1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của báo cáo tài chính thực nghiệm tại các công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

113 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 315,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỖ HOÀNG ANH THƯ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ TIN CẬY CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH: THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN SỞ GDCK TP.HCM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP

Trang 1

ĐỖ HOÀNG ANH THƯ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ TIN CẬY CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH: THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN SỞ GDCK TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

ĐỖ HOÀNG ANH THƯ

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ TIN CẬY CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH: THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN SỞ GDCK TP.HCM

Trang 3

Chuyên ngành Kế toán – Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam

đoan luận văn Thạc sĩ với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của Báo

cáo tài chính: Thực nghiệm tại các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP HCM” là kết quả của quá trình nghiên cứu độc lập của cá nhân

tôi dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Mỹ Hạnh Các số liệu trong bài luận văn là

do chính tác giải thu thập, thống kê và xử lý một cách trung thực, trích dẫn nguồn rõràng Kết quả của bài nghiên cứu này là trung thực và chưa từng được công bố ởbất kỳ công trình nghiên cứu khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan trên

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018

Học viên

Đỗ Hoàng Anh Thư

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa nghiên cứu 5

7 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.2 Các nghiên cứu trong nước 10

1.3 Khe hổng nghiên cứu 11

1.4 Định hướng nghiên cứu 12

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14

2.1 Một số vấn đề chung về Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính và độ tin cậy 14

2.1.1 Một số vấn đề chung liên quan đến báo cáo tài chính 14

2.1.2 Yêu cầu về độ tin cậy đối với báo cáo tài chính 20

2.1.3 Sự cần thiết về độ tin cậy của BCTC 21

Trang 5

2.2.2 Đặc điểm công ty có vốn đầu tư nước ngoài 24

2.3 Các lý thuyết nền tảng liên quan 25

2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agencytheory) 25

2.3.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng 26

2.3.3 Lý thuyết về hành vi gian lận 27

2.3.4 Lý thuyết tín hiệu 28

2.3.5 Lý thuyết lợi ích cá nhân 28

2.3.6 Lý thuyết về lợi ích và chi phí 29

2.4 Các nhân tố tác động đến độ tin cậy của một báo cáo tài chính 29

2.4.1 Chất lượng công ty được chọn làm kiểm toán 30

2.4.2 Lợi nhuận trên cổ phiếu 31

2.4.3 Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nước ngoài 32

2.4.4 Doanh thu 33

2.4.5 Quy mô công ty dựa trên tổng tài sản 33

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÍNH NGHIÊN CỨU 36

3.1 Quy trình nghiên cứu 36

3.2 Khung phân tích nghiên cứu 39

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 39

3.2.2 Giả thuyết trong mô hình nghiên cứu 39

3.3 Đo lường các biến nghiên cứu 42

3.3.1 Đo lường biến phụ thuộc - Độ tin cậy của BCTC 42

3.3.2 Đo lường các biến độc lập 43

3.4 Thiết kế nghiên cứu 45

3.4.1 Mẫu nghiên cứu 45

3.4.2 Dữ liệu nghiên cứu 46

Trang 6

4.1 Thực trạng độ tin cậy BCTC của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài 50

4.1.1 Thực trạng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK tại TP HCM 50

4.1.2 Kết quả thống kê mô tả 51

4.1.3 Phân tích tương quan giữa các biến 53

4.1.4 Phân tích hồi quy đa biến 54

4.1.5 Kiểm tra kết quả hồi quy 55

4.2 Bàn luận kết quả 58

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 62

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Hàm ý nghiên cứu 64

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 66

5.3.1 Hạn chế của đề tài 66

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

CTNY Công ty niêm yết

Trang 8

Bảng 4.1 Thống kê ngành nghề công ty khảo sát 47 Bảng 4.2 Phân tích cụ thể theo từng ngành 48

Trang 9

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu 36

Hình 4.1 Thống kê mô tả các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của BCTC 49

Hình 4.2 Thống kê mô tả nhân tố công ty Kiểm toán. 50

Hình 4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 51

Bảng 4.4 Kết quả mô hình hồi quy 52

Hình 4.5 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 53

Hình 4.6 Kiểm định Wald Test 54

Hình 4.7 Phân tích dự báo chính xác của mô hình 55

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

Thông tin tài chính hay thông tin kế toán có thể được xem là thành phần quantrọng của thông tin quản lý, đảm nhận vai trò chính yếu cho quản lý nguồn lực tàichính của doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết Vì vậy, nâng cao chấtlượng thông tin tài chính sẽ giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp để các nhàđầu tư tạo ra một thị trường hiệu quả Chất lượng thông tin kế toán nói chung hay

độ tin cậy của thông tin kế toán nói riêng do kế toán cung cấp được coi là một trongnhững tiêu chuẩn để đảm bảo khả năng mang lại hiệu quả kinh doanh cho các nhàquản trị Trong thời gian vừa qua, rất nhiều sự kiện thực tế liên quan đến việc côngkhai báo cáo tài chính kém chất lượng, thiếu trung thực, chưa đầy đủ và kịp thờitheo quy định của pháp luật Điều này gây tác động xấu đến thị trường tài chính và

có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu

Dẫn chứng cho thực trạng này, phải kể đến một số sự kiện xảy ra ở các nướcphát triển như Mỹ, Nhật.Ủy ban Hối đoái và Chứng khoán Mỹ (SEC) đã điều traEnron, WorldCom và Xerox và các hoạt động kế toán “bất bình thường” ở hãngQwest Communications Trong đó, SEC đã khẳng định các quan chức của công tyXerox đã chỉ đạo một kế hoạch 4 năm nhằm thổi phồng lợi nhuận lên thêm 3 tỉ USDtrong khi công ty này tuyên bố họ đã khai khống 6,4 tỉ USD lợi nhuận trong 5 nămqua vào ngày 28/6 Con số này sau đó đã được điều chỉnh nhưng hiện vẫn còn 1.9 tỉUSD lợi nhuận được kê khai như “lợi nhuận trong tương lai” Kết quả là Xerox đã

bị phạt 10 triệu USD và buộc phải kê khai lại kết quả hoạt động trong thời gian từnăm 1997 đến năm 2000.Ở Nhật, phải kể đến Tập đoàn Toshiba với vụ scandal gianlận tài chính lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản, khi khai khống một khoản tài chính ảolên tới 151,8 tỷ yên (1,2 tỷ USD) Với quan điểm gây sức p để đạt mục tiêu doanhthu Khi không đạt, họ đã tìm mọi cách “biến lỗ thành lãi” buộc cấp dưới làm đ p sổsách với mọi thủ thuật Với sự việc này, Toshiba phải đối mặt với mức phạt lến tới

400 tỷ yên (trên 3 tỷ USD) cho các hoạt động kế toán gian lận

Trang 11

kéo dài suốt 15 năm qua (Khắc Nam, theo CNN, Guardia, NT) Tại Việt Nam, rấtnhiều các vụ việc xảy ra trong khoản thời gian gần đây gây ra tác động không nhỏđến nền kinh tế và ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào độ tin cậy củaBCTC của các doanh nghiệp (DN), đặc biệt là các DN niêm yết Điển hình là Công

ty cổ phần NTACO (ATA) vừa công bố báo cáo tài chính kiểm toán năm 2015 vớinhững số liệu gây “sốc” cho nhà đầu tư khi bất ngờ báo lỗ 426 tỷ đồng dù báo cáo

tự lập trước đó, công ty ghi nhận khoản lợi nhuận hơn 30 tỷ đồng Mới đây, Công

ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (mã TTF ) đã gây rúng động thịtrường chứng khoán và giáng một đòn choáng váng vào các cổ đông của doanhnghiệp với khoản lỗ bất ngờ lên đến cả nghìn tỷ đồng Những thông tin trên thực sự

là cú sốc lớn với nhà đầu tư khi TTF đang là cổ phiếu “nóng” trên thị trường vớitriển vọng kinh doanh được đánh giá tích cực cùng sự hỗ trợ đắc lực của Tân LiênPhát – một thành viên thuộc VinGroup Vụ việc này đã khiến cổ phiếu TTF rơi mộtmạch từ mức giá trên 40.000 đồng về dưới 10.000 đồng chỉ trong vòng 1 tháng.Một số nghiên cứu trên thế giới đã nhận định, BCTC chất lượng cao sẽ giảm

sự bất cân xứng thông tin và kết quả sẽ giảm chi phí sử dụng vốn (Glosten vàMilgrom, 1985; Amihud và Mendelson, 1986; Diamond và Verrecchia, 1991;Bhattacharya và các cộng sự, 2003 và Barth và các cộng sự, 2013) Một trongnhững yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bào cáo tài chính là độ tin cậycủa thông tin trên báo cáo tài chính Vì vậy, việc nghiên cứu về độ tin cậy của thôngtin trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy BCTC của các Công tyniêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM hiện nay là thật sự cầnthiết

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài luận án “Các nhân tố

ảnh hưởng đến độ tin cậy của Báo cáo tài chính: Thực nghiệm tại các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM.” Đây là vấn đề

mang tính thời sự, nhằm cải thiện chất lượng thông tin tài chính trên thị trường

Trang 12

chứng khoán Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy nền kinh tếphát triển.

Mục tiêu của nghiên cứu chung là nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến độ tincậy của thông tin báo cáo tài chính của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nướcngoài trên Sở GDCK Tp HCM

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là:

- Tìm hiểu thực trạng độ tin cậy BCTC của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP.HCM

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy BCTC của các Công

ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM hiện nay

- Đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậycủa báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở giaodịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng độ tin cậy BCTC của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM như thế nào?

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến độ tin cậy BCTC của Công ty niêmyết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM? Mức độ tác động của chúng?

- Những nhân tố này (Chất lượng của công ty được chọn làm kiểmtoán; Lợi nhuận trên cổ phiếu; tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của nước ngoài; Doanh thu; Quy

mô công ty dựa trên tổng tài sản) có ảnh hưởng như thế nào đến độ tin cậy của báo cáotài chính tại các công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở giao dịch chứngkhoán TP Hồ Chí Minh?

Trang 13

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của bài luận văn bao gồm Các nhân tố ảnh hưởng độtin cậy BCTC của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK

Tp HCM Luận văn sẽ nhận diện các nhân tố nào tác động đến độ tin cậy BCTCcủa các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM

Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về nội dung: Các BCTC được soát x t qua các năm và công

bố báo cáo thường niên của các công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK Tp HCM

 Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu của 166công ty niêm yết trên sàn HOSE có vốn đầu tư nước ngoài trên 5%

 Phạm vi về thời gian: các số liệu thống kê và khảo sát được thực hiện

- Báo cáo tài chính các năm 2016-2017 và của các công ty để thu thập

dự liệu cho các biến: Lợi nhuận sau thuế, Doanh thu, tổng tài sản, các khoản tiền vàtương đương tiền, nợ phải trả, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, tên công ty chịu trách nhiệm kiểm toán

- Báo cáo thường niên năm 2016-2017 của các công ty để thu thập dữliệu về tỷ lệ sở hữu cổ phần

- Lấy số liệu cho chỉ số EPS và thông tin khác trên web

www.cophieu68.vn, www.vietstock.vn

Tác giả tiến hành thu thập, phân tích, so sánh và đánh giá về các nhân tố ảnhhưởng đến độ tin cậy của BCTC của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nướcngoài trên Sở GDCK Tp HCM

Trang 14

Phương pháp thực hiện

o Phương pháp xử lý dữ liệu:

Thực hiện phân tích thống kê, mô tả, phân tích mô hình hồi quy logit, kiểmđịnh mức độ tương quan giữa các biến từ đó đưa ra kết quả cụ thể cho đề tài nghiêncứu

Tác giả sử dụng phần mềm Stata 14 để phân tích mô hình định lượng bao gồmphân tích tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc vì ưu điểm về phân tíchhồi quy Cụ thể, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích ma trận hệ

số tương quan, phân tích hổi quy tuyến tính, kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến,kiểm định Wald-test và phân tích dự báo chính xác của mô hình

o Lấy mẫu khảo sát và tiến hành thu thập dữ liệu:

Mẫu khảo sát là 166 Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP HCM

Toàn bộ dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý, làm sạch trên Microsoft OfficeExcel 2010 Sau đó, dữ liệu được đưa vào phân tích thống kê mô tả để tìm ra đặcđiểm của mẫu nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học:

Đề tài tìm hiểu rõ về các nhân tố ảnh hưởng độ tin cậy của BCTC Trên cơ sởphân tích dữ liệu nhằm đánh giá nhân tố nào có ảnh hưởng lớn đến độ tin cậy củaBCTC Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP HCM

Ý nghĩa thực tế:

Dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài mạng lại Đề tài còn là cơ sở cho việcnghiên cứu những lợi ích đáng kể cho sự gia tăng mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố đến độ tin cậy và chất lượng của các báo cáo tài chính của các Công ty niêm yết

có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP HCM

Là cơ sở để các Nhà đầu tư (NĐT), nhà quản trị công ty, Các cơ quan nhànước liên quan có cơ sở để đưa ra những đánh giá tốt hơn cho việc sử dụng thôngtin trên BCTC của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK

Trang 15

TP HCM, cung cấp cái nhìn chung cho các đối tượng cung cấp thông tin kế toán, đối tượng quản lý và sử dụng thông tin một cách tốt hơn.

7 Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu:

Phần này bao gồm lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đốitượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về các nhân tố ảnhhưởng độ tin cậy của một BCTCcủa các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nướcngoài trên Sở GDCK Tp HCM và thực trạng của việc đưa ra các nhận x t đánh giá

đó trên cơ sở đó đưa ra các kết quả đạt được

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Bao gồm trình bày các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, các lý thuyếtđược sử dụng trong nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Trình bày nội dung và phát triển các giả thuyết nghiên cứu,đưa ra mô hìnhnghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, cách thu thập vàphương pháp phân tích dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá về kết quả nghiên cứu đượcthực hiện và thảo luận về các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của một BCTCcủacác Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP HCM

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Nhận x t chung và đưa ra kết luận của vấn đề nghiên cứu, nêu được hàm ý của

đề tài và các hạn chế của nghiên cứu đồng thời định hướng cho các nghiên cứutrong tương lai

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Cho đến nay, chủ đề về chất lượng báo cáo tài chính đã được rất nhiều nhànghiên cứu quan tâm và tiến hành xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, đáng chú ý là

độ tin cậy của chất lượng lợi nhuận trông BCTC Các nhân tố tác động đến chấtlượng BCTC bao gồm các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài Các nghiên cứu tiêubiểu có thể kể đến đó là Healy, P.M (1985), Gaver và các cộng sự (1995),Holthasen và các cộng sự (1995), Habib và Azim (2008), Jamaluddin và các cộng

sự (2009), Klai (2011), Radzi và các cộng sự (2011), Dechow và các cộng sự(2011), Abed và các cộng sự (2012), Chalaki và các cộng sự (2012), Waweru vàRiro (2013),Hassan (2013), Ahmed (2013), Alves (2014), …

Những nghiên cứu trên thế giới trước đây có liên quan đến chất lượng của báo

cáo tài chính có thể kể đến nghiên cứu của Dimitropoulos và cộng sự (2009), The value relevance of financial statements and their impact on stock prices: “Evidence from Greece” International Journal of Economics and Finance, 248-265, về mối

quan hệ giữa thông tin trên BCTC và giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp Dữliệu được thu thập với mẫu là 101 công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở giaodịch chứng khoán Athens Khung thời gian kéo dài từ 1995 đến 2004 và phươngpháp được sử dụng là các mô hình hồi quy OLS Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ vốn lưuđộng trên tổng tài sản và lợi nhuận ròng bán hàng có tác động tiêu cực đến lợinhuận chứng khoán, trong khi tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản và doanh thutrên tổng tài sản ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận Ngoài ra, nghiên cứu còn chothấy rằng các điều kiện kinh doanh và các biện pháp can thiệp quản lý dẫn đến sựthay đổi thu nhập trên cổ phiếu là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượngBCTC

Ngoài ra những nghiên cứu trên thế giới trước đây về độ tin cậy và ảnh hưởngcủa nó đến chất lượng chất lượng của báo cáo tài chính: theo nghiên cứu của

McNichols và Stubben (2008) “Does Earnings Management Affect Firms‟

Trang 17

Investment Decisions?” The Accounting Review: November 2008, Vol 83, No 6,

pp 1571-1603 Bài viết này xem xét liệu các công ty thao túng kết quả tài chínhđược báo cáo của họ có đưa ra quyết định đầu tư tối ưu không Nghiên cứu xemxét các khoản đầu tư tài sản cố định cho một lượng lớn các công ty đại chúng tronggiai đoạn 1978-2002 và ghi nhận rằng các công ty do SEC điều tra về các bấtthường kế toán, các công ty bị các cổ đông của họ kiện vì kế toán không đúng vàcác công ty đã thu hồi BCTC do thông tin bị sai lệch Ngoài ra, nghiên cữu cũngcho thấy rằng quản lý thu nhập, phần lớn được xem là các bên nhắm mục tiêu bênngoài công ty, cũng có thể ảnh hưởng đến các quyết định nội bộ, thì độ tin cậy gópphần ảnh hưởng vào các quyết định đầu tư của nhà quản lý

Độ tin cậy của báo cáo tài chính có thể giải thích bởi sự thay đổi các khoản

phải thu biến thiên theo sự tăng doanh thu Dechow và Dichev (2008).: Does Earnings Management Affect Firms‟ Investment Decisions?” The Accounting

Review: November 2008, Vol 83, No 6, pp 1571-1603 đã đề xuất một thước đomới về chất lượng của các khoản thu nhập và thu nhập từ vốn lưu động Việc thayđổi hoặc điều chỉnh việc ghi nhận dòng tiền theo thời gian để các số liệu (thu nhập)

đo lường hiệu suất công ty tốt hơn Tuy nhiên, các khoản tích luỹ đòi hỏi các giảđịnh và ước tính của các luồng tiền trong tương lai Kết quả nghiên cứu cho rằng

độ tin cậy của BCTC được đo lường bởi sự thay đổi vốn lưu động và dòng tiềnhoạt động

Nghiên cứu của Cutillas Gomariz, M Fuensanta & Sánchez Ballesta, Juan

Pedro, 2014.“Financial reporting quality, debt maturity and investment efficiency” Journal of Banking & Finance, Elsevier, vol 40(C), pages 494-506 được tiến hành

với mẫu là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Madrid của Tây Ban Nhatrong giai đoạn 1998-2008, bao gồm 1.039 quan sát và được giới hạn còn 576doanh nghiệp tài chính, dữ liệu được tiếp tục chọn lọc dựa trên biện pháp chấtlượng của Dechow và Dichev (2002), vì vậy biến quan sát còn 500 dùng để xem xétvai trò của chất lượng báo cáo tài chính và nợ trong hiệu quả đầu tư Kết quả chothấy chất lượng báo cáo tài chính sẽ kém tin cậy nếu đầu tư quá mức

Trang 18

Tương tự như vậy, nếu nợ thấp hơn có thể cải thiện hiệu quả đầu tư, giảm cả vấn

đề đầu tư quá mức và đầu tư Do đó, báo cáo tài chính có độ tin cậy tốt giúp hạnchế tình trạng đầu tư quá mức và dưới mức

Nghiên cứu của Celine Michailesco (2010) đã tiến hành tìm hiểu các nhân tốtác động đến chất lượng thông tin BCTC của các doanh nghiệp ở Pháp từ năm 1991đến năm 1995 Nghiên cứu của Celine Michailesco (2010) được thực hiện thôngqua khảo sát hơn 100 doanh nghiệp tại Pháp có niêm yết trên thị trường chứngkhoán liên tục trong 5 năm Tác giả đã tiến hành phân tích dữ liệu với 2 giai đoạngồm mô tả phân tích nghiên cứu định lượng để kiểm tra mối liên hệ giữa các nhân

tố và phân tích mối quan hệ của chúng thông qua kết quả hồi quy Kết quả cho thấy

mô hình có R2 dao động từ 10.82% đến 22.13% theo các năm và cho thấy rằng sựphân bố quyền sở hữu tác động đến chất lượng thông tin BCTC

Nghiên cứu của Jan Barton và Paul J Simko (2002) với tựa đề: “The Balance Sheet as an Earnings Management constraint” (Bảng cân đối kế toán dưới sự ràng

buộc của thu nhập) Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra sự trung thực của BCTCdựa trên chỉ tiêu lợi nhuận cũng như xem x t sự ảnh hưởng của các biến đến độ tincậy của BCTC bao gồm EPS (lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu), quy mô công ty, lợinhuận, quy mô công ty kiểm toán thông qua cuộc khảo sát 3,649 doanh nghiệptrong khoảng thời gian từ năm 1993-1999

Shaw (1980), Campell (1985) nhận định rằng kiểm toán độc lập là một trongnhững yếu tố mang lại sự tin cậy cho báo cáo tài chính của doanh ngiệp nó gópphần hạn chế rủi ro gian lận trọng yếu

Nghiên của A T Craswell (1995).“Auditor brand name reputations and industry specializations”.Journal of Accounting and Economics, Pages 297-322,

với mầu là 1.484 công ty được niêm yết ở Úc về báo cáo tài chính đã được kiểmtoán bởi các công ty kiểm toán có chất lượng ảnh hưởng đến quyết định của nhàđầu tư Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác của Chow (1983), … cũng cho ý kiếntương đồng

Trang 19

Chee W Chow and Steven J Rice (1982).“Qualified Audit Opinions and Auditor Switching”.The Accounting Review, 326-335 thực hiện nghiên cứu với 127

doanh nghiệp trong số 373 doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí cho thấy rằng yếu

tố chấp nhận kiểm toán bởi các nhà quản lý góp phần nâng cao độ tin cậy của mộtbáo cáo tài chính

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) về nâng cao tính hữu ích của báocáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán vàtác động của các yếu tố môi trường là cho BCTC của các doanh nghiệp Việt Namchưa thực sự đáp ứng nhu cầu thông tin chất lượng và đáng tin cậy cho các đốitượng sử dụng thông tin kế toán về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong giai đoạnhiện nay ở Việt Nam

Nghiên cứu của Phạm Quốc Thuần (2016).“Tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên báo cáo tài chính” Tạp chí phát triển kinh tế (53-75) về chất lượng thông tin báo cáo

tài chính bằng phương pháp định tính và định lượng chứng minh được chất lượngthông tin báo cáo tài chính bị tác động bởi các yếu tố bao gồm các nhân tố bêntrong doanh nghiệp như Hành vi quản trị lợi nhuận, Hỗ trợ từ phía nhà quản trị,Đào tạo và bồi dưỡng nhân viên, Chất lượng phần mềm kế toán, Hiệu quả của hệthống kiếm soát nội bộ, Năng lực nhân viên kế toán; và các yếu tố bên ngoài như

Áp lực từ thuế và báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập, cuối cùng là các nhân

tố phản ánh thuộc tính của doanh nghiệp như niêm yết chứng khoán và quy môdoanh nghiệp Trong đó yếu tố Hành vi quản trị lợi nhuận và tác động từ thuế sẽ làtác động cùng chiều đến việc gian lận báo cáo tàichính

Nghiên cứu của Phan Thị hằng Nga và Phan Thị Trà Mỹ (2017).“Các yếu tố ảnh hưởng đến công bố thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp” Tạp

chí tài chính, đã đo lường chất lượng báo cáo tài chính theo chất lượng lợi nhuậnvới kết quả cho thấy có tất cả 17 nhân tố ảnh hưởng đến mức công bố thông tin kế

Trang 20

toán bao gồm quyền sở hữu vốn của nước ngoài, quyền sở hữu vốn của tổ chức, sựkiêm nhiệm của chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc, tính độc lập của hộiđồng quản trị, chuyên môn tài chính, kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, khả năngthanh toán, quy mô doanh nghiệp, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công

ty kiểm toán, sự trì hoãn của báo cáo tài chính, loại hình kinh doanh, chỉ tiêu lợinhuận, khả năng phát triển và chính sách chia cổ tức

Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2013) “Các cách đo lường sự trung thựccủa chỉ tiêu lợi nhuận”, Tạp chí doanh nghiệp với ngân hàng, đã đưa ra các cách đolường độ trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên báo cáo tài chính bao gồm bốn cáchđược giới hạn trong phạm vi bài viết Kết quả nghiên cứu đã khuyến cáo rằng, cácbên liên quan khi đánh giá sự trung thực nên thực hiện đầy đủ bốn cách hoặc nên có

sự cẩn trọng hơn khi đưa ra quyết định của mình hoặc thực hiện điều tra, phân tích,đánh giá sâu hơn để đo lường sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận

1.3 Khe hổng nghiên cứu

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây được thực hiện trênthế giới và trong nước có liên quan đến đề tài luận văn dự kiến thực hiện, tác giảnhận thấy rằng độ tin cậy của báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến nó làmột trong những chủ đề đáng được quan tâm Tuy nhiên, tác giả nhận định đượcmột số vấn đề như sau:

Cùng một chủ đề nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu được thựchiện bởi nhiều tác giả khác nhau và họ đã có những cách tiếp cận khác nhau để đolường nó

Một số công trình nghiên cứu đã được kế thừa quy trình từ các nghiên cứutrước đó như nghiên cứu định lượng, các lý thuyết nền tảng và đặc điểm kinh tế xãhội để xây dựng mô hình nghiên cứu và tiến hành kiểm định mô hình đó Dườngnhư các nghiên cứu này được thực hiện một cách riêng lẻ và thường tập trung vàomột nhóm các nhân tố nào đó và có trường hợp chỉ tập trung nghiên cứu khá ít nhân

tố, thậm chí là chỉ 1 hoặc 2 nhân tố

Trang 21

Đối với thực trạng ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng chỉ mới chú ý đếnchủ đề liên quan đến chất lượng thông tin trên BCTC hay tính minh bạch củaBCTC hoặc một số nghiên cứu về mức độ công bố thông tin BCTC.

Có thể nói rằng, bên cạnh những thành tựu từ các nghiên cứu tại Việt Nam đãthực hiện thì các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề về độ tin cậy thông tinBCTC còn khá ít ỏi và chưa đi sâu vào chủ đề này Ngoài ra, hầu hết các nghiêncứu đã thực hiện trong và ngoài nước tập trung vào đối tượng nghiên cứu là cáccông ty niêm yết nói chung và nhóm công ty thuộc các lĩnh vực ngành nghề cụ thể,

ít các công trình nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính hay độ tin cậy báo cáotài chính liên quan đến nhóm đối tượng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Đây

là những khác biệt đối với nghiên cứu của tác giả so với các nghiên cứu đã công bố

1.4 Định hướng nghiên cứu

Với mục tiêu của nghiên cứu là nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến độ tincậy của thông tin báo cáo tài chính và mức độ tác động của từng nhân tố này đến độtin cậy của các Công ty niêm yết có vốn đầu tư nước ngoài trên Sở GDCK TP.HCM Để có thể đạt được mục tiêu đề ra, tác giả tiến hành tổng hợp các lý thuyết

có liên quan đến đề tài Dựa vào các nghiên cứu trước đây, tác giả xác định mốiquan hệ giữa các nhân tố với độ tin cậy của báo cáo tài chính Để có thể lượng hoáđược mối quan hệ giữa các nhân tố và độ tin cậy của báo cáo tài chính, tác gải đềxuất mô hình định lượng hồi quy logit cho bài nghiên cứu của mình Từ đó, dựa vàokết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra hàm ý nghiên cứu phù hợp

Trang 22

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi,phương pháp cũng như ý nghĩa của nghiên cứu nhằm khái quát về vấn đề mà tácgiả muốn nghiên cứu trong bài luận văn này

Qua việc trình bày tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến chất lượng BCTC hay

độ tin cậy của BCTC, các nhân tố ảnh hưởng đến độ trung thực của BCTC trên thếgiới và tại Việt Nam Tác giả đưa ra các nhận xét về các nghiên cứu liên quan vàxác định khe hổng nghiên cứu sau đó tiến hành thực hiện chủ đề nghiên cứu cácnhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy BCTC các công ty có vốn đầu tư nước ngoàiniêm yết trên sàn GDCK tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số vấn đề chung về Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính và độ tin cậy

Trong thời gian vừa qua, có rất nhiều bằng chứng cho rằng có khá nhiều công

ty niêm yết đã công bố báo cáo tài chính thiếu trung thực, chưa đầy đủ và kịp thờitheo quy định của pháp luật Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu nhận địnhrằng, một BCTC chất lượng cao sẽ giúp làm giảm sự bất cân xứng thông tin và cuốicùng là giúp giảm chi phí sử dụng vốn (Glosten và Milgrom, 1985; Amihuh vàMendelson, 1986; Diamond và Verrecchia, 1991; Bhattachaarya và các cộng sự,

2003 và Barth và các cộng sự, 2013)

Ngoài ra nguyên tắc kế toán chung(GAAPs) thừa nhận cho phép các nhà quảntrị linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp kế toán và ước tính kế toán Cũngchính vì sự linh hoạt này mà một báo cáo tài chính được tạo ra có khả năng khôngphản ánh một cách trung thực và hợp lý tình hình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.Hay nói cách khác, báo cáo tài chính không còn đáng tin cậy nữa dẫn đếnmột báo cáo tài chính kém chất lượng và kết quả cuối cùng là hệ luỵ đến các quyếtđịnh kinh tế của nàh quản trị hay người sử dụng thông tin kế toán

2.1.1 Một số vấn đề chung liên quan đến báo cáo tài chính

BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và

nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN Nóicách khác, báo cáo kế toán tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời vàthực trạng tài chính của DN cho những người quan tâm (chủ DN, nhà đầu tư,người cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng khác,…) Báo cáo tài chính

là các thông tin kinh tế được kế toán viên trình bày dưới dạng bảng biểu TheoJames A Hall(2011) và Gelina & ctg (1999), thông tin kế toán được xem là thànhphần chính yếu của thông tin quản lý, đảm nhận vai trò quản lý nguồn lực thông tintài chính cho các doanh nghiệp

Nghiên cứu của Cyert và Ijiri (1974), xem x t ba đối tượng chính liên quan

Trang 24

đến báo cáo tài chính:

- Doanh nghiệp, người lập ra báo cáo tài chính

- Các chuyên gia kiểm toán, người kiểm tra, và xác nhận báo cáo tài chính

- Người sử dụng, bao gồm các đối tượng khác nhau sử dụng báo cáo tài chính như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà phân tích,…

Một báo cáo tài chính phải phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tàichính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính làcung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiềncủa một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụngtrong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt mục đích này báo cáo tài chínhphải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

FASB đưa ra mục đích của báo cáo tài chính như sau:

- Cung cấp thông tin hữu ích cho quyết định đầu tư vào cho vay

- Giúp người đọc đánh giá về thời gian và tính không chắc chắn của các dòngtiền

Trang 25

- Cung cấp các thông tin về nguồn lực kinh tế, các quyền đối với tài sản và sự thay đổi chúng.

IASB cho rằng mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tìnhhình tài chính, kết quả hoạt động và sự thay đổi tình hình tài chính nhằm giúp chonhững đồi tượng sử dụng khác nhau đưa ra quyết định tài chính

Dự án hội tụ FASB-IASB xác định mục đích của báo cáo tài chính là “… cungcấp thông tin tài chính về doanh nghiệp báo cáo, các thông tinn này hữu ích cho nhàđầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác (hiện tại và tiềm tàng) trong việc đưa raquyết định trong khả năng của mình như một người cung cấp vốn”

Vì mức độ quan trọng của báo cáo tài chính nên nó được lập dựa theo nhữngchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21vàthông tư 200/2014/TT-BTC quy định khi lập và trình bày báo cáo tài chính, cầntuân thủ các yêu cầu nhưsau:

- Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hìnhtài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảmbảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên

cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiệnhành

- Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính là báocáo tài chính được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt

Nam Báo cáo tài chính được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế

độ kế toán Việt Nam nếu báo cáo tài chính tuân thủ mọi quy định của từng chuẩnmực và chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán ViệtNam của Bộ Tài chính

- Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy địnhcủa chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực vàchế độ kế toán hiện hành dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính sách kế toán cũng nhưtrong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Trang 26

- Để lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, doanh nghiệpphải:

 Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định;

 Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tinphù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu;

 Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không

đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sựkiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Liên quan đến chính sách kế toán

- Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán choviệc lập và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán.Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thìdoanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kế toánhợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầusau:

+ Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;

 Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp;

 Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;

 Trình bày khách quan, không thiên vị;

 Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;

 Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu.

Trang 27

- Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phươngpháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáotài chính

Theo quy định của chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam thì các doanhnghiệp hoạt động kinh doanh khi lập báo cáo tài chính cần có những bản báo cáo tàichính sau:

- Bảng cân đối kế toán là bảng báo cáo dùng để phản ánhkhái quát toàn bộtình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định hay còn gọi là thời điểm lập báo cáo

- Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay còn gọi là bảng báo cáo lãi

lỗ, chỉ ra sự cân bằng giữa thu nhập (doanh thu) và chi phí trong từng kỳ kế toán Nóphản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanhnghiệp và là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp

- Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem x t và dự đoán khả năng về

số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để kiểm tra lạicác đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối quan hệ giữa khả năngsinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá

- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính cung cấp thêm về tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh, chế độ kế toán và lý do biến động của các đối tượng quan trọng Nómang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bàytrong Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyểntiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụthể

Thời hạn nộp báo cáo tài chính tại Việt Nam được phân loại thành báo cáo tài chính quý và năm

Trang 28

Báo cáo tài chính quý phải nộp chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kếtoán quý, đối với công ty m , Tổng công ty nhà nước chậm nhất là45ngày.

Báo cáo tài chính năm phải nộp chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ

kế toán năm, đối với công ty m , Tổng công ty nhà nước chậm nhất là 90ngày.Khuôn mẫu lý thuyết của FASB đưa ra hai nhóm đặc điểm chất lượng báo cáotài chính bao gồm các đặc điểm cơ bản và đặc điểm thứ yếu Các đặc điểm cơ bảngồm thích hợp và đáng tin cậy Trong khi đó các đặc điểm thứ yếu bao gồm nhấtquán và có thể so sánh Khuôn mẫu lý thuyết của IASB đưa ra đặc điểm chất lượngbáo cáo tài chính bao gồm: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể sosánh dựa trên hai giả định cơ bản là cơ sở dồn tích và tính hoạt động liên tục

Dựa theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán, báo cáo tài chính được lập raphải đảm bảo về chất lượng với những yêu cầu cơ bản như độ tin cậy, tính so sánhđược, tính coi trọng bản chất hơn hình thức, tính trọng yếu và sự phù hợp Trong

đó, một trong những yêu cầu quan trọng và cơ bản nhất của báo cáo tài chính là độtin cậy

Thông tin kế toán hay thông tin báo cáo tài chính là đáng tin cậy được FASBđưa ra trong phạm vi nó có thể kiểm chứng , khi được trình bày trung thực vàkhông có sai sót hoặc thiên lệch:

- Trình bày trung thực: nghĩa là sự đánh giá và diễn đạt thông tin kế toán phải phù hợp với nghiệp vụ/sự kiện muốn trình bày

- Có thể kiểm chứng: cần thiết để đảm bảo sự trình bày trung thực củathông tin, nó là khả năng thông qua sự đồng thuận giữa những người đánh giá cóđầy đủ năng lực và độc lập để đảm bảo thông tin phù hợp với từng nghiệp vụ/sựkiện muốn trình bày hoặc phương pháp đánh giá được chọn không có sai sot hoặcthiên lệch

- Trung lập: các thông tin trên báo cáo tài chính không bị thiên lệch nhắmvào kết quả có thể lường trước được hay chịu ảnh hưởng bởi một cá nhân nào

Trang 29

đó Thông tin trung lập khi báo cáo về các hoạt động kinh tế trung thực nhất trongkhả năng có thể, không nhằm vào mục đích tác động đến các thông tin theo mộthướng đặc biệt.

Trong khi đó, IASB đưa ra đặc điểm đáng tin cậy của báo cáo tài chính làkhông có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu, đồng thời phản ánh trung thựccác vấn đề cần phải trình bày Bao gồm các yêu cầu:

- Phản ánh trung thực các sự kiện và các nghiệp vụ cần hoặc có thể trình bày

- Các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải xem nội dung quan trọnghơn hình thức, nghĩa là phải trình bày phù hợp với bản chất kinh tế chứ không phải căn

cứ vào hình thức quản lý

- Thông tin phải trung lập, nghĩa là không bị thiên lệch Thông tin bị thiên lệchnếu việc lựa chọn và trình bày báo cáo tài chính nhằm tác động đến việc đưa ra quyếtđịnh theo một kết quả định trước

- Thận trọng là việc tăng thêm mức độ chú ý khi thực hiện một sự x t đoánước tính trong các điều kiện chưa rõ rang, sao cho tài sản và thu nhập không bị thổiphồng, nợ phải trả không bị giấu bớt

- Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi trọng yếu và chi phí Một sự bỏ sót cóthể làm cho thông tin có thể bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng đến độ tincậy của báo cáo tài chính

2.1.2 Yêu cầu về độ tin cậy đối với báo cáo tài chính

Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn cụ thế hay một kết quả nghiên cứu nào cụthể được công nhận rộng rãi về tiêu chuẩn đánh giá mức độ tin cậy của một báo cáotài chính

Trong bất kỳ một nghiên cứu nào có liên quan đến chất lượng của một báo cáotài chính hay độ tin cậy của BCTC, việc nghiên cứu độ tin cậy khó có thể quan sáttrực tiếp được Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng nhiều phương pháp đo lườngkhác nhau và có thể chia làm hai phương pháp chính: đo lường theo đặc điểm chất

Trang 30

lượng báo cáo tài chính và đo lường theo chất lượng lợi nhuận Để có thể đưa ratiêu chuẩn đánh giá mức độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính, đề tài sẽxem xét ở góc độ các đặc tính của thông tin trên báo cáo tài chính đặc biệt là dựa

trên kết quả nghiên cứu của Jan Barton và Paul J.Simko (2002), The balance sheet

as an Earnings Management Constrait Theo Barton và Simko, độ tin cậy của chất

lượng lợi nhuận được đo lường bằng cách tính toán tỷ lệ giữa tài sản hoạt độngthuần chia cho doanhthu thuần Tỷ lệ này càng nhỏ thì độ trung thực càng cao

2.1.3 Sự cần thiết về độ tin cậy của BCTC

Thị trường chứng khoán thời gian qua liên tục nhận những thông tin gây sốcbởi báo cáo tài chính của các doanh nghiệp chuyển từ lãi sang lỗ và ngược lại Điềunày đã khiến các nhà đầu tư không khỏi hoài nghi về chất lượng và sự đáng tin cậycủa báo cáo tài chính đã được kierm toán hiện nay Để đảm bảo báo cáo tài chínhđáng tin cậy với các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho các nhà đầu tư, cơquan thuế và các bên có lợi ích liên quan thì sự tham gia của các cuộc kiểm toán độclập có vai trò rất quan trọng Mục đích của các cuộc kiểm toán nhằm đưa ra ý kiếnnhận x t độc lập của Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán về tính trung thực, hợp lý

và tính khách quan của báo cáo tài chính của các công ty nhằm phục vụ như cầu sửdụng thông tin của các đối tượng sử dụng đồng thời nâng cao hiệu quả các hoạtđộng tài chính và năng lực quản lý của các đơn vị được kiểm toán thông qua các lờikhuyên sụ thể và rõ rang của kiểm toán viên để điều chỉnh và xử lý kịp thời các saiphạm Từ đó cung cấp các thông tin báo cáo tài chính minh bạch, đáng tin cậy chomục tiêu quản lý của các đơn vị, các nhà đầu tư và các đơn vị cần có những thôngtin tài chính chính xác Xác định độ tin cậy của thông tin ảnh hưởng đến quyết địnhcủa người sử dụng thông tin cho nên phân tích báo cáo tài chính là một vấn đề quantrọng và có ý nghĩa thiết thực đối với tất cả các đối tượng cần sử dụng thông tin báocáo tài chính, đặc biệt là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Theo

Ball et al 1968, An empirical evaluation of accounting income number, Journal of accounting research, Autumn, nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin lợi

Trang 31

nhuận được công bố trên báo cáo tài chính với giá cổ phiếu, kết luận được đưa ra

là có mối quan hệ này Vì vậy độ tin cậy báo cáo tài chính có ảnh hưởng gì đếnhiệu quả đầu tư

2.1.4 Mối quan hệ của độ tin cậy báo cáo tài chính và chất lượng của báo tài chính.

Từ việc phân tích với những thông tin hữu ích đáng tin cậy trên báo cáo tàichính trình bày một cách trung thực và hợp lý, doanh nghiệp có thể đưa ra quyếtđịnh đầu tư dựa trên nguồn vốn sẵn có của đơn vị hay đưa ra quyết định vay ngânhàng để mở rộng sản xuất kinh doanh Thông tin thể hiện trên BCTC cần phải bảođảm tính tin cậy nghĩa là các thông tin trên BCTC phải là những thông tin kháchquan và có thể thẩm định được Điều này thể hiện thông qua quá trình nghiệp vụkinh tế phát sinh của thông tin kế toán dựa vào các chứng từ, sự tuân thủ các quyđịnh và chuẩn mực kế toán hiện hành Mọi thông tin trên BCTC phải đảm bảo tínhkhách quan và không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bất kì cá nhân nào Hơnnữa, thông tin trên BCTC có thể được thẩm định để tìm kiếm các bằng chứngchứng minh cho tính đúng đắn của các số liệu trên BCTC Bên cạnh đó, ý kiến củakiểm toán viên về tính trung thực, khách quan, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kếtoán sẽ nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC Báo cáo tài chính càng có độtin cậy cao sẽ giúp người sử dụng thông tin nắm được tình hình kinh doanh củadoanh nghiệp từ đó sẽ cân nhắc được những quyết định trong tương lai Một khibáo cáo tài chính được công bố thông tin đã được kiểm soát chất lượng và đảm bảo

độ tin cậy cao sẽ làm giảm khả năng thông tin bất cân xứng từ đó giảm hành vi cơhội của nhà quản lý và thay đổi hiệu quả đầu tư Theo Kieso và cộng sự (2007), báocáo tài chính đáng tin cậy là cần thiết để các nhà đầu tư tạo ra một thị trường hiệuquả Do đó muốn hiệu quả đầu tư cao thì yêu cầu báo cáo tài chính phải đảm bảo vềmặt chất lượng Đã có nhiều trường hợp chứng minh báo cáo tài chính không đảmbảo độ tin cậy đã gây ra nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đối với thị trường tài chínhxảy ra ở Mỹ, Nhật và các quốc gia khác

Trang 32

2.2 Đặc điểm công ty có vốn đầu tư nước ngoài

2.2.1 Công ty có vốn đầu tư nước ngoài

Đầu tư là mọi hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi ở tươnglai.Hoạt động bỏ vốn có thể thực hiện trong một thời gian ngắn hoặc dài, gọi là đầu

tư ngắn hạn hoặc dài hạn Đặc biệt là đầu tư dài hạn bởi nó ảnh hưởng đến sự thayđổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thay đổi cơcấu nền kinh tế nói chung

Đầu tư quốc tế hay đầu tư nước ngoài là những hoạt động đầu tư vượt quáphạm vi một quốc gia thông qua 3 hình thức chủ yếu là Hợp đồng hợp tác kinhdoanh, doanh nghiệp liên doanh, hoặc doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Theo Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiệnhoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nướcngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Trong đó, nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cánhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam…Tuy nhiên, theonghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp quyđịnh cụ thể, doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 49% cổ phần được

áp dụng các điều kiện đầu tư, kinh doanh như đối với nhà đầu tư trong nước tức làdoanh nghiệp Việt Nam Mặt khác, Thông tư 213 ban hành năm 2012 của Bộ tài chínhhướng dẫn về hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán ViệtNam có quy định nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam;

tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài; tổ chức thành lập và hoạtđộng theo pháp luật Việt Nam có vốn 100% vốn góp nước ngoài; quỹ thành viên, công

ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ mà bên nước ngoài được quyền sở hữu 49% vốn điềulệ; và các trường hợp khác do Chính phủ quy định Theo quy định mới nhất của Luậtđầu tư 2014 tại khoản 7 Điều 3 quy

Trang 33

định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không phân biệt tỷ lệ vốn góp làbao nhiêu.

Theo hướng dẫn của Thông tư 155 ban hành vào năm 2015 cú Bộ tài chính vềviệc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, tại Khoản 4b Điều có hướngdẫn về tỷ lệ công bố thông tin, nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin trong

đó gồm cổ đông hay nhóm người có liên quan sở hữu 5% trở lên số cổ phiếu đanglưu hành có quyền biểu quyết Chính vì lý do đó, trong bài luận văn này, tác giả tậphợp các công ty có vốn đầu tư nước ngoài niêm yết trên Sở GDCK Tp HCM từ 5%trở lên để làm mẫu cho bài nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài ngày càng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới Thông qua hình thức đầu

tư trực tiếp từ nước ngoài, Việt Nam đã tiếp thu được những công nghệ hiện đạitrong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, điện tử, phát triển một sốngành công nghiệp mũi nhọn của đất nướcvà một số ngành sử dụng nhiều lao động,nguyên liệu trong nước như dệt, may, sản xuất giày d p cũng có công nghệ thuộcloại trung bình tiên tiến ở khu vực Nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cùngcác phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh ngay tại thị trường trongnước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải đổi mới chất lượng sản phẩm và ápdụng phương pháp kinh doanh hiện đại Có thể nói, bộ phận doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài đã và đang góp phần vào sự tăng trưởng đến nền kinh tế ViệtNam trong những năm gần đây

2.2.2 Đặc điểm công ty có vốn đầu tư nước ngoài

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được hình thành từ năm 2000 chođến nay đã hơn 18 năm Tuy nhiên, so với TTCK trên thế giới thì TTCK Việt Namchỉ là thị trường mới nổi, quy mô nhỏ, tính thanh khoản chưa cao Trong đó, TTCKViệt Nam chịu tác động của các nhà đầu tư nước ngoài

Công ty có vốn đầu tư nước ngoài được Luật đầu tư qui đinh không quantâm sở hữu bao nhiêu đồng thời hình thức này mang tính ổn định và khá bền vững

Trang 34

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, môi trường pháp lý cótác động trực tiếp đến hệ thống kế toán, đặc biệt là toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý

và việc vận hành trong thực tế của hệ thống này Ở góc độ công tác kế toán, cácnhân tố cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến tổ chức công tác kế toán của cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là Luật đầu tư, Luật kế toán Ngoài ra, môitrường kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến đối tượng sản xuất kinh doanh, tập quán tiêudùng, phương thức, hình thức kinh doanh, các biện pháp quảng cáo khuyến mãi…của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần có những thông tin phù hợp

để có thể tồn tại và phát triển Một trong những thông tin này là thông tin kế toán.Dưới góc độ là nước tiếp nhận đầu tư thì đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu tác độngchủ yếu bởi môi trường đầu tư Môi trường đầu tư càng thuận lợi càng thu hútnhiều nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại môi trường đầu tư không thuận lợi sẽ hạnchế đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước có lực lượng lao động dồi dào và nguồnlao động rẻ là một trong những nhân tố chủ yếu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.Nghiên cứu của TS Nguyễn Anh Phong, Ths Hồ Thị Hồng Minh, Đỗ ThịTuyết Lan về rủi ro lợi nhuận các danh mục cổ phiếu phân theo sở hữu nước ngoàicho thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tác động đến tỷ suất sinh lời rủi ro các danhmục Việc tham gia sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động đến thịtrường chứng khoán tại Việt Nam, giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh trong tươnglai và trong dài hạn Hơn thế nữa, việc góp phần vốn của đầu tư nước ngoài giúpcải thiện hoạt động quản trị còn khá non trẻ của các doanh nghiệp tại Việt Nam.Cáccông ty có vốn đầu tưnước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường tài chínhhiện nay nó góp phần thúc đẩy doanh nghiệp có mục tiêu kinh doanh cao hơn, năngcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Có thể nói, bộ phận doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài đã và đang góp phần vào sự tăng trưởng đến nền kinh tế Việt Namtrong những năm gần đây

2.3 Các lý thuyết nền tảng liên quan

2.3.1 Lý thuyết đại diện (Agencytheory)

Trang 35

Lý thuyết người chủ - người đại diện (lý thuyết đại diện) được phát triển bởiJensen và Meckling (1976)xuất hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắnliền với những nghiên cứu về hành vi của người chủ và người làm thuê thông quacác hợp đồng Nội dung của lý thuyết gồm các điểm chínhsau:

- Chủ thể hay chủ sở hữu vốn, và người đại diện hay nhà quản trị luônđối nghịch về lợi ích Người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu(lợi ích của họ) Trong khi đó nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợiích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của mình

- Việc không đồng nhất lợi ích giữa cổ đông (chủ sở hữu) và Giám đốc(người đại diện) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” Lý thuyếtchi phí đại diện được nghiên cứu đầu tiên bởi Jensen và Meckling (1976) và sau đó

là Myers (1977), cho thấy rằng rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch có thế dẫn đếnviệc quản lý đầu tư không hiệu quả Lý thuyết đại diện chỉ ra được mối quan hệgiữa cổ đông, nhà quản lý và chủ nợ đều cùng một mục tiêu là lợi ích nhưng khôngphải lúc nào lợi ích cũng giống nhau Đây là loại chi phí để duy trì một mối quan hệđại diện hiệu quả Chi phí này bằng không khi chủ sở hữu đồng thời là Giám đốccông ty Chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổphiếu công ty Các chi phí đại diện bao gồm: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc vàchi phí cơhội

Lý thuyết đại diện được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của các nhân tố quy mô công ty, kết quả tài chính, đến tính độ tin cậy của các CTNY

2.3.2 Lý thuyết về thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được nghiên cứu đầu tiên vàonăm1970 bởi cácnhà khoa học George Akerl of, Michael Spence và Joseph Stiglitz Theo lý thuyết này,các bên tham gia giao dịch trên thị trường cố tình che đậy thông tin hoặc một số bên sẽ

có thông tin tốt hơn Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thôngtin còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó (NguyễnTrọng Hoài, 2006) Thông tin bất cân xứng trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều nhàđầu tư sở hữu được thông tin riêng (Kyle, 1985 trích trong Ravi

Trang 36

2005) hoặc có nhiều thông tin công bố hơn về một công ty (Kim vàVerrecchia,1994 và 1977 trích trong Ravi 2005) so với các nhà đầu tư cònlại.

Thông tin bất cân xứng có thể ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn và lựachọn dự án Theo Stiglitz và Weiss (1981) thì trong các giao dịch lựa chọn đốinghịch là hậu quả của thông tin bất cân xứng Việc thông tin không đầy đủ giữa cácbên liên quan trong một giao dịch mà có ảnh hưởng đến lợi ích các bên tạo ra sự bấtcân xứng thông tin, làm cho thị trường không hoàn hảo và ngăn chặn hiệu quả hoạtđộng (Myers và Majluf, 1984)

Lý thuyết thông này được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố kết quả tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản của các CTNY.

kể đến các nghiên cứu của Edwin H Sutherland, Donald R Cressey và D W StevenAlbrecht Nghiên cứu của Edwin H Sutherland (1883-1950) cho rằng tội phạm trongdoanh nghiệp là hành vi vi phạm pháp luật hình sự được thực hiện bởi các thực thểkinh doanh, người làm trong doanh nghiệp hoặc các đại lý hoạt động thay mặt và vì lợiích của doanh nghiệp hoặc các hình thức khác của thực thể doanh nghiệp Lý thuyết vềtam giác gian lận của Donal R.Cressey (1919-1987) Ông đã tập trung phân tích gianlận dưới góc độ thâm ô và biển thủ thông qua khảo sát 200 trường hợp tội phạm kinh

tế, và ông đưa ra mô hình chứng minh xảy ra hành vi gian lậnkhi hội đủ ba điều kiện:

Áp lực, Cơ hội và Thái độ thì

Trang 37

các đối tượng sẽ thực hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính làm giảm độ tin cậy.

Mô hình tam giác gian lận được áp dụng nhiều trong các nghiên cứu, đánh giá rủi

ro có gian lận trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong đó có kiểm toán.Hiện nay mô hình này đã được VSA 240 và ISA 240 đưa vào sử dụng trong thựchiện đánh giá rủi ro có gian lận tại các công ty kiểm toán Lý thuyết về bàn cân gianlận được D W Steven Albrechtđưa ra sau khi phân tích 212 trường hợp gian lậnvào nhưng năm 1980 bằng bảng câu hỏi khảo sát thông tin Ông đã xây dựng môhình nổi tiếng – bàn cân gian lận gồm ba nhân tố: hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt

cơ hội và tính trung thực cá nhân

Lý thuyết thông này được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố chất lượng công ty được chọn làm kiểm toán của các CTNY.

2.3.4 Lý thuyết tín hiệu

Liên quan đến lý thuyết tín hiệu có thể kể đến nghiên cứu của Miller vàModigliani (1961) với giả thiết nhà đầu tư và ban giám đốc đều có hiểu biết hoànhảo và toàn diện về doanh nghiệp Tuy nhiên, có nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằnggiữa nhà quản lý và nhà đầu tư luôn có khoảng cách về thông tin vì các nhà quản lý

là người trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và nắm bắt mọi thông tinnội bộ mà nhà đầu tư khó có thể tiếp cận được từ bên ngoài Theo Al-Malkawi(2007), để có thể thu h p lại khoảng cách này, nhà quản lý sử dụng cổ tức được xemnhư là công cụ để gắn kết thông tin nội bộ của doanh nghiệp cho nhà đầu tư Trongđiều kiện thông tin bất cân xứng, cố tức được xem như là công cụ truyền tín hiệucòn được đề cập trong nghiên cứu của Gordon (1963) và Lintner, J (1956)

Lý thuyết thông này được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sở hữu cổ phiếu nước ngoài của các CTNY.

2.3.5 Lý thuyết lợi ích cá nhân

Lý thuyết lợi ích cá nhân (private-interest theory) giả định những người cótrách nhiệm trong tổ chức lập quy hành xử dựa trên lợi ích cá nhân, lý thuyết nàycho rằng tồn tại một thị trường các quy định hoạt động tương tự thị trường vốn

Trang 38

Trên thị trường này, các quy định sẽ được mua bởi nhóm lợi ích nào trả giá cao hơn

và giá cả ở đó có liên quan đến các phiếu bầu hoặc các khoản tài trợ liên quan Theokết quả nghiên cứu về lý thuyết này, nhóm có lợi ích cao nhất là các doanh nghiệp

do họ có thể dễ dàng thương lượng để hình thành nhóm lợi ích có tổ chức có khảnăng tác động đến nhà lập quy Ngược lại, các nhóm lợi ích khác như khách hànghay nhóm lợi ích xã hội lại thất thế do phải tốn chi phí cao hơn Trong lĩnh vực kếtoán, các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình ban hành chuẩn mực kế toán bị ảnhhưởng bởi các công ty lớn

Lý thuyết thông này được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sở hữu cổ phiếu nước ngoài của các CTNY.

2.3.6 Lý thuyết về lợi ích và chi phí

Khái niệm về lợi ích và chi phí được đề cập đầu tiên năm 1848 bởi JulesDupuit và được chính thức hóa bởi Alfred Marshall Lý thuyết này góp phần nângcao hiểu biết bằng cách mô tả các công cụ chính thức được chấp nhận rộng rãi Mụctiêu của lý thuyết này nhằm cung cấp quy trình nhất quán để đánh giá các quyếtđịnh Lợi ích có được từ việc cung cấp một thông tin kế toán cần được xem xéttrong mối quan hệ với chi phí để cung cấp thông tin đó và mối quan hệ này là giớihạn ảnh hưởng đến thông tin tài chính

Lý thuyết thông này được sử dụng để giải thích ảnh hưởng của nhân tố doanh thu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu.

2.4 Các nhân tố tác động đến độ tin cậy của một báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính giúp người sử dụng thông tin có cái nhìn tổng quan về tìnhhình hoạt động kinh doanh của công ty Do đó, để đánh giá độ tin cậy báo cáo tàichính ta cần xem x t các yếu tố ảnh hưởng của nó Vì báo cáo tài chính có vai tròquan trọng nên để biết được báo cáo tài chính có đáng tin cậy hay không chúng tacần xem x t các nhân tố tác động đến nó Trong chương 1, tác giả đã liệt kê một sốbài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến độ tin cậy

Trang 39

của BCTC Dựa vào đó, tác giả xin ph p kế thừa và phát huy các kêt quả của các bàinghiên cứu trước để đưa vào bài luận văn của mình về các nhân tố ảnh hưởng đến

độ tin cậy của BCTC

2.4.1 Chất lượng công ty được chọn làm kiểm toán

Liên quan đến tính hữu ích của thông tin kế toán hay độ tin cậy của báo cáotài chính, hoạt động kiểm toán độc lập là điều hết sức cần thiết Trong quá trìnhsoạn lập, cung cấp thông tin kế toán có quá nhiều vấn đề nảy sinh như mâu thuẫnlợi ích, khác biệt về nhu cầu sử dụng thông tin, quy trình thông tin – kế toán phứctạp, khả năng và trình độ kiểm tra thấp,… làm cho thông tin kế toán trở nên khôngđáng tin cậy, không khách quan, chứa đựng nhiều rủi ro về sai sót, gian lận Đểđảm bảo báo cáo tài chính đáng tin cậy với các thông tin mà doanh nghiệp cungcấp cho các đối tượng sử dụng BCTC thì các cuộc kiểm toán độc lập có vai trò rấtquan trọng Mục đích của các cuộc kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến nhận xét độc lậpcủa Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán về tính trung thực, hợp lý và tính kháchquan của báo cáo tài chính được kiểm toán Từ đó cung cấp các thông tin minhbạch, đáng tin cậy cho mục tiêu sử dụng những thông tin tài chính chính xác chocác đối tượng sử dụng thông tin Nhiều nghiên cứu cho rằng nội dung của báo cáotài chính có thể bị ảnh hưởng bởi việc các công ty niêm yết được kiểm toán bởicác công ty kiểm toán lớn hay nhỏ (Kết quả nghiên cứu của Fargher, Taylor, andSimon (2001), Archambault (2003)) Các nghiên cứu trước phân chia quy mô công

ty kiểm toán theo 2 nhóm là nhóm công ty kiểm toán Big four và nhóm không phảiBig four: với nhận định là các công ty được kiểm toán bởi một trong các công tykiểm toán lớn (Big four) có thể công bố nhiều thông tin hơn và chính xác hơn cáccông tykhác

Dựa vào lợi ích và nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán, Campell(1985), Shaw (1980) nhận định rằng kiểm toán độc lập là một trong những yếu tốmang lại sự tin cậy cho báo cáo tài chính, hạn chế bớt rủi ro gian lận trọng yếu dựatrên cơsở BCTC sẽ hữu ích hơn cho những người sử dụng khác nhau khi BCTCđược kiểm toán viên độc lập kiểm tra và báo cáo Chow và Rice (1982) trên quan

Trang 40

điểm người quản lý cho rằng người quản lý tự nguyện chấp nhận kiểm toánvì nó sẽlàm tăng độ tin cậy của thông tin trên BCTC, cải thiện lợi thế so với không đượckiểm toán; hơn nữa, Campell cho rằng những lợi ích mang lại đối với một BCTC đãđược kiểm toán sẽ nhiều hơn so với chi phí cho một cuộc kiểm toán Theo nhưnghiên cứu tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Roma của Albert và Serban (2012),kết quả cho thấy kiểm toán độc lập có tầm quan trọng đặc biệt đối với độ tin cậy củaBCTC do các doanh nghiệp này cung cấp, nâng cao niềm tin của các đối tượng sửdụng BCTC khi đưa ra các quyết định kinh tế Ngoài ra, việc kiểm toán báo cáo tàichính cũng là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các bên liên quan trong xãhội, do đó lợi ích của xã hội sẽ được đảm bảo hợp lý từ việc kiểm toán hay nói cáchkhác, nó được xem như là một phần của hệ thống kiểm soát của xã hội đối vớithông tin BCTC.

2.4.2 Lợi nhuận trên cổ phiếu

Lợi nhuận là một trong những chỉ tiêu quan trọng được trình bày trên BCTC,đáp ứng được việc đo lường và trình bày phải tuân thủ theo chuẩn mực và chế độ

kế toán hiện hành Tính linh hoạt của các chuẩn mực và chế độ kế toán đặc biệt làGAAPs cho phép nhà quản trị thực hiện một báo cáo lợi nhuận theo nhiều hướngkhác nhau để mang lại lợi ích cho công ty trong đó có mục đích phát hành cổ phiếu

ra công chúng, tránh vi phạm hợp đồng đi vay, san bằng lợi nhuận hoặc mang lợiích cho chính các nhà quản trị nhưng vẫn đảm bảo tính pháp lý Cho đến nay, trênthế giới có nhiều bài nghiên cứu chứng minh rằng lợi ích mà cổ phiếu mang lại cótác động đến hành vi điều chỉnh thông tin trên BCTC, cụ thể là chỉ tiêu thu nhập dẫnđến thông tin sai lệch và BCTC không còn đáng tin cậy Trong bài nghiên cứu của

Johannes de Wet (2014) cho kết quả rằng lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu mang lạiảnh hưởng đến chất lượng hiệu suất tài chính Các nhà nghiên cứu như Penman(2005), Rappaport (2005) chỉ ra rằng các doanh nghiệp có thể điều chỉnh EPS đểtối đa hoá giá trị tương lai, điều này phản ánh không trung thực với hoạt độngkinh doanh của công ty Brown (1999) cũng có ý kiến tương tự khi nhận thấy cóvấn đề đối với BCTC về những khoản thu nhập không có thật do sự điều chỉnh

Ngày đăng: 24/09/2020, 15:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w