà nướccần nghiên cứu kỹ lưỡng hoàn cảnh, nhân thân, tình trạng thu nhập chung của ngườinộp cần đảm bảo mức độ thuế từ những thu nhập ngang bằng nhau là như nhau, với

11 Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt

Nam, NXB Tài Chính, trang 100.

12 Tập thể tác giả (2008), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư pháp, trang 183.

13 Trần Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng

hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (10), trang 21.

14 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế HCM, trang 206.

15 Thuế suất lũy tiến là hình thức, theo đó thuế suất quy định theo tỷ lệ % và tăng dần theo dự gia tăng của cơ

sở thuế Thuế suất lũy tiến bao gồm lũy tiến từng phần và toàn phần Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013),

Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế HCM, trang 2006.

Trang 22

những phần thu nhập cao hơn mới bị điều tiết thuế mạnh hơn và chỉ động viên sựđóng góp nhẹ của những người có thu nhập thấp, kiểu điều tiết thỏa mãn yêu cầunày chỉ có thể là điều tiết theo phương pháp thuế lũy tiến từng phần Việc tính toán

và kiểm tra thuế suất lũy tiến từng phần tuy khá phức tạp nhưng loại thuế suất nàyđược đánh giá công bằng hơn so với thuế suất lũy tiến toàn phần, không gây ra mâuthuẫn vì nó đảm bảo số thuế phải nộp tăng lên một cách lũy tiến theo mức thu nhậptăng lên mà không đột biến cùng tốc độ tăng của cơ sở thuế Thêm vào đó, thuế suấtlũy tiến từng phần còn được coi là phương pháp hiệu quả nhất để đánh thuế theokhả năng của đối tượng nộp thuế Do vậy, đây là loại thuế suất đảm bảo tính côngbằng khá cao và có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập Chính vì vậy, phầnlớn các quốc gia (Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc…) đều áp dụng thuế suất lũy tiếntừng phần để điều tiết thuế TNCN

Ở Việt Nam cũng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến từng phần như thế, biểuthuế suất lũy tiến từng phần ở nước ta được thiết kế với mức thuế suất cao nhất là 35% vàđược chia làm bảy bậc16

1.1.3 Vai trò thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN là một bộ phận của hệ thống, nó vừa mang vai trò chủ yếu củathuế nói chung, vừa mang vai trò đặc trưng mà các sắc thuế khác không có Trải quanhiều giai đoạn phát triển khác nhau, thuế TNCN ngày càng khẳng định vị thế củamình thông qua vai trò ngày càng to lớn của nó

1.1.3.1 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước.

Trước tiên xuất phát từ đặc trưng của thuế TNCN là có phạm vi đánh thuếrộng, nên khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Ở nhiều nước phát triển,thuế TNCN rất quen thuộc với người dân do đại bộ phận dân cư trong độ tuổi laođộng, mặt bằng thu nhập bình quân đầu người cao, ý thức nghĩa vụ thuế TNCN cao,

hệ thống quản lý Nhà nước khá chặt chẽ nên thuế thu nhập đang chiếm tỷ trọng khá

16 Xem điều 22, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012.

Trang 23

lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước như: Mỹ 51,35%, Nhật Bản 68,79%,Australia 61,36%, Canada 52,71% Ở các nước đang phát triển, do thu nhập dân cưchưa cao, đồng thời do hệ thống quản lý còn yếu kém nên thuế TNCN chiếm tỷtrọng nhỏ hơn so với các nước phát triển và tỷ lệ này không đáng kể (ở các nướcThái lan, Malayxia, Philippin chiếm khoảng 12-16% thổng thu ngân sách Nhànước)17 Tại Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển khác, cho đến nay thunhập của người dân vẫn còn thấp, trình độ quản lý còn hạn chế do đó thuế TNCNchiếm tỷ trọng không cao Theo báo cáo của Chính phủ trình trước Quốc hội kèmtheo Tờ trình Quốc hội số 423/TTr-CP ngày 17/10/2014: người có thu nhập cao hơnmức giảm trừ gia cảnh phải nộp thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần gồm 7 bậc(5%; 10%; 15%; 20%; 25%; 30%; 35%) Người có thu nhập như nhau nhưng cóhoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế khác nhau Số người có thu nhập từ tiềnlương, tiền công chưa đến mức phải nộp thuế năm 2013 là: 11.376 nghìn người; sốngười có thu nhập từ tiền lương, tiền công nộp thuế ở bậc 1 chiếm tỷ trọng lớn trongtổng số người phải nộp thuế năm 2013: 76,9% nhưng số thuế nộp không lớn so vớitổng số thuế thu từ tiền lương, tiền công năm 2013: 10,4% Số người nộp thuế từbậc 2 trở lên không lớn năm 2013: 23% nhưng số thuế nộp chiếm tỷ trọng lớn năm2013: 89,8%, Số thu 2012 bằng 116,72% so với thực hiện 2011, đạt 8,04% tổng thunội địa; số thu 2013 bằng 103,44% so với thực hiện 2012, đạt 6,88% tổng thu nộiđịa, bằng 1,3% GDP18.

Qua đó, thuế TNCN đã góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư góp phần đảm bảo công bằng xã hội; giảm khoảng cáchchênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng nguồn thu cho ngân sách

và ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước

17 Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, NXB Tài chính, tr36.

18 Trang tin Dự thảo online, Quốc hội, Báo cáo Tổng kết 3 năm thi hành luật thuế thu nhập cá nhân,

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=472&TabIn

dex=2&TaiLieuID=741 [ Truy cập ngày 13/3/2017].

Trang 24

1.1.3.2 Thuế thu nhập cá nhân là một công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng xã hội

Một trong những khuyết điểm vốn có lớn nhất của nền kinh tế thị trường là

sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội và thể hiện rõ nét trong nền kinh tế của ViệtNam vấn đề này cần được quan tâm và giải quyết Thu nhập của các tầng lớp nhândân có sự chênh lệch nhau, số đông dân cư còn có thu nhập thấp, nhưng cũng cómột số cá nhân có thu nhập cao

Vì vậy, thuế TNCN ra đời để đảm bảo sự công bằng trong phân phối thunhập, thông qua chức năng phân phối của thuế, thuế TNCN góp phần giảm bớtchênh lệch giàu, nghèo thực hiện mục tiêu công bằng xã hội19

Trong pháp luật thuế TNCN, nguyên tắc công bằng được hiểu theo hai góc

độ là: công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc20

nhau giữa các cá nhân Theo đó, đối với các đối tượng có cùng mức thu nhập, những điềukiện và hoàn cảnh sống như nhau thì họ có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước với số tiềnnhư nhau

tượng nộp thuế không có cùng mức thu nhập, có điều kiện và hoàn cảnh sống khác nhau

sẽ có nghĩa vụ nộp các khoản tiền thuế khác nhau cho Nhà nước Trong đó, đảm bảongười có thu nhập cao thì phải nộp tiền nhiều hơn so với những người có thu nhập thấp,người có thu nhập như nhau nhưng hoàn cảnh khó khăn hơn thì phải nộp ít hơn

Thông qua việc thuế TNCN đảm bảo được cả hai nguyên tắc công bằng theochiều ngang lẫn chiều dọc thì nó sẽ góp phần điều tiết TNCN, hạn chế được phầnnào chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thu hẹp khoảng cách giữangười giàu, người nghèo, góp phần tạo công bằng xã hội

19 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế TPHCM, trang 206, trang

208.

20 Nguyễn Thị Thủy, Phan Phương Nam (2007), “Góp ý xây dựng dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp (02), trang 18

Trang 25

1.1.3.3 Thuế thu nhập cá nhân góp phần tích cực vào mạng lưới bảo hiểm

Quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm y tế mang tính bắt buộc và hoạt độngdựa trên nguyên tắc số đông Hai loại quỹ này sẽ gặp nhiều khó khăn khi dân số già

đi, kinh tế khủng hoảng, thất nghiệp gia tăng

Khi đó, hai quỹ bắt buộc này sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể đi đếnphá sản khi phải đơn độc chu cấp cho các nhu cầu phúc lợi của cộng đồng mà không

có sự hỗ trợ đắc lực của các quỹ tự nguyện tư nhân khác Mạng lưới bảo hiểm tưnhân tự nguyện có thể được tạo điều kiện để phát triển thông qua việc soạn thảo cáckhoản giảm trừ thuế cho các khoản phí bảo hiểm tự nguyện mà người nộp thuế đãđóng góp cho các quỹ tự nguyện này

1.1.3.4 Thuế thu nhập cá nhân góp phần khắc phục tích lũy thoái của các sắc thuế gián thu

Nhược điểm của một số sắc thuế gián như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụđặc biệt là tích lũy thoái mà ở đó tỷ trọng thuế gián thu từ người giàu đôi khi thấphơn người nghèo Nhược điểm này là do thuế gián thu tính trong giá cả của hàngtiêu thụ và dịch vụ, Nhà nước thu thuế gián thu thông qua giá bán hàng, cung ứngdịch vụ; mức thu cố định trong mỗi đơn vị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Do đó khitiêu thụ cùng một lượng hàng hóa, dịch vụ, bất kỳ người tiêu dùng nào không phânbiệt giàu, nghèo, thu nhập cao hay thu nhập thấp đều phải chịu mức thuế như nhau.Thuế TNCN với thuế suất lũy tiến góp phần khắc phục được tính lũy thoái của sắcthuế gián thu vì người có thu nhập càng cao sẽ nộp thuế càng nhiều và ngược lại21

1.1.3.5 Thuế thu nhập cá nhân góp phần quản lý thu nhập ngầm và góp phần phòng chống tội phạm

Thu nhập “ngầm” là khoản thu nhập được từ việc thực hiện các hoạt động

bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật như: tham ô, hối

lộ, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, của công dân; sản xuất, buôn bán, vậnchuyển, tàn trữ hàng cấm, đây được xem là những hành vi vô cùng nguy hiểm cho

21 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, NXB Kinh tế Tp.HCM, tr.209.

Trang 26

xã hội Thuế TNCN đóng vai trò không nhỏ trong việc ngăn chặn, đấu tranh gópphần hạn chế, loại bỏ những hành vi nguy hiểm đó.

Về lý thuyết, các khoản thu nhập “ngầm” là một loại thu nhập được tạo ra từ

các hoạt động bất hợp pháp mà Nhà nước chưa kiểm soát được Tuy nhiên, trongquá trình quản lý thuế TNCN Nhà nước có phát hiện ra những khoản thu nhậpngầm Thông thường, việc phát hiện có thể xuất phát từ sự chênh lệch giữa thu nhập

kê khai và thu nhập trên thực tế Khi đó, cơ quan thuế sẽ phối hợp các cơ quan cóliên quan để tiến hành xác minh, làm rõ những khoản chênh lệch đó và nguồn gốccủa chúng

Qua quá trình phân tích và đánh giá vai trò của thuế TNCN có thể thấy sắcthuế này giữ vị trí khá quan trọng trong hệ thống thuế, đồng thời có vai trò rất quantrọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trải qua nhiều giai đoạn pháttriển, thì thuế TNCN ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong thựctiễn, sắc thuế TNCN ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ

1.1.4 Nội dung cơ bản thuế thu nhập cá nhân

1.1.4.1 Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế là mục tiêu tác động của thuế, mỗi một sắc thuế có đốitượng chịu thuế riêng tùy theo tính chất và mục đích sắc thuế đó Đối với thuếTNCN nếu căn cứ vào các tiêu chí khác nhau của thu nhập thì thu nhập được phânchia thành: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên; thu nhập hợppháp và thu nhập bất hợp pháp; thu nhập thực tế đã phát sinh và thu nhập tiềm năng;thu nhập có tính phổ biến và thu nhập không có tính phổ biến; thu nhập Nhà nước

có tính kiểm soát và thu nhập Nhà nước chưa kiểm soát được; thu nhập của các tổchức và thu nhập của các cá nhân; thu nhập phát sinh trong lãnh thổ quốc gia và thunhập phát sinh ngoài lãnh thổ quốc gia22

Trước đây, theo Pháp lệnh thuế thu nhập cao, các nhà làm luật khi phân địnhthu nhập chịu thuế đã dựa trên tính chất ổn định của các khoản thu nhập Do đó, thu

22 Trần Đức Minh (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân dưới gốc

độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (02), tr17.

Trang 27

nhập chịu thuế được chia thành: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thườngxuyên23 Nhưng hiện nay, Luật thuế TNCN đã sử dụng cách thức xác định thu nhậpchịu thuế dựa trên nguồn gốc phát sinh thu nhập, đây là cách thức đang được ápdụng phổ biến tại các quốc gia trên thế giới: như ở Thái Lan, thu nhập tính thuế chialàm 8 loại sau: 1) Thu nhập từ tiền lương, tiền công; 2) Thu nhập có bản chất tiềnlương, tiền công; 3) Thu nhập từ bản quyền, từ tài sản vô hình, bằng sáng chế, phátminh, tiền nhận bút và các quyền tài sản khác; 4) Thu nhập có bản chất là tiền lãicho vay, cổ tức, thu nhập từ đầu tư, giảm vốn góp, tiền lời vốn góp, lãi việc mua bánhoặc chuyễn nhượng cổ phiếu; 5) Thu nhập từ thuê tài sản, tiền lãi từ hợp đồng muabán trả góp, hoặc hợp đồng thuê mua tài sản; 6) Thu nhập từ ngành nghề tự do nhưluật sư, kỹ sư, kiến trúc sư và kế toán; 7) Thu nhập từ hợp đồng làm việc trongtrường hợp người nhận thầu cung cấp các nguyên vật liệu chính và các công cụ sảnxuất; 8) Thu nhập từ kinh doanh, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, vận tảihoặc bất kỳ hoạt động kinh doanh khác ngoài lĩnh vực trên24 Ở Indonesia thu nhậpchịu thuế chia thành thu nhập tiền lương, tiền công; thu nhập kinh doanh và ngànhnghề tự do; thu nhập đầu tư Tại Trung Quốc thì thu nhập chịu thuế được phân loại

là thu nhập tiền công; thu nhập từ hành nghề độc lập; thu nhập đầu tư25

Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều dựa vàođối tượng tính thuế, khi quy định những khoản thu nhập chịu thuế thì những khoảnthu nhập này phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh và Nhànước có thể kiểm soát được

Theo Luật thuế TNCN nước ta hiện nay thì đối tượng chịu thuế gồm 10 loạisau: thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tưvốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển bất động sản; thu nhập từtrúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu

23 Xem điều 2, Pháp lệnh số 14/2004/PL-UBTVQH ngày 24/3/2004 Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.

24 Nguyễn văn Hiệu, Lê Xuân Trương (2008), Hệ thống thuế một số nước Asean và Trung quốc NXB Tài

chính, tr.28.

25 Trần Đức Minh (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuê thu nhập cá nhân dưới gốc

độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (02), tr17.

Trang 28

nhập từ thuế; thu nhập từ quà tặng26 Trong đó đã loại trừ các khoản thu nhập khôngthuộc diện chịu thuế chủ yếu là các khoản trợ cấp, các khoản phụ cấp mang tínhchất ưu đãi, khuyến khích của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách xã hội;các khoản thu nhập mang tính chất bồi thường đền bù; các khoản thu nhập mangtính chất từ thiện nhân đạo.

1.1.4.2 Đối tượng nộp thuế

Đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinhtrong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuếphát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Trong đó, cá nhân cư trú là người có mặt tại ViệtNam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tròn 12 tháng liên tục;hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, gồm nơi đăng ký thường trú hoặc có nơithuê nhà để ở theo hợp đồng thuê có thời hạn, còn cá nhân không cư trú là ngườikhông có các điều kiện trên27 Việc phân biệt cá nhân cư trú vì mức điều tiết giữahai đối tượng này rất khác nhau

1.1.4.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân

Căn cứ tính thuế là cấu thành quan trọng của một sắc thuế Tùy thuộc vào nộidung, tính chất từng sắc thuế mà căn cứ tính thuế được quy định cụ thể khác nhau.song đó, căn cứ tính thuế theo quy định Luật thuế TNCN nước ta hiện nay là thunhập tính thuế và thuế suất

Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế: bao gồm 10khoản thu nhập liệt kê tại Điều 3, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung

2012 Trong đó, quy định cách xác định thu nhập chịu thuế dựa vào nguồn gốc phátsinh thu nhập và có sự khác nhau giữa đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú và cánhân không cư trú Bên cạnh thu nhập thuế thì luật có thêm quy định về giảm trừ giacảnh trong một chừng mực nhất định nhằm động viên người nộp thuế cũng như làmgiảm tính nhạy cảm của thuế TNCN và đảm bảo cho người nộp thuế đủ nhu cầu chitiêu để tái sản xuất lao động

26 Xem Điều 3, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012.

27 Xem Điều 2, Luật thuế TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012.

Trang 29

Đối với thuế sản xuất, Luật thuế TNCN hiện hành đã áp dụng thống nhấtbiểu thuế suất lũy tiến từng phần đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công áp dụngbiểu thuế toàn phần đối với các khoản thu nhập còn lại.

1.1.4.4 Quản lý thuế thu nhập cá nhân

Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong

cơ quan thuế, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệutrong việc thực thi các chính sách thuế để ngày một nâng cao chất lượng cũng nhưhiệu quả thu cho ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, quản lý thuế góp phần tích cựchướng dẫn tuyên truyền chính sách thuế cho quần chúng nhân dân

Luật thuế TNCN quy định việc đăng ký thuế, kê khai, khấu trừ thuế, nộpthuế, quyết toán thuế, hoàn thuế và các biện pháp quản lý thuế được thực hiện trên

cơ sở kế thừa các quy định hiện hành và Luật quản lý thuế Mặc dù Luật quản lýthuế là văn bản chính thống cao nhất về quản lý toàn bộ hệ thống thuế nói chung.Nhưng với thuế TNCN do có những đặc trưng riêng của nó nên việc quản lý thuếTNCN còn phải tuân thủ các quy định của Luật thuế TNCN

* Đăng ký thuế

Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộpthuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thựchiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo các quy định của pháp luật

Theo Điều 21, Luật quản lý thuế 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 thì đốitượng đăng ký thuế bao gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh; cá nhân cóthu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN; tổ chức cá nhân có trách nhiệm khấu trừ vànộp thuế thay; tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật về thuế Có thểhiểu, đăng ký thuế TNCN là thủ tục pháp lý mà theo đó người nộp thuế có thu nhậpđến mức chịu thuế tiến hành kê khai những thông tin theo mẫu quy định và nộp tờkhai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với Nhànước theo quy định của pháp luật Việc quản lý về đăng ký thuế và cấp mã số thuế

do Tổng cục thuế chịu trách nhiệm

* Kê khai thuế thu nhập cá nhân

Trang 30

Kê khai thuế là cơ chế hành thu mà đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tínhtoán số thuế phải nộp của mình dựa trên sự tuân thủ tự nguyện chấp hành pháp luật

và chủ động nộp tờ khai thuế và nộp thuế cho Nhà nước theo số thuế mà mình đãtính toán đúng thời hạn28 Cơ quan không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụthuế của đối tượng nộp thuế nếu đối tượng nộp thuế tự giác tuân thủ nghĩa vụ Quyđịnh này nhằm đề cao vai trò của người nộp thuế nhưng với phương thức này ngườinộp thuế có thể lợi dụng quy định này để gian lận thuế, trốn thuế Do đó, khi kê khaithuế, người nộp thuế phải kê khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong

tờ khai thuế Nếu có dấu hiệu nghi ngờ về sự chênh lệch giữa thu nhập thực tế phátsinh và thu nhập khai báo, cơ quan thuế sẽ cùng với cơ quan chức năng khác tiếnhành xác minh, làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định pháp luật

Hiện tại, ở Việt Nam các hình thức kê khai thuế TNCN gồm kê khai theotừng lần phát sinh, kê khai theo tháng, kê khai theo quý, kê khai theo năm29

* Quyết toán thuế thu nhập cá nhân

Theo Khoản 7, Điều 5, Luật quản lý thuế năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm

2012 thì khi quyết toán thuế là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuếhoặc thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụthuế hoặc thời gian tính thuế từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinhnghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật Hiện tại, đối với thuế TNCN chỉ có cánhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, tuy nhiên các cá nhân này được quyềncho tổ chức chi trả quyết toán thay

* Nộp thuế thu nhập cá nhân

Nộp thuế TNCN là việc người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước một khoảntiền nhất định, số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp sẽ dựa vào số thuế ngườinộp thuế đã kê khai hoặc cơ quan thuế ấn định

28 Nguyễn Ngọc Hùng, Tôn Thất Cảnh Hòa, Nguyễn Kim Quyến, Đặng Thị Bạch Vân (2012), Giáo trình

quản lý thuế 2, Nhà xuất bản kinh tế, trang 172.

29 Xem Điều 30, Nghị định 65/2013/NĐ-CP, ngày 27/6/2013 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một

số Điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

2012.

Trang 31

Hiện nay, ở Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành thu thuế TNCN theo 2 phương thức sau:

- Thứ nhất, phương pháp khấu trừ thuế tại nguồn: tổ chức, cá nhân chi trả thu

nhập sẽ quản lý TNCN đó và thực hiện khấu trừ trước khi trả thu nhập theo biểu lũy tiếntừng phần và tạm nộp vào ngân sách Nhà nước Phương thức này thường áp dụng chonhững khoản thu nhập phát sinh có tính chất ổn định như thu nhập từ tiền lương, tiềncông

thuế, chủ yếu là các cá nhân có điều khoản thu nhập, cá nhân hành nghề tự do, ngườinước ngoài làm việc trong các văn phòng đại diện… tự kê khai thu nhập và gửi tờ khaithuế cho cơ quan thuế Cơ quan thuế xác định số tiền phải nộp dựa trên tờ khai về thunhập và về các khoản được khấu trừ, giảm trừ30

* Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân

Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuếphải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập Theo Điều 28,Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013, của Chính phủ quy định chi tiết một

số điều của Luật thuế TNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuếTNCN năm 2012 (sau đây gọi tắc là Nghị định số 65/2013/NĐ-CP), các khoản thunhập được khấu trừ bao gồm: TNCN không cư trú, bao gồm cả trường hợp khônghiện diện tại Việt Nam; thu nhập từ tiền lương, tiền công, tiền thù lao, kể cả tiền thùlao từ hoạt động môi giới; TNCN từ hoạt động đại lý bảo hiểm, đại lý sổ số, bánhàng đa cấp; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhânkhông cư trú, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập trúng thưởng; thu nhập từ bảnquyền; thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại

* Hoàn thuế thu nhập cá nhân

Hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại số thuế mà đối tượng nộp thuế đã nộp chongân sách nhà nước trong một số trường hợp nhất định Theo Điều 8, Luật thuế

30 Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), Giáo trình thuế I, Nhà xuất bản Kinh tế TPHCM.

Trang 32

TNCN năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2012 cá nhân được hoàn thuế được áp dụngtrong các trường hợp sau:

Thứ nhất, số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền phải nộp.

Thứ hai, cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải

số thuế phải nộp của kỳ tiêp theo Đối với cá nhân thuộc diện khai trực tiếp với cơquan thuế có thể lựa chọn hoàn thuế hoặc bù trừ vào kỳ sau tại cùng cơ quan thuế

số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, trốn thuế, gian lận thuế

Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế, thời hiệu xử phạt là 2 năm kể từ ngàyban hành vi phạm được thực hiện Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đếnmức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng sốthuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi viphạm

Tuy nhiên, nếu quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì ngườinộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn,

số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách Nhà nước trong thờihạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm Trường hợp người

Trang 33

nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, sốtiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từngày phát hiện hành vi vi phạm.

1.2 Thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

1.2.1 Khái quát về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

1.2.1.1 Khái niệm về cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

‘Cá nhân kinh doanh” hay “hộ kinh doanh” đều là những thuật ngữ thường

dùng để chỉ về người sản xuất, buôn bán chủ yếu dựa vào khả năng lao động củabản thân người lao động và khả năng của gia đình, tuy nhiên trong quá trình sảnxuất, buôn bán vẫn có thể mướn lao động như thu nhập chủ yếu vẫn do sức lao động

và vốn của bản thân hoặc của hộ gia đình

Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể nào về “cá nhân kinh doanh”.

Tuy nhiên thông qua các quy định tại Luật thương mại năm 2005, có thể nhận thấy

cá nhân kinh doanh có thể là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,thường xuyên và có đăng ký kinh doanh hoặc cá nhân hoạt động thương mại mộtcách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh, bao gồm:

- Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địađiểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong, vừa bán rong), bao gồm cả việcnhận sách báo tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sảnphẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong

- Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không

có địa điểm cố định

- Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định

- Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến

để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ

- Thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông

xe, giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địađiểm cố định

Trang 34

- Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác31.

Còn theo Luật thuế TNCN thì cá nhân kinh doanh được hiểu bao gồm: cánhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh sau:

- Hành nghề độc lập trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc giấy chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

- Làm đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đacấp của cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết, doanh nghiệp bảohiểm, danh nghiệp bán hàng đa cấp

- Hợp tác kinh doanh với tổ chức

- Sản xuất kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản không đáp ứng điều kiện được miễn thuế32

Từ những phân tích trên có thể hiểu “cá nhân kinh doanh” có thể là một cá

nhân hay một nhóm cá nhân hay hộ gia đình có hoạt động sản xuất kinh doanh hànghóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật

Đối với “hộ kinh doanh” thì “hộ kinh doanh” lần đầu tiên được pháp luật

Việt Nam công nhận tại Nghị định số 27/HĐBT Nghị định của Hội đồng Bộ trưởngban hành ngày 09/3/1988 quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể Kinh tế tưdoanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng vận tải, theo bản quyđịnh ban hành kèm theo Nghị định số 27/HĐBT, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tưdoanh được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có điều kiện sản xuất và các vốnkhác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu

31 Xem Khoản 1, Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-CP, ngày 16/3/2007 Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

33 Xem Khoản 1, Điều 1, Thông tư số 111/2013/TT-BTC, ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Bộ Tài chính quy định hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2012.

Trang 35

nhâp, lỗ lãi Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo hình thức: Hộ cá thể, hộ tiểucông nghiệp, xí nghiệp kinh doanh Từ các hình thức này dần tiến tới hộ kinhdoanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt Nam Hộ cá thể, theobản quy định này có các điều kiện sau:

- Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh;

- Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người laođộng khác phải là bố mẹ, vợ chồng, hoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký

hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh;

- Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ;

Đối với tiểu công nghiệp thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc sở hữu của chủ hộ;

- Được thuê mướn lao động theo hợp đồng thỏa thuận giữa chủ và người làmthuê;

- Chủ hộ là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỷ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh;

- Thu nhập sau khi đóng thuế và trả công cho người làm thuê thuộc sở hữu của chủ hộ

Có thể hiểu, đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân tiến hành hoạtđộng kinh doanh cho chính mình

Sau khi Luật doanh nghiệp năm 1999 ban hành thì “hộ cá thể”, được đổi tên thành “hộ kinh doanh cá thể” và được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về

đăng ký kinh doanh là Nghị định số 02/2000/NĐ-CP, ngày 03/2/2000 và Nghị định

số 109/2004/NĐ-CP, ngày 02/4/2004 Theo đó “hộ kinh doanh cá thể” được định

nghĩa: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được

đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.

Trang 36

Đến khi Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời thì một lần nữa sửa đổi tên “hộ

kinh doanh cá thể” thành “hộ kinh doanh” và được định nghĩa tại Nghị định số

88/2006/NĐ-CP, ngày 29/8/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, Sau đóđược thay thế bằng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ

về đăng ký kinh doanh Theo đó, hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt

Nam hoặc một nhóm người hoặc một gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười người lao động, không có con dấu

và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

So với quy định trước đây thì Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, thu hẹp phạm vi

hộ kinh doanh lại, theo đó hộ kinh doanh nếu là cá nhân làm chủ thì phải là côngdân Việt Nam

Khi Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay cho Luật doanh nghiệp năm

2005 mặc dù vẫn dùng thuật ngữ “hộ kinh doanh” nhưng tại Nghị định số 78/2015/

NĐ-CP, ngày 19/4/2015 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh đã có một khái niệm

rộng hơn trước Cụ thể, Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP: Hộ kinh doanh do

một cá nhân hoặc một nhóm người gồm cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng mười người lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh So với Nghị định số

43/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ thì Nghị định này tiếp tục thu hẹplại chủ thể của hộ kinh doanh Theo đó, cá nhân hay nhóm cá nhân đều phải là côngdân Việt Nam và phải đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự thì mới được phép

đăng ký hộ kinh doanh Như vậy, khái niệm “hộ cá thể” theo Nghị định số

27/HĐHT đã có nhiều thay đổi qua từng thời điểm và được ghi nhận trong từng thờiđiểm nêu trên

Từ định nghĩa mà tác giả diễn dẫn như trên về “hộ kinh doanh” Có thể hiểu,

hộ kinh doanh được chia thành ba loại dựa trên căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: thứ

nhất, hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân này phải là công dân Việt

Nam và có đủ năng lực hành vi dân sự; thứ hai, hộ kinh doanh do một nhóm người

Trang 37

làm chủ những người này phải là công dân Việt Nam và có đủ năng lực hành vi dân

sự; thứ ba, hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ.

Tóm lại, có thể hiểu hộ kinh doanh có thể là cá nhân kinh doanh, cũng có thể

là hộ gia đình kinh doanh hoặc một nhóm người cùng nhau góp vốn, công sức đểkinh doanh Bên cạnh đó, theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đối với hộ gia đình sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buônchuyến, kinh doanh lưu động, dịch vụ có thu nhập thấp mặc dù không đăng ký kinhdoanh nhưng vẫn được xem là hộ kinh doanh

Từ những phân tích trên có thể thấy, “cá nhân kinh doanh” theo Luật thuế TNCN hay “hộ kinh doanh là những cá nhân hoặc nhóm cá nhân hộ gia đình có

thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật

1.2.1.2 Đặc điểm cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh

Thứ nhất, về hình thức sở hữu: cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có đặc

điểm khác với loại hình công ty Nếu đối với loại hình công ty, công ty là một thựcthể tách biệt với chủ sở hữu, nhân doanh công ty để thực hiện hoạt động kinh doanhsản xuất chủ yếu dựa vào vốn, tài sản và sức lao động của bản thân hoặc nhữngthành viên trong hộ và không có tư cách pháp nhân, hộ kinh doanh là một thực thểkhông tách biệt với chủ sở hữu, tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động sản xuấtkinh doanh Mọi tài sản cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh đều là tài sản thuộcchủ sở hữu, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh được hưởng toàn bộ lợi nhuận saukhi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật

Thứ hai, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy

mô nhỏ Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức này màxuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao độngđược sử dụng trong hộ kinh doanh33 Cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh theoNghị định số 78/2015/NĐ-CP thì không được sử dụng trên mười lao động và chỉđược phép tiến hành kinh doanh tại một địa điểm, có nghĩa là mỗi cá nhân kinh

33 Ngô Huy Chương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, Tạp chí Luật học, (25), Trang 23.

Trang 38

doanh và hộ kinh doanh chỉ có thể một cửa hàng hoặc một cơ sản xuất đặt tại mộtđịa phương nhất định, không được phép mở chi nhánh, những cửa hàng kinh doanh

ở địa phương khác

Thứ ba, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn

đối với các khoản nợ của mình bởi, do cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh, khôngphải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó34, nên về nguyên tắcphải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của mình, có nghĩa là cá nhân haychủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể

cả tài sản không đưa vào kinh doanh Nếu hộ kinh doanh do một hộ gia đình làmchủ, thì ngoài việc đưa tài sản kinh doanh để ra trả nợ, việc xác định trách nhiệmcủa từng thành viên hộ gia đình được xác định theo quy định của Bộ Luật dân sựnăm 2015

Thứ tư, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh hoạt động một số ngành nghề,

hình thức mua bán không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh như: sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán rong, quà vặt, buôn chuyến, kinhdoanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh,nhưng lại có tư cách như những cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có đăng kýkinh doanh Những người này cũng là một thực thể không tách biệt với chủ sở hữu,

tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng chịu tráchnhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của mình, đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa

vụ thuế với cơ quan Nhà nước

1.2.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh

và hộ kinh doanh

Ngoài những đặc trưng chung của thuế TNCN như một loại thuế trực thu, cóphạm vi đánh thuế rất rộng từ đối tượng chịu thuế đến người nộp thuế thì thuếTNCN đối với cá nhân là công cụ phân phối thu nhập đảm bảo công bằng của xã

34 Ngô Huy Chương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, Tạp chí Luật học, (25), Trang 23.

Trang 39

hội và khắc phục tính lũy thoái của các sắc thuế gián thu thì thuế TNCN đối với cánhân kinh doanh và hộ kinh doanh là một loại thuế rất phức tạp và khó quản lý.

Theo thông tin của Chính phủ, ở nước ta hiện 4 triệu hộ gia đình, cá nhânđang thực hiện hoạt động kinh doanh với quy mô hộ trên toàn quốc35, con số nàychưa tính đến những cá nhân ngành nghề độc lập và những cá nhân, nhóm cá nhânhoặc hộ gia đình có thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng Nhà nước không kiểmsoát được như: buôn bán hàng rong; buôn bán vặt; thực hiện các dịch vụ: đánh giày,bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh

và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định Tuy nhiên, nó lại chỉ chiếmkhoản 2% tổng thu (trừ dầu) Ngân hàng Nhà nước trái ngược lại, nhân lực ngànhthuế dùng để quản lý đối tượng này lên đến 60%36 Nguyên nhân dẫn đến công tácquản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh phức tạp, tiêu tốn nhânlực một phần do hiện tại đại đa số các cá nhân hộ thường kinh doanh với dạng quy

mô vừa và nhỏ, hình thức sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn và sức lao độngcủa bản thân nên còn hạn chế trong việc thực hiện chế độ kế toán cũng như sử dụnghóa đơn, chứng từ Từ đó cơ quan thuế rất khó xác định được doanh thu của các cánhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũng như việc xác định các khoản thu chi đượctrừ và không được trừ trong kỳ tính thuế dẫn đến việc thu thuế và xác định thu nhậpcủa loại thuế này trở nên phức tạp và tiêu tốn nhiều nhân lực

1.2.3 Tầm quan trọng của thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân

kinh doanh và hộ kinh doanh.

So với các loại thuế khác mặc dù không chiếm tỷ trọng cao trong tổng thungân sách Nhà nước (chỉ khoản 2% tổng thu ngân sách Nhà nước)37, nhưng trongđiều kiện kinh tế nước ta hiện nay, do nhu cầu, chỉ tiêu phát triển kinh tế rất lớn nên

đã xảy ra tình trạng thiếu hụt ngân sách thì với 2% đó, thuế TNCN đối với cá nhân

35 Xem Bản thuyết minh chi tiết Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế năm 2014 của Chính phủ, ngày 17/10/2014, Trang 11.

36 Xem Bản thuyết minh chi tiết Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế năm 2014 của Chính phủ, ngày 17/10/2014, Trang 11.

37 Xem Bản thuyết minh chi tiết Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều tại các Luật về thuế năm 2014 của Chính phủ, ngày 17/10/2014, Trang 11.

Trang 40

kinh doanh và hộ kinh doanh cũng góp một phận quan trọng vào trong ngân sáchNhà nước Đồng thời nếu chúng ta có những phương pháp tổ chức, quản lý, thu thuếtốt đối với nhóm đối tượng này thì chắc chắn một lực lượng hùng hậu (khoảng 4triệu cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh)38 nộp thuế thì sẽ đóng góp một phầnkhông nhỏ vào ngân sách Nhà nước.

Bên cạnh đó, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh cũnggóp phần quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh theohướng phát triển của Nhà nước, bằng cách đều chỉnh mức nâng cao hoặc hạ thấpmức thuế suất, miễn giảm thuế của những lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinhdoanh Mặt khác, việc quản lý TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanhcòn giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, từ đógiúp cho cơ quan quản lý kinh tế có định hướng phát triển ngành nghề phù hợp

Ngoài ra, việc thu thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanhcòn góp phần đảm bảo công bằng xã hội giữa các cá nhân kinh doanh và hộ kinhdoanh cùng thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và giữa các cá nhân và hộ kinhdoanh có thu nhập từ hoạt động khác như: thu nhập từ tiền lương, tiền công, thunhập từ chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ trúng thưởng, xổ số

1.2.4 Lược sử phát triển đối với thuế thu nhập cá nhân kinh doanh và

hộ kinh doanh

Tùy từng giai đoạn phát triển mà pháp luật nước ta có những quy định khácnhau đối với thu nhập từ sản xuất kinh doanh của cá nhân kinh doanh và hộ kinhdoanh Cụ thể như sau:

1.2.4.1 Trước khi có Luật thuế thu nhập cá nhân

Trước khi có Luật thuế TNCN, thì TNCN và hộ kinh doanh thực hiện hoạtđộng sản xuất kinh doanh được điều chỉnh bởi Luật thuế lợi tức năm 1990 và đượcsửa đổi, bổ sung năm 1993 (tiền thân của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp) Tronggiai đoạn này, đất nước ta vừa mới chuyển đổi từ kinh tế tập trung quan liêu, bao

38 Trang Thời báo kinh tế Sài Gòn online, Doanh thu trên 150 triệu, cá nhân mới đóng thuế, Minh Tâm, http://www.thesaigontimes.vn/135245/De-xuat-doanh-thu-tren-150-trieu-ca-nhan-moi-dong-thue.html, [ngày truy cập 13/3/2017]

Ngày đăng: 24/09/2020, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Huỳnh Viết Tấn (2010), “Thực hiện thuế thu nhập cá nhân”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực hiện thuế thu nhập cá nhân
Tác giả: Huỳnh Viết Tấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
27. Học viện Hành chính (2005), “Giáo trình lý thuyết”, Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình lý thuyết”
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội
Năm: 2005
28. Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến (2013), “Giáo trình thuế I”, Nhàxuất bản Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình thuế I”
Tác giả: Lê Quang Cường, Nguyễn Kim Quyến
Nhà XB: Nhàxuất bản Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
29. Lê Thị Nguyệt Châu (2009), “Giáo trình Luật Tài chính”, Nhà xuất bản Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Luật Tài chính
Tác giả: Lê Thị Nguyệt Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2009
30. Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh (2002), “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam”
Tác giả: Lê Văn Ái, Đỗ Đức Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính Hà Nội
Năm: 2002
31. Nguyễn Ngọc Hùng, Tôn Thất Cảnh Hòa, Nguyễn Kim Quyến, Đặng Bạch Vân (2012), “Giáo trình Quản lý thuế 2”, Nhà xuất bản Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Quản lý thuế 2”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Tôn Thất Cảnh Hòa, Nguyễn Kim Quyến, Đặng Bạch Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế
Năm: 2012
32. Nguyễn Thị Mỹ Linh (2009), “Thuế Thực hành”, Nhà xuất bản Thốngkê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuế Thực hành”
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thốngkê
Năm: 2009
33. Nguyễn Thị Thủy (2012), “Giáo trình Luật thuế”, Nhà xuất bản Hồng Đức, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Luật thuế”
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2012
34. Nguyễn Văn Hiệu, Lê Xuân Trương (2008), “Hệ thống thuế một số nước Asean và Trung Quốc”, Nhà xuất bản Tài chính thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống thuế một số nước Asean và Trung Quốc”
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệu, Lê Xuân Trương
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
35. Tập thể tác giả (2008), “Giáo trình Luật thuế Việt Nam”, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Luật thuế Việt Nam”
Tác giả: Tập thể tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
Năm: 2008
37. Lê Xuân Trường (2007), “Thuế thu nhập đối với cá kinh doanh điều chỉnh theo hướng nào?”, Tạp chí thuế Nhà nước, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuế thu nhập đối với cá kinh doanh điều chỉnh theo hướng nào?”, "Tạp chí thuế Nhà nước
Tác giả: Lê Xuân Trường
Năm: 2007
38. Ngô Huy Cương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, Tạp chí Luật học, (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra bất cập”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Ngô Huy Cương
Năm: 2009
39. Nguyễn Thị Thủy, Phan Phương Nam (2007), “Góp ý xây dựng Dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý xây dựng Dự thảoLuật thuế thu nhập cá nhân vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế thunhập cá nhân”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy, Phan Phương Nam
Năm: 2007
40. Trần Minh Đức (2012), “Bảo đảm công bằng trong thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm công bằng trong thuế thu nhập cá nhân”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Minh Đức
Năm: 2012
41. Trần Minh Đức (2012), “Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ công bằng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở xác định thu nhập chịu thuế trong phápluật thuế thu nhập cá nhân dưới góc độ công bằng”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trần Minh Đức
Năm: 2012
42. Nguyễn Vũ Hải (2007), “Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học, (10).Đ Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng pháp luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Vũ Hải
Năm: 2007
43. Trang Báo mới, Công khai thông tin các hộ kinh doanh, http://www.baomoi.com/cong-khai-thong-tin-cac-hokinhdoanh/c/18098922.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công khai thông tin các hộ kinh doanh
46. Trang Cục Thống kê tỉnh Cà Mau, http://cucthongke.camau.gov.vn/wps/portal Link
13. Thông tư số 166/2013/TT-BTC, ngày 15 tháng 01 năm 2013 của Bộ Tài chính quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế Khác
14. Thông tư số 119/2014/TT-BTC, ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư số 111/2013/TT-BTC, ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài chính để cải cách đơn giản thủ tục hành chính về thuế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w