1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng TMCP việt nam trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài vào việt nam

99 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 365,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là lý do tác giả thực hiện đề tài “Hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài vào Việt Nam.” để nghiên cứu.. Mục tiêu

Trang 1

NGUYỄN ĐỖ QUỲNH NHI

HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI

VÀO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

NGUYỄN ĐỖ QUỲNH NHI

HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI

VÀO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.PHẠM TỐ NGA

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

TMCP Việt Nam trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài vào ViệtNam” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi được thực hiện dưới sự hướngdẫn của TS.Phạm Tố Nga Các số liệu sử dụng trong luận văn được thu thập trungthực từ các nguồn hợp pháp và đáng tin cậy khác nhau Luận văn không sao chépcông trình của các tác giả khác.

TP HCM, ngày tháng năm

2017Tác giả

Nguyễn Đỗ Quỳnh Nhi

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI

TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu bài luận văn 4

1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 5

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI 6

2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của các NHTM 6

2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại 6

Trang 5

2.1.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan 11

2.1.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 16

2.1.3.1 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) 17

2.1.3.2 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA - Return on Asset) 17

2.1.3.3 Thu nhập từ lãi biên (NIM) 18

2.1.3.4 Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CostInc) 18

2.1.3.5 Thu nhập lãi thuần (NII) 18

2.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài 19

2.2.1 Các hình thức góp vốn của các đối tác nước ngoài 19

2.2.2 Phương pháp đo lường hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài 19 2.2.3 Giới hạn sở hữu cổ phần đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngân hàng thương mại 20

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan 21

2.4 Đóng góp mới của đề tài 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 26

CHƯƠNG 3 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 27

3.1 Thực trạng việc tham gia góp vốn của các đối tác nước ngoài vào các ngân hàng TMCP Việt Nam 27

Trang 6

3.1.2.1 Tỷ lệ MacroFP 29

3.1.2.2 Tỷ lệ MicroFP 31

3.1.3 Một số thương vụ góp vốn của các đối tác nước ngoài tại các ngân hàng TMCP Việt Nam 35

3.2 Thực trạng về hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài 40

CHƯƠNG 4 - PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Mô hình nghiên cứu 47

4.2 Dữ liệu nghiên cứu 49

4.3 Thống kê mô tả 50

4.4 Kiểm tra sự tương quan 52

4.5 Phương pháp nghiên cứu 53

4.6 Kết quả nghiên cứu 54

4.6.1 Kết quả hồi quy theo biến MacroFP 54

4.6.1.1 Mô hình sử dụng ROA là biến phụ thuộc 54

4.6.1.2 Mô hình sử dụng NII là biến phụ thuộc 55

4.6.1.3 Mô hình sử dụng NIM là biến phụ thuộc 56

4.6.1.4 Mô hình sử dụng CostInc là biến phụ thuộc 56

4.6.2 Kết quả hồi quy theo biến MicroFP 58

4.6.2.1 Mô hình sử dụng ROA là biến phụ thuộc 58

4.6.2.2 Mô hình sử dụng NII là biến phụ thuộc 60

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 63

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 64

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 64

5.2 Đóng góp về khoa học của đề tài 66

5.3 Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tác động tích cực của hoạt động góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Việt Nam 66

5.3.1 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 66

5.3.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 67

5.4 Hạn chế của đề tài 68

5.5 Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

MLE

Nam A BankNHNN

NHTM

Trang 10

TPBank

VIB

VietABankVietcapital BankVietcombankVietinBankVPBank

USD

WTO

Trang 13

Hình 3.1 Tỷ lệ MacroFP trong giai đoạn 2006 – 2016 ở Việt Nam

2016

Trang 14

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng là mạch máu, là trung tâm điều phối nguồn vốn cho nền kinh tế Nângcao hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời của ngân hàng sẽ giúp nền kinh tế ngàycàng ổn định và phát triển bền vững Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiềungân hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường tạo sức ép lớn với các ngân hàngTMCP trong nước Một trong những giải pháp được các ngân hàng TMCP trongnước lựa chọn là tiến tới hợp tác với các ngân hàng nước ngoài Giải pháp này cóthể mang lại cả tác động tích cực và tiêu cực Tác động tích cực bao gồm chuyểngiao công nghệ, đổi mới sản phẩm, và cạnh tranh lành mạnh của toàn ngành ngânhàng, có thể giúp các ngân hàng TMCP trong nước nâng cao hiệu quả và lợi nhuậncủa họ Ngược lại, tác động tiêu cực là sự cạnh tranh quá mức có khả năng dẫn đến

sự bất ổn tài chính (Shen, Lu, Wu, 2009) Sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài

đã góp phần làm tăng lợi nhuận của ngân hàng trong nước (Mao, 2006; Ma, 2007).Tuy nhiên, sở hữu vốn nước ngoài có thật sự cải thiện được hiệu quả kinh doanh củacác ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hay không? Từ đó, có nên hay khôngkhi mở cửa thị trường ngân hàng thông qua việc góp vốn của các đối tác nước ngoàivào ngân hàng trong nước? Nếu mở cửa thị trường thì ở mức độ nào, tỷ lệ sở hữuvốn nước ngoài bao nhiêu là phù hợp để ngân hàng trong nước có thể đạt hiệu quả

kinh doanh cao nhất Đây là lý do tác giả thực hiện đề tài “Hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần trong hoạt động góp vốn của

các đối tác nước ngoài vào Việt Nam.” để nghiên cứu Luận văn sẽ giúp các nhà

quản trị ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách có một cái nhìn trực quan vềnhững tác động của sự thâm nhập của các đối tác nước ngoài đến hiệu quả kinhdoanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, để từ đó lựa chọn những

Trang 15

giải pháp, con đường đi đúng đắn để nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàngTMCP Việt Nam.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của bài luận văn là phân tích tác động của hoạt động góp vốncủa các đối tác nước ngoài đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu sẽ trả lời những câu hỏi như sau:

Hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài có tác động tích cực hay tiêu cực đốivới hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam?

Chính phủ có nên tiếp tục mở cửa thị trường ngân hàng trong nước đối với các nhàđầu tư nước ngoài? Chính phủ nên nới lỏng hay thắt chặt tỷ lệ sở hữu vốn nướcngoài tại các tổ chức tín dụng Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả kinh doanh của các ngân hàngthương mại cổ phần trong hoạt động góp vốn với các đối tác nước ngoài vào ViệtNam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Tác giả sử dụng dữ liệu của 20 ngân hàng TMCP Việt Nam là ABBank,ACB, BIDV, Eximbank, HDBank, KienLongBank, Maritime Bank, MB, Nam ABank, OCB, PG Bank, Sacombank, SeABank, Techcombank, VIB, VietABank,VietcapitalBank, Vietcombank, Vietinbank, VPBank để phân tích và đánh giá hiệuquả kinh doanh của các ngân hàng này trong hoạt động góp vốn với các đối tácnước ngoài vào Việt Nam

Thời gian: Số liệu được lấy từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 20ngân hàng thương mại từ năm 2006 đến năm 2016 Ngoài ra, các số liệu vĩ mô được

Trang 16

lấy từ website Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) và Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Vì mô hình nghiên cứu tác giả sử dụng có số lượng biến nhiều, một số ngân hàngthương mại cổ phần trong hệ thống ngân hàng chưa công khai báo cáo tài chính,trên website chính thức trong những năm gần đây, vì vậy, khi chạy mô hình, tác giảchỉ sử dụng dữ liệu của 20 ngân hàng thương mại trên từ năm 2006 đến 2014 để ướclượng

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm làm sáng rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu, bài nghiên cứu

sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài sử dụng nguồn số liệu được lấy từ báocáo tài chính, báo cáo thường niên của 20 ngân hàng thương mại cổ phần tạiViệt Nam Bên cạnh đó, tác giả thu thập nguồn dữ liệu, thông tin từ các tạp chíchuyên ngành ngân hàng, các nghiên cứu khoa học, các website của Ngânhàng nhà nước, Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB),v.v…

- Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tưduy logic kinh tế được sử dụng nhằm phân tích các chỉ tiêu tài chính để đánhgiá hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trong hoạtđộng góp vốn của các đối tác nước ngoài tại Việt Nam

- Phương pháp định lượng là phương pháp hồi quy dữ liệu bảng GeneralizedMethod of Moments (GMM) để ước lượng mô hình đánh giá hiệu quả kinhdoanh của các ngân hàng thương mại cổ phần trong hoạt động góp vốn với cácđối tác nước ngoài vào Việt Nam Một cách tổng quan, GMM là phương pháptổng quát của rất nhiều phương pháp ước lượng phổ biến như OLS, GLS,MLE,….Ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, tự tương quan,phương sai thay đổi, phương pháp GMM vẫn cho ra các hệ số ước lượng vững,không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả

Trang 17

1.6 Kết cấu bài luận văn

Bài nghiên cứu được trình bày trong phạm vi 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu đề tài hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài vào Việt Nam

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của các NHTM và hoạtđộng góp vốn của các đối tác nước ngoài

- Chương 3: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài vào Việt Nam

- Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Kết luận kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp

1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Bài nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ vấn đề hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài

có tác động tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng TMCPtrong nước? Từ đó, Chính phủ và các nhà quản trị ngân hàng sẽ có những bước điđúng đắn trong chính sách để cùng nhau nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngânhàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn hội nhập như hiện nay

Trang 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của đề tài đã nêu rõ lý do tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài này Việccác nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các ngân hàng thương mại cổ phần ViệtNam có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng là vấn

đề rất được quan tâm hiện nay Nội dung chương cũng đã trình bày rõ mục tiêunghiên cứu của đề tài; đối tượng nghiên cứu là hiệu quả kinh doanh của các ngânhàng thương mại cổ phần trong hoạt động góp vốn với các đối tác nước ngoài vàoViệt Nam, số liệu để thực hiện bài nghiên cứu được thu thập từ các báo cáo tàichính, báo cáo thường niên của 20 ngân hàng TMCP Việt Nam từ năm 2006 đếnnăm 2016 Chương 1 cũng đã nêu cụ thể các phương pháp được sử dụng để nghiêncứu đề tài và kết cấu 5 phần của bài luận văn

Trang 19

CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI

Ở chương này, tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của cácngân hàng thương mại, cơ sở lý thuyết về hoạt động góp vốn của các đối tác nướcngoài Ngoài ra, tác giả còn lược khảo một số nghiên cứu trước đây có liên quanđến đề tài

2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của các NHTM

Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại bao gồm baphần Đầu tiên là những quan điểm liên quan đến khái niệm về hiệu quả kinh doanhcủa ngân hàng thương mại Sau đó phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng thương mại, và cuối cùng tác giả trình bày các chỉtiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Theo giáo trình “Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp”, tác giảNgô Đình Giao cho rằng “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) làmột phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vậtlực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định” Điều này thể hiện sự tương quan giữakết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh chất lượng củahoạt động kinh tế đó

Hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến

số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó (Farrell, 1957)

Hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính khan hiếmthành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh (Draft,2008)

Trang 20

Các quan điểm trên đều nhận định về hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp làkhả năng biến đổi các yếu tố đầu vào để đạt được thành quả cao với chi phí thấp,thành quả đạt được càng cao với chi phí càng thấp thì hiệu quả kinh doanh càng cao

và ngược lại Hiệu quả kinh doanh còn được so sánh giữa các doanh nghiệp trongcùng ngành Với cùng điều kiện về các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp có khả năngbiến đổi các yếu tố đầu vào có tính khan hiếm thành khả năng sinh lời, với chi phíthấp hơn so với đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả kinh doanh cao hơn

Trong bài báo cáo “Beyond ROE – How to measure bank performance” của Ngânhàng Trung Ương Châu Âu (European Central Bank, 2010), khả năng tạo ra lợinhuận bền vững được cho là một định nghĩa để mô tả hiệu quả kinh doanh của cácngân hàng Mặc dù các tổ chức ngân hàng ngày càng phát triển và trở nên phức tạp,nhưng các yếu tố chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mộtngân hàng vẫn là lợi nhuận, năng lực, sự chấp nhận rủi ro và đòn bẩy Một điều rõràng là một ngân hàng phải có khả năng tạo ra lợi nhuận Năng lực của ngân hàngthương mại đề cập đến khả năng mà ngân hàng có thể tạo ra doanh thu từ tài sản củachính nó và tạo ra lợi nhuận từ các nguồn lực Sự chấp nhận rủi ro được phản ánhtrong việc điều chỉnh một cách cần thiết nguồn thu nhập cho những rủi ro phát sinhtrong quá trình thực hiện để tạo ra các nguồn thu nhập (ví dụ chi phí rủi ro tín dụngtrong chu kỳ) Đòn bẩy có thể cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của các ngânhàng theo xu hướng đi lên; nhưng ngược lại, nó cũng có nhiều khả năng làm chomột ngân hàng thất bại, do những thiệt hại bất ngờ

Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ được đánh giá qua khảnăng tạo lợi nhuận từ các nguồn lực sẵn, mà còn được đo lường bởi sự chấp nhậnrủi ro của từng ngân hàng Vì đặc thù của các ngân hàng thương mại là các doanhnghiệp kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ, nên chứa đựngrất nhiều rủi ro, các ngân hàng thương mại cần có sự linh hoạt trong việc điều chỉnhcác chính sách, biện pháp phòng ngừa đối với các rủi ro phát sinh thì hoạt động kinhdoanh sẽ đạt kết quả tốt, từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn Theo Peter S.Rose

Trang 21

(2001), bản chất ngân hàng thương mại cũng là một tập đoàn kinh doanh được tổchức vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro chấp nhận được.

Bên cạnh đó, với điều kiện cùng nguồn lực sẵn có, ngân hàng có khả năng biến đổinguồn lực thành khả năng sinh lời với chi phí thấp hơn thì hiệu quả kinh doanh đạtđược cao hơn các ngân hàng trong hệ thống Tuy nhiên, ngành ngân hàng là mộtngành nhạy cảm không chỉ với hàng hóa là tiền tệ, mà hoạt động kinh doanh của cácngân hàng thương mại còn mang tính hệ thống cao Tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộngđến toàn bộ nền kinh tế, hơn nữa, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng luôn mang tínhlan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn nhiều lĩnh vực kinh doanh khác Với sự ảnhhưởng dây chuyền như vậy, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau để đạtđược hiệu quả kinh doanh cao nhất, trên cơ sở cùng tồn tại chứ không triệt tiêu lẫnnhau, vì nếu cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng thương mại sẽ dẫn đến sự sụp

đổ của ngành

Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh dựa trên các góc nhìn khác nhau Từnhững phân tích trên, tác giả cho rằng hiệu quả kinh doanh của các ngân hàngthương mại phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả caonhất với tổng chi phí thấp nhất

2.1.2 Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

thương mại

Hiệu quả kinh doanh là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngânhàng thương mại, bởi vậy để ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả hơn, đòihỏi phải xác định được các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của các ngânhàng thương mại, nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toànvốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại Các yếu tố này có thể được chia làm hai nhóm: nhóm yếu tố kháchquan và nhóm yếu tố chủ quan, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hainhóm yếu tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả kinh doanh của chínhcác ngân hàng thương mại

Trang 22

2.1.2.1 Nhóm yếu tố khách quan

- Môi trường về kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, làm cầu nối giữa khuvực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế Do vậy, những biến động của môitrường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt độngcủa các ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM, hiệu quả hoạt động của NHTM sẽ tốthơn Khi nền kinh tế có tăng trưởng cao và ổn định, các lĩnh vực trong nền kinh tếđều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó nhu cầu vay vốntăng, làm cho các NHTM dễ dàng mở rộng hoạt động tín dụng của mình Đồng thời,khả năng nợ xấu có thể giảm, vì năng lực tài chính của các doanh nghiệp cũng đượcnâng cao Ngược lại, khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trở nên bất ổn thìđiều đó trở thành những yếu tố bất lợi cho hoạt động của các NHTM như nhu cầuvay vốn giảm, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng làm giảm hiệu quả hoạt độngcủa các NHTM

Hiện nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Cácnền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào nhau, thì sự biếnđộng của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của các nước trên thế giới cũng sẽ cónhững ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các NHTM trong nước

bổ sung nhiều lần trong quá trình phát triển của mình

Trang 23

Những thay đổi về quy định pháp luật đối với ngành ngân hàng cũng có thể tạo điềukiện thuận lợi hoặc gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thươngmại Các quy định đã che chở cho các công ty khỏi sự tác động của những biếnđộng trong nhu cầu và chi phí, giảm bớt rủi ro (Sam Peltzman, 1976) Nếu đúng nhưvậy, điều này có nghĩa sự thay đổi của các quy định buộc ngân hàng phải đối mặtvới rủi ro lớn hơn Ví dụ như việc thay đổi các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc củacác NHTM sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các ngân hàng Nếu quyđịnh đưa ra yêu cầu các ngân hàng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì sẽ giúp cho khảnăng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tăng lên, tuy nhiên, bên cạnh đóngân hàng thương mại phải rút bớt vốn kinh doanh để đưa vào dự trữ bắt buộc, điềunày sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Như vậy, môi trường pháp lý có vai trò hết sức quan trọng đối với các hoạt độngkinh tế nói chung và đối với hoạt động của các NHTM nói riêng, là cơ sở tiền đềcho ngành ngân hàng phát triển ổn định và bền vững

- Tăng trường kinh tế

Đặc thù của các ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ vàcác dịch vụ khác liên quan đến tiền tệ, mà tiền tệ là nhân tố có ảnh hưởng sâu rộng

và liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh

tế - xã hội Vì vậy sự biến động của nền kinh tế sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến hiệuquả hoạt động của ngân hàng, và sự biến động đó thể hiện ở mức độ tăng trưởngGDP Tăng trưởng kinh tế được ước tính bởi sự gia tăng tỷ lệ phần trăm trong tổngsản phẩm quốc nội Tác giả Nury Effendi, Maman Setiawan, GrigoriosEmvalomatis, Alfons Oude Lansink (2012) tìm thấy sự ảnh hưởng các yếu tố vĩ mô(tổng sản phẩm quốc nội, lãi suất của Ngân hàng Trung ương về tiền gửi 3 tháng, tỷgiá hối đoái và lạm phát) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Sự tácđộng của tăng trưởng GDP lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại là tácđộng hai chiều, hệ thống ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giatăng GDP của nền kinh tế, sự gia tăng này sẽ tác động ngược lại, nâng cao hiệu quảhoạt động của hệ thống ngân hàng

Trang 24

- Lạm phát

Đối với các ngân hàng thương mại, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảmxuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiệncác dịch vụ ngân hàng Ví dụ đối với hoạt động huy động vốn, khi lạm phát tăngcao, việc huy động vốn của các ngân hàng sẽ gặp khó khăn Để huy động vốn thìcác ngân hàng phải cạnh tranh đẩy lãi suất huy động lên cao, làm tăng chi phí, giảmhiệu quả hoạt động của ngân hàng, gây ra tình trạng bất ổn cho cả hệ thống ngânhàng Vì đặc tính dây chuyền trong của các ngân hàng trong hệ thống, nếu cạnhtranh quá mức có thể gây ra sự sụp đổ ngành Hoạt động tín dụng rơi vào khủnghoảng vì không thu hút được các nguồn vốn trong xã hội gây ảnh hưởng tiêu cựcđến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảmkhối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cánhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít kháchhàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độrủi ro cho phép Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũngcao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng và có thể dẫn đếnnhững rủi ro đạo đức Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡthị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Sự không ổnđịnh của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư vàdân chúng, làm tăng tính bị động và rủi ro thanh khoản đối với hoạt động ngânhàng

2.1.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan

Nhóm yếu tố chủ quan, chính là các nhân tố bên trong nội bộ của chính các NHTMnhư các nhân tố về quy mô ngân hàng, vốn sở hữu nước ngoài trong ngân hàngthương mại, năng lực tài chính, khả năng quản trị điều hành, ứng dụng tiến bộ côngnghệ, trình độ và chất lượng của lao động,

Trang 25

- Quy mô ngân hàng

Các ngân hàng lớn hoạt động với chi phí thấp hơn các ngân hàng nhỏ vì các ngânhàng lớn thông thường hoạt động trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ hơn và từ

đó hiệu quả hoạt động của các ngân hàng có quy mô lớn thường cao hơn (PeterS.Rose, 2004)

Các ngân hàng có quy mô lớn sẽ có khả năng tiếp cận với nguồn vốn huy động tốthơn Ngân hàng có quy mô càng lớn thì càng có lợi thế trong việc tiết kiệm chi phí,nhờ đó gia tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

- Năng lực tài chính

Năng lực tài chính của một NHTM thường được biểu hiện, trước hết là qua khảnăng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, vì vốn chủ sở hữu thể hiện sức mạnh tài chínhcủa một ngân hàng Tiềm lực về vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanhcủa ngân hàng như: Khả năng huy động và cho vay vốn, khả năng đầu tư tài chính,trình độ trang bị công nghệ, khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro ngân hàng.Nếu nợ xấu tăng thì dự phòng rủi ro cũng phải tăng để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khảnăng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xảy ra Ngược lại, nếu nợxấu tăng nhưng dự phòng rủi ro không đủ để bù đắp, có nghĩa ngân hàng đangkhông có năng lực tài chính để bù đắp cho những rủi ro sẽ phát sinh Tóm lại, ngânhàng có năng lực tài chính mạnh, thì hiệu quả hoạt động kinh doanh sẽ cao

- Năng lực quản trị, điều hành

Năng lực quản trị, điều hành là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạtđộng của các ngân hàng thương mại Năng lực quản trị điều hành phụ thuộc vào cơcấu tổ chức bộ máy quản lý, trình độ lao động và tính hữu hiệu của cơ chế điều hành

để có thể ứng phó tốt, trước những diễn biến phức tạp của thị trường Năng lực quảntrị, điều hành còn có thể được thể hiện qua khả năng giảm thiểu chi phí hoạt động,nâng cao năng suất sử dụng đầu vào để có thể tạo ra được lợi nhuận tối ưu

Trang 26

- Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ

Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ phản ánh năng lực, trình độ công nghệ thôngtin của một ngân hàng Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ vàứng dụng sâu rộng của nó vào cuộc sống như ngày nay, thì các ngân hàng thươngmại khó có thể duy trì khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh, nếu vẫn cung ứng các dịch vụ truyền thống, không cải tiến và đổi mới côngnghệ mới Năng lực công nghệ của ngân hàng thể hiện khả năng cải tiến công nghệmới, gồm thiết bị và con người, tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tínhđộc đáo về công nghệ của mỗi ngân hàng

- Trình độ, chất lượng của người lao động

Nhân tố con người là yếu tố quyết định quan trọng đến sự thành bại trong bất kỳhoạt động nào của các NHTM Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi các ngânhàng thương mại càng phải cung cấp nhiều dịch vụ mới và có chất lượng Chínhđiều này, đòi hỏi chất lượng của nguồn nhân lực cũng phải được nâng cao, để đápứng kịp thời đối với nhu cầu từ khách hàng, những thay đổi của thị trường Việc sửdụng nhân lực có đạo đức nghề nghiệp, giỏi về chuyên môn, sẽ giúp cho ngân hàngtạo lập được những khách hàng trung thành, ngăn ngừa được những rủi ro có thểxảy ra trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư Nguồn nhân lực chuyên nghiệp và cótrình độ cao là nhân tố giúp các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí hoạt động,nâng cao hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, ngân hàngthương mại luôn phải chú trọng việc phát triển nguồn nhân lực với những công nghệmới

- Vốn sở hữu nước ngoài trong ngân hàng thương mại

Vốn sở hữu nước ngoài trong ngân hàng thương mại là tỷ lệ phần trăm cổ phần củacác nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào một ngân hàng Vốn chủ sở hữunước ngoài có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngânhàng thương mại Tác động tích cực bao gồm chuyển giao công nghệ, đổi mới sản

Trang 27

phẩm, và cạnh tranh lành mạnh của toàn ngành ngân hàng, có thể giúp các ngânhàng thương mại trong nước nâng cao hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận Ngược lại,tác động tiêu cực là sự cạnh tranh quá mức có khả năng dẫn đến sự bất ổn tài chính(Shen, Lu, Wu, 2009).

Một số bài nghiên cứu lý giải lý do tại sao sự tham gia góp vốn của các ngân hàngnước ngoài ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong nước (Cho,1990; Stiglitz, 1994; Levine, 1996; Buch, 1997; Berger và Hannan, 1998) Trướctiên, sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài có thể kích thích các ngân hàngtrong nước giảm chi phí và tăng hiệu quả của các dịch vụ tài chính hiện có Sự thâmnhập của ngân hàng nước ngoài sẽ gây áp lực cho các ngân hàng trong nước; để giữlại thị phần, các ngân hàng trong nước phải cải thiện chất lượng dịch vụ của họ Thứhai, các ngân hàng nước ngoài với vai trò là đối tác chiến lược sẽ giới thiệu các dịch

vụ tài chính mới cho các ngân hàng trong nước, việc các ngân hàng trong nước pháttriển các dịch vụ mới này sẽ cải thiện hiệu quả kinh doanh Bên cạnh đó, các ngânhàng nước ngoài sẽ chuyển giao công nghệ hiện đại và góp phần cải thiện bộ máyquản trị điều hành của các ngân hàng trong nước Sự hiện diện của ngân hàng nướcngoài cũng có thể dẫn đến cải thiện hệ thống giám sát và các điều lệ của ngân hàngtrong nước Thứ ba, các ngân hàng nước ngoài có thể nâng cao chất lượng nguồnnhân lực đối với các ngân hàng trong nước Khi góp vốn vào các ngân hàng trongnước, các ngân hàng nước ngoài sẽ đưa các nhà quản lý có trình độ cao, các chuyêngia cao cấp vào các ngân hàng trong nước để giám sát hoạt động kinh doanh, truyềnđạt kinh nghiệm quản lý, chuyên môn từ đó các ngân hàng trong nước có thể họchỏi từ các hoạt động của các nhà quản lý, chuyên gia của ngân hàng nước ngoài.Cuối cùng, sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài cũng có thể dẫn đến chi phí caohơn cho các ngân hàng trong nước Các ngân hàng trong nước phải chịu chi phí tăngcao để phát triển các dịch vụ tài chính mới, nâng cao chất lượng của các dịch vụ,hoạt động hiện có và thực hiện các kỹ thuật quản lý ngân hàng mới từ sự chuyểngiao của các nhà đối tác chiến lược nước ngoài Ngoài ra, ngân hàng trong nước cần

bỏ ra nhiều chi phí để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Những chi phí này cần

Trang 28

phải phát sinh, ít nhất là trong ngắn hạn Trong thời gian dài hơn, chi phí đầu tư tậptrung vào việc triển khai các dịch vụ mới, nâng cao chất lượng hoạt động hiện tại,nên góp phần giảm chi phí tổng thể của các ngân hàng trong nước.

Một số nghiên cứu tìm thấy sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài đã góp phầnlàm tăng lợi nhuận của ngân hàng trong nước (Mao, 2006; Ma, 2007); sự thâm nhậpngân hàng nước ngoài làm giảm chi phí hoạt động của các ngân hàng trong nước,điều này có nghĩa sự cạnh tranh từ sự thâm nhập các ngân hàng nước ngoài vào cácngân hàng thương mại mang lại lợi ích cho hiệu quả hoạt động (Claessens và cộng

sự, 2001) Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại tìm thấy điều ngược lại (Wu và cộng sự,2007), (Laurenceson và Qin, 2008) Barajas và cộng sự (1999) thấy rằng trong1985-1998, sự gia tăng việc thâm nhập ngân hàng nước ngoài ở Colombia làm tăngchi phí quản lý và giảm chất lượng tín dụng của ngành ngân hàng trong nước AliciaGarcía-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệmcho thấy hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã được hưởng lợi từ sự thâm nhập củacác nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc tăng khả năng sinh lời và hiệu quả hoạtđộng của hệ thống ngân hàng, các ngân hàng Trung Quốc đạt hiệu quả cao nhất khicác ngân hàng nước ngoài đóng vai trò là đối tác chiến lược Để thu được những lợiích này, thỏa thuận chính giữa các đối tác nước ngoài và các ngân hàng Trung Quốc

là việc cải thiện quản trị doanh nghiệp

- Quản trị điều hành của các nhà đầu tư nước ngoài đối với ngân hàng trong nước

Khi các nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào các ngân hàng thương mạitrong nước, đặc biệt là trở thành đối tác chiến lược của các ngân hàng trong nước,các đối tác chiến lược nước ngoài sẽ cử nhiều quản lý cao cấp nắm giữ các chức vụquan trọng tại các ngân hàng trong nước nhằm hỗ trợ chuyển giao kiến thức chuyênmôn về quy trình hoạt động, kinh nghiệm quản lý và giám sát hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng Những quản lý này sẽ tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh vàquản trị điều hành của ngân hàng trong nước Một vấn đề cần quan tâm là việc tham

Trang 29

gia quản trị, điều hành của các đối tác chiến lược nước ngoài có tác động đến hiệuquả kinh doanh của các ngân hàng trong nước không?

Nghiên cứu “Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng: Trườnghợp của Hàn Quốc” (Moon, Woosik, 2012) xem xét tác động của sự gia tăng sở hữunước ngoài lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hàn Quốc Nghiên cứu cònxem xét tác động của việc người nước ngoài quản lý hoạt động ngân hàng, tuy nhiênviệc người nước ngoài quản lý không tác động đến hiệu quả hoạt động của ngânhàng Giang Phung và Dr Michael Troege (2016) cũng nghiên cứu về mối quan hệgiữa sự quản trị điều hành của đối tác nước ngoài với hiệu quả kinh doanh của cácngân hàng trong nước Các nhà đầu tư nước ngoài đề nghị chính phủ Việt Nam để

họ chiếm tỷ trọng cao trong ngân hàng, họ cho rằng chỉ kiểm soát hoàn toàn sẽ chophép họ cải thiện lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, chính phủ ViệtNam không chấp nhận việc để ngân hàng nước ngoài kiểm soát khu vực tài chính.Kết quả nghiên cứu cho thấy việc bắt buộc đại diện của các cổ đông nước ngoài vàoban giám sát tức việc tham gia quản trị điều hành của các đối tác nước ngoài không

có ảnh hưởng đến lợi nhuận cơ bản của các ngân hàng trong nước

2.1.3 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân

hàng thương mại

Bài báo cáo “Beyond ROE – How to measure bank performance” của Ngân hàngTrung ương Châu Âu (2010) giới thiệu hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMđược đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính cơ bản như sau: tỷ suất sinh lợi trênvốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), thu nhập từ lãi biên(NIM), và tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CostInc)

Theo Miller, Noulas (1997) và Demirguc-Kunt, Huizinga (1999), bài nghiên cứu đolường hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng bằng cách sử dụng tỷ suất sinh lợi

Trang 30

trên tổng tài sản ( ROA), thu nhập lãi thuần (NII), thu nhập từ lãi biên (NIM) và tỷ

lệ chi phí trên thu nhập (CostInc)

Vì thế, ở phần này, tác giả sẽ trình bày năm chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng thương mại: ROE, ROA, NIM, CostInc, NII

2.1.3.1 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity)

ROE được đo lường bằng tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu Đây làchỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì ROE cho thấy khả năng ngân hàng có thể tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này đo lườnghiệu quả kinh doanh khi sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu

ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh giữa các công ty khác nhauhoặc các ngành khác nhau trong nền kinh tế Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn chủ sở hữu, có nghĩa là ngân hàng đã cân đốimột cách hài hòa giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranhcủa mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô ROE càng lớn cho thấykhả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng cao, hiệu quả kinh doanhcủa ngân hàng càng cao

2.1.3.2 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA - Return on Asset)

ROA đo lường bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản của ngân hàng Ýnghĩa của ROA cho thấy khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận của một đồng tàisản, phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng khi sử dụng một đơn vị tài sản.Chỉ tiêu ROA giúp các nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàngtrong việc tạo ra thu nhập từ tài sản Tỷ số ROA của ngân hàng thấp thể hiện kết

Trang 31

quả của một chính sách đầu tư và cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạtđộng của ngân hàng quá mức, ngược lại ROA cao khẳng định ngân hàng có hiệuquả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạtgiữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế.

2.1.3.3 Thu nhập từ lãi biên (NIM)

Thu nhập từ lãi biên là tỷ số giữa thu nhập lãi thuần và tổng tài sản có sinh lời bìnhquân Tỷ lệ này phản ánh chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động.Tài sản có sinh lời chính là những tài sản mang lại lợi nhuận cho ngân hàng như chovay khách hàng, các khoản đầu tư, cho vay liên ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàngNhà nước

Theo đánh giá của Standard & Poor's thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trongkhi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao NIM có xu hướng cao ở các ngânhàng bán lẻ quy mô nhỏ hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đaquốc gia Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu quản trị tốt tài sản Nợ - Có, hiệu quảkinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ tốt hơn, ngược lại NIM có xu hướng thấp

và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại

2.1.3.4 Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CostInc)

Chỉ tiêu được đo lường bằng tỷ số giữa chi phí hoạt động và tổng thu nhập hoạtđộng, phản ánh hiệu quả quản trị chi phí so với tổng thu nhập hoạt động Đây là mộtchỉ tiêu tài chính quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của các ngânhàng, tỷ lệ này càng nhỏ thì ngân hàng hoạt động càng hiệu quả

2.1.3.5 Thu nhập lãi thuần (NII)

Trang 32

Thu nhập lãi thuần (NII) là một trong các chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng thương mại Thu nhập lãi thuần là sự khác biệt giữadoanh thu được tạo ra bởi các tài sản sinh lãi và các chi phí phục vụ công nợ Đốivới ngân hàng, tài sản thường bao gồm các khoản vay thương mại và cá nhân, thếchấp, cho vay xây dựng và đầu tư chứng khoán Nợ phải trả bao gồm chủ yếu củacác khoản tiền gửi của khách hàng, các khoản vay từ các ngân hàng khác… Thunhập lãi thuần có thể là tích cực hoặc tiêu cực.

NII = Thu nhập cho vay và đầu tư chứng khoán – Chi phí trả lãi tiền gửi và nợ vay

2.2 Cơ sở lý thuyết về hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài

2.2.1 Các hình thức góp vốn của các đối tác nước ngoài

Các nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức:mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần;góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; và góp vốn vào tổchức kinh tế khác không thuộc hai trường hợp trên Nhà đầu tư nước ngoài mua cổphần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức mua cổ phần của công ty

cổ phần từ công ty hoặc cổ đông; mua phần vốn góp của các thành viên công tytrách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn; muaphần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thànhviên góp vốn của công ty hợp danh; mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh

tế khác

2.2.2 Phương pháp đo lường hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài

Theo nghiên cứu “Tác động của sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài đếnhiệu quả hoạt động của Ngân hàng Trung Quốc” của Chung – Hua Shen, Chin-Hwa

Lu và Meng – Wen Wu (2009), đo lường hoạt động góp vốn của các đối tác nướcngoài đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại được thể hiện ở hai cấp độ

Ởcấp độ quốc gia, hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài được đại diện bởiMacroFP, được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm của các ngân hàng trong nước với sựtham gia góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số các ngân hàng Đo

Trang 33

lường hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài bằng hệ số MacroFP sẽ trả lờicho câu hỏi chính sách mở cửa cho hoạt động góp vốn của các nhà đầu tư nướcngoài có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngành ngân hàng trongnước hay không Nếu câu trả lời là có, nhà nước có nên tiếp tục mở cửa thị trườngngân hàng cho các nhà đầu tư nước ngoài không; nếu câu trả lời là không, nhà nước

có nên ngừng mở cửa thị trường ngân hàng Nghiên cứu của Claessens và cộng sự(2001) đã định nghĩa MacroFP là tỷ lệ của số lượng các ngân hàng Trung Quốc cónhà đầu tư chiến lược nước ngoài trên tổng số ngân hàng Trung Quốc MacroFP sau

đó được sử dụng để trả lời câu hỏi liên quan đến việc mở cửa thị trường ngân hàngTrung Quốc

Ở cấp độ ngân hàng, hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài được đại diệnbởi MicroFP, đo bằng tỷ lệ phần trăm cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài thamgia góp vốn vào một ngân hàng Các nhà đầu tư nước ngoài, sau khi góp vốn vàongân hàng thương mại trong nước, vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, sẽ truyền đạtcông nghệ tiên tiến, sản phẩm mới và cách thức điều hành, quản trị cho các ngânhàng Đo lường bằng hệ số MicroFP để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh củangân hàng thương hàng trong hoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài, có thể

là tác động tích cực, cũng có thể tiêu cực Demirguc-Kunt và Huizinga (1999) cũng

sử dụng tỷ số MicroFP để chứng minh rằng ở các nước đang phát triển, các ngânhàng với tỷ số MicroFP càng cao thì lợi nhuận lớn càng cao hơn so với các ngânhàng trong nước, ở các nước công nghiệp, thì ngược lại Tuy nhiên, Lensink vàFaaborg (2007) phát hiện ra rằng một sự gia tăng trong tỷ số MicroFP ảnh hưởngtiêu cực đến hiệu suất ngân hàng, bất kể trình độ phát triển đất nước

2.2.3 Giới hạn sở hữu cổ phần đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong các

ngân hàng thương mại

Đang trong quá trình hội nhập quốc tế, nhiều nước trên thế giới đều ban hành cácvăn bản pháp luật quy định về giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoàitại các doanh nghiệp trong nước Việc các nước quy định giới hạn sở hữu cổ phầncủa nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng trong nước là nhằm ngăn ngừa, hạn chế

Trang 34

một cổ đông hoặc nhóm cổ đông nước ngoài có cùng lợi ích nắm giữ tỷ lệ vốn lớntại ngân hàng và thông qua cơ chế biểu quyết để thao túng hoạt động của ngân hàngtheo ý đồ của riêng mình Thêm nữa, mục đích chính của việc thu hút vốn đầu tưnước ngoài thông qua việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại cácngân hàng trong nước là nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị và đa dạnghóa vốn sở hữu của các ngân hàng thương mại trong nước chứ không phải hiến tặngthị trường nội địa cho nhà đầu tư nước ngoài Do đó, tuỳ theo điều kiện và hoàncảnh thực tế của mỗi nước mà các quốc gia có quyền chọn và quy định một tỷ lệ sởhữu cổ phần thích hợp đối với nhà đầu tư nước ngoài tại một ngân hàng thương mạitrong nước.

Tại Trung Quốc, để cải thiện sự an toàn, lành mạnh và sức mạnh của các ngân hàngtrong nước, vào cuối năm 2003, Ủy ban Giám sát và Quản lý ngân hàng Trung Quốc(CBRC) quy định một nguyên tắc 20%-25% phần trăm trong đó một cá nhân, ngânhàng nước ngoài có thể nắm giữ tối đa 20% cổ phần trong tổng cổ phần của mộtngân hàng trong nước, và tổng số cổ phần nắm giữ của các ngân hàng nước ngoàitại bất kỳ ngân hàng trong nước nào không được vượt quá 25% Căn cứ vào quyđịnh này, nhiều ngân hàng nước ngoài đã mua cổ phần trong các ngân hàng trongnước, chính sách này được gọi là “Giới thiệu nhà đầu tư chiến lược nước ngoài(FSI) cho các ngân hàng Trung Quốc” Đến cuối năm 2007, có 25 ngân hàng thươngmại Trung Quốc đã hình thành quan hệ đối tác với 33 nhà đầu tư tổ chức nướcngoài

2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan

Nghiên cứu “Tác động của sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài đến hiệuquả hoạt động của Ngân hàng Trung Quốc” (Shen, Lu, Wu, 2009) đã sử dụng môhình hồi quy biến giả bình phương tối thiểu (LSDV), với dữ liệu mẫu bao gồm 48ngân hàng Trung Quốc, trong đó có 5 ngân hàng quốc doanh, 10 ngân hàng thươngmại cổ phần, 18 ngân hàng thành phố và 15 ngân hàng nước ngoài trong khoảngthời gian từ năm 1997 đến năm 2007; để đo lường sự thâm nhập của các ngân hàngnước ngoài làm ảnh hưởng đến ngân hàng nội địa ở Trung Quốc Ở cấp độ quốc gia,

Trang 35

sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài được đại diện bởi MacroFP, được đo bằng tỷ lệphần trăm của các ngân hàng có nhà đầu tư chiến lược nước ngoài (FSI) trong tổng

số các ngân hàng ở Trung Quốc Ở cấp độ ngân hàng, sự thâm nhập của ngân hàngnước ngoài được đại diện bởi MicroFP, đo bằng tỷ lệ phần trăm sở hữu cổ phần củaFSI trên tổng số cổ phần của một ngân hàng Khi sự thâm nhập ngân hàng nướcngoài được đại diện bởi MacroFP, kết quả cho thấy cải thiện lợi nhuận của các ngânhàng trong nước nhưng không làm giảm chi phí tương ứng với sự gia tăng của vốn

sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng Tiếp theo, khi sự thâm nhập ngân hàngnước ngoài được đại diện bởi MicroFP, kết quả không tìm thấy sự ảnh hưởng đếnlợi nhuận và cả chi phí Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy rằng các chính sách mởcửa là chính xác từ góc độ vĩ mô

Trong khi đó, nghiên cứu “Sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của các ngânhàng: Trường hợp của Hàn Quốc” (Moon, Woosik, 2012) sử dụng dữ liệu từ báo cáocủa 18 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 1998-2006 để xem xét tác động của

sự gia tăng sở hữu nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hàn Quốc.Kết quả cho thấy các ngân hàng có hơn 50% sở hữu nước ngoài vượt trội các ngânhàng trong nước về hiệu quả, năng suất và các chỉ số liên quan đến sự ổn định Kếtquả này cho thấy chính sách của chính phủ Hàn Quốc nhằm mở cửa thị trường ngânhàng Hàn Quốc để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư khá là thành công Nghiên cứucòn xem xét tác động của việc người nước ngoài quản lý hoạt động ngân hàng, tuynhiên việc người nước ngoài quản lý không tác động đến hiệu quả hoạt động củangân hàng

Claessens và cộng sự (2001), nghiên cứu “Sự thâm nhập nước ngoài tác động nhưthế nào đến ngân hàng trong nước” trên cơ sở dữ liệu bảng từ 80 quốc gia trong giaiđoạn 1988-1995 Nghiên cứu xác định sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài là tỷ

lệ của các ngân hàng nước ngoài trên tổng các ngân hàng trong một quốc gia, trong

đó một ngân hàng nước ngoài được định nghĩa là một ngân hàng với tỷ lệ cổ phần

sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài vượt quá 50% Họ nhận ra rằng ở các nước phát

Trang 36

triển, các ngân hàng nước ngoài có chi phí hoạt động, thu nhập ngoài lãi và lợinhuận cao hơn các ngân hàng trong nước, và ngược lại đối với các nước đang pháttriển Sự cạnh tranh từ sự thâm nhập các ngân hàng nước ngoài trong dài hạn manglại lợi ích cho hiệu quả hoạt động và chức năng của ngành ngân hàng trong nước.Barajas và cộng sự (1999) thấy rằng trong 1985-1998, sự gia tăng việc thâm nhậpngân hàng nước ngoài ở Colombia làm tăng chi phí quản lý và giảm chất lượng tíndụng trong ngành ngân hàng địa phương Weller (2000) cũng đưa ra những kết luậntương tự liên quan đến quá trình chuyển đổi hệ thống ngân hàng ở Ba Lan và Úc.Một số nghiên cứu đã tìm thấy rằng sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài làmtăng lợi nhuận của các ngân hàng Trung Quốc (Mao, 2006; Ma, 2007), trong khicũng có một số nghiên cứu đã tìm thấy điều ngược lại (Wu et al, 2007.).Laurenceson và Qin (2008) nghiên cứu tập trung vào hiệu quả chi phí của ngânhàng và không tìm thấy có cải tiến của kết quả về việc thâm nhập ngân hàng nướcngoài.

Nghiên cứu của Miki Hamada (2013) tại Indonesia cũng cho kết quả tiêu cực về sựảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đối với các hoạt động của ngân hàng Nghiên cứu

sử dụng mẫu gồn 68 ngân hàng trong giai đoạn 2001 – 2009 với phương pháp hồiquy bình phương bé nhất

Tóm lại, các bài nghiên cứu trên có ưu điểm là dùng phương pháp nghiên cứu rất đadạng với phương pháp hồi quy bình phương bé nhất, phương pháp hồi quy biến giảbình phương tối thiểu (LSDV), phương pháp thống kê mô tả, theo đó, bài nghiêncứu này tác giả đã kế thừa bằng cách sử dụng phương pháp định lượng thông quaước lượng mô hình bằng hồi quy dữ liệu bảng GMM, đồng thời thống kê mô tả tínhchất các biến

Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động các ngân hàng thương mại Việt Nam của NguyễnThị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh vào tháng 4/2013 Mẫu nghiên cứu gồm 21NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 - 2011 Tác giả sử dụngphương pháp định tính phân tích khả năng sinh lời của tỷ số ROE, ROA, hệ số an

Trang 37

toàn vốn CAR,…và phương pháp định lượng sử dụng mô hình phân tích bao dữliệu DEA để ước tính hiệu quả cho từng NHTM cần nghiên cứu, sau đó phân tíchđịnh lượng bằng phương pháp kiểm định hồi quy Tobit Kết quả cho thấy cácNHTM Việt Nam để tạo một mức sản lượng đầu ra như nhau thì hiệu quả mới sửdụng 86,6% các đầu vào.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hồng vào tháng 10/2012 về hiệu quả hoạt độngcủa các ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011 Sử dụng phươngpháp định lượng mô hình phân tích bao dữ liệu DEA để phân tích và đánh giá mẫucủa 31 NHTM Nghiên cứu chỉ ra rằng trong 4 năm 2008 – 2011, do phân bổ nguồnlực chưa hợp lý nên hơn 60% NHTM hoạt động kém hiệu quả

2.4 Đóng góp mới của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập và đang từng bước khẳng định

vị thế trên trường quốc tế Kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nguồn vốn nướcngoài đầu tư vào nền kinh tế ngày càng tăng lên nhờ chính sách mở cửa của chínhphủ Đây là một nhân tố quan trọng giúp nền kinh tế Việt Nam có thể vững chải vàphát triển ổn định hơn so với trước Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò là

hệ thống tuần hoàn của toàn bộ nền kinh tế Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh, pháttriển với tốc độ cao nếu có một hệ thống ngân hàng vững mạnh Việc các nhà đầu tưnước ngoài đầu tư vào các ngân hàng thương mại cổ phần mang lại tác động tíchcực hay tiêu cực cho hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần rấtđược quan tâm

Do đó, bài nghiên cứu này sẽ dùng phương pháp thực nghiệm để làm rõ mối quan

hệ giữa hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần và hoạt độnggóp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng này Tuy đề tài nghiêncứu không phải là đề tài mới trên thế giới, nhưng bài nghiên cứu đã tiếp thu nhữngđiểm tích cực trong các nghiên cứu trước đây Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy

dữ liệu bảng GMM để ước lượng mô hình đánh giá mối quan hệ giữa hiệu quả kinhdoanh của các ngân hàng thương mại cổ phần và hoạt động góp vốn của các

Trang 38

nhà đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng Việt Nam thông qua các biến phụ thuộc tỷsuất sinh lợi trên tài sản (ROA), thu nhập lãi thuần (NII), thu nhập từ lãi biên(NIM), tỷ số chi phí trên thu nhập (CostInc) ở cấp độ quốc gia và cấp độ ngân hàng.

Số liệu được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính đã qua kiểm toán, báo cáo thườngniên của 20 ngân hàng TMCP Nếu mở cửa thị trường ngân hàng mà tỷ lệ sở hữuvốn nước ngoài được đặt quá cao, các nhà đầu tư nước ngoài có thể chi phối cácngân hàng trong nước, làm giảm khả năng của nhà nước trong việc thực hiện chínhsách tài chính thông qua các ngân hàng trong nước Tuy nhiên, nếu tỷ lệ sở hữu vốnnước ngoài tại các ngân hàng trong nước được đặt quá thấp, các nhà đầu tư nướcngoài sẽ không có nhiều sự khích lệ để truyền những kinh nghiệm cần học của ngânhàng trong nước Nghiên cứu này sẽ giúp giải quyết các câu hỏi chính sách mở cửa

là cần thiết để nới lỏng hay loại bỏ các giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhàđầu tư nước ngoài trong các ngân hàng thương mại hiện có

Qua bài nghiên cứu, tác giả hy vọng có thể làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hiệu quảkinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần và hoạt động góp vốn của cácnhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng Việt Nam, đồng thời giải đáp được những vấn

đề các bài nghiên cứu trước đây chưa giải đáp được trong trường hợp ở Việt Nam

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong nội dung chương 2, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinhdoanh của ngân hàng thương mại, cơ sở lý thuyết về hoạt động góp vốn của các đốitác nước ngoài để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa hiệu quảkinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần và hoạt động góp vốn của cácnhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Ngoài ra,tác giả còn lược khảo một số nghiên cứu trước đây để làm cơ sở lý thuyết cho bàinghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG 3 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TMCP TRONG HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN CỦA CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Ở chương này, tác giả sẽ trình bày rõ nét thực trạng hoạt động góp vốn của các đối

tác nước ngoài vào các ngân hàng TMCP Việt Nam trên cơ sở lý thuyết được nêu ởchương 2, bên cạnh đó, đánh giá hiệu quả của các ngân hàng TMCP Việt Nam tronghoạt động góp vốn của các đối tác nước ngoài

3.1 Thực trạng việc tham gia góp vốn của các đối tác nước ngoài vào các ngân hàng TMCP Việt Nam

3.1.1 Giới hạn sở hữu vốn cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân

hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Các ngân hàng TMCP Việt Nam là những ngân hàng được thành lập và hoạt độngbằng nguồn vốn góp của các cổ đông dưới hình thức mua cổ phần, có tư cách phápnhân theo Pháp luật Việt Nam, tổ chức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần.Người sở hữu cổ phần của ngân hàng được gọi là cổ đông Cổ đông có thể là các cánhân, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài với tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa theo quyđịnh của Nhà nước Việt Nam

Tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh thực tế của mỗi nước mà các quốc gia có quyềnchọn và quy định một tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần thích hợp đối với nhà đầu tư nướcngoài tại một ngân hàng thương mại trong nước Đối với Việt Nam, tùy vào tìnhhình kinh tế của từng giai đoạn, Nhà nước cũng đã ban hành các văn bản pháp luật

có liên quan đến tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại cácngân hàng TMCP Việt Nam

Theo Nghị định 69/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20/4/2007 “Về việc nhà đầu

tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam” quy định cụ thể

và rõ hơn về nguyên tắc sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài tại các ngânhàng Việt Nam Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm

cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nướcngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Mức sở

Ngày đăng: 24/09/2020, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w