LÝ MINH TRIẾTCÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ IFRS FOR SMES CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT
Trang 1LÝ MINH TRIẾT
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (IFRS FOR SMES) CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH , NĂM 2018
Trang 2LÝ MINH TRIẾT
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ SẴN SÀNG CỦA NHÀ QUẢN TRỊ ĐỐI VỚI VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (IFRS FOR SMES) CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG
TP HỒ CHÍ MINH , NĂM 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây này là công trình nghiên cứu khoa học là của riêngtôi Các phân tích, số liệu và kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
NGƯỜI THỰC HIỆN
LÝ MINH TRIẾT
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
7 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Lược sử về quá trình hội tụ kế toán quốc tế 5
1.1.1 Giai đoạn tạo tiền đề hội tụ ( 1973 – 2000) 5
1.1.2 Giai đoạn hội tụ (từ năm 2001 đến nay) 6
1.2 Sự hình thành và phát triển của IFRS for SMEs 6
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 8
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 8
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.4 Kết quả nghiên cứu đã được và những vấn đề tồn tại trong các nghiên cứu trước 14
1.4.1 Các kết quả đạt được 14
1.4.2 Các vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu 14
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
Trang 52.2 Sự phù hợp của việc áp dụng IFRS for SEMs cho các DNNVV tại Việt
Nam 21
2.3 Các lý thuyết nền về các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs 23
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của các DNNVV tại Việt Nam 24
2.4.1 Mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs 24
2.4.2 Quy mô doanh nghiệp 25
2.4.3 Sự tồn tại của phòng kế toán 26
2.4.4 Hoạt động quốc tế 26
2.4.5 Tuổi doanh nghiệp 28
2.4.6 Kiểm toán độc lập 28
2.4.7 Chi phí/ lợi ích 29
2.4.8 Chuyên môn, năng lực của người làm kế toán 29
2.4.9 Nhu cầu của đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của các DNNVV 30
2.5 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS for SMEs từ các nghiên cứu trước 30
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 32
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Quy trình nghiên cứu 33
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 34
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 35
3.3 Xác định mô hình nghiên cứu 37
3.3.1 Cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu 37
3.3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng của các DNNVV tại Việt Nam 37
Trang 63.4.1 Mô hình nghiên cứu sơ khởi (ban đầu) 40
3.4.2 Thang đo nháp 40
3.5 Thiết kế thực hiện và kết quả nghiên cứu sơ bộ 43
3.5.1 Thiết kế thực hiện 43
3.5.2 Kết quả nghiên cứu định tính 44
3.6 Mô hình nghiên cứu chính thức và thang đo hiệu chỉnh 53
3.6.1 Mô hình nghiên cứu chính thức 53
3.6.2 Thang đo hiệu chỉnh sau nghiên cứu sơ bộ 54
3.7 Nghiên cứu chính thức 55
3.7.1 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 55
3.7.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 55
3.7.3 Thu thập dữ liệu 56
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 58
4.1 Kết quả nghiên cứu 58
4.1.1 Mô tả đặc điểm mẫu 58
4.1.2 Thống kê mô tả các biến quan sát 58
4.1.3 Kiểm định và đánh giá thang đo 63
4.1.3.1 Phân tích Cronbach’s Alpha 63
4.1.3.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 66
4.1.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy Binary Logistic 68
4.1.4 1 Kiểm định sự vi phạm đa cộng tuyến trong mô hình 70
4.1.4.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 71
4.1.5 Phân tích hồi quy và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố 72
4.2 Bàn luận 74
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 77
Trang 75.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
5.2.1 Kiến nghị đối với các DNNVV 79
5.2.2 Kiến nghị về định hướng áp dụng IFRS for SMEs 81
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 83
5.3.1 Hạn chế của đề tài 83
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 84
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 85
Trang 8BẢNG 2.1 TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI SMEs CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC
GIA 19
BẢNG 2.2 CÁC CHUẨN MỰC ÁP DỤNG CHO CÁC DNNVV 21
BẢNG 2.3 TỔNG HỢP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC ÁP DỤNG IFRS FOR SMES 30
BẢNG 3.1 THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KMO 36
BẢNG 3.2 MÔ TẢ CÁC BIẾN 40
BẢNG 3.3 BẢNG THANG ĐO NHÁP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 41
BẢNG 3.4 BẢNG KẾT QUẢ THẢO LUẬN TAY ĐÔI 44
BẢNG 3.4 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CROBANCH’S ALPHA NHÂN TỐ 46
BẢNG 3.5 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CROBANCH’S ALPHA NHÂN TỐ 47
BẢNG 3.6 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CROBANCH’S ALPHA NHÂN TỐ 48
BẢNG 3.7 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CROBANCH’S ALPHA NHÂN TỐ 49
BẢNG 3.8 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CROBANCH’S ALPHA NHÂN TỐ 50
BẢNG 3.9 BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH KMO AND BARTLETT'S TEST 50
Bảng 3.10 MA TRẬN XOAY NHÂN TỐ (Rotated Component Matrixa) 51
Bảng 3.11 TỔNG PHƯƠNG SAI TRÍCH CỦA CÁC BIẾN CẦN PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA 51
BẢNG 3.12 BẢNG THANG ĐO SAU NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 52
BẢNG 3.13 BẢNG THANG ĐO HIỆU CHỈNH SAU NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 54
BẢNG 4.1 THỐNG KÊ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 58
BẢNG 4.2 THỐNG KÊ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG ÁP DỤNG IFRS FOR SMEs 58
BẢNG 4.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA CÁC DNNVV 59
BẢNG 4.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ SỰ TỒN TẠI CỦA PHÒNG KẾ TOÁN 60
TRONG CÁC DNNVV 60
BẢNG 4.3 THỐNG KÊ MÔ TẢ NHÂN TỐ CHI PHÍ LỢI ÍCH 61
BẢNG 4.4 THỐNG KÊ MÔ TẢ NHÂN TỐ CHUYÊN MÔN, NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI LÀM KẾ TOÁN 62
BẢNG 4.5 THỐNG KÊ MÔ TẢ NHÂN TỐ NHU CẦU CỦA ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DNNVV 63
Trang 9LỢI ÍCH TRONG NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 64
BẢNG 4.7 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CRONBACH ‘S ALPHA NHÂN TỐ CHUYÊNMÔN NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI LÀM KẾ TOÁN 65
TRONG NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 65
BẢNG 4.8 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH CRONBACH ‘S ALPHA NHÂN TỐ NHU CẦUCỦA ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DNNVV
TRONG NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 66
BẢNG 4.9 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH KMO VÀ BARTLETT TRONG 67
NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 67
Trang 10HÌNH 3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 33
HÌNH 3.2 MÔ TẢ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 54
HÌNH 4.1 TỶ LỆ HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA CÁC DNNVV 59
HÌNH 4.2 TỶ LỆ SỰ TỒN TẠI CỦA PHÒNG KẾ TOÁN TRONG 60
CÁC DNNVV 60
HÌNH 4.3 KẾT QUẢ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 72
Trang 11Từ viết tắt Diễn giải
IASB International Accounting Standards Committee ( Hội đồng
chuẩn mực kế toán quốc tế) International Financial Reporting Standards for SMEs ( IFRS for SMEs Chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế dành cho
các doanh nghiệp nhỏ và vừa) DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa đã và đang trở thành xu hướng chung của nền kinh tế trên toànthế giới Do đó, việc hình thành và phát triển một hệ thống chuẩn mực kế toán chungnhằm tăng tính so sánh, cạnh tranh công bằng trong đầu tư vốn đã bắt đầu phát triển từnhững năm đầu của thế kỷ 20 với đỉnh điểm là sự ra đời của Hội Đồng Tiêu Chuẩn KếToán Quốc Tế (IASB) cùng với việc ban hành hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chínhQuốc Tế (IFRS) Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực này đã tạo ra không ít cơ hội chocác quốc gia trên thế giới trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài mở rộng sản xuấtkinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh công bằng của các quốc gia Tuy nhiên,
bộ hệ thống chuẩn mực IFRS lại tỏ ra kém hiệu quả khi áp dụng ở các quốc gia đangphát triển với hệ thống các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vì vậy, tháng 07/2009, sau nhiều cuộc hội thảo IASB đã chính thức ban hành
bộ Chuẩn Mực Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ vàvừa (IFRS for SMEs) IFRS for SMEs là hệ thống chuẩn mực được IASB ban hànhvới cam kết giảm thiểu 85% công việc cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)khi lập các báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn IFRS hiện hành Nam Phi là nước đầutiên áp dụng hệ thống chuẩn mực này sau đó lan rộng ra các nước khác như: Romani,Cộng Hòa Séc, Trung Quốc… (Doris K Feltham, 2013) Theo báo cáo mới nhất củaIASB tính đến tháng 03/2017 có tổng 85 quốc gia thừa nhận hoặc cho phép áp dụngIFRS for SMEs cho các DNNVV (IFRS, 2017)
Tại Việt Nam với hệ thống các (DNNVV) chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp
cả nước sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cho đất nước
(Theo báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam, 2016) Điều này cho thấy
DNNVV đóng vai trò cực kỳ quan trọng ở nước ta Do đó, việc áp dụng một bộ hệthống chuẩn mực báo cáo tài chính mang tầm quốc tế sẽ mở ra nhiều cơ hội cho cácDNNVV hội nhập vào nền kinh tế thế giới Giúp cho các DNNVV tiếp cận nguồn vốnquốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững Hơn nữa, với cam kếtgiảm thiểu tối đa công việc cho các DNNVV khi lập báo cáo tài chính theo IFRS forSMEs thì việc áp dụng bộ hệ thống chuẩn mực này vừa có thể tạo ra thêm cơ hội cho
Trang 13các DNNVV mở rộng sản xuất kinh doanh thâm nhập thị trường quốc tế vừa vẫn đảmbảo được không tạo thêm gánh nặng cho các DNNVV.
Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu liên quan tới việc áp dụngchuẩn mực IFRS for SMEs cho các DNNVV tại Việt Nam Các nghiên cứu chủ yếuđánh giá thực trạng áp dụng VAS đối với các SMES và khẳng định quan điểm về việcxây dựng CMBCTC riêng cho các DNNVV Các nghiên cứu thực nghiệm về việcquan điểm cũng như sự sẵn sàng của các DNNVV đối với việc áp dụng IFRS forSMEs chưa được đề cập đến Chính vì điều đó, việc nghiên cứu về các nhân tố tácđộng đến mức độ sẵn sàng của nhà quản trị đối việc áp dụng chuẩn mực lập báo cáotài chính quốc tế (IFRS for SEMs) của các DNNVV tại Việt Nam đang trở thành mộtvấn đề đáng được quan tâm
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập kế toán quốc tế của các DNNVV tại ViệtNam đáp ứng nhu cầu toàn cầu hóa hiện nay Mục tiêu nghiên cứu của luận văn hướngđến:
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, nội dung luận văn cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng của các DNNVV tại Việt Nam khi áp dụng IFRS for SMEs?
2 Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs cho các DNNVV tại Việt Nam?
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Các DNNVV tại TP Hồ Chí Minh có số lượng lao động (<300 người) và cótổng vốn điều lệ thấp hơn 100 tỷ đồng được phân loại theo nghị định 56/2009/NĐ-CP
b Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các công ty chưa niêm yết trên thị trườngchứng khoán chính thức, không bao gồm các công ty đại chúng, ngân hàng, công tybảo hiểm, chứng khoán
5 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng kết hợp 2 phương pháp là phương pháp định tính và phương phápđịnh lượng, trong đó:
+ Phương pháp định tính bao gồm: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương
pháp tư duy, phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh
+ Phương pháp định lượng bao gồm: thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết
thống kê và kiểm định mô hình hồi quy logistic
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trở thành dữ liệu nghiên cứu cho các đề tài nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng IFRS for SMEs cho các DNVVV ở Việt Nam
Là nguồn thông tin cần thiết cho các tổ chức lập quy trong vấn đề xem xét việc
áp dụng IFRS for SMEs của các doanh nghiệp Việt Nam
Xác lập các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động của các DNNVV
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương và được trình bày theo bố cục và nội dung như sau:
Phần mở đầu: giới thiệu về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Đồng thời cũng nêu lên ý nghĩa nghiên cứu thực tiễn của luận văn
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu: Tóm tắt sơ lược các nghiên cứu liên quan
đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS for SMEs cho các DNNVV tại ViệtNam
Trang 15 Chương 2 Cơ sở lý thuyết: Trình bày lịch sử hội tụ kế toán quốc tế cùng với
sự hình thành và phát triển IFRS for SMEs Tác giả tổng hợp các cơ sở lý thuyết củacác nghiên cứu trước về định nghĩa khái niệm SMEs và kinh nghiệm áp dụng IFRS forSMEs của một số quốc gia trên thế giới Từ đó xác định nhu cầu cần thiết của việc ápdụng IFRS for SMEs tại Việt Nam Trong chương này, tác giả cũng tiến hành tổnghợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng của các DNNVV đối với việc ápdụng IFRS for SMEs
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: Từ cơ sở lý thuyết nghiên cứu đã được
tác giả tổng hợp và phân tích ở chương 2, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cácnhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng của các DNNVV đối với việc áp dụng IFRSfor SMEs tại Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát 197 doanh nghiệp Tác
giả tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đồng thời đưa ra những nhận xét, bàn luận dựatrên kết quả nghiên cứu đạt được
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Với kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả
đưa ra các định hướng cho việc áp dụng IFRS for SMEs tại Việt Nam Tác giả cũngnêu lên các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Lược sử về quá trình hội tụ kế toán quốc tế
Ý tưởng về việc hội tụ các chuẩn mực kế toán hình thành nên bộ chuẩn mực kếtoán quốc tế được đề cập đến trong Đại hội Kế toán Quốc tế đầu tiên tổ chức tại StLouis năm 1904 Năm 1957, khi Đại hội Kế toán Quốc tế lần thứ 7 tổ chức tạiAmsterdam, ông Jacobkraayenhof, đã phát biểu về nhu cầu hợp nhất thành hệ chuẩnmực kế toán quốc tế Sau năm 1966, các cuộc thảo luận đã được thực hiện trong số các
cơ quan chuyên nghiệp khác nhau như: Viện Kế toán công chứng Anh và xứ Wales,Viện kế toán công chứng Canada và Hiệp hội các Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ.Các cuộc thảo luận được dẫn dắt bởi Sir Henry Benson, Chủ tịch Viện Kế toánChartered của Anh và xứ Wales Kết quả là một nhóm nghiên cứu được thành lập đểtiến hành các nghiên cứu so sánh về tư duy và thực tiễn kế toán giữa các nước thamgia Các cán bộ cấp cao của nhóm nghiên cứu đã quyết định thiết lập các chuẩn mựcquốc tế Vào năm 1972, tại Đại hội Kế toán Quốc tế lần thứ 10 tại Sydney, Ủy banĐiều phối Kế toán Quốc tế về Nghiệp vụ Kế toán (ICCAP) được thành lập để làm cơ
sở cho việc thành lập một tổ chức chính thức cho các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế Ủyban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC), được thành lập bởi 16 cơ quan kế toán đạidiện cho 9 quốc gia, Canada, Úc, Pháp, Nhật, Đức, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh
và Hoa Kỳ vào ngày 29 tháng 6 năm 1973, với ban thư ký và trụ sở tại London Từ đóquá trình hội tụ kế toán được hình thành và trải qua hai giai đoạn Giai đoạn từ năm
1973 đến năm 2001 - Giai đoạn tiền hội tụ và giai đoạn từ năm 2001 đến nay - Giaiđoạn hội tụ
1.1.1 Giai đoạn tạo tiền đề hội tụ ( 1973 – 2000)
Sau khi ra đời IASC đã không ngừng nổ lực thúc đẩy về việc hội tụ các chuẩnmực kế toán của các quốc gia trên thế giới Năm 1995, thành lập Tổ chức ChứngKhoán Quốc Tế (IOSCO) với nhiệm vụ xây dựng các chuẩn mực cốt lõi để sử dụngrộng rãi của các quốc gia Năm 1997, để giải thích và đảm bảo cho các tiêu chuẩnđược vận hành đúng IASC tiếp tục thành lập “Ủy ban hướng dẫn chuẩn mực” (SIC).(Bhagaban Das et al, 2009) Tính đến cuối năm 2000, IASC có 156 thành viên là tổchức nghề nghiệp đến từ 114 quốc gia Trong thời gian trên, IASC ban hành được
Trang 17Khuôn mẫu lý thuyết kế toán và 41 chuẩn mực kế toán quốc tế, trong đó có 30 chuẩnmực có hiệu lực đến cuối năm 2000 (Bhagaban Das et al, 2009).
Như vậy, giai đoạn 1973-2000 việc hội tụ kế toán chỉ dừng ở mức tạo nênnhững tiền đề thể hiện qua việc hình thành và phát triển các tổ chức soạn thảo cácchuẩn mực kế toán quốc tế Việc thống nhất các chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ đượctiếp tục phát triển trong giai đoạn sau
1.1.2 Giai đoạn hội tụ (từ năm 2001 đến nay)
Giai đoạn 2 của tiếp trình hội tụ được đánh dấu bằng một sự kiện mang tính độtphát thể hiện qua quyết định thay đổi cấu trúc của ủy ban nhằm đạt được sự hội tụtoàn cầu Năm 2001, Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC) chính thức đượcđổi tên thành Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IASB) Do đó, chuẩn mực kếtoán quốc tế (IAS) được đổi tên thành Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS)
Năm 2002, IASB và FASB cùng ký thỏa thuận Norwalk một kỷ nguyên mớicho sự hội tụ kế toán quốc tế toàn cầu được mở ra
Tính đến năm 2010, đã có 14 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được banhành Khuôn mẫu lý thuyết cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRSFramework) cũng được ban hành mới.Thuật ngữ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tếđược sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các chuẩn mực do IASB ban hành
(Trần Quốc Thịnh, 2014)
Như vậy, hội tụ kế toán quốc tế là một trong những vấn đề lớn đã trải qua nhiềugiai đoạn với mục tiêu tạo ra một hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu Mặc dù, quátrình hội tụ trải qua nhiều thăng trầm như xu hướng hội tụ kế toán quốc tế vẫn diễn racho đến nay
1.2 Sự hình thành và phát triển của IFRS for SMEs
Năm 2004, IASB thừa nhận rằng bộ chuẩn mực IFRS toàn bộ phù hợp với tất
cả các thực thể nhưng lại tạo ra tính phức tạp làm cho các DNNVV gặp khó khăn khi
áp dụng Do đó, IASB đã chủ động thực hiện cuộc thảo luận về việc thành lập một bộchuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa(IFRS for SMEs) Đồng thời IASB cũng khẳng định rằng:
Trang 18 Nhu cầu người sử dụng đối với báo cáo của các DNVVN
IASB lập luận rằng người dùng của SME tập trung vào "dòng tiền ngắn hạn,tính thanh khoản, số dư trên bảng cân đối và lãi suất, xu hướng lịch sử và mức lãi suấttrong lịch sử hơn là những thông tin hỗ trợ" khác với sự quan tâm của thị trường côngchúng quan tâm tới dòng tiền mặt dài hạn, thu nhập và giá trị
Mục tiêu của việc xây dựng IFRS for SMEs
Mục tiêu của IFRS dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là cung cấp các tiêuchuẩn kế toán chất lượng cao, dễ hiểu và có thể thực thi phù hợp với các DNNVV trêntoàn cầu Các tiêu chuẩn sẽ tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng báocáo tài chính cho DNNVV và sẽ dựa trên khung khái niệm tương tự như IFRSs Cácmục tiêu bổ sung là giảm gánh nặng báo cáo tài chính đối với các DNNVV muốn sửdụng các tiêu chuẩn toàn cầu và cho phép chuyển sang IFRS đầy đủ cho những SMEStrở thành trách nhiệm giải trình công khai hoặc chuyển sang IFRS đầy đủ
IASB cũng làm rõ rằng mục đích chính của dự án tiêu chuẩn SME không phải
là cung cấp thông tin cho việc ra quyết định quản lý hoặc cho các cơ quan thuế, màthay vào đó là trọng tâm là nhu cầu của người sử dụng bên ngoài IASB đã chỉ ra rằngmột trong những vấn đề quan trọng của báo cáo thảo luận là xác định các thực thể nào
sẽ đủ điều kiện để sử dụng các tiêu chuẩn của SME (IASB,2004)
Năm 2007, IASB đã đưa ra bảng dự thảo IFRS đề xuất cho các doanh nghiệp
vửa và nhỏ, không chỉ giải quyết nhu cầu báo cáo tài chính của các DNNVV mà còn
là những lợi ích về chi phí của việc thực hiện các tiêu chuẩn kế toán Bản dự thảo đãphản ánh một loại trừ các chủ đề không liên quan đến DNNVV, các lựa chọn kế toánđơn giản hơn và hạn chế hơn, các nguyên tắc về thừa nhận và đơn giản hóa cũng nhưgiảm các yêu cầu công bố thông tin (IASB,2007)
Năm 2009, IASB chính thức công bố bộ chuẩn mực IFRS cho các DNNVVhoàn chỉnh Sau đó, bộ chuẩn mực này lần lượt được các quốc gia áp dụng khởi đầu từNam Phi sau đó lan rộng sang các quốc gia khác Tính đến tháng 10 năm 2009, trong
số các quốc gia có kế hoạch yêu cầu IFRS cho các DNNVV là Bahamas, Bahrain, rập Xê-út, Nam Phi và Anh Những người có kế hoạch cho phép sử dụng IFRS chocác DNNVV bao gồm Hoa Kỳ, Áo, Nigeria và Đan Mạch Các nước có thẩm quyềnxem xét yêu cầu hoặc cho phép bao gồm các quốc gia như Hồng Kông, Israel,
Trang 19Ả-Romania và Đài Loan Trong nhóm các quốc gia phản đối đòi hỏi hoặc cho phép làCanada, Pháp, Đức, Nhật Bản và Mexico (Doris K Feltham, 2013)
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
HA van Wyk và J Rossouw, 2009 bài viết nghiên cứu về thực nghiệm áp dụngIFRS for SMEs tại Nam Phi – Quốc gia đi đầu trong việc áp dụng IFRS for SME.Trên cơ sở khảo sát 242 DNNVV tại các thành phố thuộc Nam Phi, bằng việc sử dụngphương pháp thống kê mô tả các kết quả khảo sát thu thập được Bài viết cho rằngviệc lựa chọn áp dụng IFRS for SMEs là một bước đi đúng đắn nhưng thật sự thì cácnhà lập quy tại Nam Phi cần phải xem xét nhiều khía cạnh ở các vấn đề khác Đầu tiênliên quan đến việc tiêu chuẩn lựa chọn số lao động 50 người là quá cao cho các doanhnghiệp tại Nam Phi Tiếp theo là các vấn đề mà bài viết cho rằng một vài quy địnhkhông phù hợp với thực tế doanh nghiệp nhỏ ở Nam Phi như tài sản khấu hao, công bốcác bên liên quan, tài trợ của chính phủ, tài sản không lưu chuyển để bán và báo cáotài chính vi phạm tính hoạt động liên tục, tỷ giá hối đoái và phúc lợi lao động có thểkhông thực sự áp dụng cho các DNVVN
Suhaib Aamir và Umar Farooq, 2010 bài viết nghiên cứu đánh giá về mức độsẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của các DNNVV tại Thụy Điển Bằng phương phápphỏng vấn bán cấu trúc kết hợp với phương pháp lấy mẫu mở rộng dần, tác giả thuthập ý kiến của mười một chuyên gia đánh giá về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS forSEMs tại Thụy Điển Kết quả nghiên cứu cho thấy, các DNNVV tại Thụy Điển khôngsẵn sàng chấp nhận áp dụng bộ chuẩn mực này Đồng thời nghiên cứu này cũng phântích giữa việc lựa chọn áp dụng nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAPP) tạiThụy Điển và IFRS for SMEs dựa trên cơ sở chi phí/lợi ích Từ đó, cho thấy rằng cácDNNVV tại nước này lựa chọn áp dụng GAAP tại Thụy Điển hơn là việc áp dụngIFRS for SMEs
Atik, 2010 bài viết nghiên cứu về quan điểm của các DNNVV tại Thổ Nhỹ Kỳnăm 2010 Vào tháng 07/2009 khi IASB ban hành IFRS for SMEs, các nhà lập quy tạiThổ Nhỹ Kỳ bắt đầu tranh luận về vấn đề áp dụng hệ thống tiêu chuẩn cho cácDNNVV tại nước này Trên cơ sở khảo sát 216 DNNVV, tác giả sử dụng phươngpháp thống kê mô tả đối với các kết quả khảo sát thu thập được Kết quả nghiên cứu
Trang 20cho thấy rằng hầu hết các DNNVV vẫn muốn áp dụng IFRS for SMEs trên cơ sở tựnguyện hơn là bắt buộc Bởi vì các DNNVV tại nước này chủ yếu lập báo cáo tàichính cho mục đích thuế hơn là vì mục tiêu quản lý.
Stefan Bunea et al, 2012 nghiên cứu nhằm xác định thái độ của kế toán chuyênnghiệp Rumani về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) nênđược hướng dẫn theo các phán xét chuyên môn của người làm kế toán được quy địnhtrong IFRS for SMEs hay cần phải có sự hướng dẫn cụ thể cho từng nghiệp vụ kinh tếphát sinh theo chuẩn mực kế toán được ban hành bởi bộ tài chính tại nước này.Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập thông quabảng câu hỏi khảo sát trên một mẫu gồm 190 nhân viên kế toán Kết quả cho thấy rằngnhững người trả lời có kinh nghiệm trên 10 năm làm công tác kế toán có xu hướngủng hộ việc thiết lập các hệ thống chuẩn mực theo các phán xét chuyên môn (theoIFRS for SMEs) hơn là sử dụng các hướng dẫn chi tiết
Francis Aboagye-Otchere & Juliet Agbeibor, 2012 bài viết nghiên cứu về thựctrạng áp dụng IFRS for SEMs ở Ghana Bằng việc tiến hành một cuộc điều tra điều tra
305 doanh nghiệp nhỏ, trong đó có 149 phiếu điều tra sử dụng được trả lại Vận dụng
lý thuyết thể chế tác giả cho rằng các tổ chức sẽ tuân thủ IFRS for SEMs dưới sự tácđộng của ba yếu tố cơ bản bao gồm: Áp lực bắt buộc, quy chuẩn và sự hội tụ Bài viếttập hợp sự khác biệt giữa các vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp nhỏ và các doanhnghiệp vừa Đồng thời thông qua việc sử dụng phương pháp kiểm định tương quanSpearman, tác giả khẳng định rằng các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS fornhỏ và vừa (SEMs) cho các bao gồm: ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý, sốlượng chủ sở hữu, kích thước, tác động của nhân tố quốc tế Bài viết cũng cho rằngnhu cầu cho các hoạt động quốc tế có hệ số tương qua cao nhất do đó chính là tácnhân thúc đẩy các DNNVV áp dụng IFRS for SEMs
Nadia Albu et al, 2013 bài viết nghiên cứu về nhận thức của các bên liên quanđến báo cáo tài chính của các DNVVN ở bốn nền kinh tế mới nổi (Cộng hòa Séc,Hungary, Romania và Thổ Nhĩ Kỳ) về việc áp dụng IFRS for SMEs cho các doanhnghiệp vừa nhỏ tại các quốc gia này Thông qua phương pháp thống kê mô tả, nghiêncứu chỉ ra rằng tồn tại sự khác biệt quan điểm của các bên liên quan về chi phí, lợi ích
và những ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS for SEMs Bài viết cũng nêu lên các đặc
Trang 21điểm đặc trưng của các DNNVV ở các quốc gia có nền kinh tế mới nổi này Sự khácbiệt trong việc lựa chọn sử dụng báo cáo tài chính cho mục đích cơ sở tính thuế vàmục đích cải thiện tính so sánh, minh bạch của báo cáo nhằm thu hút nguồn vốn đầu
tư quốc tế Bài viết tổng hợp các quan điểm các bên liên quan nhằm xây dựng cácphương pháp, định hướng đối với việc áp dụng IFRS for SMEs cho các quốc gia nàynói chung và ở các nước đang phát triển có hệ thống kế toán gắn liền với cơ quan thuế.Trên cơ sở chi phí tuân thủ và lợi ích bài viết nêu ra các ưu điểm và nhược điểm củacác phương pháp áp dụng Dựa trên quan điểm của mình và kết quả nghiên cứu, tácgiả cho rằng việc lựa chọn phương pháp hội tụ nhận được sự đồng tình từ các bên liênquan nhiều hơn
Doris Feltham, 2013 nghiên cứu về tác động của việc chuyển đổi từ việc ápdụng U.S GAPP sang IFRS for SEMs cho các DNNVV tại Hoa Kỳ Bài viết tóm tắt
sự hình thành và phát triển của IFRS for SMEs, các quan điểm về việc nên lựa chọnIFRS for SMEs hay tiếp tục áp dụng U.S GAPP cho các DNNVV Bài viết cho rằngmục tiêu chung của U.S.GAPP và IFRS for SEMs trong việc xây dựng chuẩn mực chocác doanh nghiệp các DNNVV là giảm thiểu gánh nặng cho việc lập báo cáo tài chínhcủa các doanh nghiệp này Tuy nhiên, bằng các phương pháp phân tích định tính tácgiả cho rằng một số vấn đề khác biệt trong việc xét đoán chuyên môn của hai bộchuẩn mực IFRS for SEMs và U.S.GAPP còn tồn đọng nhiều khác biệt Do đó, việchội tụ giữa hai bộ chuẩn mực này vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới Tácgiả cũng tập hợp những điểm khác biệt giữa hai bộ chuẩn mực và nêu ra các ví dụ điểnhình cho sự khác biệt trong việc trình bày trên các chỉ tiêu báo cáo tài chính của cácDNNVV tại Hoa Kỳ
Parmod Chand et al, (2015), bài viết đưa ra những quan điểm trái chiều trongviệc xem xét áp dụng IFRS for SMEs tại một số quốc gia trên thế giới Bằng nghiêncứu thực nghiệm tại Fiji một trong những nước đầu tiên áp dụng IFRS for SMEs tạikhu vực Thái Bình Dương, tác giả đưa những vấn đề phát sinh trong việc áp dụngcũng như hội tụ IFRS for SMEs mà các quốc gia đang phát triển phải đối mặt Thôngqua phương pháp thống kê mô tả dựa trên kết quả khảo sát với quy mô hơn 155 doanhnghiệp được phân loại theo tiêu chuẩn nhỏ và vừa tại Fiji Bài viết cho rằng các nhân
tố tác động đến việc áp dụng IFRS for SMEs bao gồm: (1) Chi phí lợi ích, (2) Nhu cầu
Trang 22của người sử dụng báo cáo tài chính của các DNNVV, (3) Chuyên môn, năng lực củangười làm kế toán.
Devrimi Kaya and Maximilian Koch 2015, bài viết nghiên cứu về sự các nhân
tố tác động đến việc lựa chọn áp dụng IFRS for SMEs tại các quốc gia trên thế giới.Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRSfor SMEs bao gồm các biến như: (1) sự tồn tại của chuẩn mực kế toán tại quốc gia, (2)
Sự ổn định chính trị, (3) Tính chất luật pháp được áp dụng cùng với hai biến kiểm soátkhác là (4) biến khu vực và (5) tổng thu nhập quốc nội (GDP) Bằng việc phân tích môhồi quy Probic của các nhân tố trên thông qua kết quả khảo sát việc áp dụng IFRS forSMEs tại 128 quốc gia, tác giả cho thấy rằng các quốc gia không có khả năng để xâydựng chuẩn mực kế toán riêng có nhiều khả năng áp dụng IFRS cho doanh nghiệp nhỏhơn Bài viết cũng khẳng định việc áp dụng IFRS for SMEs cho các nước đang pháttriển có thể nâng cao kiến thức tài chính và trách nhiệm giải trình hơn Việc áp dụngIFRS for SMEs có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các khoản vay từ tổchức quốc tế như ngân hàng thế giới và IMF
Dinuja Perera , Parmod Chand, 2015 bài viết tổng hợp quá trình hình thành vàphát triển của IFRS for SMEs Song song đó, tác giả cũng tổng hợp một số tiêu chíđịnh lượng về SMEs được một số quốc gia trên thế giới sử dụng để xác định đối tượng
áp dụng IFRS for SMEs Bằng phương pháp phân tích định tính tác giả tập hợp cácnghiên cứu về các vấn đề khó khăn, vướng mắc mà các DNNVV sẽ phải đối mặt khi
áp dụng IFRS for SMEs trên phạm vi quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy rằngIFRS for SMEs vẫn còn là gánh nặng đối với các doanh nghiệp nhỏ và đặc biệt siêunhỏ tại một số quốc gia trên thế giới Bài viết cung cấp những góp ý liên quan tới việchoàn thiện các hơn nữa bộ chuẩn mực IFRS for SMEs thông qua việc xem xét lược bỏmột số chuẩn mực không thật sự cần thiết cho các DNNVV
Merve Kılıç et al, 2016 bài viết nghiên cứu về việc xác định mức độ sẵn sàngcủa các DNNVV tại Thổ Nhỹ Kỳ đối với việc áp dụng IFRS for SMEs và các nhân tốảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng này Để giải quyết vấn đề nghiên cứu này, tác giả xâydựng một mô hình phân tích Logistic nhằm mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởngcũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với mức độ sẵn sàng áp dụng IFRSfor SMEs của các DNNVV tại nước này Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát của
Trang 23198 DNNVV, tác giả cho rằng các DNNVV tại Thổ Nhỹ Kỳ chưa thật sự sẵn sàng ápdụng IFRS for SEMs Đồng thời tác giả cũng xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnmức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs bao gồm: (1) quy mô doanh nghiệp, (2) tuổidoanh nghiệp, (3) kiểm toán độc lập, (4) hoạt động quốc tế, (5) sự tồn tại của phòng kếtoán.
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Mai Ngọc Anh, 2011 phân tích các đặc điểm của các DNNVV tại Việt Nam chiphối tới việc ban hành các quy định kế toán dành cho các DNNVV như: (1) CácDNNVV tại Việt Nam thường là các doanh nghiệp đóng (không có sự công bố báocáo tài chính ra bên ngoài) (2) Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNVVVthường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính (3) Trang thiết bị, nguồnnhân lực cho công tác kế toán ở các DNNVV có nhiều hạn chế Bên cạnh đó, bài viếtcũng nêu ra các đặc điểm khác biệt giữa chuẩn mực áp dụng cho các DNNVV theoquyết định 48/2006 và quyết định 15/2006 dành cho các doanh nghiệp có quy mô lớn.Trần Đình Khôi Nguyên, 2013 nghiên cứu này phân tích các đặc điểm của cácDNNVV và những ảnh hưởng của các đặc điểm này đối với việc vận dụng chuẩn mực
kế toán tại các DNNVV tại Đà Nẵng Thông qua kết quả phân tích từ mô hình EFA,bài viết khẳng định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận chuẩn mực bao gồm: (1) Đặctrưng hệ thống văn bản kế toán Việt Nam, (2) Nhận thức của người chủ doanh nghiệp,(3) Trình độ của kế toán viên, (4) Vai trò của cộng đồng kế toán Thông qua việc xácđịnh các nhân tố ảnh hưởng tác giả đồng thời cũng xây dựng các thước đo định tínhđối với các nhân tố ảnh hưởng này
Trần Thị Trang, 2013 nghiên cứu về định hướng xây dựng hệ thống chuẩn mực
kế toán cho DNNVV tại Việt Nam hòa với chuẩn mực kế toán quốc tế dành cho cácDNNVV Bài viết tổng hợp sự hình thành và phát triển của IFRS for SMEs, phân tíchviệc áp dụng IFRS for SMEs của các quốc gia trên thế giới để đưa ra các bài học kinhnghiệm cho việc vận dụng IFRS for SMEs tại Việt Nam Bằng việc sử dụng phươngpháp phân tích định lượng để xác định thực trạng vận dụng chuẩn mực kế toán của cácDNNVV tại Việt Nam kết hợp phương pháp lý luận phân tích sự khác biệt giữa hệthống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và IFRS for SMEs, tác giả đưa ra các định
Trang 24hướng và giải pháp vận dụng IFRS for SMEs để xây dựng hệ thống chuẩn mực dànhriêng cho các DNNVV tại Việt Nam.
Trần Thị Thanh Hải, 2014 nghiên cứu này cho rằng cần phải xác lập khung pháp
lý kế toán cho các DNNVV tại Việt Nam Bài viết nêu ra nhu cầu cần thiết cho việcxây dựng chuẩn mực kế toán cho các DNVVN, các bài học kinh nghiệm áp dụng tạicác quốc gia Mỹ, Pháp, Rumani – các quốc gia có khá nhiều đặc điểm tương đồng vớinền kinh tế hoặc có những ảnh hưởng đáng kể đến việc hội tụ kế toán của các doanhnghiệp Việt Nam Bài viết khẳng định rằng tạo ra sự tương thích trong sự phù hợp vớimôi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa luôn là vấn đề có tínhnguyên tắc khi xây dựng hệ thống văn bản pháp lý kế toán áp dụng cho doanh nghiệpnói chung và áp dụng cho DNNVV nói riêng Việc nghiên cứu và học tập kinh nghiệm
để có cơ sở khoa học khi nghiên cứu và soạn thảo hành lang pháp lý kế toán choDNNVV phù hợp với đặc thù của nền kinh tế VN chứ không phải là sao chép và sửdụng một cách máy móc nhằm giúp hoạt động kế toán tại các doanh nghiệp này đượcthực hiện trong khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh
Nguyễn Xuân Hưng và Hồ Xuân Thủy, 2015 bài viết nghiên cứu về định hướngxây dựng chuẩn mực báo cáo tài chính cho DNNVV Việt Nam hòa hợp với IFRS forSMEs Bài viết tóm tắt khái niệm về SMEs, đặc điểm của IFRS for SMEs, so sánhmột số đặc điểm khác biệt giữa IFRS for SMEs với hệ chuẩn mực kế toán Việt Nam(VAS) áp dụng cho các DNNVV Đồng thời tổng hợp các quan điểm xây dựng chuẩnmực báo cáo tài chính dành cho các DNNVV trên thế giới Dựa trên cơ sở này, tác giảnêu ra các định hướng xây dựng chuẩn mực kế toán dành cho các DNNVV tại ViệtNam
Hồ Xuân Thủy, 2016 bài viết nghiên cứu về sự thích hợp của báo cáo tài chínhquốc tế cho các DNNVV áp dụng tại Việt Nam Bài viết tổng hợp các khái niệm vềSMEs của các quốc gia trên thế giới và các quan điểm áp dụng IFRS for SMEs củacác quốc gia này Bên cạnh đó, tác giả sử dụng mô hình Logistic để phân tích đến cácnhân tố ảnh hưởng nhu cầu cần áp dụng IFRS for SEMs bao gồm: hình thức pháp lý,hình thức sở hữu, quy mô, lĩnh vực kinh doanh, sự chia tách quyền sở hữu và điềuhành, cơ cấu tổ chức quốc tế, hoạt động quốc tế, báo cáo tài chính được kiểm toán và
tổ chức kiểm toán
Trang 251.4 Kết quả nghiên cứu đã được và những vấn đề tồn tại trong các nghiên
Khái quát được các nhân tố tác động đến việc áp dụng IFRSs for SMEs
1.4.2 Các vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu
Bên cạnh những thành tựu đạt được, các nghiên cứu về việc áp dụng IFRS forSMEs trong nước vẫn còn tồn đọng nhiều hạn chế sau:
Các nghiên cứu còn rời rạc, manh mún chưa có sự tổng hợp, thống nhất giữa cácquan điểm lựa chọn áp dụng IFRS for SMEs Hầu hết, các nghiên cứu chủ yếu sựphương pháp nghiên cứu định tính để phân tích Vai trò của việc vận dụng kết quảnghiên cứu từ mô hình phân tích định lượng chưa được thể hiện một cách rõ ràng
Vấn đề xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng của cácDNNVV ở Việt Nam vẫn chưa được đề cập đến Trong khi đó, quá trình lập quy cầnphải xem xét sự hài hòa giữa thực thể áp dụng và quan điểm của nhà lập quy
Do đó, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng của cácDNVVN ở Việt Nam là một vấn đề đáng được quan tâm
Trang 26TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này giới thiệu tổng quan về lịch sử hình thành và sự phát triển củachuẩn mực kế toán quốc tế dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (IFRS for SMEs).Đồng thời thể hiện tổng quan về các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước về vấn đề áp dụng IFRS for SMEs Dựa trên việc phân tích các kết quả đạt được
và các hạn chế của các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra các vấn đề tồn tại còn phải tiếptục nghiên cứu Trên cơ sở này, tác giả nêu lên tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứucác nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của các DNNVVtại Việt Nam
Trang 27CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)
Nhìn chung, người ta thường cho rằng không có khái niệm được chấp nhậnrộng rãi đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) Trên thực tế, khó có thể áp dụngđịnh nghĩa phổ quát cho các DNNVV do sự khác biệt về doanh nghiệp, lĩnh vực, vănhoá và tình hình phát triển của các nền kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới.(Nguyễn Xuân Hưng & Hồ Xuân Thủy, 2015) Tuy nhiên, việc phân loại SMEs chủyếu căn cứ vào hai tiêu chí định tính (sự chia tách quyền quản lý và điều hành, phạm
vi hoạt động…) và định lượng (số lượng lao động, tổng tài sản, doanh thu…)
Theo hướng dẫn ủy ban Châu Âu (EC,2005) để xác minh một doanh nghiệp
thuộc loại DNNVV trước hết nó phải thỏa mãn điều kiện được gọi là doanh nghiệp.Các doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp có ít hơn 250 nhân viên với doanh thuhàng năm dưới 50 triệu Euro và tổng tài sản hàng năm ít hơn hoặc bằng 43 triệu Euro.Các doanh nghiệp nhỏ được định nghĩa là các doanh nghiệp có ít hơn 50 nhân viên và
có doanh thu hàng năm hoặc tổng số bảng cân đối kế toán hàng năm không vượt quá
10 triệu Euro Các doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là các doanh nghiệp có íthơn 10 nhân viên và có doanh thu hàng năm hoặc tổng số bảng cân đối kế toán hàngnăm không vượt quá 2 triệu Euro Ngưỡng số lượng nhân viên là bắt buộc; Tuy nhiêncác doanh nghiệp không phải là bắt buộc đáp ứng đồng thời cả hai ngưỡng doanh thu
và ngưỡng tổng số trên bảng cân bằng (EC, 2003)
Tại Úc, Cục thống kê Úc (ABS) định nghĩa một doanh nghiệp siêu nhỏ là một
doanh nghiệp có dưới 4 nhân viên Một doanh nghiệp nhỏ được định nghĩa là mộtdoanh nghiệp kinh doanh tích cực có dưới 19 nhân viên, và một doanh nghiệp vừa như
một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có từ 20 đến 199 nhân viên Tại Canada,
Dịch vụ Công và Dịch vụ Chính phủ Canada (PWGSC) xác định các doanh nghiệpnhỏ và vừa là doanh nghiệp có số nhân viên dưới 500 Ngưỡng cho các doanh nghiệpsản xuất nhỏ ít hơn 100 nhân viên và các doanh nghiệp dịch vụ dưới 50 nhân viên
(PWGSC, 2011 ) Tại Hàn Quốc, Tập đoàn Doanh nghiệp Nhỏ (SBC) của Hàn Quốc
định nghĩa SMEs là doanh nghiệp có dưới 300 nhân viên với số vốn từ 8 triệu USDtrở xuống cho các doanh nghiệp sản xuất Họ phân loại các doanh nghiệp sản xuất siêunhỏ và nhỏ như những doanh nghiệp sử dụng 10 và 50 nhân viên tương ứng (SBC,
Trang 282009) Singapore đã thông qua một định nghĩa mới cho các doanh nghiệp nhỏ có hiệu
lực kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2011, theo đó một DNNVV được định nghĩa là mộtcông ty có doanh thu hàng năm không vượt quá 100 triệu đô la Singapore hoặc sửdụng không quá 200 công nhân (The Standards, Productivity & Innovation Board
Singapore, 2011) Tại Nhật Bản, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI)
định nghĩa các DNNVV trong bốn lĩnh vực công nghiệp; Sản xuất, bán buôn, bán lẻ
và dịch vụ và một SME Nhật Bản được định nghĩa là một doanh nghiệp có từ 300người trở xuống và có quy mô vốn 300 triệu yên hoặc ít hơn (EIU, 2010) (DinujaPerera & Parmod Chand, 2015)
Tại Hoa Kỳ (Mỹ) có cách tiếp cận khác để xác định các SME Tổ chức quản lý
doanh nghiệp nhỏ (Small Business Administration - SBA) đã thiết lập "Tiêu chuẩnQuy mô" cho các doanh nghiệp nhỏ (SBA, 2012) Tiêu chuẩn về kích thước được nêutrong số nhân viên hoặc khoản thu trung bình hàng năm và được thiết lập cho từngngành công nghiệp mã hóa của ngành công nghiệp Bắc Mỹ (NAICS) Dựa trên cáctiêu chí này, SBA đã thiết lập một tiêu chuẩn 500 nhân viên làm việc trong ngành sảnxuất và ngưỡng 7 triệu đô la Mỹ khoản thu hàng năm trung bình cho hầu hết cácngành công nghiệp phi sản xuất (SBA, 2012) Định nghĩa của Mỹ đối với các doanhnghiệp nhỏ có vẻ phức tạp về mặt tự nhiên, nhưng các thay đổi về tiêu chuẩn quy môđược giả định là mô tả sự khác biệt trong ngành hơn các định nghĩa khác (DinujaPerera & Parmod Chand, 2015)
Tại Việt Nam, theo hướng dẫn tại nghị định 56/2009/NĐ-CP Về trợ giúp phát
triển DNNVVV, định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theoquy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổngnguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cânđối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn làtiêu chí ưu tiên) Định nghĩa DNNVV ở Việt Nam cũng được phân ra ba ngành nghềkhác nhau: (1) Đối với ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản: Doanh nghiệp siêu nhỏ
là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 10 người, Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp
có tổng nguồn vốn nhỏ hơn 20 tỷ đồng hoặc số lao động trên 10 người đến 200 người.Doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên hơn 20 tỷ đồng đến 100 tỷđồng hoặc số lao động trên 200 người đến 300 người (2) Đối với ngành công nghiệp
Trang 29và xây dựng: Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 10người, Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn nhỏ hơn 20 tỷ đồnghoặc số lao động trên 10 người đến 200 người Doanh nghiệp lớn là doanh nghiệp cótổng nguồn vốn trên hơn 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng hoặc số lao động trên 200 ngườiđến 300 người (3) Đối với ngành thương mại dịch: Doanh nghiệp siêu nhỏ là doanhnghiệp có số lao động nhỏ hơn 10 người, Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổngnguồn vốn nhỏ hơn 10 tỷ đồng hoặc số lao động trên 10 người đến 50 người Doanhnghiệp lớn là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên hơn 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồnghoặc số lao động trên 50 người đến 100 người (Xem bảng 21)
Theo IASB, định nghĩa về SMEs hoàn toàn mang tính chất định tính và IASBkhông thực hiện quy chuẩn định lượng bởi vì mỗi một quốc gia đều có một tiêu chuẩnđịnh lượng riêng Định nghĩa mà IASB đưa ra đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa(SMEs) phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
1 Không có trách nhiệm giải trình và
2 Xuất bản báo cáo tài chính chung cho người dùng bên ngoài Ví dụ về
người dùng bên ngoài bao gồm chủ sở hữu không tham gia quản lý doanh nghiệp, chủ nợ hiện tại và tiềm năng và các cơ quan xếp hạng tín dụng.Như vậy, IASB chỉ nhằm mục đích hướng dẫn các quốc gia sử dụng tiêu chíđịnh tính để xác định đâu là các DNNVV thuộc đối tượng phù hợp với bộ tiêu chuẩnIFRS for SMEs Phần còn lại của các quốc gia là phải tự xây dựng cho mình một tiêuchuẩn định lượng, phân định một cách rõ ràng đối tượng nào là đối tượng phù hợp để
áp dụng IFRS for SEMs
Trang 30BẢNG 2.1 TIÊU CHÍ PHÂN LOẠI SMEs CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA
Khu vực/ đất nước
Số lượng Tổng tài sản/ tổng lao doanh thu hàng Số lượng Tổng tài sản/ tổng doanh Số lượng lao Tổng tài sản/ tổng
< Rs 250.000 đối
< Rs 250.000 -> < 50 triệu < Rs 50 triệu -> < 100
đối với khoản mục đầu tư
vào nhà máy và máy móc
< Rs 1.triệu đối với < Rs 1 triệu -> < 20 triệu < Rs 20 triệu -> < 50
Trang 31< 500
Trang 32Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Khu vực/ đất nước
Số lượng Tổng tài sản/ tổng lao doanh thu hàng Số lượng Tổng tài sản/ tổng doanh Số lượng lao Tổng tài sản/ tổng
- Đối với ngành phi sản
Trang 332.2 Sự phù hợp của việc áp dụng IFRS for SEMs cho các DNNVV tại Việt Nam
Hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng cho các DNNVV của nước
ta đã được nghiên cứu và ban hành trong thời gian qua cụ thể như sau:
Chế độ kế toán DNNVV ban hành theo quyết định 1177/TC-QĐ-CĐKTngày 23/12/1996 của Bộ trưởng Bộ tài chính
Quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính quy định sửa đổi bổ sung chế độ kế toán DNNVV theo quyết định 1177 nêu trên
Hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành từ năm 2001 đến năm 2006 theo các quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính
Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tàichính ban hành chế độ kế toán DNNVV thay thế quyết định 1177/TC-
QĐ-CĐKT
Thông tư 133/2016/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệpnhỏ và vừa ban hành ngày 26/08/2016 thay thế Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày14/9/2006
Cho đến hiện nay, Bộ Tài Chính chỉ ban hành một bộ chuẩn mực duy nhất
áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên, có sự xem xét lược bỏmột số chuẩn mực kế toán để nhằm mục đích giảm gánh nặng cho các DNNVV.Một số chuẩn mực kế toán không áp dụng và một số chuẩn mực kế toán áp dụngkhông đầy đủ bao gồm:
BẢNG 2.2 CÁC CHUẨN MỰC ÁP DỤNG CHO CÁC DNNVV
CÁC CHUẨN MỰC ÁP DỤNG ĐẦY ĐỦ
CÁC CHUẨN MỰC KHÔNG ÁP DỤNG ĐẦY ĐỦ
1 CM số 02- Hàng tồn kho
2 CM số 03- TSCĐ hữu hình
3 CM số 04 TSCĐ vô hình
4 CM số 06 - Thuê tài sản
Trang 345 CM số 07- Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
6 CM số 08- Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh
7 CM số 10- Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
8 CM số 15 - Hợp đồng xây dựng
9 CM số 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp
10 CM số 21- Trình bày báo cáo tài chính
11 CM số 24 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
12 CM số 29 – Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót
7 CM số 30- Lãi trên cổ phiếu
Do đặc điểm các DNNVV Việt Nam thường có quy mô nhỏ nên phạm vi đốitượng sử dụng thông tin tài chính DNNVV cung cấp tương đối hẹp, chủ yếu là chủdoanh nghiệp, một số nhà đầu tư và chủ nợ Nhu cầu thông tin kế toán của họ mangtính đặc thù, cá biệt không giống như đối với các doanh nghiệp đại chúng, có quy
mô lớn Việc các DNNVV áp dụng các chuẩn mực kế toán chung có thể dẫn đếnthông tin tài chính mang tính dàn trải không tập trung cho nhóm đối tượng chủ yếunày
Nếu các báo cáo tài chính của các DNNVV có khả năng so sánh quốc tế sẽtạo điều kiện cho vay qua biên giới tốt hơn đồng thời tăng cường thương mại quốc
tế và quan hệ kinh doanh lâu dài bằng cách cung cấp thông tin dễ hiểu cho kháchhàng và nhà cung cấp Ngoài ra, việc sử dụng một bộ các tiêu chuẩn kế toán choDNNVV sẽ cho phép xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng thống nhất vàkhuyến khích các công ty đầu tư mạo hiểm cung cấp tài chính cho các DNNVV(Nerudova & Bohusova, 2009, trang 236) Theo IASB lập rằng IFRS for SMEs là
hệ thống chuẩn mực với cam kết giảm thiểu 85% công việc cho các DNNVV khilập các báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn IFRS hiện hành Với mong muốn tạo ramột sự sân chơi bình đẳng và sự minh bạch hóa thông tin toàn cầu, IASB đặt niềmtin rằng việc tuân thủ chuẩn mực IFRS for SEMs sẽ tăng cường khả năng so sánhbáo cáo tài chính giữa các DNVVN ở các quốc gia khác nhau Hơn nữa, xem xéttiêu chí khái niệm về DNNVV được IASB giải thích là các doanh nghiệp không
Trang 35giải trình và phát hành báo cáo tài chính ra bên ngoài là phù hợp với đặc điểm theophân loại DNVVN tại Việt Nam được quy định tại nghị định 56/2009/NĐ-CP vàthông tư 133/2016/TT-BTC
Do đó, việc áp dụng IFRS for SMEs như một bộ chuẩn mực kế toán riêngdành cho các DNVVN nhỏ Việt Nam là định hướng cần thiết và quan trọng nhằmtạo ra nhiều cơ hội cho các DNNVV tiếp cận nguồn vốn quốc tế, nâng cao năng lựccạnh tranh và phát triển bền vững
2.3 Các lý thuyết nền về các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs
Lý thuyết ủy nhiệm
Lý thuyết ủy nhiệm nghiên cứu mối quan hệ ủy nhiệm nảy sinh giữa bên ủynhiệm và bên được ủy nhiệm (Jensen & Meckling, 1976) Mục tiêu, lợi ích củabên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm không giống nhau dẫn đến việc thực hiệnhành động có thể theo những cách thức khác nhau và chắc chắn luôn có sự xungđột về mục tiêu giữa các bên do thông tin luôn bất đối xứng
Vận dụng lý thuyết ủy nhiệm
Có thể nói rằng, mâu thuẫn lợi ích của bên được ủy nhiệm và bên ủy nhiệm sẽdẫn đến sự bất đồng quan điểm đối với việc sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs củaDNNVV Bởi vì có thể đối với các nhà quản trị đã đưa ra một số giải pháp thiếtthật trong vấn đề chuẩn bị cho việc áp dụng IFRS for SMEs như: mở rộng cáccuộc họp thảo luận về việc áp dụng IFRS for SMEs, mở các khóa đào tạo chonhân viên về IFRS for SMEs Nhưng điều đó chỉ có thể đạt hiệu quả khi chínhnhân viên của họ đặc biệt là các kế toán viên của doanh nghiệp cũng phải có mộttinh thần sẵn sàng tiếp thu các kiến thức về IFRS for SMEs thì sự chuẩn bị nàymới trở nên hiệu quả Vì vậy để thật sự có được một sự chuẩn bị tốt cho việc ápdụng IFRS for SMEs cần phải có được sự hài hòa lợi ích giữa nhà quản lý và nhânviên của mình để từ đó mới có sự phối hợp cùng nhau đạt được mục tiêu chungcủa doanh nghiệp
Lý thuyết thông tin hữu ích
Lý thuyết thông tin hữu ích (decision usefulness theory) là lý thuyết kế toánchuẩn tắc được sử dụng như một lý thuyết nền tảng để xây dựng khuôn mẫu lýthuyết kế toán hiện nay của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và chuẩn mực kế
Trang 36toán nhiều quốc gia Lý thuyết này nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của báo cáo tàichính là cung cấp thông tin hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng trongviệc ra quyết định kinh tế Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến khái niệmcân bằng lợi ích – chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần quan tâm khi thiết lậpcác chuẩn mực (Godfrey et al, 2003).
Vận dụng lý thuyết thông tin hữu ích
Việc áp dụng một hệ thống chuẩn mực kế toán mới nhất thiết cần phải có sựxem xét đến các yếu tố chi phí – lợi ích liên quan tới việc thay đổi hệ thống chuẩnmực kế toán hiện tại Do đó, việc xem xét có áp dụng IFRS for SMEs cần phải xétđến khía cạnh lợi ích của việc áp dụng hệ thống chuẩn mực này Các thông tinđược trình bày theo IFRS for SMEs có thật sự hữu ích đối với các nhà quản trị haykhông? Các thông tin theo yêu cầu của IFRS for SMEs là sẵn có hay cần phải đòihỏi nhiều chi phí và nổ lực để đạt được Bên cạnh đó, là phải xét đến chi phí đểthay đổi hệ thống chuẩn mực như: chi phí đào tạo, chi phí đầu tư cơ sở vật chất…
Vì vậy, lý thuyết thông tin hữu ích là một trong những lý thuyết cần phải xét đếntrong vấn đề xem xét mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SEMs của các DNNVVtại Việt Nam
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của các DNNVV tại Việt Nam
2.4.1 Mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs
Khái niệm về mức độ sẵn sàng áp dụng một hệ thống chuẩn mực báo cáo tàichính quốc tế ban đầu được nhắc đến trong nghiên cứu của M.S Guerreiro et al(2008) tại Bồ Đào Nha về việc đánh giá mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS cho cáccông ty niêm yết tại Bồ Đào Nha Sau đó, khái niệm này được sử dụng trong nghiêncứu của Suhaib Aamir và Umar Farooq (2010) trong việc nghiên cứu đánh giá mức
độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs cho các DNNVV tại Thụy Điển Sau này, khinghiên cứu về mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs tại Thổ Nhỹ Kỳ khái niệmnày lại một lần được Merve Kılıç et al, (2016) sử dụng lại
Mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs được định nghĩa là sự chuẩn bị sẵnsàng áp dụng một bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế của các DNNVV Đối vớiviệc áp dụng một hệ thống chuẩn mực kế toán mới không thể chỉ có quan điểm chủquan từ phía các nhà lập quy mà còn phải có được sự đồng thuận cũng như sự
Trang 37chuẩn bị sẵn sàng áp dụng của các DNNVV Các nghiên cứu về mức độ sẵn sàng lànhằm mục đích chủ yếu thu thập các quan điểm của các DNNVV trước khi các nhàlập quy có những quyết định liên quan đến việc áp dụng một hệ thống chuẩn mực
kế toán mang tầm quốc tế dành cho các DNNVV
Mức độ sẵn sàng của DNNVV của DNNVV là sự chuẩn bị áp dụng cả về mặtnhà quản lý và nhân viên
Kế toán của các doanh nghiệp cần phải được đào tạo IFRS for SMEs Nhân viên
kế toán là người trực tiếp thực hiện công tác kế toán tại đơn vị Do đó, muốn ápdụng được hệ thống chuẩn mực IFRS for SMEs thì sự trang bị kiến thức IFRS forSMEs cho nhân viên kế toán là hoàn toàn cần thiết
Chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhất thiết cần phải tạo ra cơ hội để nhân viêncủa mình tiếp cận với bộ hệ thống chuẩn mực IFRS for SMEs như: cần phải tổ chứcđào tạo và sắp xếp các cuộc họp thảo luận xung quanh vấn đề áp dụng IFRS forSMEs Bên cạnh đó, nhà quản lý cũng phải tự trang bị cho mình các kiến thức vềcách thức sử dụng thông tin nếu hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp đượclập theo IFRS for SMEs
2.4.2 Quy mô doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp được đề cập trong nghiên cứu Glaum và Mandler (1997)
sử dụng nhằm phân tích ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp lên mức độ hội tụ kếtoán của các doanh nghiệp ở Đức Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanhnghiệp càng lớn thì mức độ hội nhập kế toán quốc tế càng cao Quy mô doanhnghiệp cũng được nhắc đến trong nghiên cứu lý thuyết kế toán thực chứng (Watts
và Zimmerman,1990) Bài viết khẳng định tồn tại mối quan hệ giữa quy mô doanhnghiệp với chi phí chính trị Theo đó, các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn sẽ có xuhướng lựa chọn chính sách kế toán giảm thiểu chi phí chính trị nhiều hơn Quy môdoanh nghiệp sau đó được xem xét ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS for SMEstrong nghiên cứu của (Eierle và Haller, 2009) tại Đức Nghiên cứu này khằng địnhdựa trên việc phân tích trên quan hệ chi phí – lợi ích liên quan tới việc lựa chọn cácchính sách kế toán của các công ty có quy mô khác nhau là khác nhau trong việclựa chọn IFRS for SMEs
Trang 38Trong nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ quy mô doanh nghiệp được sử dụng đầu tiêntrong nghiên cứu về quan điểm của các DNNVV đối với việc áp dụng IFRS forSMEs (Atik.A (2010)) Sau đó, nhân tố này được khẳng định lại trong nghiên cứucủa (Merve Kılıç et al, 2016) tại nước này trong nghiên cứu về sự sẵn sàng của cácDNNVV đối với IFRS for SME Các nghiên cứu này khẳng định khi quy mô củamột đơn vị tăng lên, sự sẵng sàng cho IFRS for SMEs cũng tăng lên từ đó dẫn đếnviệc chấp nhận IFRS for SMEs nhiều hơn Việc sử dụng nhân tố quy mô doanhnghiệp trong các nghiên cứu cũng nhằm mục đích xác định tiêu chí phân loại cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa đối với việc áp dụng IFRS for SMEs.
2.4.3 Sự tồn tại của phòng kế toán
Trong nghiên cứu về việc chuyển đổi sang chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) tại
Úc, Jones và Higgins, 2006 nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi đếncác chức năng, tổ chức, trách nhiệm của các phòng ban bao gồm: ban giám đốc vàgiám đốc điều hành, kế toán và bộ phận tài chính, ban bồi thường điều hành, bộphận quan hệ nhà đầu tư, phòng nhân sự, phòng công nghệ thông tin, và kiểm toánviên bên ngoài Nghiên cứu này khẳng định kiểm toán viên độc lập sẽ hỗ trợ thamgia chi phối quá trình chuyển đổi nhiều nhất, kế đến là bộ phận công nghệ thông tin
và phòng nhân sự Vai trò của phòng kế toán trong vấn đề chuyển đổi được loại ratrong kết quả nghiên cứu của tác giả
Tuy nhiên trong kết quả nghiên cứu về việc áp dụng IFRS for SMEs tại Thổ Nhĩ
Kỳ được thực hiện bởi (Atik.A (2010)), lại cho kết quả rằng các công ty có bộ phận
kế toán, chi phí tăng thêm để áp dụng một bộ tiêu chuẩn kế toán khác có thể làkhông có hoặc rất ít Nhân tố sự tồn tại của phòng kế toán cũng được nhắc đếntrong nghiên cứu Merve Kılıç et al, 2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự tồntại của phòng kế toán sẽ ảnh hưởng đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEscủa các doanh nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ
2.4.4 Hoạt động quốc tế
Trong nghiên cứu tại các tập đoàn đa quốc gia tại Châu Âu, (El-Gazzar vàcộng sự, 1999) cho rằng các công ty có được một phần đáng kể doanh thu từ các thịtrường quốc tế có xu hướng phát triển các chính sách quốc tế trong một số lĩnh vực,bao gồm đầu tư, tiếp thị, tài chính và công bố thông tin Do đó, các doanh nghiệp cóđộng lực hơn để tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế để tăng
Trang 39cường các hoạt động nước ngoài Theo họ, việc tuân thủ các tiêu chuẩn được quốc
tế chấp nhận làm giảm nguy cơ người sử dụng báo cáo tài chính quốc tế và các nhàcung cấp tài nguyên và giúp công ty có được nguồn lực quốc tế với chi phí hợp lý
Mặc khác trong nghiên cứu về đặc điểm của các doanh nghiệp áp dụngchuẩn mực kế toán quốc tế tại Thụy Sỹ (Murphy, 1999) khẳng định rằng tiêu chuẩnthuận lợi trong việc đưa ra các báo cáo tài chính của các công ty có tỷ lệ hoạt độngdoanh thu quốc tế cao đáng tin cậy hơn trên toàn cầu Một lý do khác làm cho việcthực hiện các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế có lợi cho các thực thể này làphạm vi rộng hơn của các nhà ra quyết định
Hơn nữa, theo Hodgdon và cộng sự (2009) tại một nghiên cứu xác định mốiquan hệ giữa việc lựa chọn kiểm toán viên với việc tuân thủ IAS, khẳng định rằngcác tổ chức có hoạt động quốc tế sẽ phải đối mặt với các quy định báo cáo tài chínhkhác nhau của các quốc gia mà họ hoạt động, do đó các công ty có thể có động lựclớn hơn để áp dụng các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế và công bố thông tinđầy đủ hơn về hoạt động của họ Trong một nghiên cứu thực nghiệm khác tại Thụy
Sỹ về vấn đề tại sao các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng chuẩn mực kế toán quốc
tế Dumontier và Raffournier, 1998 cũng cho rằng các đơn vị cố gắng tìm kiếmnguồn tài chính từ các ngân hàng quốc tế và các tổ chức tài chính quốc tế khác sẽthấy lợi ích của việc tuân thủ các tiêu chuẩn báo cáo quốc tế Sự hài hòa hóa cáctiêu chuẩn báo cáo tài chính đã được hỗ trợ, đặc biệt là các tổ chức đa quốc gia lớnhơn Khi quy mô của các hoạt động quốc tế của các thực thể tăng lên, sự sẵn sàngtuân thủ tiêu chuẩn quốc tế cũng tăng lên
Trong nghiên cứu việc áp dụng IFRS for SMEs tại Thổ Nhĩ Kỳ được thựchiện bởi (Atik.A (2010)) cũng khẳng định rằng: Nếu một công ty có một đối tácnước ngoài, nó sẽ cần phải chuẩn bị các báo cáo tài chính của mình theo cách màđối tác / đối tác nước ngoài có thể hiểu được Nếu công ty đó áp dụng một tiêuchuẩn quốc tế thì báo cáo tài chính sẽ dễ dàng hơn Nhập khẩu và xuất khẩu là cáchđơn giản nhất để quốc tế tham gia Và đối với các công ty có sự tham gia của quốc
tế, sẽ có lợi hơn nếu sử dụng các tiêu chuẩn kế toán quốc tế Nhân tố này đồng thờicũng được sử dụng trong nghiên cứu mức độ sẵn sàng của việc áp dụng IFRS forSMEs Merve Kılıç et al, 2016 Hoạt động quốc tế được xem là một trong nhữngnhân tố có tác động tích cực đến mức độ sẵn sàng của việc áp dụng IFRS for SMEs
Trang 402.4.5 Tuổi doanh nghiệp
Trong một nghiên cứu của Owusu-Ansah, 1998 về tác động của các đặc điểmdoanh nghiệp đến phạm vi công bố và báo cáo bắt buộc của các công ty niêm yết tạiZimbabwe cho rằng Tuổi của một công ty, biểu thị giai đoạn phát triển và tăngtrưởng, có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo tài chính theo một số cách.Owusu-Ansah (1998) cũng tuyên bố rằng chi phí thu thập, xử lý và trình bày dữ liệu
sẽ là gánh nặng cho các công ty trẻ hơn so với những người lớn tuổi hơn
Trong một nghiên cứu khác của Al-Shammari et al (2008) về việc tuân thủ cácchuẩn mực kế toán quốc tế của các quốc gia thành viên của Hiệp hội Hợp tác Vịnh(GCC) (Bahrain, Oman, Kuwait, Qatar, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất), cho rằng các công ty lâu đời có hệ thống báo cáo tài chính đượcthiết lập nhiều hơn; Do đó việc tuân thủ với khuôn khổ chuẩn mực kế toán quốc tế
sẽ ít tốn kém hơn cho họ
Cũng với lập luận này, Merve Kılıç et al, 2016 bổ sung vào mô hình Atik.A(2010) của về việc đánh giá mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của cácDNNVV ở Thổ Nhĩ Kỳ Tác giả cho rằng các DNNVV có lịch sử thành lập lâu dàihơn sẽ ảnh hưởng đến mức độ sẵn sáng cho việc áp dụng IFRS for SMEs nhiềuhơn
2.4.6 Kiểm toán độc lập
Theo Hodgdon và cộng sự (2009) kiểm toán viên có vai trò quan trọng trong việc xác định các hoạt động báo cáo tài chính của các đơn vị Kiểm toán và các cơ chế thực thi hiệu quả là rất quan trọng trong việc duy trì tuân thủ IFRS Trong một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn IFRS, Aledo và các cộng sự (2009) quy mô của công ty kiểm toán ảnh hưởng đến thực tiễn báo cáo tài chính củacác doanh nghiệp Theo Goodwin et al (2008), các đơn vị được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big 4 chuẩn bị nhiều hơn cho IFRS
Cũng với lập luận này, Merve Kılıç et al, 2016 bổ sung vào mô hình Atik.A(2010) của về việc đánh giá mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS for SMEs của cácDNNVV ở Thổ Nhĩ Kỳ Tác giả cho rằng các DNNVV thuê kiểm toán sẽ có xuhướng chấp nhận IFRS for SMEs nhiều hơn