1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu cho giáo dục hộ gia đình việt nam

64 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 498,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự quan tâm của hộ gia đình đến giáo dục cho con em mình có thể đượcxem xét theo mức chi tiêu giáo dục.Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộgia đình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN VĂN SĨ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thậpđảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng,trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này.

TP Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2017

Học viên thực hiện

Phan Ka Luốt

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DAH MỤC BÀNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 2 4

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 4

2.1.1 Hộ gia đình 4

2.1.2 Khái niệm chủ hộ 4

2.1.3 Chi tiêu cho giáo dục 5

2.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 6

2.2.1 Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng 6

2.2.2 Lý thuyết về tác động của thu nhập đến chi tiêu 6

2.2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục 6

2.2.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình 7

2.2.5 Mô hình Lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ 8

Trang 5

2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 10

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 14

CHƯƠNG 3 15

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 15

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 15

3.2.1 Mô hình lý thuyết 15

3.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 17

3.2.3 Giải thích ý nghĩa các biến và kỳ vọng 19

3.2.3.1 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình 19

3.2.3.2 Giới tính chủ hộ 19

3.2.3.3 Dân tộc chủ hộ 19

3.2.3.4 Tuổi chủ hộ 20

3.2.3.5 Học vấn chủ hộ 20

3.2.3.6 Tình trạng hôn nhân 20

3.2.3.7 Khu vực sinh sống 20

3.2.3.8 Qui mô hộ gia đình 21

3.2.3.9 Chi tiêu bình quân hộ gia đình 21

3.2.3.10 Chi tiêu cho y tế 21

3.2.3.11 Chi tiêu cho thực phẩm 22

3.2.3.12 Vùng sinh sống 22

3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 24

CHƯƠNG 4 25

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

4.1 MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 25

4.1.1 Đặc điểm chủ hộ 25

4.1.2 Qui mô hộ gia đình 27

4.1.3 Đặc điểm chi tiêu của hộ 27

4.1.4 Vùng sinh sống 28

Trang 6

4.2.1 Mô tả chi tiêu bình quân cho giáo dục theo đặc điểm chủ hộ 29

4.2.2 Mô tả chi tiêu cho giáo dục bình quân theo đặc điểm vùng sinh sống 31

4.3 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH 32

4.3.1 Hệ số tương quan 32

4.3.2 Kết quả hồi quy 33

4.3.3 Giải thích ý nghĩa hệ số hồi quy 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 38

CHƯƠNG 5 39

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 39

5.1 KẾT LUẬN 39

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 40

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 7

ĐNB

Trang 8

Tây NguyênĐông Nam Bộ

Trang 9

Bảng 3.1: Kỳ vọng của các biến trong mô hình 17

Bảng 3.2: Tóm tắt các biến lấy từ bộ dữ liệu VHLSS 2014 23

Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy ảnh hưởng đến thu nhập 34

Trang 10

Sơ đồ 3.1: Khung phân tích 15

Trang 11

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, nâng caochất lượng và số lượng lao động Nhà nước sẵn sàng đầu tư thích đáng để phát triểngiáo dục, nhưng vai trò của hộ gia đình trong việc tham gia đầu tư giáo dục cũng rấtquan trọng Sự quan tâm của hộ gia đình đến giáo dục cho con em mình có thể đượcxem xét theo mức chi tiêu giáo dục.

Luận văn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộgia đình tại Việt Nam được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cưVHLSS năm 2014 của Tổng cục Thống kê Việt Nam Với cỡ mẫu là 9.339 hộ gia đìnhđược khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Sau khi loại bỏ các dữ liệu thiếuthông tin quan sát, cỡ mẫu của đề tài lựa chọn còn lại là 5.637 hộ gia đình

Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 11 nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáodục của hộ gia đình gồm giới tính chủ hộ, dân tộc chủ hộ, tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ,tình trạng hôn nhân chủ hộ, khu vực sinh sống hộ gia đình, tổng số người trong hộ, chitiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, tổng chi tiêu và vùng Thực hiện thống kê mô tả đặc điểmcác biến trong mô hình Tiến hành phân tích hồi quy, kiểm định đa cộng tuyến và xử lýphương sai thay đổi Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, biến giới tính không có ýnghĩa thống kê, các biến còn lại điều có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộgia đình Trong khi biến qui mô hộ (tổng số người trong hộ) ảnh hưởng ngược chiềuvới chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình, các biến còn lại đều có ảnh hưởng cùngchiều với chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu trên,tác giả đề tài đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu cho giáo dục của

hộ gia đình Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Khi kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, cùng với đó là chất lượng cuộc sốngcủa người dân ngày càng được cải thiện Đánh giá mức sống của người dân, trước tiêncần đánh giá các nhu cầu thiết yếu nhất của đời sống như ăn uống, giáo dục, y tế…Trong đó chi tiêu cho giáo dục là một trong những chỉ tiêu đặc biệt của hộ gia đình vì

nó không mang lại lợi ích trước mắt cho chính bản thân họ nhưng có tác dụng về sau.Khi mức sống của người dân tăng lên thì hộ gia đình không còn phải lo nhiều đến cái

ăn, cái mặc thông thường, họ hướng đến những lợi ích cao hơn là lo cho con cái.Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy hộ gia đình càng quan tâm đến chất lượng giáo dụccủa con em thì họ càng chi tiêu cho nó nhiều hơn và xem đó như một khoản đầu tưmang lại lợi ích trong tương lai Với nguồn thu nhập nhất định, hộ gia đình cũng phảicân nhắc giữa chi tiêu như thế nào cho các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống, bên cạnhviệc chi tiêu giáo dục cho con em học tại các bậc học khác nhau sao cho phù hợp vớiđiều kiện và đặc điểm kinh tế- xã hội của từng hộ gia đình

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ trong phổ cập giáo dục tiểu học, Trung học

cơ sở cũng như thúc đẩy bình đẳng giới Tuy nhiên, vẫn có những sự khác biệt trongcác chỉ tiêu giáo dục ở các vùng, các địa phương, giữa thành thị/nông thôn và giữa cácdân tộc Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu giáo dục với mức sống, thu nhập, giàu nghèocũng đã được phân tích và các kết quả này đưa ra một số gợi ý chính sách về giáo dụcđào tạo để đáp ứng với những biến đổi về dân số và đảm bảo các đối tượng thiệt thòinhư phụ nữ nghèo nông thôn, các dân tộc ít người, người dân sống ở vùng sâu vùng xađược hưởng thụ nền giáo dục một cách bình đẳng

Mức chi tiêu giáo dục cho con em trong hộ gia đình là một chỉ số có thể đạidiện cho sự quan tâm của hộ về giáo dục cho trẻ Các yếu tố kinh tế - xã hội của hộ giađình, đặc điểm của trẻ ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu giáo dục là một vấn đề cầnquan tâm xem xét và đánh giá, từ đó kỳ vọng sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho nhữngnhà hoạch định chính sách giáo dục nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục Tìm

ra các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình nhằm giúp cho hộnông dân có những giải pháp hiệu quả sử dụng tài chính đầu tư cho giáo dục

Trang 13

Từ thực tế đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Đánh giá tác động của đặc điểm hộ

gia đình đến chi tiêu cho giáo dục hộ gia đình Việt Nam” để nghiên cứu.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu cho giáo dục của các

hộ gia đình Việt Nam

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất, đánh giá thực trạng việc chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đìnhViệt Nam

Thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chi tiêu cho giáo dụccủa hộ gia đình Việt Nam

Thứ ba, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu chogiáo dục của hộ gia đình Việt Nam

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Thực trạng việc chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Việt Nam hiện naynhư thế nào?

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Việt Nam? Những chính sách nào góp phần nâng cao hiệu quả chi tiêu cho giáo dục của hộgia đình Việt Nam?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ

gia đình Việt Nam

Không gian: Không gian nghiên cứu là các hộ gia đình Việt Nam.

Dữ liệu nghiên cứu: Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp có được từ cuộc Khảo sát

mức sống hộ dân cư Việt Nam năm 2014 do Tổng Cục Thống kê thực hiện

Trang 14

1.5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên

cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Chương này trình bày các khái niệm về hộ gia đình

và chi tiêu cho giáo dục, các lý thuyết và nghiên cứu liên quan, các nhân tố ảnh hưởngđến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương này trình

bày nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp kết hợp hồi quy OLS, mô tảcác biến trong mô hình nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên

cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục, thảo luận kết quảnghiên cứu

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày những kết quả

mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm giúp hộ gia đình Việt Nam nâng caohiệu quả chi tiêu cho giáo dục

Trang 15

Theo quy định của Bộ Luật dân sự (2005) của Việt Nam thì hộ gia đình baogồm các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tếchung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanhkhác do pháp luật quy định.

Trang 16

các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đãthành niên có thể là chủ hộ.

Như vậy, xét tổng thể thì chủ hộ là những cá nhân đủ điều kiện cung cấp cácthông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập và các hoạt động của hộgia đình Vì vậy, các thông tin về chủ hộ có thể được sử dụng đại diện trong các nghiêncứu về hộ gia đình nói chung

2.1.3 Chi tiêu cho giáo dục

Chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục đây chính là phần ngân sách của hộ giađình dùng để phục vụ cho các thành viên trong hộ được tham gia các hoạt động giáodục và đào tạo Theo Lassibille (1994), chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình gồm cácphần cơ bản như sau:

Các khoản chi được quy ước thành tiền mặt: bao gồm học phí phải đóng chotrường học, cơ sở đào tạo; chi cho các loại hình bảo hiểm; những khoản đóng góp bắtbuộc hoặc tự nguyện từ phía phụ huynh

Các khoản chi mua những đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sách giáokhoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như: cặpsách, đồng phục, quần áo thể dục, dụng cụ thể thao

Các khoản chi mua dịch vụ phụ trợ gồm có: chi phí đưa đón di chuyển là khoảntiền chi cho việc đi lại của người học hoặc của người đưa đón; chi phí cho các bữa ăntại lớp và nơi ở nội trú, bán trú: đây là chi phí cần phải được tính toán nếu người họctham gia các loại hình nội trú, bán trú hoặc phải đi học xa nhà

Khoản chi trả lãi vay trong trường hợp hộ gia đình phải đi vay tiền để chi choviệc học của các thành viên trong hộ

Theo Ủy ban châu Âu (2010), chi phí giáo dục của hộ gia đình được chi thànhhai phần: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, cụ thể như sau:

Chi phí trực tiếp, gồm có: học phí, lệ phí đăng ký các khóa học, phí chăm sócnhà trẻ, phí học thêm, phí mua sách vở, đồ dùng học tập, phí mua đồng phục

Chi phí gián tiếp, gồm có: phí di chuyển trong quá trình đi học, phí mua thức ăn

và ở lại nội trú, bán trú, phí mua các đồ dùng học tập để tự học, mua sắm máy tính cánhân, chi phí quà tặng cho người khác ngoài hộ gia đình vì mục đích học tập

Trang 17

2.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

2.2.1 Lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng

Theo Mas-Colell và cộng sự 1995, lý thuyết tiêu dùng thể hiện những quyếtđịnh lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hànghóa Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, người tiêu dùng sẽ lựa chọn

rổ hàng hóa đảm bảo tối đa hóa mức hữu dụng của mình

Max u(x) với điều kiện p*xI

p n là giá của từng loại hàng

Với mức giá p của thị trường và ngân sách I cố định, người tiêu dùng lựa chọn

sử dụng hàng hóa sao cho đạt mức thỏa dụng cao nhất Vấn đề này được thực hiện dựatrên một số giả định cơ bản như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng chấpnhận giá và giá của hàng hóa có dạng tuyến tính

2.2.2 Lý thuyết về tác động của thu nhập đến chi tiêu

Vào thế kỷ XIX, một nhà thống kê người Đức, Engel (1821-1896) đã thực hiệnmột nghiên cứu thực nghiệm về ngân sách gia đình để đưa ra kết luận về các mô hìnhchi tiêu cho tiêu dùng, đó là chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ khác nhau của hộ giađình ở những mức thu nhập khác nhau

Theo nghiên cứu của Engel, khi thu nhập tăng lên, tỷ trọng của thu nhập chi chocác hàng hóa thiết yếu như thực phẩm thì giảm và chi cho các hàng hóa xa xỉ như cáchàng hóa và dịch vụ công nghiệp lại tăng Hay nói cách khác, các gia đình nghèothường dành tỷ trọng tương đối lớn trong thu nhập của họ cho các nhu cầu cần thiết,trong khi các gia đình giàu lại dành phần lớn thu nhập cho các nhu cầu xa xỉ Sự thayđổi này trong các mô hình chi tiêu tiêu dùng với sự gia tăng thu nhập của các hộ giađình được gọi là quy luận Engel

2.2.3 Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục

Lý thuyết vốn con người liên quan đến giáo dục như là một sự đầu tư để tối đahóa chất lượng cuộc sống (Schultz, 1961, Becker, 1993) Việc đầu tư thêm vào chogiáo dục sẽ tạo ra lợi ích về mặt nâng cao thu nhập trong tương lai đồng thời đòi hỏi

Trang 18

chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội vì không làm việc trong thời gian đi học Mỗi người

sẽ so sánh những chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội với lợi ích trong tương lai của việcđầu tư cho đi học Việc đầu tư sẽ tiếp tục miễn là tỷ lệ biên lợi nhuận cao hơn chi phíbây giờ bỏ ra Việc đầu tư cho giáo dục sẽ tăng theo kỳ vọng lợi nhuận đạt được trongtương lai và giảm theo chi phí đi học

Becker (1993) và Schultz (1961) nhận định hai đối tượng có học vấn khác nhauthường có những thu nhập khác nhau Từ sự khác biệt trong thu nhập đó, cha mẹ sẽ cónhững quyết định cho con cái đi học trong bao nhiêu năm tùy thuộc vào nhận thức củatừng cha mẹ đối với thu nhập của con cái họ trong tương lai

Các nhu cầu học tập của trẻ em có thể được biểu diễn như là một hàm của tiềnlương của các thành viên hộ gia đình, chi phí cho giáo dục, thu nhập hộ gia đình chưađược hưởng và một tập hợp các đặc điểm của trẻ em, gia đình và thị trường lao độngđịa phương

Các giả định về sự quan tâm của cha mẹ và nguồn vốn có giới hạn tạo ra mốiquan hệ giữa trình độ học vấn của cha mẹ và thu nhập của hộ đến việc đầu tư giáo dụccho trẻ Cha mẹ có học vấn cao sẽ quan tâm nhiều đến phúc lợi của con cái của họ(Becker và Tomes, 1993) Giáo dục của cha mẹ có thể đại diện cho hành vi của họ đốivới việc học của trẻ và các yếu tố giáo dục của cha mẹ có thể phản ánh các khoản đầu

tư cho trẻ em tiểu học Giáo dục của người mẹ cũng có thể đại diện cho thu nhập cốđịnh, chi phí cơ hội của cha mẹ trong thị trường lao động và sản xuất của hộ gia đình

2.2.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình

Việc ra các quyết định của hộ gia đình phải chăng chỉ là ý chí của người đạidiện hay còn gọi là chủ hộ? Điều này có thể đúng nếu nghiên cứu các hộ gia đìnhtrong thời kỳ phong kiến khi mà ý kiến của người chủ gia đình hầu như lấn át toàn bộ

ý kiến của các thành viên khác Ngày nay, vai trò của người chủ hộ đã có nhiều thay đổi,quá trình ra quyết định của hộ gia đình bị chi phối bởi nhiều nhân tố hơn Qua các kếtluận của Douglas (1983) trong nghiên cứu về quá trình ra quyết định của gia đình,chúng ta có thể nhận định rằng quá trình này cần được thực hiện với những cân nhắc

cụ thể như:

Quá trình ra quyết định chung của gia đình cần phải được cân nhắc trên cơ sởnắm bắt ý tưởng của các thành viên nhằm mục tiêu tối đa hóa tổng hữu dụng của hộgia đình, tránh các lựa chọn bất lợi

Trang 19

Nhìn nhận sự ảnh hưởng của các nhân tố khác ngoài gia đình có tác động đếnquyết định của hộ Điều đó có nghĩa rằng bên cạnh vợ chồng, con cái, người có têntrọng hộ, người ta có thể phải chú ý đến những người ngoài hộ gia đình nhưng có liênquan như người tư vấn, người bán hàng…

Xem xét sự tác động của các điều kiện có liên quan đến môi trường sống, môitrường xã hội, chính sách quy định nghĩa vụ hoặc quyền thụ hưởng mà bản thân hộ giađình đó đang bị chi phối

Như vậy, quá trình ra quyết định của hộ gia đình nói chung và quyết định chitiêu cho việc giáo dục nói riêng cần phải được nghiên cứu trong ngữ cảnh đặt giả thiết

có nhiều nhân tố chi phối, từ các đặc điểm của gia đình đến môi trường xã hội

2.2.5 Mô hình Lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ

Trong nghiên cứu của Glick và Sahn (2000), hộ gia đình được được giả định là một thể thống nhất, nghĩa là hộ gia đình đó sẽ ra quyết định vì mục tiêu tối đa hóa hàmhữu dụng của hộ Trong đó cha mẹ (hoặc người có vai trò chủ chốt trong hộ gia đình) chính là người đưa ra quyết định bao gồm cả các quyết định về việc giáo dục của trẻ

em trong hộ

Giả sử một hộ gia đình bao gồm cha, mẹ, m người con gái và n người con trai.Cha mẹ được giả định là những người sống qua 2 thời kỳ Họ làm việc và sinh controng thời kỳ đầu và nghỉ hưu ở thời kỳ thứ hai Trong thời kỳ đầu tiên, tiêu dùng của

hộ gia đình bằng tổng thu nhập của hộ trừ đi các khoản đầu tư cho giáo dục của concái Chính khoản đầu tư cho giáo dục ở thời kỳ thứ nhất này sẽ quyết định thu nhậpcủa bố mẹ ở thời kỳ thứ hai thông qua các khoản chuyển giao trở lại từ chính thu nhậpcủa những đứa trẻ Do đó, bố mẹ phải đánh đổi giữa tiêu dùng ở thời kỳ thứ nhất tươngứng với khoản đầu tư giáo dục cho con cái) với chi tiêu trong thời kỳ thứ hai Quyếtđịnh này của cha mẹ có thể được trình bày qua hàm hữu dụng sau:

U = U(C1, C2, Ydi, Ysj) (2.1) Trong đó, C1, C2 lần lượt là tiêu dùng của hộ ở thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ

hai; Ydi, Ysj lần lượt là thu nhập của người con gái thứ i và người con trai thứ j

Thu nhập của những người con ở thời kỳ thứ hai còn tùy thuộc vào số năm đihọc của chúng ở thời kỳ thứ nhất và các yếu tố khác thuộc về bản thân những ngườicon (Z) như gen di truyền, giới tính, khả năng bản thân…

Ydi = Ydi(Sdi,Zi) và Ysj = Ysj(Ssj,Zj) (2.2)

Trang 20

Thu nhập của những người con trong thời kỳ thứ hai được tính như sau:

Với Sdi, Ssj là trình độ học vấn của người con gái thứ i và người con trai thứ j; ai

và bj lần lượt là suất sinh lợi từ đầu tư cho giáo dục của người con gái thứ i và con traithứ j

Giả thiết đặt ra rằng chi tiêu của bố mẹ ở thời kỳ thứ hai phụ thuộc hoàn toàn vàochuyển giao thu nhập của con cái Phương trình chi tiêu ở thời kỳ thứ hai như sau:

(2.4)Trong đó: , lần lượt là tỷ lệ chuyển giao thu nhập từ người con gái thứ i và người con trai thứ j

Ta cũng đồng thời giả thiết rằng trong thời kỳ thứ nhất, cha mẹ sẽ dành toàn bộthời gian cho việc đi làm để kiếm tiền, những đứa trẻ sẽ sử dụng thời gian cho việc đihọc và làm thêm Phương trình tổng hợp thu nhập của hộ gia đình được viết lại nhưsau:

(2.5)

Vế trái của phương trình trên, thể hiện tổng thu nhập của hộ gia đình ở thời kỳthứ nhất Trong đó V đại diện cho nguồn thu nhập không từ lao động; Tm, Tf là tổngthời gian tham gia vào thị trường lao động của cha và mẹ với mức lương lần lượt là

Wm và Wf; Tdi, Tsj là tổng lượng thời gian của người con gái thứ i và người con traithứ j và (Tdi - Sdi), (Tsj – Ssj ) lần lượt là thời gian người con gái thứ i và người con traithứ j làm thêm kiếm thu nhập với mức lương là Wd, Ws P là chi phí trực tiếp cho việc

đi học bao gồm học phí, sách giáo khoa, đồng phục…Vế phải của phương trình (2.5)chính là tổng chi tiêu của hộ gia đình ở thời kỳ thứ nhất bao gồm chi tiêu hộ gia đình

và chi tiêu cho giáo dục của con cái Chúng ta giả thiết rằng chi phí của việc đi họcgiống nhau giữa các lớp và không có sự phân biệt nam nữ

Để tối đa hóa hàm hữu dụng của hộ gia đình, cha mẹ sẽ phải cân nhắc chi tiêu ởthời kỳ thứ nhất cho giáo dục sao cho vẫn đảm bảo được khoản chi tiêu của hộ ở thời

kỳ thứ hai Vì vậy cha mẹ sẽ phải quyết định số năm đến trường của con gái và contrai Thay phương trình (2.2), (2.3), (2.4), (2.5) vào phương trình (2.1) Hàm hữu dụngcủa hộ gia đình được viết lại như sau:

Trang 21

(2.6)Rút gọn phương trình (2.6), chúng ta có số năm đi học của trẻ sẽ là một hàm sốdựa vào các yếu tố sau:

(2.7)Với phương trình (2.6) cho thấy rằng, số năm đi học của một đứa trẻ là mộthàm số của các yếu tố: mức lương của cha mẹ, thu nhập ngoài lao động, chi phí giáodục, trình độ học vấn của cha mẹ, đặc điểm của những đứa trẻ, và các yếu tố khác của

hộ gia đình và xã hội (H)

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu của Huston (1995) về tỷ lệ chi tiêu giáo dục của hộ gia đình: khámphá tầm quan trọng của giáo dục Sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc điều tra chi tiêu tiêu dùngnăm 1990 -1991 với 661 hộ gia đình Biến giải thích cho nghiên cứu bao gồm: thunhập của hộ gia đình; tuổi, giới tính và trình độ học vấn của chủ hộ; quy mô hộ giađình, khu vực địa lý, số trẻ trong hộ gia đình, sắc tộc Tuổi tác và trình độ học vấn củachủ hộ, thu nhập, khu vực địa lý, sắc tộc và quy mô hộ gia đình là những nhân tố cótác động đến tỷ lệ chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi Glewwe và Partrinos (1999) sử dụng

bộ dữ liệu khảo sát hộ gia đình giai đoạn 1992 - 1993 Họ tìm thấy rằng, thu nhập của

hộ gia đình tăng thì chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình sẽ được nâng lên, và xuhướng này được thể hiện ở hộ gia đình ở thành thị, khi họ bỏ nhiều chi phí cho học tậpcủa con cái họ (trên 79%) Họ cũng chỉ ra rằng, chi tiêu cho giáo dục có xu hướngchuyển từ miền Bắc xuống miền Nam và hộ gia đình dân tộc Hoa bỏ nhiều tiền chi chogiáo dục hơn so với dân tộc khác ( hơn 35% so với tổng chi tiêu của toàn quốc).Nghiên cứu cũng tính toán được chi cho giáo dục theo giới tính thì chi cho nữ giớithấp hơn 5% so với nam giới

Mauldin và cộng sự (2001) đã thực hiện nghiên cứu chi tiêu của cha mẹ dànhcho giáo dục của con cái họ ở bậc tiểu học và trung học cơ sở trên căn cứ phân tích bộ

Trang 22

dữ liệu có được từ khảo sát chi tiêu năm 1996 của Cục thống kê Lao động Hoa Kỳ.Qua phân tích nghiên cứu khẳng định thu nhập sau thuế của cha mẹ càng cao thì họcàng sẵn lòng hơn trong chi tiêu giáo dục của con cái Các bậc cha mẹ trong nghiêncứu nhận thức được rằng nếu họ đầu tư nhiều tiền cho việc học của con mình thì chínhcon của họ sẽ nhận được kết quả tốt đẹp trong tương lai về tri thức, chất lượng cuộcsống.

Tilak, Jandhyala B.G (2002), nghiên cứu các yếu tố tác động đến chi tiêu chogiáo dục của các hộ gia đình nông thôn ở Ấn Độ Theo đó, Tilak đã ước lượng chi tiêucho giáo dục cho đứa trẻ của các hộ gia đình nông thôn ở Ấn Độ phụ thuộc vào cácyếu tố như thu nhập của hộ, trình độ giáo dục và nghề nghiệp của chủ hộ, giới tính củatrẻ, quy mô hộ gia đình, đẳng cấp và tôn giáo của hộ, các chỉ số phát triển của làng xãnơi hộ gia đình sống và các khoản trợ cấp Kết quả cho thấy thu nhập của hộ gia đình

có tác động tích cực đối với chi tiêu cho giáo dục của trẻ, quy mô hộ gia đình làm tăngchi tiêu hộ gia đình nhưng mang tính gánh nặng, tiêu cực Các yếu tố còn lại không cóảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến chi tiêu cho giáo dục của hộ

Meng Zhao và Paul Glewwe (2007), nghiên cứu các nhân tố tác động đến việcnhập học của cá nhân trong hộ gia đình ở miền nông thôn ở Trung Quốc Nghiên cứunày cho rằng nhu cầu cho số năm đi học của hộ gia đình là một hàm các yếu tố ảnhhưởng đến chi phí và lợi ích của việc học thêm gồm bốn nhóm: Đặc tính cá nhân củatrẻ (giới tính, tuổi, tình trạng dinh dưỡng), đặc điểm hộ gia đình (trình độ học vấn củacha và mẹ, nhận thức về giáo dục giới tính của cha và mẹ, mong muốn của cha mẹ vềtrình độ đạt được của trẻ, chi tiêu bình quân), đặc điểm công cộng (khoảng cách từ nhàđến trường) và đặc điểm của trường học, giáo viên (học phí, số phòng thí nghiệm khoahọc, thư viện, kinh nghiệm, lương của giáo viên) Bài nghiên cứu đã sử dụng hồi quyprobit để ước lượng số năm đi học của trẻ Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ và thu nhập của hộ gia đình có tác động tích cực đến số nămhoàn thành đi học của trẻ em Trình độ giáo dục và thái độ đối với giáo dục của trẻ củacác bà mẹ cũng có tác động mạnh mẽ Các phòng thí nghiệm khoa học và kinh nghiệmcủa giáo viên cũng tác động tích cực đối với việc học của trẻ

Nghiên cứu của Qian và Smyth (2010) về chi tiêu giáo dục ở vùng thành thịTrung Quốc: tác động của thu nhập, các đặc điểm hộ gia đình và nhu cầu giáo dục

Trang 23

trong và ngoài nước Dữ liệu được thu thập từ cuộc điều tra của China Mainland trên

32 thành phố thuộc lãnh thổ Trung Quốc năm 2003 Biến độc lập được sử dụng là biếnthu nhập hộ gia đình, nghề nghiệp- trình độ học vấn của bố mẹ, số trẻ trong hộ giađình, tình trạng hôn nhân của bố mẹ, đặc điểm khu vực sinh sống Hộ gia đình có thunhập càng cao, bố mẹ có trình độ học vấn càng cao và nghề nghiệp càng chuyênnghiệp thì chi tiêu giáo dục cho trẻ càng nhiều Ngoài ra, tình trạng hôn nhân của bố

mẹ, số trẻ trong hộ gia đình và đặc điểm khu vực sinh sống cũng có tác động đến chitiêu giáo dục của hộ

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Luận án tiến sỹ kinh tế “Nghiên cứu thống kê tình hình phát triển giáo dục – đào tạo ở Việt Nam” (2000) của NCS Hoàng Văn Cường – Trường Đại học Kinh tế quốc dân.

Luận án đã hệ thống hóa các nội dung và các yếu tố cơ bản của công tác GD –ĐT; hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phục vụ cho quản lý và phát triển ngành GD– ĐT Tác giả đã nghiên cứu các phương pháp thu thập thông tin trong ngành GD –

ĐT Qua đó, phân tích tình hình phát triển GD – ĐT giai đoạn 1985 – 1998 Đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát triển giáo dục – đào tạo ở Việt Nam Nghiên cứu này đãlàm giàu thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho những ai muốn nghiên cứu về lĩnh vực

GD – ĐT ở Việt Nam

Nghiên cứu của Dương (2004) đã khảo sát 360 hộ gia đình của 6 xã ở huyện

Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2001 Tác giả sử dụng mô hìnhlogit tìm thấy trình độ học vấn và sự hỗ trợ giữa cha mẹ làm tăng việc lựa chọn trườnghọc của con cái Hơn nữa, tác giả cũng chỉ ra vốn xã hội của gia đình, sự kết hợp giữatài chính và nguồn lực gia đình ảnh hưởng đáng kể đến trình độ học vấn của trẻ

Nghiên cứu của Đăng (2007) đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi phíhọc thêm cho các lớp học tại Việt Nam Tác giả sử dụng bộ dữ liệu khảo sát mức sốngdân cư 1997-1998 và 1992-1993 Tác giả tìm thấy không có sự khác biệt về giới tínhđối với chi phí cho học thêm Những sinh viên dân tộc thiểu số chi phí ít nhất cho việchọc thêm và ngay cả chi phí cho các bậc học chính khóa Nghiên cứu này cũng chỉ rarằng chi phí cho các bậc học chính khóa sẽ giảm xuống nếu như chất lượng của trườnghọc được cải thiện

Trang 24

Luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục: Nghiên cứu ở vùng Đông Nam Bộ” (2012) của tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.

Trình bày cơ sở lý luận về vai trò của giáo dục ở Việt Nam, hệ thống lý thuyết

về hộ gia đình, vốn con người và hành vi của hộ gia đình Tác giả lựa chọn và đề xuất

mô hình nghiên cứu của Tilak (các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình củangười dân vùng nông thôn Ấn Độ, 2002) Giả thiết nghiên cứu của mô hình cũng giảđịnh chi tiêu hộ gia đình phụ thuộc vào các nhân tố như tổng chi tiêu, quy mô hộ giađình, nơi sinh sống của hộ, các khoảng trợ cấp giáo dục, các đặc điểm chủ hộ (dân tộc,giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn)

Luận văn thạc sĩ “Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình Miền Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung” (2014) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh.

Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng, sự tác độngcủa thu nhập đến tiêu dùng, lý thuyết về đầu tư giáo dục, hành vi ra quyết định của hộgia đình Đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục củacác hộ gia đình Miền Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung cũng dựa vào mô hìnhnghiên cứu của Tilak (các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình của người dânvùng nông thôn Ấn Độ, 2002) Kết quả cho thấy các biến chi tiêu bình quân hộ giađình, chi tiêu bình quân thực phẩm, chi tiêu y tế, dân tộc và trình độ học vấn, tuổi vàtuổi bình phương của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, giới tính của trẻ, nơi sinh sống của

hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục

Nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân

Đồng bằng Sông Cửu Long” (2014) của tác giả Khổng Tiến Dũng và Phạm Lê Thông, Trường Đại học Cần Thơ.

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dụccủa người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Bộ số liệu Điều tra mức sốngdân cư 2010 (Vietnam Living Households Standard Survey) được sử dụng để phântích Kết quả nghiên cứu cho thấy mức chi tiêu cho giáo dục hiện tại của người dâncòn khá thấp so với các khoản mục chi tiêu thông thường khác Ngoài ra, có sự khácbiệt giữa mức chi tiêu giữa các hộ dân ở thành thị và nông thôn, tuy nhiên không có sự

Trang 25

khác biệt giữa các hộ dân ở các tỉnh, thành có mức thu nhập trung bình khác nhau ởĐBSCL Bên cạnh đó, mô hình hồi quy kiểm duyệt Tobit chỉ ra rằng, các yếu tố quantrọng tác động đến mức chi tiêu cho giáo dục của người dân bao gồm: trình độ học vấncủa chủ hộ, tuổi của chủ hộ, tổng thu nhập trong gia đình Các yếu tố như: học thêm,

số người nam và người nữ đi học trong gia đình cũng góp phần làm tăng khoản chi tiêunày

Tóm lại, đã có nhiều nghiên cứu đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở cácnước cũng như tại Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng bộ dữ liệu khảo sátmức sống hộ gia đình của quốc gia để phân tích, chỉ một số ít nghiên cứu là sử dụng

bộ dữ liệu thông qua khảo sát cá nhân Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến,

mô hình logit hay tobit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dụccủa hộ gia đình Các kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêucho giáo dục của hộ gia đình bao gồm đặc điểm chủ hộ (giới tính, tuổi, trình độ họcvấn), yếu tố gia đình (thu nhập, chi tiêu cho y tế, chi cho thực phẩm, truyền thống giađình, quy mô hộ gia đình, ), yếu tố người học (cấp học, giới tính người học, họcthêm, ) yếu tố xã hội (được trợ cấp giáo dục, ) Qua đó, ta thấy được vẫn còn nhiềuvấn đề mà các tác giả chưa đề cập đến như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chitiêu cho giáo dục theo từng loại hình trường học, theo khu vực, theo cấp học, chưađánh giá được ổn định của các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục Đây lànhững hướng mới có thể nghiên cứu tại Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Tác giả trình bày cáckhái niệm về hộ gia đình, khái niệm chủ hộ, chi tiêu cho giáo dục Trình bày các lýthuyết liên quan đến đề tài như lý thuyết về lựa chọn tiêu dùng, lý thuyết về tác độngthu nhập đến chi tiêu, lý thuyết về đầu tư cho giáo dục, hành vi ra quyết định của hộgia đình, mô hình lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ Tác giả cũng lượckhảo các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Mô tả cácyếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Những lý thuyết liên quannày là cơ sở để tác giả xây dựng khung phân tích và mô hình nghiên cứu

Trang 26

Đặc điểm chủ hộ (giới tính, dân

tộc, tuổi, học vấn, tình trạng hôn

nhân, khu vực sinh sống)

giáo dụccủa hộ gia đìnhĐặc điểm chi tiêu của hộ (chi

tiêu y tế, chi tiêu thực phẩm, chi

tiêu bình quân)

Vùng sinh sống

Sơ đồ 3.1: Khung phân tích

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.2.1 Mô hình lý thuyết

Houthakker (1957) đã xem xét ba dạng hàm để nghiên cứu các mô hình toánkinh tế giữa chi tiêu cho một loại hàng hóa cụ thể và tổng chi tiêu của hộ gia đình làtuyến tính, bán logarit và logarit kép Ông nhận định rằng dạng hàm tuyến tính khôngphù hợp để phản ánh các mối quan hệ trong chi tiêu và đã sử dụng dạng hàm logaritkép được phát triển từ lý thuyết đường cong Engel Mô hình toán có dạng cụ thể nhưsau:

logY iii log X1+γi log X 2+εi

Trang 27

Trong đó Yi là chi tiêu cho nhóm hàng hóa thứ I, X1 là tổng chi tiêu, X2 là sốlượng thành viên trong hộ gia đình εi là sai số, αi, βi, γ i là các hệ số được ước lượng từ

mô hình hồi quy OLS Với βi, γi chính là hệ số co giãn của tổng chi tiêu và quy mô hộgia đình khi xem xét trong mối quan hệ với chi tiêu cho nhóm hàng thứ i

Trong nghiên cứu năm 1998 Ndanshau đã xây dựng mô hình ước lượng tổngquát cho chi tiêu hộ gia đình như sau:

Dạng hàm tuyến tính cụ thể như sau:

ln HHEX = α + β X

i

+ ε

i i

Trong đó, ln HHEX là giá trị logarit của chi tiêu hàng năm của hộ gia đình

cho giáo dục, X i là các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục, βi

hệ số hồi quy tương ứng, α là hằng số và εi là sai số ước lượng Kết quả phân tíchcho thấy các yếu tố tổng chi tiêu của hộ gia đình, nơi sinh sống của hộ, trình độ họcvấn của chủ hộ và các khoản trợ cấp cho giáo dục mà các gia đình nhận được

Trang 28

3.2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Mô hình nghiên cứu đề xuất:

Trong đó:

0 là hằng số,

βi: là các hệ số hồi quy (i = 1,2, ,11)ε: là sai số

Bảng 3.1: Kỳ vọng của các biến trong mô hình

nếu chủ hộ là nam, nhận giá trị + Dũng và Phạm

nếu chủ hộ là dân tộc Kinh và

2: THCS3: THPT

Trang 29

4: Sơ cấp nghề5: Trung cấp nghề6: Trung cấp chuyên nghiệp7: Cao đẳng nghề

8: Cao đẳng9: Đại học10: Thạc sĩ11: Tiến sĩ12: Khác

Trang 30

4: BTB và DHMT

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2.3 Giải thích ý nghĩa các biến và kỳ vọng

3.2.3.1 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình

Chi tiêu cho giáo dục bình quân của hộ gia đình trong 12 tháng qua được tínhbằng tổng các khoản đóng góp và chi phí gồm các khoản đóng cho nhà trường như họcphí theo quy định, học phí học trái tuyến, các khoản đóng góp cho nhà trường, các quỷphụ huynh, quỷ học sinh… ; các khoản mua sắm vật dụng học tập như quần áo đồngphục và trang phục, dụng cụ học tập như sách, vở, viết… ; chi phí học thêm các mônthuộc chương trình quy định; chi phí đào tạo giáo dục khác như học chứng chỉ nghề,học chứng chỉ ngoại ngữ…; các chi phí khác như đi lại, nhà trọ, bảo hiểm

3.2.3.2 Giới tính chủ hộ

Người chủ hộ trong gia đình Việt Nam thường là trụ cột, chủ lực trong gia đình

về mặt kinh tế và thường là người quyết định cuối cùng đến một vấn đề nào đó của hộgia đình

Theo truyền thống phương Đông, người đàn ông thường xem trọng sự nghiệp,

có tư tưởng cầu tiến, tiếp xúc nhiều với văn hóa tiên tiến nên họ nhận thức được việcchỉ có học tập mới có thể nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống tương lại Khi họđóng vai trò là chủ hộ thì họ cũng mong muốn con cái của họ đạt được những thànhcông, tạo được thu nhập tốt nên họ sẽ đầu tư nhiều vào giáo dục của con em

Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ chi tiêugiáo dục của hộ gia đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của Diệp Năng Quang(2008) cho thấy chủ hộ là nữ giới có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chi tiêu cho giáo dụctrung học của các hộ vùng này hơn chủ hộ là nam giới

3.2.3.3 Dân tộc chủ hộ

Nước ta có nhiều dân tộc, với mỗi dân tộc có nhiều tập quán, quan điểm sống

và nhận thức khác nhau Dân tộc Kinh và Hoa tập trung nhiều ở vùng đồng bằng nên

dễ dàng tiếp thu những văn hóa mới, nhận thức của học thường cao hơn các dân tộckhác Thu nhập của dân tộc Kinh và Hoa cũng cao hơn so với các dân tộc khác Chính

vì thế, họ thường đầu tư cho giáo dục nhiều hơn các dân tộc khác

Trang 31

3.2.3.4 Tuổi chủ hộ

Ngày nay, khi cuộc sống được nâng cao, người dân thường tập trung vào pháttriển sự nghiệp vững vàng nên thường lập gia đình muộn hơn những người không có

đi học cao và vì thế nhận thức của họ cũng cao hơn

Tuổi của chủ hộ là nhân tố thể hiện tuổi đời của chủ hộ tại thời điểm khảo sát.Theo Mauldin và cộng sự (2001) trong nghiên cứu của mình đã cho thấy rằng các chủ

hộ mà có tuổi càng cao thì sẽ chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn các hộ gia đình ít tuổihơn

3.2.3.5 Học vấn chủ hộ

Theo các nghiên cứu của Meng Zhao, Paul Glewwe (2007), cho thấy trình độhọc vấn của cha mẹ có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục và tác động này là tácđộng tích cực đến học vấn của trẻ Nghiên cứu của Aysit Tansel (1999) thì cho thấy sốnăm đi học của người mẹ có tác động tích cực đến thành tựu học tập của trẻ

Khi trình độ học vấn của bố mẹ càng cao thì họ càng nhận thức được tầm quantrọng của giáo dục đối với vốn nhân lực trong tương lai Nên Tilak (2002), nhận địnhrằng trình độ học vấn của chủ hộ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chi tiêu chogiáo dục của hộ gia đình Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012), cũng cho thấy trình

độ học vấn của chủ hộ càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều

3.2.3.6 Tình trạng hôn nhân

Tình trạng hôn nhân của chủ hộ cũng là một trong những tác nhân tác động đếnchi tiêu giáo dục của hộ gia đình Hộ gia đình với chủ hộ có đầy đủ vợ chồng họ sẵnlòng chi tiêu giáo dục nhiều hơn hộ gia đình với chủ hộ đơn thân Chủ hộ đơn thân chỉ

có một nguồn thu nhập duy nhất, trong khi hộ gia đình có đầy đủ vợ/chồng có thêm sự

hỗ trợ thu nhập từ người vợ/chồng còn lại Kết quả nghiên cứu từ Mauldin và cộng sự(2001) cho thấy hộ gia đình có bố mẹ đơn thân chi tiêu cho giáo dục của con trẻ ít hơn

hộ gia đình có đầy đủ bố mẹ Tình trạng hôn nhân còn đầy đủ vợ/chồng của chủ hộđược kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

3.2.3.7 Khu vực sinh sống

Khu vực sinh sống của hộ gia đình thể hiện ở địa chỉ đăng ký thường trú của hộ

và địa chỉ này nằm ở khu vực nông thôn hay thành thị

Quian và Smyth (2010) cho rằng các hộ gia đình sống ở vùng thành thị sẵn lòngchi cho giáo dục nhiều hơn các hộ sống ở nông thôn Do sự khác biệt về thu nhập giữa

Trang 32

nông thôn và thành thị, cũng như các điều kiện về cơ sở vật chất như đường xá, trườnghọc Ngoài ra, ở thành thị không những có nhiều trường, lớp khác nhau để lựa chọn màcòn có nhiều các trung tâm đào tạo các kỹ năng khác.

3.2.3.8 Qui mô hộ gia đình

Quy mô hộ gia đình là tổng số người trong một hộ Quy mô hộ gia đình cũng cóthể ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Khi hộ gia đình có càng nhiềuthành viên thì chi phí cho giáo dục của hộ càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu học củacác thành viên Điều này đã được chứng minh qua nghiên cứu của Tilak (2002) Tuynhiên, chi phí cho giáo dục của hộ gia đình tăng vì quy mô hộ gia đình lớn lại gánhnặng nhân khẩu khi đó làm chi phí cho giáo dục tăng theo hướng tiêu cực

3.2.3.9 Chi tiêu bình quân hộ gia đình

Trong các nghiên cứu trên, hầu hết các nhà nghiên cứu khi đề cập đến nhân tốảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình thì luôn cho rằng thu nhập của

hộ gia đình nên xem xét đầu tiên Như Meng Zhao, Paul Glewwe (2007), Aysit Tansel(1999) hay Tilak (2002) cho rằng thu nhập của hộ gia đình có ảnh hưởng tích cực đếnchi tiêu giáo dục của hộ Tuy nhiên, ở Việt Nam nói chung và vùng Bắc Trung bộ vàDuyên hải miền Trung nói riêng, việc sử dụng biến thu nhập để khảo sát ảnh hưởngđến chi tiêu cho giáo dục thường không thật sự khách quan Việc thống kê số liệu liênquan đến thu nhập thường không chính xác do tính minh bạch trong vấn đề kê khai,người ta thường kê khai không đúng về thu nhập của mình Vì vậy mà hầu hết cácnghiên cứu liên quan đến thu nhập ở Việt Nam thường sử dụng biến chi tiêu để thaythế Việc điều tra số liệu về chi tiêu sẽ dễ dàng hơn và chính xác hơn Tổng chi tiêucòn thể hiện khả năng thanh toán thực tế và phụ thuộc vào thu nhập thực tế của hộ giađình Với nhân tố này, chúng ta kỳ vọng rằng hộ gia đình có tổng chi tiêu hay chi tiêubình quân càng cao thì cũng chi tiêu cho giáo dục càng cao và ngược lại

3.2.3.10 Chi tiêu cho y tế

Chi tiêu cho y tế là một loại chi tiêu đặc biệt Ngoài chi cho các loại bảo hiểm thìcác chi tiêu cho y tế khác đều không do mong muốn của hộ gia đình Chi phí để khám,chữa bệnh thường rất cao, đôi khi làm khánh kiệt kinh tế của hộ gia đình Xem xét ảnhhưởng của chi tiêu y tế đến chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình nhằm làm sáng tỏliệu một trẻ mà có chi phí cho y tế cao thì chi tiêu cho giáo dục có giảm hay không?Ngoài ra, biến bảo hiểm y tế cũng được đưa vào mô hình để xem xét khi hộ gia

Ngày đăng: 24/09/2020, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Becker, G.S, 1993. Human Capital – A theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education. Thrid Edition. London: the University of Chicago Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Capital – A theoretical and Empirical Analysis, withSpecial Reference to Education
11. Glewwe, P. and Patrinos, H., 1999. The role of the private sector in education in Vietnam: Evidence from Vietnam Living Standards Survey. World development, 27(5), p: 887-902 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of the private sector in education inVietnam: Evidence from Vietnam Living Standards Survey
12. Huston, S. J., 1995. The household education expenditure ratio: exploring importance of education. Journal of the family economicsand resource management division of AAFCS, 1:51-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The household education expenditure ratio: exploring importanceof education
13. Lassible, G., 1994. Towards a standardized definition of education xpenditure. Paris: United Nations Education, Scientific and Cultural Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards a standardized definition of education xpenditure
14. Mauldin, T et al, 2001. Parental expenditures on children's education. [pdf]. Available through: Proquest Database[Accessed on March 29, 2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parental expenditures on children's education
16. Quian, J. and Smyth, R., 2010. Educational expenditure in Urban China: Income Effects, Family Charactistics and the Demand for Domestic and Overseas Education.Applied Economics, p: 1-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Educational expenditure in Urban China: IncomeEffects, Family Charactistics and the Demand for Domestic and Overseas Education
17. Tilak, J.B.G, 2002. Determinants of household expenditure on education in rural India.[pdf]. Accessed through: Eldis.org database [Accessed on October 23, 2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of household expenditure on education in ruralIndia
15. Meng Zhao và Paul Glewwe, 2007. What determines basic school attainment in developing countries? Evidence from rural China, Economics of Education Review, 29 (2010), 451 – 460 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w