Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham giatrong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP tại thành phố Hồ ChíMinh” nhằm tìm ra các rủi ro tiềm ẩ
Trang 1HỒNG PHI VŨ
ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN BỔ RỦI RO HỢP LÝ CHO CÁC BÊN THAM GIA TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾNgười hướng dẫn khoa học: GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng Luận văn “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các
bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.
Các số liệu thu thập và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toànhợp pháp, trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn trích rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tàinghiên cứu./
Người thực hiện luận văn
Hồng Phi Vũ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH vi
TÓM TẮT vii
Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Tên đề tài 1
1.2 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Cấu trúc luận văn 4
Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
2.1 Các khái niệm 5
2.1.1 Khái niệm liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) 5
2.1.2 Rủi ro, đo lường mức rủi ro trong các dự án PPP 6
2.1.3 Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP 7
2.1.4 Quản lý rủi ro trong các dự án PPP 8
2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài 9
2.2.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP 9
Trang 52.2.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP
11 2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 13
2.3.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP 13 2.3.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP
14 2.4 Kết quả rút ra từ các nghiên cứu trước 15
2.5 Mô hình nghiên cứu 17
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Quy trình nghiên cứu 23
3.2 Thiết kế bảng hỏi 24
3.3 Lựa chọn mẫu khảo sát 24
3.4 Thu thập dữ liệu 25
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 25
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN 26
4.1 Thông tin mẫu khảo sát 26
4.2 Thống kê mô tả thông tin về loại hợp đồng, lĩnh vực đầu tư 27
4.2.1 Loại hợp đồng
27 4.2.2 Lĩnh vực đầu tư
27 4.3 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall 28 4.4 Đánh giá Mức rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP.
Trang 64.5 So sánh Mức rủi ro các dự án BOT, BT, PPP 35
4.6 Phân bổ rủi ro các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM 41
4.7 So sánh phân bổ rủi ro hợp lý giữa dự án BOT, BT, PPP 45
Trang 74.8 So sánh phân bổ rủi ro các dự án PPP tại TP HCM với các nghiên cứu
trước 51
Chương 5 TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 56
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 56
5.2 Khuyến nghị, giải pháp quản lý rủi ro 62
5.3 Hạn chế của đề tài 63
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 71
Trang 83 BOT Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
4 BTO Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
6 BOO Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh
7 BTL Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ
8 BLT Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao
9 O&M Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý
12 EFA Exploratory Factor Analysis
13 SPSS Statistical Package for the Social Sciences
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM 18
Bảng 4.1 Kết quả thu thập phiếu điều tra 26
Bảng 4.2 Thống kê đối tượng tham gia trong các dự án PPP 26
Bảng 4.3 Thống kê về tiến độ xa nhất của dự án 26
Bảng 4.4 Thống kê loại hợp đồng trên kết quả khảo sát 27
Bảng 4.5 Thống kê về lĩnh vực đầu tư của người được hỏi 28
Bàng 4.6 Kết quả kiểm định hệ số tương quan Kendall 29
Bảng 4.7 Kết quả đánh giá mức rủi ro các dự án PPP 33
Bảng 4.8 So sánh kết quả đánh giá mức rủi ro các dự án BOT, BT, PPP 37
Bàng 4.9 Kết quả phân bổ rủi ro các dự án PPP 42
Bảng 4.10 So sánh kết quả phân bổ rủi ro hợp lý các dự án BOT, BT, PPP 47
Bảng 4.11 So sánh phân bổ rủi ro các dự án PPP tại TP HCM với các nghiên cứu trước 52
Bảng 5.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu (Mức rủi ro có giá trị 1-25) 57
CÁC HÌNH Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM 22
Trang 10TÓM TẮT
Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) đã được triển khai thực hiện rấtmạnh ở các nước với lợi thế là huy động được nguồn lực từ khu vực tư nhân nhưnguồn vốn, kỹ năng quản lý, tính năng động, Tại Việt Nam nói chung và thànhphố Hồ Chí Minh nói riêng giải pháp cho đầu tư phát triển, nâng cao chất lượngdịch vụ công là đẩy mạnh đầu tư theo hình thức đối tác công tư, phát huy nguồn lực
từ khu vực tư nhân, trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà nước không đáp ứng đượcyêu cầu phát triển
Nhiều dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM đã được Thành phố kêugọi nhưng không thu hút được các nhà đầu tư Một trong những nguyên nhân là cácrủi ro trong đầu tư chưa được xác định và phân bổ hợp lý cho các bên đối tác công –tư
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham giatrong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ ChíMinh” nhằm tìm ra các rủi ro tiềm ẩn, đánh giá đúng mức độ rủi ro nếu nó xảy ra vàđồng thời phân bổ rủi ro hợp lý nhất theo nguyên tắc “rủi ro được phân bổ cho bên
có khả năng kiểm soát nó tốt nhất”
Xuất phát từ yêu cầu đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý trong các dự án đầu tưtheo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã lượckhảo các tài liệu, các nghiên cứu trước, tham vấn chuyên gia và nhận diện được 58yếu tố rủi ro được nhóm trong 9 nhóm rủi ro
Một cuộc điều tra với tổng cộng 295 phiếu khảo sát được phát hành, 103phiếu trả lời thu được để phân tích dữ liệu Tác giả đã phân tích, xác định, đánh giámức rủi ro của 58 yếu tố rủi ro và xếp hạng các rủi ro theo mức độ rủi ro Kết quảđánh giá rủi ro: Chậm trễ trong quá trình phê duyệt và cấp phép dự án có Mức rủi rocao nhất 12.67, Tham nhũng của quan chức Chính phủ xếp thứ 2, Các luật về PPPchưa đầy đủ, rõ ràng, phù hợp xếp thứ 3, Thất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất,bàn giao mặt bằng xếp vị trí thứ 4, Rủi ro tỷ lệ lãi suất xếp vị trí thứ 5
Trang 11Thực trạng các rủi ro được phân bổ chủ yếu cho khu vực tư nhân (43/58 rủiro) Có sự khác biệt rất lớn giữa Thực trạng phân bổ và Đề xuất phân bổ rủi ro hợp
lý (49/58 rủi ro có sự khác biệt trong phân bổ) Điều này lý giải phần nào lý do cácNhà đầu tư đã phải gánh chịu quá nhiều rủi ro trong đầu tư các dự án theo hình thứcPPP tại TP HCM nên đã ngần ngại, không tham gia thực hiện dự án
Kết quả phân bổ rủi ro hợp lý có 27/58 rủi ro được phân bổ cho khu vực Nhànước, 19/58 rủi ro được chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân, 12/58 rủi ro do Tư nhânđảm nhận
Các dự án PPP khác nhau về loại hợp đồng (BOT, BT); các quốc gia, vùng
có điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau thì cũng có cách đánh giá và phân
bổ rủi ro khác nhau
Nghiên cứu cung cấp danh mục các rủi ro, có đánh giá mức rủi ro và phân bổhợp lý cho các dự án BOT, BT và tổng thể PPP (Bảng 5.1) Danh mục này góp phầngiúp Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư xem xét các rủi ro và cáchphân bổ rủi ro hợp lý để thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư(PPP) trên địa bàn TP HCM
Luận văn cũng đã đưa ra 10 khuyến nghị, giải pháp nhằm giúp Cơ quan quản
lý Nhà nước, Nhà đầu tư xác định kịp thời các rủi ro và quản lý tốt các rủi ro trongcác dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM
Trang 12Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Tên đề tài: “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Bối cảnh nghiên cứu
Với nhu cầu đầu tư phát triển hiện nay là rất lớn, trong khi nguồn vốn ngânsách còn hạn hẹp nên việc huy động các nguồn lực từ xã hội cho đầu tư là cần thiết.Giải pháp cho đầu tư là kêu gọi theo hình thức đối tác công tư (PPP), với sự thamgia của khu vực tư nhân
Trong những năm gần đây, nhiều dự án đầu tư được kêu gọi theo hình thứcđối tác công tư (PPP) tại TP HCM triển khai thực hiện chậm, không kêu gọi đượcnhà đầu tư Theo Báo cáo của Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM (2017), “Trong giaiđoạn (2004 – 2017), có 23 dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT, BTO, BOO đãhoàn thành và đang được triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư khoảng 71.172 tỷđồng Trong đó, lĩnh vực giao thông vận tải có 17 dự án, lĩnh vực môi trường có 02
dự án, lĩnh vực bãi đậu xe ngầm có 02 dự án, hạ tầng kỹ thuật có 01 dự án, Văn hóa
có 01 dự án” (Phụ lục F)
Cũng theo Báo cáo của Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM (2017), “Hiện nay,trên địa bàn Thành phố có 20 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã hoàn tất
ký kết hợp đồng dự án và triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư khoảng 67 nghìn
tỷ đồng Hiện Thành phố đang nghiên cứu, kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP trên
200 dự án, với tổng mức đầu tư khoảng 486 nghìn tỷ đồng”
Phải chăng đã có những rủi ro trong đầu tư mà các nhà đầu tư còn e ngại,không tham gia thực hiện dự án Việc phân bổ rủi ro giữa các đối tác chưa hợp lý
Với bối cảnh và tình hình này, vấn đề đặt ra là làm sao các dự án đầu tư theohình thức đối tác công tư được triển khai thực hiện nhanh, hiệu quả, đáp ứng nhu cầuphát triển của Thành phố Các bên tham gia dự án đang gặp phải những rủi ro gì và
Trang 13hướng phân bổ rủi cho các bên tham gia sao cho hợp lý nhất để đẩy mạnh việc triểnkhai thực hiện các dự án (PPP) tại TP HCM trong thời gian tới.
Mặt khác, theo tìm hiểu của tác giả thì hiện nay chưa có đề tài nào nghiêncứu về xác định (nhận diện), đánh giá và phẩn bổ rủi ro trong các dự án đầu tư theohình thức đối tác công tư tại TP HCM
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá và phân bổ rủi ro hợp lý cho các bên tham
gia trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại Thành phố
Hồ Chí Minh” là cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn.
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm (1) xác định và đánh giá mức rủi ro,(2) đánh giá thực trạng rủi ro được phân bổ, và (3) phân bổ các yếu tố rủi ro hợp lýcho các bên tham gia trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM Từ đó, đưa
ra một số khuyến nghị giúp các bên đối tác quản lý tốt các rủi ro để thúc đẩy việc thựchiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, nội dung của luận văn phảitrả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Các dự án đầu tư theo hình thức PPP (tại TP HCM) có những yếu tố rủi
ro nào và mức độ rủi ro được đánh giá như thế nào?
(2) Các yếu tố rủi ro được phân bổ cho các bên tham gia trong các dự án đầu
tư theo hình thức PPP (tại TP HCM) có hợp lý chưa?
(3) Hướng phân bổ các yếu tố rủi ro như thế nào sao cho hợp lý nhất, đảm bảo thực hiện thành công các dự án PPP tại TP HCM?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM
- Phạm vi không gian: đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu xác định, đánh giá và
phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM
- Phạm vi thời gian: thu thập tài liệu, số liệu nghiên cứu từ năm 2004 đến 2017
đối với các dự án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, so sánh, luận văn sử dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để xác định kết quả nghiên cứu.
(1) Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách nhậndiện, mô tả và phân tích đặc điểm của các vấn đề nghiên cứu từ quan niệm được lựachọn Trong phạm vi luận văn, phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện thôngqua việc nghiên cứu tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu trước đó, số
liệu, tình huống nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn để khám phá kiến thức,tìm hiểu cơ sở lý luận Sử dụng phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu với dàn bàisoạn sẵn) để khai thác các nội dung xung quanh vấn đề nghiên cứu Trong nghiêncứu định tính với tình huống nghiên cứu và phỏng vấn sâu với dàn bài soạn sẵn,kích thước mẫu nghiên cứu thường <30 đơn vị Kết quả của quá trình nghiên cứugiúp tác giả hoàn chỉnh thang đo và khám phá những vấn đề mới
(2) Nghiên cứu định lượng là phương pháp xem xét hiện tượng theo cách có thể
đo lường được trên các đối tượng nghiên cứu, bằng việc sử dụng các kỹ thuật thu thập dữliệu như bảng hỏi có cấu trúc, quan sát, Nghiên cứu định lượng với kích
thước mẫu nghiên cứu >30 đơn vị Những phát hiện trong nghiên cứu định lượng được trình bày theo ngôn ngữ thống kê
Trang 151.6 Cấu trúc luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 5 chương như sau:
Chương 1 Giới thiệu đề tài
Chương 2 Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bình luận
Chương 5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Khái niệm liên quan đến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)
Có rất nhiều nghiên cứu và các tài liệu khác nhau đề cập tới khái niệm vềhình thức PPP Tuy nhiên, khái niệm của ADB mô tả tương đối đầy đủ về hình thứcPPP ADB (2008) trong tài liệu "Hướng dẫn về mối quan hệ hợp tác công tư", đã
định nghĩa thuật ngữ "PPP" là các mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân liên quan đến quản lý, đầu tư trong lĩnh vực CSHT và các lĩnh vực dịch vụ khác thông qua các hợp đồng được thiết lập theo các mức độ nghĩa vụ, quyền lợi và rủi ro của hai bên đối tác.
Theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tưtheo hình thức đối tác công tư:
1 Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hình thức đầu tư được thựchiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh
nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch
vụ công
2 Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trìnhtrong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình
đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
3 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO) là hợp đồng được kýgiữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng;sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất
định
Trang 174 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quannhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà
đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác
5 Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) là hợp đồng được ký giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; saukhi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh
công trình đó trong một thời hạn nhất định
6 Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạtầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai tháccông trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuêdịch vụ và thanh toán cho nhà đầu
7 Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạtầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vậnhành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư; hết thời hạncung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước cóthẩm quyền
8 Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M) là hợp đồng được ký giữa cơquan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ côngtrình trong một thời hạn nhất định
2.1.2 Rủi ro, đo lường mức rủi ro trong các dự án PPP
Khái niệm rủi ro được hiểu chung trong các trường hợp là sự sai biệt giữa kỳ vọng và thực tiễn
Trang 18Trong trường hợp cụ thể với tiếp cận theo quan điểm quản trị và phân loại rủi
ro theo các yếu tố là nguồn gốc phát sinh rủi ro trong hình thức PPP, khái niệm về
yếu tố rủi ro được đưa ra: Một sự kiện hoặc yếu tố là yếu tố rủi ro, nếu xảy ra, có tác động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự án (về thời gian, chi phí, chất lượng và lợi nhuận).
Một đặc điểm cơ bản trong việc xác định (nhận diện) rủi ro theo yếu tố là khảnăng có thể xác định được về xác suất xuất hiện và mức độ tác động (Williams,1996) Trong đó:
- Xác suất xảy ra yếu tố rủi ro là cơ hội để yếu tố rủi ro đó xảy ra tạo điều kiện thuận lợi hoặc bất lợi cho dự án, có thể đo lường bằng cách xác định tỷ lệ về số lần
yếu tố rủi ro đó xuất hiện trong tổng số
- Mức độ tác động của yếu tố rủi ro là mức độ mà yếu tố rủi ro đó (khi xảy ra)
tác động đến kết quả của dự án
Từ đó, các công trình nghiên cứu về rủi ro trong hình thức PPP đã tiếp cận
theo quan điểm quản trị đã đo lường mức rủi ro của mỗi yếu tố rủi ro bằng cách nhân xác suất xảy ra yếu tố rủi ro với mức độ tác động của yếu tố rủi ro đó.
2.1.3 Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP
Phân bổ rủi ro trong các dự án PPP đề cập đến một biện pháp chính của sựphân công giữa những người tham gia trực tiếp của dự án, đó là giữa khu vực công
và khu vực tư nhân; nếu cả hai bên cùng chịu một kết quả rủi ro nhất định, đó là cơchế chia sẻ rủi ro (Li và cộng sự, 2005)
Phân bổ rủi ro hiệu quả giữa Nhà nước và tư nhân trong các dự án phát triểnCSHT theo hình thức PPP là nhân tố quan trọng để đạt được thành công của dự án
và đạt được hiệu quả đầu tư
(i) Mục tiêu của chuyển giao rủi ro
Việc phân bổ rủi ro cho các bên trong hợp đồng và quản lý rủi ro đó là trọng
Trang 19tâm của kế hoạch dự án PPP (ESCAP, 2011) Mục tiêu của việc chuyển giao rủi ro:
Để cải thiện chất lượng dịch vụ (Michel, 2003); để giảm chi phí dài hạn của một dự
án bằng cách phân bổ rủi ro cho bên tốt nhất có thể để quản lý một cách hiệu quảnhất về chi phí (Michel, 2003); chắc chắn về thời gian (Mohammed và cộng sự,2012); tăng doanh thu và tăng hiệu quả đầu tư thông qua hoạt động hiệu quả(Mohammed và cộng sự, 2012)
(ii) Nguyên tắc của chuyển giao rủi ro
Nguyên tắc 1: Rủi ro phải được hiểu bởi tất cả các bên tham gia để chia sẻ
trách nhiệm, rủi ro và để tất cả các bên có thể tích cực quản lý và kiểm soát (WB,2007)
Nguyên tắc 2: Cần thiết lập được một danh mục đầy đủ các yếu tố rủi ro trong các dự án hình thức hợp tác công tư (Shen và cộng sự, 2006).
Nguyên tắc 3: Mỗi rủi ro cần phân bổ cho bên tốt nhất có thể kiểm soát tác
động của rủi ro tới kết quả dự án, và do đó đảm bảo rằng kết quả thực tế gần nhất cóthể so với kết quả mong đợi (Padiyar, 2004)
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc cốt lõi của bất kỳ dự án PPP thành công là mỗi rủi
ro cần được phân bổ cho bên có khả năng kiểm soát rủi ro với chi phí thấp nhất(Padiyar, 2004)
Tóm lại, nguyên tắc cốt lõi của việc phân bổ rủi ro trong hình thức PPP là các yếu tố rủi ro cần được xác định và sau đó phân bổ cho bên có khả năng quản lý các yếu tố rủi ro đó tốt nhất.
2.1.4 Quản lý rủi ro trong các dự án PPP
Quản lý rủi ro có hệ thống cho phép phát hiện sớm các rủi ro và khuyếnkhích các bên liên quan theo hình thức PPP xác định, phân tích, định lượng và ứngphó các rủi ro cũng như có biện pháp để giảm nhẹ rủi ro (Broome và Perry, 2002;Akbiyikli và Eaton, 2004)
Trang 20Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất quy trình quản lý rủi ro gồm 3 bước chính: xác định rủi ro; ứng phó với rủi ro; và kiểm soát rủi ro
(1) Xác định rủi ro quá trình này bao gồm xác định và đánh giá mức rủi ro
bằng phương pháp phân tích định tính, định lượng dựa trên cơ sở sử dụng bảng hỏi (danh mục các yếu tố rủi ro) để phỏng vấn và thu thập số liệu điều tra các bên chịu
tác động bởi rủi ro Trong đó, mức rủi ro của mỗi yếu tố rủi ro được đo lường bằng cách nhân xác suất xảy ra với mức độ tác động của yếu tố rủi ro đó
(2) Ứng phó với rủi ro sử dụng phương pháp phân bổ (chuyển giao) rủi ro
để ứng phó với rủi ro.
Nếu tiếp cận quy trình quản lý rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức
PPP theo hướng tiêu cực thì nội dung cụ thể của ứng phó với rủi ro là giảm nhẹ rủi
ro hoặc loại bỏ rủi ro Nhưng, nếu tiếp cận theo quy trình quản lý rủi ro trong các
dự án theo hình thức PPP với quan niệm bao hàm cả tiêu cực và cơ hội thì ứng phó với rủi ro sẽ sử dụng bao gồm cả phương pháp phân bổ rủi ro, với nguyên tắc "rủi
ro nên được quản lý bởi bên có khả năng quản lý rủi ro đó tốt nhất".
(3) Kiểm soát rủi ro đã được chuyển giao trong mỗi bên trong các dự án đầu
tư theo hình thức PPP
2.2 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
2.2.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP
Danh mục đầy đủ các yếu tố rủi ro sẽ là công cụ giúp các nhà đầu tư trongcác dự án đầu tư theo hình thức PPP ứng phó, kiểm soát rủi ro, giảm nhẹ hậu quảtiềm tàng và mang lại thành công cho các dự án
Tác giả đã xem xét các tài liệu, công trình nghiên cứu về xác định (nhậndiện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP phát triển CSHT ở các quốc giavới quan niệm rủi ro đơn giản là tiêu cực, hay bao gồm cả tiêu cực và cơ hội, trênphương diện lý luận và thực tiễn
Trang 21Cristina và Jonathan (2007) nghiên cứu về rủi ro ảnh hưởng tới các dự ántheo hình thức PPP và đánh giá kinh nghiệm của Mỹ trong việc áp dụng hình thứcPPP, cũng như các yếu tố rủi ro quan trọng trong hình thức PPP phát triển CSHT,căn cứ theo nguồn phát sinh rủi ro đã chia rủi ro thành hai loại rủi ro thông thường
cả tiêu cực và cơ hội
Sachs và cộng sự (2007) với bài viết phân tích rủi ro chính trị và cơ hội tronghình thức PPP ở Trung Quốc và một số nước châu Á (được lựa chọn) Sachs vàcộng sự (2007) đã phân loại rủi ro thành hai nhóm căn cứ vào nguồn phát sinh rủi
ro, bao gồm: rủi ro có thể bảo hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm Trên cơ sở danhmục rủi ro được xác định, để định lượng rủi ro Sachs và cộng sự thực hiện khảo sát
14 nước châu Á bằng việc sử dụng bảng hỏi để xác định (nhận diện) rủi ro Sachs vàcộng sự đã xác định được các yếu tố rủi ro bằng phương pháp nghiên cứu địnhlượng chỉ với 29 phiếu khảo sát trả lời
Wang và cộng sự (2000) nghiên cứu xác định danh mục các yếu tố rủi rotrong các dự án BOT tại Trung Quốc Wang và cộng sự dựa vào nghiên cứu tài liệu
và nghiên cứu điển hình ở một số dự án BOT tại Trung Quốc vào những năm 1990
đã đưa ra một danh mục các yếu tố rủi ro với 6 loại rủi ro căn cứ vào nguồn gốcphát sinh, và với quan niệm rủi ro là tiêu cực
Ke và Wang (2010a) nghiên cứu về xác định (nhận diện) rủi ro trong các dự ánphát triển CSHT giao thông Trung Quốc theo hình thức PPP Trên cơ sở danh mục
34 yếu tố rủi ro được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đó thông qua phương phápchuyên gia Ke và cộng sự bổ sung thêm 3 yếu tố rủi ro
Để đo lường mức độ rủi ro, các nghiên cứu trước đều thống nhất đo lường rủi
Trang 22ro bằng cách nhân sác xuất xảy ra rủi ro với mức độ tác động của rủi ro đó (Li vàcộng sự, 2005; Ke và Wang, 2010; Padiyar, 2004; Philippe Burger và cộng sự,2009; Zou và cộng sự, 2008)
2.2.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP
CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh Trên cơ sở tổng hợp danh mục các yếu tố rủi ro từ cácnghiên cứu trước đó tác giả tiến hành xây dựng bảng hỏi phân bổ rủi ro Sau
đó, tác giả tiến hành phát ra 500 phiếu khảo sát đến các bên liên quan trong các dự
án phát triển CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh, và thu về 53 phiếu Trên cơ sởkết quả khảo sát, tác giả sử dụng phương pháp 50% phân bổ các yếu tố rủi ro chocác bên tham gia dự án PPP/PFI ở Vương quốc Anh
Kết quả nghiên cứu, Li và cộng sự chỉ ra 5 yếu tố rủi ro sẽ do Nhà nước đảm nhiệm, bao gồm: Quốc hữu hóa/sung công; quá trình ra quyết định công yếu kém;
xung đột chính trị; rủi ro độ tin cậy của Chính phủ; thất bại hoặc chậm trễ trong thuhồi đất Với thời gian dài ổn định chính trị trong lịch sử đương đại của chính phủAnh, rủi ro chính trị có xu hướng trở thành một tác động nhỏ trong các dự án xâydựng hình thức PPP/PPI ở Anh và Nhà nước có thể quản lý chúng với một chi phítương đối thấp Vì vậy, ít có khả năng phân bổ chúng cho đối tác tư nhân Rủi rothất bại hoặc chậm trễ trong thu hồi đất được giữ lại bởi Nhà nước, kể từ khi chínhphủ Anh có kinh nghiệm và nguồn lực để đối phó với rủi ro này Rủi ro thu hồi đấtcũng có xu hướng được quản lý bởi Nhà nước trong các dự án PPP ở nước ngoài.Mặc dù hầu hết các câu trả lời khảo sát đồng ý rằng rủi ro thu hồi đất nên được phân
bổ cho Nhà nước, nhưng vẫn còn một tỷ lệ tương đối lớn số người được hỏi (27%)cho rằng rủi ro này cần được chia sẻ
Kết quả khảo sát cho thấy rằng với 70% của tất cả các yếu tố rủi ro, các yếu
tố rủi ro được đưa vào danh mục tốt nhất nên phân bổ cho đối tác tư nhân Điều này
cho thấy rằng trong các dự án phát triển CSHT theo hình thức PPP/PFI ở Anh đã đạtđược mục tiêu của chuyển giao rủi ro cho đối tác tư nhân
Trang 23Rủi ro bất khả kháng, rủi ro thay đổi khuôn khổ pháp lý cần được chia sẻ bởi
cả hai bên.
Để các dự án theo hình thức PPP đạt được hiệu quả đầu tư Nhà nước và đối tác
tư nhân cần phải thống nhất phân bổ các yếu tố rủi ro trước khi ký kết hợp đồng dự án.Kết quả nghiên cứu phân bổ rủi ro ở trên sẽ là gợi ý giúp các bên đối tác tham gia trongcác dự án theo hình thức PPP hiểu rõ về rủi ro và phân bổ các yếu tố rủi ro
- Ke và cộng sự (2010b) nghiên cứu về phân bổ rủi ro trong các dự án đầu tư
theo hình thức PPP ở Trung Quốc Ke và cộng sự (2010b) sử dụng phương phápchuyên gia với bảng hỏi khảo sát phân bổ các yếu tố rủi ro (được xác định từ nghiêncứu trước đó - Ke và cộng sự, 2010a) Tổng cộng 46 bảng hỏi khảo sát phân bổ rủi
ro phù hợp được sử dụng trong nghiên cứu định lượng phân bổ rủi ro với phươngpháp nửa điều chỉnh
Kết quả nghiên cứu bằng bảng hỏi khảo sát chuyên gia cho thấy các yếu tố rủi ro Nhà nước cần quản lý gồm: Quốc hữu hóa và sung công; rủi ro độ tin cậy của
Chính phủ; quá trình ra quyết định công yếu kém; xung đột chính trị; tham nhũngcủa quan chức chính phủ; rủi ro khi thay đổi khuôn khổ pháp lý; thay đổi trong quyđịnh về thuế, đấu thầu không cạnh tranh,
Các yếu tố rủi ro được chia sẻ giữa hai bên, chủ yếu bao gồm các rủi ro về
điều phối: Rủi ro bất khả kháng; rủi ro lãi suất; rủi ro lạm phát; phân bổ rủi ro tronghợp đồng cho hai bên không phù hợp; thiếu kinh nghiệm trong hoạt động PPP; thiếucam kết từ một trong hai đối tác; rủi ro trong tổ chức và điều phối; rủi ro về độ tincậy của bên thứ ba; rủi ro về lượng cầu; rủi ro hợp đồng thay đổi
Đối tác tư nhân đảm nhận phần lớn các yếu tố rủi ro gồm những rủi ro chủ
yếu như: Rủi ro về giảm khả năng cung cấp vốn và với chi phí cao; rủi ro về khảnăng thu hút tài chính của dự án; rủi ro về kỹ thuật; rủi ro thiết kế; rủi ro về chi phí
và thời gian xây dựng, vận hành và bảo trì cao hơn dự kiến; rủi ro lao động; vàchậm trễ trong cung ứng vật tư, máy móc thiết bị; rủi ro thay đổi nhà đầu tư tư nhân
Trang 24- Chan và cộng sự (2011) Nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ
rủi ro các dự án hợp tác công tư tại Trung Quốc Tổng cộng 34 yếu tố rủi ro, Chan vàcộng sự đã nghiên cứu định lượng phân bổ rủi ro với quan điểm thực nghiệm với 105phiếu khảo sát Để kiểm định độ tin cậy của những người được hỏi, tác giả đã dùng hệ
số tương quan Kendall cho các nhóm khảo sát: tư nhân, Nhà nước, chuyên gia Tác giả
đề xuất Phân bổ chủ yếu cho Nhà nước, chia sẻ rủi ro, chủ yếu cho Tư nhân; với thangLikert 5 điểm, tác giả phân bổ cho Nhả nước với điểm trung bình nhỏ hơn 2,875, từ2,875 đến 3,125 phân bổ chia sẻ, lớn hơn 3,125 phân bổ cho Tư nhân
Kết quả nghiên cứu, tác giả đã phân bổ cho khu vực công và tư của 2 nhómkhảo sát Theo đó, khu vực công được phân bổ: 14 rủi ro cho Nhà nước, 12 chia sẻ,
8 cho tư nhân; khu vực Tư nhân được phần bổ: 14 cho Nhà nước, 3 chia sẻ, 17 cho
tư nhân; tổng hợp 2 khu vực: 15 phân bổ cho Nhà nước, 1 chia sẻ, 18 phân bổ cho
tư nhân
Với cách phân bổ này, các dự án PPP cần được phân bổ mạnh, rõ ràng để cácbên tính toán trong việc kiểm soát rủi ro ngay từ khi ký hợp đồng thực hiện dự án
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước
Với sự hiểu biết và cố gắng nghiên cứu của tác giả, trong nước có rất ít cáccông trình nghiên cứu về xác định và phân bổ rủi ro các dự án đầu tư theo hình thứcđối tác công tư (PPP)
2.3.1 Xác định (nhận diện) và đo lường mức rủi ro trong hình thức PPP
Trịnh Thùy Anh (2006) "Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rủi ro trong các
dự án xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam" với quan niệm rủi ro là tiêu cựchoặc những tác động bất lợi đến các dự án công trình giao thông Tác giả đã thiết lậpmột danh mục rủi ro và đưa ra một số giải pháp quản lý rủi ro trong các dự án xây dựngcông trình giao thông ở Việt Nam Tuy nhiên, danh mục các yếu tố rủi ro mà tác giảđưa ra chưa được các nghiên cứu trước đó chứng minh (thang đo chưa được kiểmđịnh) Phạm vi nghiên cứu của tác giả là rủi ro trong các dự án xây dựng công
Trang 25trình giao thông với hình thức đầu tư truyền thống (Nhà nước chịu toàn bộ rủi ro).
Do đó, trong nghiên cứu chỉ xuất hiện một số rủi ro đặc trưng của hình thức này như
"bất bình đẳng do cơ chế xin cho; doanh nghiệp chạy theo thành tích; thủ tục trongthanh toán kéo dài; tiêu cực trong xây dựng cơ bản, " Vì vậy, trong phạm vinghiên cứu chưa đề cập đến các yếu tố rủi ro mang tính đặc trưng của hình thức PPPnhư "phân bổ rủi ro trong hợp đồng cho hai bên công tư không phù hợp; thiếu kinhnghiệm trong hoạt động PPP; rủi ro giá trị còn lại, "
Trên cơ sở các nghiên cứu nước ngoài trước đó, Thân Thanh Sơn (2015)trong nghiên cứu phân bổ rủi ro trong hình thức hợp tác công tư phát triển cơ sở hạtầng giao thông đường bộ Việt Nam đã tổng hợp 46 yếu tố rủi ro trong 8 loại rủi ro
để thực hiện nghiên cứu định tính Sau phỏng vấn sâu các chuyên gia và đã nhậndiện 54 yếu tố rủi ro để thực hiện nghiên cứu định lượng Thang Likert 5 điểm được
đo lường xác suất và mức độ tác động với 102 phiếu khảo sát hoàn chỉnh Sau khitiến hành phân tích số liệu khảo sát (Crobat Alpha, EFA), tác giả đã xác định và đolường mức rủi ro của 51 yếu tố rủi ro
Trần Nguyễn Ngọc Cương (2015) bài viết “Bước chuyển trong cơ chế quản
lý rủi ro cho các dự án PPP” đã đưa ra các rủi ro chính trong dự án PPP thường baogồm: (i) Rủi ro chính trị; (ii) Rủi ro thương mại; (iii) Rủi ro công nghệ; (iv) Rủi romôi trường vá xã hội; (v) Rủi ro tài chính và hoái đoái; (vi) Rủi ro liên quan đếnkhuôn khổ pháp lý; (vii) Rủi ro bất khả kháng; và (viii) Rủi ro khác bao gồm cảquản lý lực lượng lao động Tuy nhiên, Trần Nguyễn Ngọc Cương chưa đưa ra danhmục các rủi ro cụ thể và chưa có nghiên cứu phương pháp đo lường các rủi ro
2.3.2 Phân bổ rủi ro trong hình thức PPP
Phan Thị Bích Nguyệt (2013) “PPP – Lời giải cho bài toán vốn để phát triển cơ
sở hạ tầng giao thông đô thị tại TP Hồ Chí Minh” đã đưa ra đề xuất phân bổ rủi ro hợp
lý cho các bên trong các dự án PPP Theo đó, để quản trị rủi ro tối ưu cần phải xác định
và phân loại các rủi ro; các nguyên tắc phân bổ rủi ro cho các dự án PPP giao thôngđường bộ phải duy trì tính minh bạch để bảo đảm có thể quản lý được các
Trang 26rủi ro, phân bổ nhiệm vụ và rủi ro cho bên nào có khả năng quản lý tốt nhất đối vớitừng loại rủi ro Tuy nhiên, nghiên cứu trên mang tính định hướng, chưa có phươngpháp phân bổ rõ ràng
Trần Nguyễn Ngọc Cương (2015) trong bài viết “Bước chuyển trong cơ chếquản lý rủi ro cho các dự án PPP” cho rằng cách thức phân bổ rủi ro chính xác đượcxác định theo từng trường hợp cụ thể tùy theo khả năng tiếp cận, kiểm soát và xử lýrủi ro của bên đối tác thuộc khu vực công hay đối tác khu vực tư nhân Nguyên tắcquan trọng nhất trong các cơ chế phân bố rủi ro trong quan hệ đối tác công – tư làrủi ro được tách nhỏ, lượng hóa và phân bổ cho bên có khả năng quản lý rủi ro mộtcách tốt nhất Hợp đồng đối tác công – tư được quản lý rủi ro tốt sẽ phân bổ rủi rotối ưu giữa khu vực công và khu vưc tư nhân, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn lực Tuy nhiên, bài viết nêu cách phân bổ rủi ro chỉ mang tính địnhhướng và chưa có phương pháp tính toán rõ ràng
Thực hiện phân bổ rủi ro cho 51 yếu tố rủi ro (sau khi xác định và đo lường mứcrủi ro), Thân Thanh Sơn (2015) tiến hành nghiên cứu định lượng với thang Likert
5 điểm, 102 phiếu khảo sát Kết quả phân tích EFA và sử dụng phương pháp nửa điềuchính, tác giả đã tiến hành phân bổ chuẩn cho tư nhân 20 rủi ro, Nhà nước 10 rủi ro, chia sẻ
21 rủi ro và so sánh thực tế phân bổ các yếu tố rủi ro: tư nhân 13, Nhà nước 10, chia sẻ 28rủi ro Bên cạnh đó, Thân Thanh Sơn (2015) cũng đưa ra một số giải
pháp để quản lý rủi ro cho các dự án phát triển hạ tầng đường bộ Việt Nam theohình thức PPP Tuy nhiên, đề tài của tác giả chỉ giải quyết phân bổ rủi ro cho lĩnhvực giao thông đường bộ và trên phạm vi cả nước Một số địa phương với điều kiệnkinh tế – xã hội và tính đặc thù riêng, tất sẽ có các rủi ro khác nhau và sự phân bổcũng khác nhau
2.4 Kết quả rút ra từ các nghiên cứu trước
Có rất nhiều nghiên cứu trong phát triển CSHT theo hình thức PPP vớinhững mục đích và mức độ khác nhau cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
Các nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ khái niệm rủi ro của hình thức PPP
Trang 27Tuy nhiên, vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất Một số nhà nghiên cứu mô
tả rủi ro với những hậu quả tiêu cực, trong khi các nhà nghiên cứu khác cho rằng rủi
ro bao gồm cả tiêu cực và cơ hội
Tiếp đến, các nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm với các mục tiêu khác
nhau đều thực hiện việc phân loại rủi ro trong các dự án theo hình thức PPP: Theo các giai đoạn phát triển của dự án; theo góc độ của các bên liên quan; căn cứ vào nguồn phát sinh rủi ro.
Nhìn chung, các nghiên cứu đều thống nhất quy trình quản lý rủi ro gồm 3
bước chính: Xác định rủi ro; ứng phó với rủi ro; và kiểm soát rủi ro.
Về xác định và đo lường mức rủi ro các yếu tố rủi ro, tác giả nhận thấy có
điểm thống nhất chung ở một số rủi ro giữa các quốc gia phát triển và đang pháttriển Tuy nhiên, một số yếu tố rủi ro chỉ xuất hiện ở các quốc gia đang phát triểnnơi thiếu các luật quốc gia về PPP, tình trạng tham nhũng còn tồn tại, vẫn xảy ra rủi
ro trong phê duyệt và cấp giấy phép dự án, Trong phạm vi của mỗi quốc gia có
điều kiện chính trị - luật pháp - kinh tế - xã hội khác nhau có thể cũng sẽ xuất hiệnmột số yếu tố rủi ro khác nhau Các nghiên cứu trước đều thống nhất cách đo lườngMức rủi ro bằng cách nhân Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tác động của rủi ro đó
Đối với việc phân bổ (chuyển giao) rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình
thức PPP của các quốc gia cũng được các nghiên cứu thực hiện, sử dụng cácphương pháp: Phương pháp 50% (Li và cộng sự, 2005); phương pháp nửa điềuchỉnh (Ke và cộng sự, 2010); phương pháp điều chỉnh 3Chan và cộng sự,2011) Kết quả cho thấy, một số yếu tố rủi ro phân bổ cho các bên đối tác có sựthống nhất chung, tuy nhiên, kết quả phân bổ của một số yếu tố rủi ro lại có sự khácbiệt Bởi vì, hình thức PPP phụ thuộc rất nhiều vào môi trường đầu tư, đặc biệt là hệthống chính trị, luật pháp và kinh tế, xã hội
Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu trước, sử dụng quan niệm rủi
ro bao hàm cả các yếu tố rủi ro có tác động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự
Trang 282.5 Mô hình nghiên cứu
Luận văn sử dụng mô hình Nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ rủi ro các dự án hợp tác công - tư tại Trung Quốc của Chan và cộng sự (2011).
Sau khi tiến hành nghiên cứu tài liệu mở rộng và tham vấn các chuyên gia tronglĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM (Sở Kế hoạch và đầu tư TP HCM, SởGiao thông vận tải, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Văn hóa – Thể thao, Sở Xâydựng, một số Nhà đầu tư đã tham gia đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM, các nhànghiên cứu tại một số trường đại học, ), sử dụng quan niệm rủi ro bao hàm cả các yếu
tố rủi ro có tác động tiêu cực hoặc cơ hội tới mục tiêu của dự án (về thời gian, chi phí,chất lượng và lợi nhuận), và phân loại rủi ro dựa vào nguồn gốc của rủi ro, luận văn đãtổng hợp được một danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thứcđối tác công tư (PPP) tại TP HCM gồm 58 yếu tố rủi ro và được nhóm vào 9 nhóm rủi
ro (Bảng 2.1), nội dung các rủi ro được thể hiện ở Phụ lục B
Một cuộc khảo sát dùng thang Likert 5 điểm để đo lường 4 mức độ: Mức độxảy ra rủi ro (xác suất), Mức độ tác động của rủi ro, Thực trạng phân bổ rủi ro, Phân
bổ rủi ro hợp lý cho từng yếu tố rủi ro trong các dự án đầu tư theo hình thức đối táccông tư (PPP) tại TP HCM
Kiểm định tương quan Kendall với mức ý nghĩa 1% được sử dụng để đánhgiá độ tin cậy của mẫu khảo sát ứng với 4 mức độ được đo lường (Chan và cộng sự,2011)
Đo lường “Mức rủi ro” bằng cách nhân Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tácđộng của rủi ro, sau đó xếp hạng và đánh giá rủi ro quan trọng nhất (Chan và cộng
sự, 2011)
Trang 29Shen Ibrah Yuan Singh
Trang 31Shen Ibrah Yuan Singh Hwan Chou Chan Herav
E Nhóm rủi ro trong phát triển dự án
Trang 32hồi đất
F Nhóm rủi ro tài chính của dự án
đầu tư
Trang 33Shen Ibrah Yuan Singh Hwan Chou Chan Herav
G Nhóm rủi ro trong xây dựng
thầu cung ứng
Trang 348 43
Chậm trễ trong cung ứng vật tư,
máy móc thiết bị
Trang 35Shen Ibrah Yuan Singh Hwan Chou Chan Herav
I Nhóm rủi ro trong điều phối
1 54
Phân bổ rủi ro và trách nhiệm
không đầy đủ
Trang 37Phân bổ rủi ro: Thực trạng phân bổ rủi ro và Phân bổ rủi ro hợp lý theophương pháp điểm trung bình của mỗi yếu tố rủi ro: nhỏ hơn 2,875, phân bổ choNhà nước; từ 2,875 đến 3,125, phân bổ chỉa sẻ; lớn hơn 3,125, phân bổ cho Tư nhân(Chan và cộng sự, 2011).
Trên cơ sở phân tích mô hình nghiên cứu của Chan và cộng sự (2011), Tácgiả xây dựng mô hình nghiên cứu như Hình 2.1
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá và phân bổ các yếu tố rủi ro trong các dự án PPP tại TP HCM
RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC PPP TẠI TP HCM
XÁC ĐỊNH (NHẬN DIỆN) RỦI RO
rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro rủi ro
chính yếu tố (5 yếu kiện triển của dự dựng trình phối
ĐÁNH GIÁ MỨC RỦI RO
58 yếu tố rủi ro
PHÂN BỔ RỦI RO Rủi ro phân bổ cho Rủi ro chia sẻ giữa Rủi ro phân bổ cho đối phía Nhà nước Nhà nước và Tư nhân tác Tư nhân
Trang 38Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu
Bước 1 Nghiên cứu định tính trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu
khoa học trước đó, tình huống nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn để khámphá kiến thức, tìm hiểu cơ sở lý luận, khung phân tích (71 yếu tố rủi ro)
Bước 2 Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia
(phỏng vấn sâu) nhằm điều chỉnh, bổ sung danh mục các yếu tố rủi ro trong các dự
án đầu tư theo hình thức PPP tại TP HCM (58 yếu tố rủi ro)
Bước 3 Xây dựng bảng hỏi nghiên cứu định lượng (58 yếu tố rủi ro), dùng
thang Likert 5 điểm để đo lường 4 mức độ: Mức độ xảy ra rủi ro, Mức độ tác độngcủa rủi ro đến dự án, Thực trạng phân bổ rủi ro, Phân bổ rủi ro hợp lý trong các dự
án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại TP HCM
Bước 4 Tiến hành khảo sát, cở mẫu N=100 (Li và cộng sự, 2005 với 53 quan
sát; Ke và cộng sự 46 quan sát, Chan và cộng sự 105 phiếu khảo sát), khảo sát trên 4đối tượng: Quản lý Nhà nước, Nhà đầu tư, tổ chức cho vay, và chuyên gia trong lĩnhvực đầu tư theo hình thức PPP
Bước 5 Tổng hợp số liệu khảo sát, kiểm định tương quan Kendall với mức ý
nghĩa 1% để đánh giá độ tin cậy của mẫu khảo sát ứng với 4 mức độ được đo lường(Chan và cộng sự, 2011)
Bước 6 Đánh giá “Mức rủi ro” của các yếu tố bằng cách nhân điểm trung bình Mức độ xảy ra rủi ro với Mức độ tác động của rủi ro, sau đó xếp hạng và nhận
định rủi ro quan trọng (Chan và cộng sự, 2011)
Bước 7 Phân bổ rủi ro: Thực trạng phân bổ rủi ro và Phân bổ rủi ro hợp lý
theo phương pháp điểm trung bình của mỗi yếu tố rủi ro: nhỏ hơn 2,875, phân bổcho Nhà nước; từ 2,875 đến 3,125, phân bổ chỉa sẻ; lớn hơn 3,125, phân bổ cho Tưnhân (Chan và cộng sự, 2011)
Trang 39Bước 8 Nhận định, so sánh và bình luận về kết quả nghiên cứu.
Bước 9 Đề xuất, khuyến nghị nâng cao hiệu quả kiểm soát các yếu tố rủi ro
từ kết quả nghiên cứu.
Phần II: Ý kiến đánh giá của người được khảo sát Phần này nhằm đo lường:Mức độ xảy ra rủi ro, Mức độ tác động của rủi ro, Thực trạng phân bổ rủi ro và Đềxuất phân bổ rủi ro hợp lý theo ý kiến của người được khảo sát cho 58 yếu tố rủi ro.Thang Likert 5 điểm được sử dụng để đánh giá: Mức độ xảy ra rủi ro ứng với mức 1
là khả năng xảy ra rủi ro rất thấp, mức 5 là khả năng xảy ra rủi ro rất cao; Mức độtác động ứng với mức 1 là tác động rất thấp đến dự án, mức 5 là tác động rất caođến dự án; Thực trạng phân bổ rủi ro ứng với mức 1 là khu vực công chịu nếu rủi roxảy ra, mức 5 là khu vực tư nhân chịu nếu rủi ro xảy ra; Đề xuất phân bỏ rủi ro hợp
lý ứng với mức 1 là phân bổ cho khu vực công (Nhà nước) nếu rủi ro xảy ra, mức 5
là phân bổ cho khu vực tư nhân nếu rủi ro xảy ra
Phần III: Câu hỏi mở Phần này hỏi thêm về rủi ro lớn nhất và đề xuất hướnggiải quyết của người được hỏi
Chi tiết bảng hỏi được thể hiện Phụ lục C
3.3 Lựa chọn mẫu khảo sát
Về kích thước mẫu, theo Hair và cộng sự (1998) trong phân tích nhân tố khámphá EFA thì kích thước mẫu 100 đơn vị Đồng thời, kinh nghiệm về số quan sát đưavào phân tích định lượng của các nghiên cứu xác định và phân bổ rủi ro đã được tổng
Trang 40quan: Li và cộng sự, 2005b với 53 quan sát; Ke và cộng sự, 2010b với 46 quan sát;
Ke và cộng sự, 2010c với 34 quan sát; Chan và cộng sự, 2011 với 105 quan sát; Trên cơ sở đó, trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn kích thước mẫu là 100 quansát
Về đối tượng khảo sát phải đủ các bên tham gia trong các dự án PPP tại TP.HCM và đảm bảo tỷ trọng Các bên tham gia và tỷ trọng dự kiến: Quản lý nhà nước30%; Nhà đầu tư, Doanh nghiệp dự án 50%; Tổ chức cho vay vốn 10%; Nhà nghiêncứu, chuyên gia 10%
Những người được khảo sát là người trực tiếp quản lý các dự án mà Cơ quancủa họ đã hoặc đang tham gia các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)tại TP HCM Các dự án mà cơ quan của họ tham gia có tiến độ xa nhất từ đang xúctiến dự án trở lên phải đảm bảo 80% trên tổng những người trả lời
3.4 Thu thập dữ liệu
Để tiến hành khảo sát thông tin, tác giả đã thu thập danh sách 190 nhà đầu tư,doanh nghiệp dự án đã và đang thực hiện hoặc quan tâm các dự án đầu tư theo hìnhthức đối tác công tư tại TP HCM (Phụ lục D); 35 cơ quan quản lý Nhà nước (Phụlục E) Với nội dung phiếu khảo sát, 10 điều tra viên được tập huấn để thực hiệncuộc khảo sát
Đối tượng khảo sát được tập trung vào 4 đối tượng: Quản lý Nhà nước; Nhàđầu tư, doanh nghiệp dự án; Tổ chức tín dụng; Nhà nghiên cứu, chuyên gia
Phương pháp thu thập dữ liệu được tiến hành qua 4 kênh thông tin: Phỏngvấn trực tiếp, Phát bảng hỏi trực tiếp đến đối tượng khảo sát (bản giấy), Phát hànhbảng hỏi qua Email và Khảo sát trực tuyến (Google Drive)
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu
Sử dụng phần mền Excel để nhập dữ liệu và phần mền SPSS để phân tích dữliệu sau khi chọn lọc những phiếu khảo sát đạt yêu cầu về nội dung