1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và chất lượng thể chế bằng chứng thực nghiệm tại các nước thuộc khu vực châu á thái bình dương

108 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 886,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó cũng cho thấy vai trò củachất lượng thể chế đối với tăng trưởng kinh tế.Đồng thời cho biết các yếu tố quantrọng tác động đến sự biến đổi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Dựa t

Trang 1

NGUYỄN THỊ QUỲNH LIÊN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ

THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NƯỚC

THUỘC KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ QUỲNH LIÊN

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ

THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NƯỚC

THUỘC KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành: Tài chính doanh nghiệp

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS TRẦN NGỌC THƠ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2016

Trang 3

giả Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này dựa trên các nghiên cứu vàtài liệu được trích dẫn hoàn toàn cụ thể và minh bạch Những số liệu trong các bảngbiểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từcác nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.

Tác giả cam kết không sao chép nội dung của các nghiên cứu khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Liên

Trang 4

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.6 Bố cục của bài luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6

2.1 Cơ sở lý thuyết về FDI và môi trường thể chế 6

2.1.1 Các khái niệm về FDI 6

2.1.2 Các khái niệm về môi trường thể chế 7

2.1.3 Các học thuyết về FDI trên phương diện các quốc gia tiếp nhận .9

Trang 5

2.2.2 Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm 21

2.3 Đóng góp mở rộng đề tài 24

Chương 3 – PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.2 Mô hình nghiên cứu 25

3.3 Mô tả biến trong nghiên cứu 26

3.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: 26

3.3.2 Độ biến động của FDI (VFDI) 26

3.3.3 Quản trị (Governance) 26

3.3.4 Thương mại (Trade) 27

3.3.5 Đầu tư trong nước (Domestic investment) 27

3.3.6 Tăng trưởng GDP bình quân đầu người – GDPPCG (%): 28

3.3.7 Lạm phát (Inflation, %) 28

Kỳ vọng giả thuyết nghiên cứu 29

 Giả thuyết H1: Chất lượng thể chế tăng lên làm tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 29

Trang 6

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 29

3.4 Các phương pháp kiểm định hồi quy 30

3.4.1 Hiện tượng đa cộng tuyến 30

3.4.2 Hiện tượng phương sai thay đổi 31

3.4.3 Hiện tượng tự tương quan 31

3.4.4 Hiện tượng nội sinh 32

3.4.5 Phương pháp hồi quy GMM 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

4.1 Phân tích thông kê mô tả các biến trong mô hình 38

4.2 Biến Governance và phương pháp phân tích thành phần chính (Principal Components Analysis - PCA) 39

4.2.1 Ma trận tương quan giữa các chỉ số cấu thành biến Governance 39

4.2.2 Biến Governance và phương pháp phân tích thành phần chính (Principal Components Analysis - PCA) 40

4.3 Kiểm định đa cộng tuyến và tương quan 42

4.4 Phân tích kết quả hồi quy GMM 46

4.4.1 Phân tích kết quả hồi quy GMM cho mô hình FDI (không chứa biến Inflation) 46

Trang 7

4.4.3 Phân tích kết quả hồi quy GMM khi đưa thêm biến Inflation vào mô

hình FDI và mô hình VFDI52

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 56

Trang 8

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

IDP Investment Development Path Các bước phát triển của đầu tưLDC Least developed countries Các nước kém phát triển nhất thế

giớiMENA Middle East North Africa Middle East North Africa

OECD Organization for Economic Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Development;

SNA System of National Accounts Hệ thống tài khoản quốc gia

TPP Trans-Pacific Strategic Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình

Economic Partnership DươngAgreement

UNCTAD United Nations Conference Hội nghị Liên hiệp Quốc về

on Trade and Development Thương mại và Phát triểnVFDI Volatility of Foreign Direct Sự biến động đầu tư trực tiếp nước

Trang 9

Bảng 3.1: Bảng mô tả và dấu kỳ vọng của các biến 29

Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 38

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các chỉ số cấu thành của biến Governance 39

Bảng 4.3: Ma trận phân tích thành phần chính của biến Governance 41

Bảng 4.4: Kết quả ma trận tự tương quan 42

Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai mô hình FDI 43

Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai mô hình VFDI 44

Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 45

Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình FDI và VFDI 46

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình FDI 48

Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình VFD 50

Bảng 4.11: Kết quả hồi quy mô hình FDI (có chứa biến Iflation) 53

Bảng 4.12: Kết quả hồi quy mô hình VFDI (có chứa biến Iflation) 54

Trang 10

Thái Bình Dương trong giai đoạn 1996-2014, luận văn này xem xét các tác độngcủa chất lượng thể chế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và mức biến động củaFDI Nghiên cứu đã đưa ra được các bằng chứng thực nghiệm cho thấy chất lượngthể chế có tác động cùng chiều và có có ý nghĩa đối với FDI Trong trường hợp cácyếu tố khác là không đổi, chất lượng thể chế có tác động ngược chiều và đáng kểđến sự biến động FDI mà sự biến động của FDI cũng chính là nguyên nhân gây ranhững tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế (Lensink và Morrisey, 2006) Như vậy,

có một sự liên hệ giữa chất lượng thể chế và sự tăng trưởng kinh tế, do đó, nhữngchính sách cải cách kinh tế thông thường như việc thu hút FDI bằng cách tạo ra mộtmôi trường kinh tế vĩ mô tốt sẽ không hiệu quả nếu không có sự chú trọng đến chấtlượng thể chế

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Đặt vấn đề

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn có vai trò rất quan trọngkhông những góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao độngtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn là cầu nối quan trọng giữa cácnền kinh tế trên thế giới, góp phần thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, dịchvụ… Do đó, FDI đang ngày một tăng lên về quy mô, hình thức và lĩnh vực đầu tư…Nhưng FDI không phải được phân bổ một cách tự nhiên và đồng đều ở tất cả cácquốc gia Vì vậy, việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI luôn là một trongnhững mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang có nhu cầutiếp cận nguồn vốn tài chính, công nghệ tiên tiến và việc làm

Một số nghiên cứu cho thấy, các dòng vốn xuyên quốc gia đã tăng trưởng ởmức khoảng 6%/năm kể từ năm 1980, nhanh hơn so với tốc độ gia tăng của GDP vàthương mại của thế giới (Ju và Wei, 2007) Tuy nhiên sự tăng trưởng của FDI thìkhông đồng đều giữa các quốc gia Phần lớn luồng vốn FDI được chuyển giao giữacác nước phát triển mặc dù các nước đang phát triển có nguồn lao động rẻ hơn Bêncạnh đó, các nước chậm phát triển chỉ thu hút khoảng 2% tổng số vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài Trong số các nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư phần lớn tậptrung vào các nước có nền kinh tế năng động, theo Wolf (2008)

Rất nhiều nghiên cứu đã tập trung phân tích các yếu tố tác động đến việcthu hút FDI Đặc biệt, một số nghiện cứu gần đây đã nêu bật tầm quan trọng củamôi trường thể chế trong việc mang lại được những lợi ích tối đa từ FDI (OECD,2002).Nhiềunghiên cứu tập trung vào yếu tố quản trị và phát triển kinh tế trong haithập kỷ qua (Acemoglu và Johnson, 2005; IMF, 2003) Nhìn chung, các nghiên cứuđều cho rằng dòng chảy FDI đi vào các nước có môi trường thể chế tốt nhiều hơn,trong khi các quốc gia với hệ thống quản trị kém có thể cản trở FDI Các tác giả cho

Trang 12

rằng những quốc gia có môi trường thể yếu kém thường có các khoản thuế, đâychính là một khoản chi phí đối với FDI nên cũng có thể làm gia tăng sự bất ổn củatất cả các loại hình đầu tư Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chưa nêu rõ đượctác động của môi trường thể chế lên sự biến động của dòng vốn FDI Lensink vàMorrissey (2006) đã nghiên cứu mối liên hệ giữa biến động của FDI và tăng trưởngkinh tế nhưng nghiên cứu này đã không tập trung vào bất kỳ yếu tố thể chế nào hayhay bất kỳ yếu tố nào khác tác động đến sự biến đổi của FDI.

Nhận thấy tầm quan trọng của FDI trong việc tăng trưởng kinh tế và vai tròcủa thể chế trong việc thu hút nguồn vốn FDI, trên cơ sở ứng dụng thành tựu củacác nghiên cứu trước đây, đặc biệt là nghiên cứu của Bonnie G Buchanan và cộng

sự (2012), trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung vào nghiên cứu sự tác độngcủa môi trường thể chế đối với FDIvà độ biến động của FDI, đồng thời đưa ra

những đánh giá sơ khởi về biến động FDI và tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu

đóng góp bằng nghiên cứu khoa học thực nghiệm tại 21 nước khu vực Châu Á TháiBình Dương trong đó có Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Bài nghiên cứu đánh giá sự tác động củamôi trường thể chế đối với giá trị

và sự biến động của FDI tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, dựa trên nghiên cứuthực nghiệm, đề tài này nhằm giải quyết các vần đề sau:

Thứ nhất:Chất lượng thể chế có tác động như thế nào đến dòng vốn FDI? Thứ hai:Chất lượng thể chế có tác động như thế nào đến sự biến động FDI?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về nghiên cứu thực nghiệm, để xem xét những tác động của môi trường thểchế đối vớiFDI và sự biến động của FDI, tác giả đã thu thập và phân tích dữ liệu ở

Trang 13

21 quốc gia chọn lọc ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, bao gồm: Australia,Brunei Darussalam, Cambodia, China, Fiji, Hong Kong SAR, Indonesia, Japan, KoreaRep, Macao SAR, Malaysia, Mongolia, New Zealand, Papua New Guinea, Philippines,Singapore, Solomon Islands, Thailand, Tonga, Vanuatu và Vietnam.Do hạn chế về dữliệu và nền kinh tế thế giới liên tục biến động nên tác giả chọn khoảng thời gian nghiêncứu trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2014.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước, đề tài này tham khảo

và tổng hợp một cách có hệ thống các lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệmcủa nhiều tác giả trên thế giới

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là hồi quy dữ liệu bảng với mô hìnhhồi quy đơn giản OLS và GMM và tiến hành so sánh kết quả hồi quy và mức độphù hợp của từng phương pháp sau đó lựa chọn phương pháp phù hợp nhất với môhình nghiên cứu và đánh giá kết quả hồi quy của mô hình

1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Bài nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây

về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường thể chế

Bàinghiên cứuchothấy tác động củamôi trường thể chế đối với đầu tư trựctiếp nước ngoài FDI và độ biến động của FDI Qua đó cũng cho thấy vai trò củachất lượng thể chế đối với tăng trưởng kinh tế.Đồng thời cho biết các yếu tố quantrọng tác động đến sự biến đổi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Dựa trên bằngchứng nghiên cứu khoa học thực nghiệm tại 21 quốc gia thuộc khu vực Châu ÁThái Bình Dương, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cácchính sách khuyến khích tăng trưởng kinh tế và khả năng thu hút vốn đầu tư trực

Trang 14

tiếp nước ngoài FDInhằmhạn chế biến động FDI vàgiảm thiểu rủi ro do đầu tư trựctiếp nước ngoài mang lại.

1.6 Bố cục của bài luận văn

Nội dung chính của luận văn gồm 5 chương, được trình bày cụ thể theotrình tự sau:

Chương 1:Giới thiệu đề tài.

Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêunghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu tổng quan về phươngpháp nghiên cứu và ý nghĩa khi thực hiện đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây

Trong chương này, tác giả sẽ tổng hợp cơ sở lý luận khoa học, nhữngnghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về tác động của môi trường thể chế đến đầu tưtrực tiếp nước ngoài FDI và các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến FDI và đưa

ra nhận xét tổng quan đối với các nghiên cứu trên

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chính của chương này tác giả sẽ trình bày thực trạng của vấn đềnghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giải thích các biến độc lập và biến phụ thuộc trong

mô hình, trình bàyphương pháp nghiên cứu cụ thể và nguồn dữ liệu để thực hiện bàinghiên cứu

Chương 4:Kết quả nghiên cứu

Trong chương này, tác giả trình bày kết quả thống kê mô tả các biến trong

mô hình, tiến hành kiểm định đa cộng tuyến với tiêu chuẩn tương quan cặp tuyến

Trang 15

tính, kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình, kiểm định phương sai thay đổi phần

dư và hiện tượng tự tương quan

Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm bằng phương pháp hồi GMM, sosánh kết quả hồi quy và mức độ phù hợp với các kết quả hồi quy khác như (OLS,REM, FEM, FGLS), kết luận cụ thể về tác động của môi trường thể chế đối với FDI

và độ biến động của FDI

Chương 5: Kết luận.

Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kếtquả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu, nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng mởrộng đề tài

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN

CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Cơ sở lý thuyết về FDI và môi trường thể chế

2.1.1 Các khái niệm về FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hiện tượng kinh tế mang tính quy luật vàkhông ngừng biến đổi cả về phạm vi và quy mô Theo quỹ tiền tệ thế giới - IMF(International Moneytary Fund) năm 1997 đã định nghĩa: “FDI là hình thức đầu tư

ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó, người đầu tư trực tiếp đạt được một phần haytoàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác Quyền sở hữunày tối thiểu phải bằng 10% tổng số cổ phần doanh nghiệp

Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) định nghĩa rằng, đầu tư trực tiếp nướcngoài xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở mộtnước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản

lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trườnghợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinhdoanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công tymẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"

Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD, 1996) cho rằng đầu tưtrực tiếp nước ngoài phản ánh mục tiêu có được một lợi ích lâu dài của một thực thểthường trú trong một nền kinh tế (chủ đầu tư trực tiếp) với một cư dân thực thểtrong một nền kinh tế khác

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987đưa ra khái niệm: “Đầu tưtrực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào ViệtNam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam

Trang 17

chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liêndoanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Như vậy có thể hiểu rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một hình thứcđầu tư dài hạn của cá nhân hay tổ chức nước này vào nước khác bằng cách thiết lập

cơ sở sản xuất, kinh doanh và sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này

2.1.2Các khái niệm về môi trường thể chế

Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độkhác nhau Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức -Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thànhvăn đang cai quản đời sống và con người" Douglass C North, người được giảiNobel với công trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thểchế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của conngười hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người” Đầu thế kỷ XX, ởphương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩathể chế đã đưa ra quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con ngườinhằm đạt được mục đích nhất định nào đó Easterly James P Walsh (2005) cho rằngthể chế là phản ánh "thỏa thuận sâu xa của xã hội như quyền sở hữu, luật pháp,truyền thống pháp lý, sự tin tưởng giữa các cá nhân, trách nhiệm của các Chính phủdân chủ và nhân quyền"

Theo cách hiểu của Ngân hàng thế giới thì thể chế bao hàm ba nội dungquan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức Vậy nên thể chế là tậphợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội Thểchế mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng; nó thể hiện mộtcách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng cầm quyền đã lựa chọn Thảo luậnchính sách gần đây của FETP (Fullbright Economics Teaching Program)“Khơithông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng”, bài thảo luận chính sách tại

Trang 18

Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nướcHarvard Kennedy tháng 8/2013) cho rằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhânsâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiệnnay Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởinhững cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quákhứ Để phục hồi tăng trưởng, cần tận dụng những cơ hội cải cách thể chế trong cácnăm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân.

Ngoài ra, thể chế còn được xem là một hệ thống những quy luật được thiếtlập ra nhằm xây dựng nên các mối tương tác trong xã hội Dựa trên đặc điểm, tínhchất, thể chế được phân biệt thành hai loại: thể chế chính thức và thể chế phi chínhthức Thể chế chính thức là những điều luật, những quy định mang tính công khai,

hệ thống hóa, chúng được xây dựng và chấp nhận như những chuẩn tắc Mặt khácthể chế phi chính thức được xã hội hình thành không bằng văn bản mà từ những thóiquen, từ nền văn hóa và chia sẻ rộng rãi (Helmke và Levitsky, 2004) Bên cạnh đóCousins lại cho rằng: thểchếchính thức được bảo đảm bởi pháp luật, tức là thực thicác quy định bởi nhà nước, trong khi các thểchếphi chính thức được duy trì theothỏa thuận (How Do Rights Become Real? Formal and Informal Institutions inSouth Africa’s Land Reform, 1997)

Mặt khác, thểchếphi chính thức là hệthống các quan niệm chung bền vững

và sựhiểu biết mang tính tập thểnhưng không được hệthống hóa thành nhữngquy tắc

và chuẩn mực, từ đó tạo nên sựgắn kết và phối hợp giữa các cá nhân trong một xãhội và phản ánh cấu trúc thực sựcủa xã hội đó (Scott, 2005) Những giá trịchung vànhững chuẩn mực không được hệthống như nền văn hoá, phong tục, tập quán chính là những yếu tốquan trọng của thểchếphi chính thức Các cá nhân trong xã hộituân theo các quy tắc và chuẩn mực này, và theo thời gian chúng được công nhậnrộng rãi dần dần được chấp nhận và hệ thống hóa như những thểchếchính thức Do

đó, DiMaggio (1988) lập luận, thểchếchính thức phản ánh động lực và những hành

Trang 19

động của các thành viên trong xã hội, vì vậy, đểhiểu biết được thểchếchính thức đòihỏi phải có sựu hiểu biết logic dựa trên nền tảng từcác thểchếphi chính thức (North,1990).

Ngoài ra, thể chế chính thức còn được phân biệt thành ba loại đó là thể chếđiều tiết, thể chế chính trị và thể chế kinh tế

Theo Dekia Rodrigo và cộng sự, thể chế điều tiết là các quy tắc và tiêuchuẩn nhằm hạn chế các rủi ro trong hoạt động của các tổ chức, là nền tảng đảm bảoviệc thực hiện và sử dụng các công cụ quản lý phù hợp

Theo Powell (1990) thể chế chính trị xây dựng những quy tắc và tiêu chuẩn

mà thông qua đó góp phần ổn định môi trường thể chế Thể chế chính trị giúp choChính phủ xác định được tiến trình quản lý nhà nước trong việc phân chia quyền lực

và cách thức thể hiện một cách hiệu quả những quyền lực trên

Thể chế kinh tế được hiểu là những quy phạm pháp luật điều chỉnh cácquan hệ kinh tế và các hành vi sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế Thể chếkinh tế là những quy tắc, luật lệ được gắn kết với các chế tài xử lý vi phạm, cơ chếvận hành nền kinh tế cũng như các tổ chức kinh tế

Như vậy, có thể hiểu thể chế là những quy tắc, những quy luật được hìnhthành và được chấp nhận như những quy tắc chung trong việc điều chỉnh xã hội.Môi trường thể chế thể hiện sâu sắc khuynh hướng chính trị, cơ chế vận hành cũngnhưcác chính sách xây dựng quốc gia đó

2.1.3 Các học thuyết về FDI trên phương diện các quốc gia tiếp nhận.

Bài nghiên cứu tổng hợp các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDIđến các nước nhận đầu tư, từ đó góp phần làm rõ các nhân tố kiểm soát trong phântích mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và chất lượng thể chế

Trang 20

Lý thuyết lợi nhuận cận biên được đề xuất bởi Mac Dougall vào năm 1960.Đây làmột mô hình lý thuyết phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin

- Samuaelson về sự vận động vốn Ông cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từnước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãisuất hai nước bằng nhau) Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm chosản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước khi đầu tư.Lý

thuyết này phù hợp và được các nhà kinh tế học thừa nhận trong giai đoạn nhữngnăm 1950 Nhưng sau đó, tình hình kinh tế bất ổn, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm điđến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăngliên tục Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồngthời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra; không đưa ra được sự giải thíchđầy đủ về FDI Do vậy, lý thuyết này chỉ được xem như là bước khởi đầu hữu hiệu

để nghiên cứu FDI

Stephen 1976 là người đầu tiên đưa ra những lý giải về đầu tư trực tiếpnước ngoài trong các ngành công nghiệp truyền thống gọi là lý thuyết tổ chức côngnghiệp Lý thuyết này cho rằng sự phát triển và thành công của hình thức đầu tư liên

kết theo chiều dọc phụ thuộc vào 3 yếu tố:Thứ nhất:Quá trình liên kết theo chiều

dọc các giai đoạn khác nhau của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giảm bớt chi

phí sản xuất;Thứ hai:Việc sản xuất và khai thác kỹ thuật mới; Thứ ba: cơ hội mở

rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài có thể tiến hành được do những tiến bộ trongngành giao thông và thông tin liên lạc.Chiến lược liên kết chiều dọc của các công ty

đa quốc gia chính là đặt các công đoạn sản xuất ở những vị trí khác nhau trên phạm

vi toàn cầu, nhằm tận dụng lợi thế so sánh ở các nền kinh tế khác nhau, do đó có thể

hạ thấp giá thành sản phẩm thông qua sản xuất hàng loạt và chuyên môn hoá, giúptăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường

Giả thuyết của tổ chức công nghiệp chưa phải là giả thuyết hoàn chỉnh vềFDI Nó không trả lời được câu hỏi: vì sao công ty lại sử dụng hình thức FDI chứ

Trang 21

không phải là hình thức sản xuất trong nước rồi xuất khẩu sản phẩm hoặc hình thứccấp giấy phép hoặc bán những kỹ năng đặc biệt của nó cho các công ty nước sở tại.

So với lý thuyết về tổ chức công nghiệp, cách tiếp cận mang tính nội bộdoanh nghiệp giải thích sự tồn tại của FDI như là kết quả của các công ty thay thếcác giao dịch thị trường bằng các giao dịch trong nội bộ công ty để tránh sự khônghoàn hảo của các thị trường

Năm 1988 Dunning đã đề xuất lý thuyết chiết trung vể FDI bằng mô hìnhOLI một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) Lợithế về sở hữu (Ownership advantages - viết tắt là lợi thế O - bao gồm lợi thế về tàisản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch); (2) Lợi thế về khu vực (Locationaladvantages - viết tắt là lợi thế L - bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sựtăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chínhphủ);(3) Lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages - viết tắt là lợi thế I - baogồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếuthông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bảnquyền phát minh, sáng chế)

Theo lý thuyết chiết trung thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãntrước khi có FDI Lý thuyết cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O

và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI Những lợi thế này không cốđịnh mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ởtừng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau Sự khác nhau này còn bắt nguồn

từ việc các nước này đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunningphát hiện vào năm 1979

Nhìn chung, các lý thuyết trên hầu hết đều tập trung vào việc lý giải việcdịch chuyển luồng vốn FDI giữa các quốc gia Trong đó, Vernon cho rằng việc dichuyển nguồn vốn FDI giữa các quốc gia phụ thuộc vào lãi suất thị trường, nguồn

Trang 22

vốn sẽ dịch chuyển từ nơi có lãi suất cao đến nơi có lãi suất thấp và sẽ ngưng khiđạt được trạng thái cân bằng, các nhà kinh tế học còn cho rằng FDI là hình thức vậnchuyển dòng vốn an toàn hơn, tránh được rủi phát sinh trong điều kiện thị trường tàichính tồn tại quá nhiều bất ổn… Một số các lý thuyết đầu tiên về FDI vẫn chưa giảithích được vì sao các quốc gia thực hiện FDI mà không sản xuất trong nước rồi xuấtkhẩu sản phẩm hoặc cấp giấy phép hay bán những kỹ năng đặc biệt cho các công tynước sở tại mà, hay chưa lý giải được hiện tượng FDI diễn ra giữa các nước có lợithế tương đối gần như giống nhau, vì sao FDI lại diễn ra từ khu vực kinh tế nàysang khu vực kinh tế khác Hầu hết mô hình này lờ đi vai trò của nhân tố cơ cấukinh tế và thể chế.

2.2Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm

2.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về FDI và thể chế

Tác giả tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ củaFDI và môi trường thể chế nhằm có cái nhìn nhìn tổng quát hơn về vấn đề cầnnghiên cứu Từ đó, giúp tác giả có thể đưa ra được những kỳ vọng dấu của các biếntrong mô hình

Bonnie G Buchanan và cộng sự (2012) đãnghiên cứu về đầu tư trực tiếpnước ngoài và chất lượng thể chếdựa rên dữ liệu bảng của 164 quốc gia tronggiaiđoạn 1996-2006.Trong nghiên cứu này, chất lượng thể chế được đại diện bởi chỉ

số quản trị được phát triển bởi các Chỉ số Quản trị Toàn cầu (WGI) với sáu yếu tố

đo lườngchất lượng quản trị.Bao gồm (1) Cam kết và trách nhiệm, (2) Chính trị ổnđịnh và không có bạo lực, (3) Hiệu quả của Chính phủ, (4) chất lượng pháp lý, (5)chuẩn tắc pháp luật, và (6) Kiểm soát tham nhũng (Kaufmann, Kraay, và Mastruzzi,2007) Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thể chế có tác động cùng chiều vàđáng kể đến FDI Trong trường hợpcác yếu tố khác không đổi, chất lượng thể chế

có ảnh hưởng ngược chiều và đáng kể đến sự biến động FDI, điều này có thể ảnh

Trang 23

hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế theo như nghiên cứu của Lensink và Morrisey(2006) Như vậy, hàm ý của bài nghiên cứu này cho rằng, chất lượng thể chế quyếtđịnh sự biến động FDI, chính biến động này có thể sẽlàm giảm tốc độ tăng trưởngkinh tế Do đó, các chính sách cải cách của một quốc gia nhằm thu hút FDI sẽkhông hiệu quả nếu không chú trọng về cải cách chất lượng thể chế Ngoài ra, kếtquả hồi quy của bài nghiên cứu còn cho thấy thương mại, đầu tư trong nước, GDPbình quân đầu người có tác động đến FDI và độ biến động của FDI Tăng trưởngcung tiền cũng có tác động tích cực, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê.

Khác với cách tiếp cận trên, James P Walsh và Jiangyan Yu (2010) nghiêncứu các yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng ngành.Dòng vốnFDI được phân chia thành ba nhóm ngành chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch

vụ Nghiên cứu trên mẫu gồm 27 nước phát triển và nhóm các nước mới nổitrongkhoảng thời gian từ 1985 –2008 sử dụng mô hình GMM cho chúng ta nhiều kết quảkhác nhau giữa các nhóm mẫu thuộc các lĩnh vực khác nhau và giữa các nền kinh tếkhác nhau Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến FDI dịch vụ mạnh mẽ hơn so vớiFDI sản xuất Thị trường lao động linh hoạt, độ sâu tài chính, cơ sở hạ tầng tốt và hệthống tư pháp độc lập có khả năng thu hút FDI hơn Các tác động của các nhân tốđến FDI khá khác nhau cho các nền kinh tế tiên tiến và mới nổi Một hệ thống tỷ giá

ổn định và lạm phát trung bình thấp hơn thu hút FDI nhiều hơn vào các nền kinh tếtiên tiến, nhưng ít hơn đối vớithị trường các nước mới nổi Có thể nói, chính sáchtốt về quản lý kinh tế vĩ mô (lạm phát thấp, tăng trưởng mạnh và độ mở thươngmại) sẽ thu hút FDI nhiều hơn, đặc biệt làFDI dịch vụ Vai trò của chất lượng thểchế cũng rất quan trọng Độc lập tư pháp,thị trường lao động và các biện pháp đểtăng độ sâu tài chính có thể thu hút nhiều FDI hơn vào các thị trường mới nổi,nhưng tác động yếu hơn đối với các nền kinh tế tiên tiến Một hệ thống tư pháp độclập và cơ sở hạ tầng tốt hơn thu hút nhiều FDI dịch vụ cho cả nền kinh tế tiên tiến

và mới nổi

Trang 24

Campos và Kinoshita (2003) sử dụng mô hình system GMM với dữ liệubảng của 25 nền kinh tế chuyển đổi từ1990 –1998 Bài nghiên cứu đã kết luận rằng

có 3 nhóm các yếu tố quyết định vị trí dòng vốn FDI Đó là lợi thế quốc gia, cụ thểbao gồm: chi phí lao động thấp, thị trường trong nước lớn, tay nghề lao động cao,

cơ sở hạ tầng tốt…Nhóm thứ hai là chất lượng thể chế, chính sách kinh tế vĩ mô vàcác chính sách khác Nhóm cuối cùng là sự luân chuyển liên tục của FDI cònchịuảnh hưởng bởi các tổ chức kinh tế Phát hiện quan trọng nhất quyết định vị tríFDI chính là chất lượng thể chế và tổ chức kinh tế Chúng có giá trị và quan trọnghơn các chỉ số kinh tế khác Bên cạnh đó, FDI của khu vực được thu hút bởi tàinguyên thiên nhiên và chi phí lao động thấp Bộ máy hành chính chất lượng kém sẽ

là lực cản các nhà đầu tư nước ngoài Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài thích cácnước chuyển đổi cởi mở về thương mại và có ít hạn chế về FDI

Bên cạnh đó, Globerman và Shapiro (2002) đã xem xét các yếu tố quyếtđịnh dòng vốn đầu tư nước ngoài FDI đi vào và đi ra dựa trên dữ liệu của 20 nềnkinh tế mới nổi và chuyển đổi ở châu Âu (ETEE) trong giai đoạn 1995 - 2001.Nghiên cứu này đã so sánh các yếu tố quyết định của FDI trong ETEEs bằngphương pháp ước lượng ngẫu nhiên GLS với sự thay thế nhiều nhóm mẫu phụ baogồm các nước đang phát triển và phát triển khác… Nghiên cứu này đặc biệt chútrọng đến các biện pháp về quản trị và sự thay đổi thể chế Kết quả cho thấy rằngquản trị là một yếu tố quan trọng quyết định luồng vốn vào và ra của một quốc gia

Daneile và Marani (2006)đã phân tích các yếu tố nền tảng của đầu tư trựctiếp nước ngoài FDI hướng tới các nước khu vực Trung Đông – Bắc Phi(MENA)trong giai đoạn 1980 - 2004 Nghiên cứu nhấn mạnh ba yếu tố chính manglại hiệu suất FDI kém đó là: (1) Quy mô nhỏ của thị trường địa phương và sự thiếuhội nhập kinh tế thực sự; (2) Những thay đổi trong kịch bản của cạnh tranh quốc tế;(3) Cải cách kinh tế và kinh doanh trong MENA chậm và không đủ.Nghiên cứucũng đề cập một số các chỉ tiêu đo lường chất lượng thể chế, cụ thể là:Thứ nhất là

Trang 25

chỉ số Tự do Kinh tế.Chỉ số này được cung cấp bởi Heritage Foundation cho 161quốc gia.Thứ hai, chỉ số Fraser.Bao gồm các lĩnh vực: Quy mô Chính phủ; Cấu trúcpháp lý và bảo đảm quyền sở hữu;Đồng tiền mạnh hơn; Tự do thương mại quốc tế;Quy chế tín dụng, lao động và kinh doanh Thứ ba là các chỉ số Quản trị được pháttriển bởi Kaufmann, Kraay e Mastruzzi (2005).Sáuyếu tố của chỉ số quản trị, đó là:1) Cam kết và thực thi: đo lường bằng các quyền chính trị và dân sự; 2) Sự bất ổnchính trị và bạo lực: đo lường các mối đe dọa bởi bạo lực, hoặc những thay đổi trongChính phủ; 3) Hiệu quả của Chính phủ: đo bằng quan liêu và chất lượng cung cấp dịch

vụ công cộng; 4) Gánh nặng pháp lý - đo tỷ lệ các chính sách thị trường không thuận lợi;5) Quy tắc pháp luật:đo bằng chất lượng thực thi các cam kết, cảnh sát và tòa án, cũngnhư khả năng của tội phạm và bạo lực; 6) Kiểm soát tham

nhũng: đo bằngkhả năng thực hiện quyền lực công để mưu lợi cá nhân, bao gồm cảtham nhũng nhỏ và lớn trên toàn bộ máy nhà nước Áp dụng chỉ số quản trị củaKaufmann, Kraay và Mastruzzi (2005), bằng phương pháp phân tích hồi quy, bằngchứng thực nghiệm cho thấy chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh hiện tạiđangtạo ranhiều bất lợi đối với MENA Điều này đòi hỏi các nước MENA phải cảicách thể chế nhằm nâng cao tính hấp dẫn về FDI.Môi trường thể chế tốt có thểkhuyến khích đầu tư tư nhân, nâng cao hiệu quả tổng thể và đóng góp vào sự pháttriển kinh tế.Qua đó thấy được mối quan hệ của thể chế và khả năng thu hút vốn đầu

tư FDI

Asiedu (2006) sử dụng dữ liệu bảng cho 22 nước châu Phi trong giai đoạn1984-2000 để xem xét các nhân tố như: nguồn tài nguyên thiên nhiên, quy mô thịtrường, các chính sách của Chính phủ, bất ổn chính trị và chất lượng thể chếđã tácđộng như thế nào đến đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Bài nghiên cứu này cũngcũng phân tích tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên và chính sách của Chínhphủ, quy mô thị trường và các thể chế của nước chủ nhà trong định hướng các dòngvốn FDI.Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguồn tài nguyên thiên nhiên và thị trườnglớn chính là nhân tố thúc đẩy FDI.Bên cạnh đó, lạm phát thấp, cơ sở hạ tầng tốt,

Trang 26

trình độ học vấn, độ mở kinh tế, giảm tham nhũng, sự ổn định chính trị và một hệthống pháp lý đáng tin cậy có hiệu quả tương tự Một cách so sánh cho thấy một sựsuy giảm trong tham nhũng từ mức của Nigeriađến mức của Nam Phi có tác dụngtích cực trong việc thu hút FDI, đồng thời tỷ lệ xuất khẩu của nhiên liệu và khoángsản trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 35% Điều này cho thấy các quốcgia nhỏ hoặc thiếu tài nguyên thiên nhiênbằng cách cải thiện các môi trường thể chế

và chính sách đểcó thể thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI

Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cũng nhấn mạnh đến vai trò quan trọngcủa thể chế Một mặt, cải cách thể chế có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất kinh

tế, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, kết luận này được rút ra bởi Acemoglu vàcộng sự (2005), Cavalcanti và cộng sự (2008) và Easterly (2005) Mặt khác, hệthống thể chế còn đóng vai trò quan trọng tạo nên lực hút FDI Thể chế tốt sẽ giúpgiảm chi phí giao dịch khi đầu tư (ví dụ như chi phí liên quan đến cấp phép đầu tư,tham nhũng…)

Môi trường thể chế có liên quan đến tăng trưởng kinh tế trong nghiên cứu lýthuyết (North, 1981, 1990) Nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này cũng đã chứngminh sự liên hệ tích cực giữa môi trường thể chế và tăng trưởng kinh tế trong một

xã hội (Acemoglu và Verdier, 1998) Đáng chú ý là các nghiên cứu kiểm định sựphát triển, nâng cao hiệu quả của các biến thể chế như quyền sở hữu an toàn, sứcmạnh cai trị của pháp luật, kiểm soát tham nhũng, và phát triển trung gian tài chính(Ali, Fiess, và MacDonald, 2010; King và Levine, 1993; Knack và Keefer, 1995;Mauro, 1995; North, 1990) Benassy-Quere, Coupet, và Mayer (2007).Các nghiêncứu trên đã tìm hiểuvề những tác động của biến thể chế đến FDI song phương và kếtluận rằng khoảng cách thể chế có xu hướng làm giảm FDI song phương

Một số các nghiên cứu FDI đã tập trung vào việc bằng cách nào các biếnthể chế có thể tác động đến FDI.Một trong những biến đầu tiên được kiểm định là

Trang 27

yếu tố chính trị, đây là yếu tố quan trọng quyết định FDI (Levis, 1979; Root vàAhmed, 1979; Schneider và Frey, 1985; Stevens, 1969; Wei, 1997) Jensen (2003)thấy rằng nhà nước dân chủ thu hút nhiều hơn 70% FDI (tính theo tỷ lệ phần trămcủa GDP) so với nhà nước độc quyền khác Tuy nhiên, Green và Cunningham(1975) và Wheeler và Mody (1992) tìm thấy những tác động của các chỉ số môitrường chính trị đến FDI là không đáng kể Li và Resnick (2003) cho rằng nền dânchủ tác động tiêu cực của đến dòng vốn FDI trong 53 quốc gia Liên quan đến cácbiến thể chế khác, Aizenman và Spiegel (2006) tập trung vào vai trò của sức mạnhtrong việc thi hành quyền sở hữu về các mô hình và hành vi của các công ty đa quốcgia (MNCs) Họ nhận thấy rằng hiệu quả thể chế tương quan mạnh với tỷ lệ FDItrên tổng vốn đầu tư trong nước.Knack và Keefer (1995) và Lee và Mansfield(1996) cũng nhấn mạnh Tầm quan trọng của quyền sở hữu trong việc thúc đẩyFDI.Tham nhũng cũng làm giảm đáng kể FDI được ghi nhận trong nghiên cứu củaWei (2000).

Huang (2003) lưu ý rằng thể chế yếu kém làm giảm khả năng kinh doanhcủa địa phương; thể chế tốt nâng cao chất lượng kinh doanh địa phương.FDI đượcxác định một phần tạo nên sức mạnh hoặc làm yếu khả năng kinh doanh địa phương

ở nước sở tại Bằng cách suy luận, kiểm soát các yếu tố vĩ mô và chính trị khác, mộtđất nước có có môi trường kinh doanh nghèo nàn có thể thành công trong việc thuhút FDI nhiều hơn, trong điều kiện không mối đe dọa nào gây ra cho các công tynước ngoài

Singh and Jun (1995) bằng nghiên cứu đãđi tìm bằng chứng thực nghiệm vềcác nhân tố ảnh hưởng đến FDI với dữ diệu bao gồm 31 quốc gia đang phát triểntrong khoảng thời gian từ 1970 - 1993 Các giả thiết bao gồm rủi ro về chính trị,điều kiện thành lập doanh nghiệp, và các biến vĩ mô ảnh hưởng đến dòng vốn FDI

Sử dụng dữ liệu bảng gộp cho các nước đang phát triển, bài nghiên cứu đã kết luậnrằng: rủi ro chính trị là một nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc thu hút dòng vốn

Trang 28

FDI trong quá khứ, trong khi những quốc gia không thu hút được dòng vốn này chothấy mức độ bất ổn cao hơn về chính trị xã hội; điều kiện ban đầu để hình thànhdoanh nghiêp và chính sách định hướng xuất khẩu cũng cho thấy có ảnh hưởngmạnh đến việc thu hút dòng vốn FDI

Trong một mẫu nước lấy từ châu Á, Mỹ Latin và vùng Caribbean, Gani(2007) quy định của pháp luật, kiểm soát tham nhũng, chất lượng điều hành, hiệuquả của Chính phủ và chính trị ổn định đều ảnh hưởng tích cực đến FDI

Easterly (2005) cho rằng môi trường thể chế có vai trò rất quan trọng đồivới FDI Ông cho rằng, môi trường thể chế tốt sẽ giảm chi phí đầu tư liên quan đếngiao dịch (như tham nhũng, thuế…) Bouiyour (2003) xem xét các yếu tố quyết địnhcủa FDI ở Ma-roc đã lập luận rằng sự bất ổn của nền kinh tế Ma-roc đã làm trở ngạiviệc thu hút nguồn vốn FDI Ngoài ra, Olofsdotter (1998) đã chỉ ra rằng khả nănghấp thụ FDI của các nước sở tại và các tác dụng có lợi của FDI mạnh hơn ở nhữngnước có trình độ cao hơn về năng lực thể chế

Nhìn chung, tổng quan các nghiên cứu trước đây đều cho thấy các bằngchứng thực nghiệm về sự tác động của thể chế đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài FDI Hầu hết, các quốc gia có môi trường thể chế tốt đều có khả năng thu hútluồng vốn FDI cao hơn các quốc gia khác Lợi thế quốc gia, sự ổn định chính trị,tham nhũng ít, hệ thống pháp luật rõ ràng, thủ tục pháp lý vững mạnh… là nhữngyếu tố quan trọng quyết định FDI Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ tập trung vàoviệc tìm ra các nhân tố tác động mà chưa đi sâu vào việc đánh giá mức độ tác động

và sự biến đổi của dòng vốn FDI dưới tác động của từng yếu tố Vấn đề này sẽ được

đề cập cụ thể hơn trong bài nghiên cứu này

Bên cạnh các nghiên cứu thực nghiệm về FDI và thể chế, tác giả cũng cótổng hợp một số các nghiên cứu thực nghiệm về FDI để tìm hiểu thêm những yếu tố

Trang 29

kinh tế khác tác động đến FDI.Qua đó, tác giả sẽ có cơ sở để đưa thêm biến kiểmsoát vào mô hình.

Erdal Demirhan và Mahmut Masca (2008) đã nghiên cứu về các yếu tốquyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào các nước đang phát triển dựa trênphương pháp dữ liệu chéo.Với dữ liệu của 38 nước đang phát triển trong khoảngthời gian 2000-2004 Tác giả khẳng định các nhà đầu tư nước ngoài hướng tới nềnkinh tế tạo ra lợi nhuận và tăng trưởng cao hơn là các nền kinh tế nhỏ Tốc độ tăngtrưởng bình quân đầu người, mạng lưới di động, độ mở cửa thương mại, độ ổn địnhcủa nền kinh tế có tác động tích cực đến thu hút dòng vốn FDI Ngược lại: tỷ lệ lạmphát và thuế thì ít có tác động đến dòng vốn FDI hơn, Tỷ lệ lạm phát thấp sẽ thu hútđược nhiều nguồn vốn FDI hơn

G M Agiomirgianakis, D Asteriou, K Papathoma (2004) đã nghiên cứucác yếu tố quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng dữ liệu bảng của 20 quốc giaOECD, giai đoạn 1975 - 1997 Tác giả khẳng định các nhà đầu tư sẽ quan tâm đếncác quốc gia phát triển hơn, có quy mô thị trường hơn, đặc biệt là có mức độ tăngtrưởng GDP và GDP bình quân đầu người cao hơn và khả năng mang lại được lợinhuận cao hơn Độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng và sự phát triển của lực lượng laođộng có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến dòng vốn FDI Trong khi đóvai trò của Chính phủ cũng ảnh hưởng tích cực nhưng không có ý nghĩa thốngkê.Trong trường hợp này tác giả cho rằng chi tiêu công của mỗi quốc gia không ảnhhưởng đáng kể năng lực cạnh tranh quốc tế

Torissi (1985) với nghiên cứu các yếu tố tác động đến FDI ở các nước kémphát triển 1958 – 1980, nghiên cứu đã kết luận rằng thương mại là biểu hiện củamột nền kinh tế năng động và khỏe mạnh với tiềm năng xuất khẩu và do đó có khảnăng thu hút nhiều FDI Một biến truyền thống khác cũng tác động đến FDI là lạmphát Lạm phát biểu hiện cho sự căng thẳng kinh tế nội bộ, sự bất lực của các ngân

Trang 30

hàng trung ương và Chính phủ để hạn chế nguồn cung tiền và cân bằng ngân sách.Nghiên cứu cũng cho thấy một quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì FDI thấp hơn.

Về phương diện khác, Lensink và Morrissey (2006) dựa trên dữ liệu thuthập của 88 quốc gia từ năm 1975 đến năm 1998 trong đó có khoảng 20 quốc giaphát triển Bài nghiên cứu đưa ra kết luận rằng sự biến động của FDI tác động tiêucực đến tăng trưởng nhưng lại không phải là yếu tố quan trọng quyết định tăngtrưởng như là FDI Quy mô thị trường thường được đại diện bởi GPD đầu người,nhiều giả thuyết cho rằng nó là một trong số các biến giải thích thì sự phát triển thịtrường còn tùy thuộc vào mức độ hiệu quả sự việc sử dụng nguồn nhân lực và khaithác quy mô nền kinh tế (Scaperland và Mauer, 1969; Schneider và Frey, 1985)

Một cách tổng quát, sự biến đổi của dòng vốn FDI trên toàn thế giới đã thôithúc các nhà nghiên cứu tập trung trong việc tìm kiếm các nhân tố tác động đếndòng vốn FDI để từ đó có cơ sở hoàn thiện và cải cách các chính sách nhẳm thu hútnhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, các nghiên cứuthực nghiệm trên chưa thực sự có sự nhất quán về kết luận giữa các nghiên cứu, hầuhết, các nghiên cứu gần đây đều cho thấy rằng các nhân tố như: tốc độ tăng trưởngbình quân đầu người, thương mại, lạm phát, độ ổn định của nền kinh tế, chính sáchcủa chính phủ… có tác động đến thu hút dòng vốn FDI

Trang 31

2.2.2Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm

Bảng 2.1: Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm

Bonnie G Buchanan 164 quốc gia trong giai Chất lượng thể chế tác động tích

và cộng sự (2012) đoạn 1996-2006 cực và đáng kể đến FDI, nhưng

tác động ngược chiều đến sựbiến động FDI

James P Walsh và Dữ liệu nghiên cứu của Vai trò của chất lượng thể chếJiangyan Yu (2010) 27 nước phát triển và rất quan trọng Độc lập tư

nhóm nền kinh tế mới phápthu hút nhiều FDI hơn vàonổi, từ 1985 –2008 các thị trường mới nổi, Một hệ

thống tư pháp độc lập và cơ sở

hạ tầng tốt hơn thu hút nhiềuFDI dịch vụ cho cả nền kinh tếtiên tiến và mới nổi

Campos và Kinoshita 25 nền kinh tế chuyển Môi trường thể chế là một trong(2003) đổi từ 1990 – 1998 hai nhóm yếu tố quan trọng

quyết định FDIGloberman và Shapiro 20 nền kinh tế mới nổi Quản trị là một yếu tố quan(2002) và chuyển đổi ở châu trọng quyết định luồng vốn vào

Âu, 1995 - 2001 và ra của một quốc gia

Daneile và Marani dữ liệu từ các nước Môi trường thể chế tốt, khuyến(2006) MENA giai đoạn 1980 khích đầu tư tư nhân, nâng cao

– 2004 hiệu quả tổng thể nền kinh tế và

đóng góp vào sự phát triển kinhtế

Trang 32

Asiedu (2006) Thu thập dữ liệu bảng Sự ổn định chính trị và một hệ

của 22 nước châu Phi thống pháp lý đáng tin cậy thu

từ 1984-2000 hút nguồn vôn FDI

North

(1990);Benassy-Quere, Coupet và

Mayer (2007)

mạnh với tỷ lệ FDI trên tổng vốn(2006)

đầu tư trong nướcRủi ro chính trị ảnh hưởng đáng

Dữ liệu của 31 nước kể đến việc thu hút dòng vốnSingh and Jun (1995) đang phát triển giai FDI, những quốc gia không thu

đoạn 1970 - 1993 hút được FDI có mức độ bất ổn

cao hơn về chính trị xã hộiQuy định của pháp luật, kiểm

Dữ liệu các nước châu soát tham nhũng, chất lượngGani (2007) Á, Mỹ Latin và vùng điều hành, hiệu quả của Chính

Caribbean phủ và chính trị ổn định đều ảnh

Trang 34

Một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến dòng vốn FDI

Tốc độ tăng trưởng bình quânđầu người, mạng lưới di động,

độ mở cửa thương mại, độ ổnErdal Demirhan và 38 nước đang phát triển định của nền kinh tế có tác độngMahmut Masca (2008) giai đoạn 2000-2004 tích cực đến thu hút dòng vốn

FDI Ngược lại: tỷ lệ lạm phát vàthuế thì ít có tác động đến dòngvốn FDI hơn

Torissi (1985) Các nước kém phát Thương mại tốt có khả năng thu

triển không sản xuất hút FDI Tỷ lệ lạm phát cao hơndầu mỏ và Comlombia cho xu hướng FDI thấp hơn

từ 1958 - 1980Marcelo Braga Sử dụng dữ liệu bảng Mức độ phát triển giáo dục, độNonnemberg và cộng để nghiên cứu trên 38 mợ kinh tế, rủi ro, lạm phát, mức

sự (2004) nước trong giai đoạn độ tăng trưởng kinh tế đều có tác

1975-2000 động đến nguồn vốn FDI Tăng

trưởng kinh tế tác động đến FDI

và không có chiều ngược lạiLensink và Morrissey Bảng dữ liệu chéo và FDI thì tác động tích cực đến(2006) các biến công cụ của tăng trưởng kinh tế trong khi sự

87 quốc gia từ năm biến động của nó lại gây ra

1990 - 1997 những tác động tiêu cực

Trang 35

2.3Đóng góp mở rộng đề tài

Để đảm bảo sự tin cậy kết quả định lượng, tác giả lần lượt sử dụng lần lượtcác yếu tố kiểm soát khác trong mô hình định lượng nhằm so sánh sự ổn định từ kếtquả các mô hình, với hàm ý tránh bỏ sót hiện tượng thiếu biến.Lý thuyết hiện tượngthiếu biến chỉ ra rằng, mô hình thiếu biến có ước lượng chệch hệ số hồi quy.Khi đóphương sai của sai số ước lượng từ mô hình đúng và phương sai của sai số ướclượng của mô hình thiếu biến sẽ có sự chênh lệch.Các kiểm định giả thuyết trên hệ

số hồi quy không còn đáng tin cậy.Từ lý thuyết hiện tượng thiếu biến, tác giả chorằng cần thiết kiểm soát thêm các yêu tố khác có tác động tới biến phụ thuộc trongcác nghiên cứu trước

Russ (2007) cũng khẳng định rằng tốc độ tăng trưởng của cung tiền dẫn đến

sự biến động trong tỷ giá hối đoái và sẽ ảnh hưởng đến luồng vốn FDI Buchanan vàcộng sự (2012) kỳ vọng rằng, tăng trưởng cung tiền sẽ dẫn đến biến động cao hơncủa FDI Do đó, biến kiểm soát cung tiền và độ tăng trưởng cung tiền hằng năm đãđược đưa vào tmô hình ước lượng sự biến động của FDI

Từ các nghên cứu thực nghiệm đã tổng và tóm tắt trong bảng 2.1, tác giảnhận thấy rằng lạm phát là nhân tố tác động đến FDI được tìm thấy trong nhiềunghiên cứu trước như các nghên cứu của Bushra Yasmin và cộng sự (2003), Torissi(1985), Marcelo Braga Nonnemberg và cộng sự (2004) James P Walsh và Jiangyan

Yu (2010) vàAsiedu (2006)… Vì vậy, để tránh những sai lầm xuất phát từ lý thuyếthiện tượng thiếu biến trong quá trình ước lượng, bài nghiên cứu đề xuất đưa thêmbiến lạm phát vào cả hai mô hình ước lượng được mô tả chi tiết ở chương 3

Kết quả mô hình với các biến kiểm soát được thêm vào được sử dụng để sosánh với kết quả mô hình từ khung mô hình của Buchanan và cộng sự (2012).Qua

đó cung cấp thêm bằng chứng kết quả định lượng về quan hệ giữa các biến độc lập

và biến phụ thuộc

Trang 36

Chương 3 –PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2Mô hình nghiên cứu

Mô hình định lượng trong nghiên cứu dựa trên nền tảng mô hình nghiêncứu định lượng của Buchanan và cộng sự (2012) khi nghiên cứu về một số bằngchứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và chất lượngthể chế

Mô hình 1: Mô hình ước lượng các nhân tố tác động đến nguồn vốn đầu tư

trực tiếp FDI Trong đó, FDI là biến phụ thuộc, các biến độc lập là biến quản trị(Governance), thương mại (Trade), đầu tư trong nước (domestic investment), GDPbình quân đầu người (GDPPCG) và lạm phát (Inflation)

FDI = a0+ a1Governance + a2Trade + a3DomesticInv + a4GDPPCG + e (1)

Mô hình 2: Mô hình phân tích hồi quy sự biến động của FDI

(VFDI).Buchanan và cộng sự (2012) kỳ vọng rằng, tăng trưởng cung tiền sẽ dẫn đếnbiến động cao hơn của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Do đó, M2 Growth đã đượcđưa vào ước lượng trong mô hình 2 Mô hình này bao gồm: VFDI là biến phụ thuộc,các biến độc lập là biến quản trị (Governance), thương mại (Trade), cung tiền và độtăng trưởng cung tiền hằng năm, GDP bình quân đầu người (GDPPCG)

VFDI = a0+ a1Governance + a2 Trade + a3M2Growth + a4GDPPCG + e (2)

Ngoài ra, dựa trên một số nghiên cứu thực nghiệm đã trình bày ở chương 2như Erdal Demirhan và Mahmut Masca (2008),Torissi (1985), Marcelo BragaNonnemberg và cộng sự (2004) đã cho rằng yếu tố lạm phát cũng có tác động đếndòng vốn FDI, do đó, để tránh bị thiếu biến, tác giả đưa thêm biến lạm phát vào mô

hình một và hai Bài nghiên cứu có thêm Mô hình 3 và mô hình 4 như sau:

Trang 37

FDI = a0 + a1Governance + a2Trade + a3DomesticInv + a4GDPPCG + a5Inflation +

e (3)

VFDI = a0 + a1Governance + a2Trade + a3M2Growth + a4GDPPCG + a5Inflation +

e (4)

3.3 Mô tả biến trong nghiên cứu

Trong các mô hình sử dụng trong nghiên cứu, theoWorld Bank, các biếnđược mô tả và tính toán như sau:

3.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI:

Đối với biến FDI, bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu dòng vốn FDI vào ròng(net FDI inflows) của World Bank Theo báo cáo trong ‘InternationalFinancialStatistics’ của Quỹ tiền tệ quốc tế (2000), dòng vốn FDI vào ròng là dòngvốn đầu tư dài hạn của các cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, trực tiếp tham gia quản

lý điều hành hoạt động (nắm giữ 10% hoặc nhiều hơn quyền biểu quyết) của mộtcông ty ở một quốc gia khác Nó bao gồm tổng của vốn đầu tư ban đầu, cộng với lợinhuận tái đầu tư và các khoản nợ nội bộ trên cán cân thanh toán Net FDI inflows cóthể âm hoặc dương Âm có thể là do nhà đầu tư nước ngoài rút vốn hoặc phải thanhtoán các khoản nợ vay nội bộ tăng đột biến

3.3.2 Độ biến động của FDI (VFDI)

Được đo lường bằng phương sai của FDI

3.3.3 Quản trị (Governance)

Chỉ số Quản trị Ngân hàng Thế giới: Các Chỉ số Quản trị WB được pháttriển bởi Kaufmann, Kraay e Mastruzzi (2005) 1) Cam kết và thực thi (voice andaccountability): đo lường bằng các quyền chính trị và dân sự; 2) Sự bất ổn chính trị

Trang 38

và bạo lực (political instability and violence): đo lường bằng các mối đe dọa bởi bạolực, hoặc những thay đổi trong chính phủ; 3) Hiệu quả của chính phủ (governmenteffectiveness): đo bằng quan liêu và chất lượng cung cấp dịch vụ công cộng; 4)Gánh nặng pháp lý (regulatory quality): đo bằng tỷ lệ các chính sách thị trườngkhông thuận lợi; 5) Quy tắc của pháp luật (rule of law): đo lường chất lượng thực thicác cam kết, cảnh sát và tòa án, như cũng như khả năng của tội phạm và bạo lực;6) Kiểm soát tham nhũng (control of corruption): đo lường khả năng thực hiệnquyền lực công để mưu lợi cá nhân, bao gồm cả tham nhũng nhỏ và lớn trên toàn bộ máynhà nước Theo Cousins (1997)thể chế chính thức được bảo đảm bởi pháp luật, tức làthực thi các quy định bởi nhà nước, trong khi các thể chế phi chính thức được duy trì theothỏa thuận Dựa trên các thành phần cấu thành biến Governance, trong nghiên cứu này,thể chế được đề cập là thể chế chính thức và được tính toán bằng

cách sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính (Principal ComponentsAnalysis – PCA) của sáu chỉ số đại diện cho biến Quản trị(Globerman vàShapiro,2002)

3.3.4 Thương mại (Trade)

Thương mại là tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch

vụ, được đo lường như là một phần của tổng sản phẩm trong nước

3.3.5Đầu tư trong nước (Domestic investment)

Theo Buchanan và cộng sự (2012), đầu tư trong nước ngày nay còn đượcgọi là vốn gộp (Gross capital formation, %GDP) Theo World bank, vốn gộp baogồm các khoản chi bổ sung vào tài sản cố định của nền kinh tế cộng với những thayđổi trong mức độ thuần của hàng tồn kho Tài sản cố định bao gồm cải tạo đất (hàngrào, mương, cống thoát nước, vv); nhà máy, máy móc, thiết bị và mua hàng; và xâydựng các tuyến đường bộ, đường sắt, và bao gồm cả trường học, văn phòng, bệnhviện, nhà ở dân cư tư nhân, và các tòa nhà thương mại và công nghiệp Hàng tồn

Trang 39

kho là những cổ phiếu hàng hóa của các Công ty với những dao động tạm thời hoặckhông mong muốn trong sản xuất, bán hàng, và "công việc trong tiến trình."

3.3.6Tăng trưởngGDP bình quân đầu người – GDPPCG (%):

Tốc độ tăng trưởng hàng năm tỷ lệ phần trăm của GDP bình quân đầu ngườidựa vào đồng nội tệ GDP bình quân đầu người là tổng sản phẩm trong nước chiacho dân số giữa năm GDP theo giá mua là tổng giá trị gia tăng của tất cả các nhàsản xuất trong nền kinh tế cộng với mọi khoản thuế sản phẩm và trừ đi bất kỳ khoảntrợ cấp không tính vào giá trị của sản phẩm Nó được tính toán mà không thực hiệntrích khấu hao tài sản ngụy tạo hoặc cho cạn kiệt và suy thoái tài nguyên thiênnhiên

3.3.7Lạm phát (Inflation, %)

Tỷ lệ lạm phát được đo bằng tốc độ tăng trưởng hàng năm của chỉ số giảmphát GDP tiềm ẩn cho thấy tốc độ thay đổi giá cả trong nền kinh tế nói chung

Trang 40

Bảng 3.1: Bảng mô tả và dấu kỳ vọng của các biến

Đầu tư trực tiếp Foreign direct FDI

World Banknước ngoài investment (% GDP)

World BankGOV

Đầu tư trong nước Domestic investment Domestic Inv

formation (% GDP)Tăng trưởng GDP GDP per capita GDPPCG

người

World Bankdeflator (%)

Kỳ vọng giả thuyết nghiên cứu

 Giả thuyết H1: Chất lượng thể chế tăng lên làm tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

 Giả thuyết H2: Chất lượng thể chế tăng lên làm giảm biến động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.3 Dữ liệu nghiên cứu

Ngày đăng: 24/09/2020, 15:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w