1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của sự tập trung sở hữu và sự kiểm soát gia đình đến lựa chọn công ty kiểm toán, bằng chứng thực nghiệm tại việt nam

100 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu đặt ra mục tiêu tổng quát chung là xem xét mối quan hệ giữavấn đề tập trung quyền sở hữu và sự kiểm soát của gia đình với việc lựa chọn công ty kiểm toán tại các công ty ở

Trang 1

ĐOÀN THỊ NGỌC HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TẬP TRUNG SỞ HỮU

VÀ SỰ KIỂM SOÁT GIA ĐÌNH ĐẾN LỰA CHỌN CÔNG TY KIỂM TOÁN: BẰNG CHỨNG

THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

ĐOÀN THỊ NGỌC HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ TẬP TRUNG SỞ HỮU VÀ

SỰ KIỂM SOÁT GIA ĐÌNH ĐẾN LỰA CHỌN CÔNG

TY KIỂM TOÁN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM

TẠI VIỆT NAM.

Trang 3

kiểm soát gia đình đến lựa chọn công ty kiểm toán: Bằng Chứng Thực Nghiệm Tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tác giả Nội dung được đúc kết

từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua Số liệu

sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiệndưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2016

Tác giả

Đoàn Thị Ngọc Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phương pháp nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Kết quả và hạn chế của luận văn 5

1.6 Cách trình bày và kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7

2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 7

2.2 Tổng quan thị trường kiểm toán độc lập tại Việt Nam 17

2.3 Cơ sở lý thuyết 21

2.3.1 Lý thuyết về chi phí đại diện 21

2.3.2 Chất lượng kiểm toán 22

2.3.3 Chất lượng kiểm toán và lựa chọn kiểm toán 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình 28

3.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu 28

3.1.2 Mô hình nghiên cứu 31

3.1.3 Đo lường các biến trong mô hình 32

Trang 5

3.3.2 Hồi quy Logistic 42

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Thống kê mô tả 47

4.2 Phân tích tương quan 51

4.3 Kiểm định giá trị trung bình 52

4.4 Phân tích hồi quy 56

4.4.1 Hồi quy trên toàn mẫu 57

4.4.2 Hồi quy với các biến tương tác 60

4.4.3 Hồi quy kiểm tra tính vững (Robustness checks) 64

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 67

5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu và kết luận của đề tài 67

5.2 Những gợi ý về chính sách 69

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và Hướng nghiên cứu tiếp theo 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 1

Trang 7

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây.

Bảng 3.1: Trình bày tóm tắt các biến trong mô hình nghiên cứu

Bảng 4.1: Mô tả thống kê các biến trong mô hình

Bảng 4.2: Thống kê các ngành nghề trong mẫu quan sát

Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình

Bảng 4.4: Kiểm định giá trị trung bình của các nhóm biến

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy toàn mẫu

Bảng 4.6: Kết quả hồi quy với các biến tương tác

Bảng 4.7 Mô tả thống kê các biến FAMCON với các tỷ lệ cutoff khác nhauBảng 4.8: Kết quả hồi quy với các biến tương tác

Danh Mục Hình Ảnh.

Hình 3.1: Mô tả kết quả hồi quy với mô hình hồi quy xác suất tuyến tính

Hình 3.2: Mô tả kết quả hồi quy với mô hình hồi quy nhị phân

Trang 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU.

Quản trị doanh nghiệp được đặt trên cơ cở của sự tách biệt giữa quyền quản lý

và quyền sở hữu doanh nghiệp Vì vậy, cần phải có một cơ chế để điều hành vàkiểm soát để giúp cho nhà đầu tư và cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công

ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Theo Jensen và Meckling (1976) thì quản trịdoanh nghiệp bao gồm nhiều cơ chế cả về nội bộ lẫn bên ngoài để giúp làm giảmbớt các vấn đề có thể phát sinh giữa các cổ đông và các nhà quản lý do sự tách biệtgiữa quyền sở hữu và kiểm soát Quản trị doanh nghiệp tập trung xử lý các vấn đềthường phát sinh trong mối quan hệ ủy quyền trong công ty, ngăn ngừa, hạn chếnhững người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản, cơhội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc làm thấtthoát nguồn lực, tài sản của công ty

Do sự tách biệt giữa các cổ đông và quản lý, hoặc sự tồn tại của các cổ đôngkiểm soát và cổ đông thiểu số, thông tin không đối xứng tồn tại trên thị trường vốn.Tình trạng này dẫn đến nhu cầu về kiểm toán độc lập báo cáo tài chính của công ty

để phục vụ như một cơ chế giám sát Theo đề nghị của Jensen và Meckling (1976),một kiểm toán bên ngoài cung cấp việc kiểm tra độc lập về thông tin tài chính, giúpcủng cố niềm tin vào thông tin tài chính được cung cấp bởi ban quản lý Do đó,kiểm toán độc lập được coi là một trong những cơ chế quản trị công ty bên ngoài để

Trang 9

giảm thiểu các vấn đề về đại diện và giảm bớt sự bất đối xứng thông tin.

Đối với kiểm toán báo cáo tài chính được tiến hành bởi kiểm toán viên độclập, chất lượng kiểm toán dường như là một yếu tố quan trọng để đảm bảo độ tincậy của thông tin trên báo cáo tài chính, từ đó đánh giá được hệ thống quản trịdoanh nghiệp Như lập luận của DeAngelo (1981), chất lượng kiểm toán ảnhhưởng đến khả năng của kiểm toán để phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáotài chính của công ty, bởi vì chất lượng kiểm toán là tương đối khó quan sát, có một

số chỉ số được sử dụng để đo lường chất lượng kiểm toán bởi các nhà nghiên cứu,một trong số đó là kích thước hoặc danh tiếng của công ty kiểm toán, tương tự nhưPalmrose (1986); Beasley và Petroni (2001), nơi các công ty kiểm toán lớn hơnđược cho là cung cấp chất lượng dịch vụ kiểm toán tốt hơn

Với những vai trò quan trọng của kiểm toán độc lập trong việc kiểm toán báocáo tài chính, nên việc lựa chọn công ty kiểm toán cũng bị ảnh hưởng của nhiều yếu

tố tác động Các yếu tố quyết định sự lựa chọn công ty kiểm toán đã được giải quyếttrong nhiều nghiên cứu, chủ yếu là ở các thị trường phát triển như Mỹ (Beasley vàPetroni (2001); Copley và Douthett (2002) ở Anh, nghiên cứu Chaney et al (2004),Phần Lan (Knechel et al (2008); Niskanen et al (2010, 2011b) và New Zealand(Firth (1999)) Nhưng những nghiên cứu về vấn đề này trong bối cảnh nền kinh tếđang phát triển là tương đối hiếm; một số nghiên cứu như của Darmadi (2016), vàLin và Liu (2009), trong đó sử dụng các dữ liệu của Indonesia, Trung Quốc Cácnghiên cứu trước đây đã xem xét các khía cạnh như môi trường thể chế, cơ cấuquản trị doanh nghiệp, sở hữu cổ phần và đặc điểm công ty cụ thể là các yếu ảnhhưởng đến lựa chọn công ty kiểm toán

Tuy nhiên, vẫn còn rất hạn chế các nghiên cứu kiểm tra về vấn đề tập trungquyền sở hữu và kiểm soát gia đình ảnh hưởng đến quyết định của công ty trongviệc lựa chọn công ty kiểm toán Xuất phát từ những lý do đó, luận văn này lựa

Trang 10

chọn đề tài “Ảnh hưởng của sự tập trung sở hữu và sự kiểm soát gia đình đến lựa chọn công ty kiểm: Bằng Chứng Thực Nghiệm Tại Việt Nam” , bài nghiên

cứu tập trung vào vấn đề tập trung quyền sở hữu, kiểm soát của gia đình và sự lựachọn công ty kiểm toán nhằm lấp đầy khoảng trống tài liệu nghiên cứu, và đóng gópthêm một số bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam về vấn đề này

1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu.

Bài nghiên cứu đặt ra mục tiêu tổng quát chung là xem xét mối quan hệ giữavấn đề tập trung quyền sở hữu và sự kiểm soát của gia đình với việc lựa chọn công

ty kiểm toán tại các công ty ở Việt Nam, từ đó đóng góp thêm vào nguồn tài liệunghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là tại thị trường đang phát triển như Việt Nam

Mục tiêu cụ thể: Thứ nhất, tập trung quyền sở hữu và kiểm soát của gia đình làhai tính năng phổ biến liên quan đến quyền sở hữu của công ty trong thị trường vốntrên toàn thế giới, ngay cả ở Việt Nam, vì vậy luận văn tiến hành xem xét vấn đề tậptrung quyền sở hữu và kiểm soát của gia đình ảnh hưởng đến sự lựa chọn công tykiểm toán như thế nào

Thứ hai, chỉ có một số lượng hạn chế các nghiên cứu đi giải quyết vấn đề tậptrung quyền sở hữu và kiểm soát gia đình ở thị trường mới nổi ảnh hưởng tới lựachọn công ty kiểm toán, các nghiên cứu thường được tiến hành trong bối cảnh nềnkinh tế phát triển, thường có môi trường pháp lý mạnh hơn và bảo vệ nhà đầu tưhơn so với các nền kinh tế mới nổi Vậy với thị trường vốn của Việt Nam với hệthống pháp lý yếu trong vấn đề bảo vệ nhà đầu tư, cũng như các yêu cầu về côngkhai thì ảnh hưởng của sở hữu tập trung và kiểm soát gia đình vào sự lựa chọn công

ty kiểm toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam có khác so với các nền kinh tếphát triển

Trang 11

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

- Mối quan hệ giữa việc lựa chọn công ty kiểm toán của các công ty niêm yếtvới vấn đề tập trung quyền sở hữu và sụ kiểm soát của gia đình ?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn kiểm toán tại các công ty Việt Nam có

gì khác so với các công ty khác trên thế giới

1.3 Phương pháp nghiên cứu.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn thực hiện phương phápnghiên cứu định lượng dựa trên mô hình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đượccông bố trên thế giới về vấn đề tập trung sở hữu và kiểm soát gia đình, từ đó xácđịnh mô hình nghiên cứu và tiến hành kiểm định tại thị trường Việt Nam

Về nguồn dữ liệu sử dụng để kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu,luận văn tiến hành thu thập dữ liệu dạng dữ liệu thứ cấp trong báo cáo tài chính, báocáo thường niên của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

Để phân tích dữ liệu, luận văn sử dụng hồi quy đa biến với mô hình hồi quylogistic gộp (pooled logistic regressions) tương tự như các nghiên cứu trước đó đãthực hiện

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp Việt Nam, đang niêm yết tại sàngiao dịch Chứng khoán Tp HCM, và công bố đầy đủ báo cáo thường niên và báocáo tài chính trong khoảng thời gian 5 năm từ 2011 đến 2015

Đối tượng được nghiên cứu chính là vấn đề lựa chọn công ty kiểm toán bịảnh hưởng như thế nào dưới tác động của sở hữu tập trung và trường hợp công ty

bị gia đình kiểm soát

Trang 12

1.5 Kết quả và hạn chế của luận văn

Luận văn xem xét ảnh hưởng của sự tập trung sở hữu , kiểm soát gia đình đếnlựa chọn kiểm toán tại Việt Nam cho thấy kết quả các công ty có sở hữu tập trungcàng lớn thì họ càng ưu thích lựa chọn các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4trong khi các công ty có sự kiểm soát của gia đình lại có khuynh hướng lựa chọncác công ty kiểm toán với chất lượng thấp

Luận văn còn tồn tại hạn chế về mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn và thời giannghiên cứu chưa đủ dài để kết quả nghiên cứu có để đại diện cho các doanh nghiệp

ở Việt Nam

1.6 Cách trình bày và kết cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 5 chương chính, được trình bày theo bố cục chặt chẽ

và xuyên suốt như sau:

Chương 1: Giới thiệu.

Trong phần này, trình bày tổng quan các vấn đề của bài nghiên cứu như: lý dochọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng

và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của luận văn

.Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.

Trong phần này, luận văn cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nghiên cứutrước đây liên quan đến ảnh hưởng của sở hữu tập trung và sự kiểm soát của giađình và việc lựa chọn công ty kiểm toán

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.

Phần này cung cấp một cách chi tiết về thiết lập các giả thuyết nghiên cứu, đưa

ra mô hình nghiên cứu, mô tả cơ sở dữ liệu cho luận văn cũng như cách xác định

Trang 13

các biến số được sử dụng trong luận văn, đồng thời đưa ra phương pháp phân tích

dữ liệu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu.

Trong phần này, luận văn trình bày các kết quả phân tích dữ liệu từ việc thống kê

mô tả, phân tích tương quan và phân tích kết quả hồi quy

Chương 5: Kết luận.

Phần này tóm tắt kết quả nghiên cứu cũng như nêu lên những hạn chế của đề tài

và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.

2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây.

Do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý, sự tồn tại của các cổ đôngkiểm soát và cổ đông thiểu số, tồn tại vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trườngvốn Tình trạng này dẫn đến nhu cầu về kiểm toán độc lập báo cáo tài chính củacông ty để phục vụ như một cơ chế giám sát Kiểm toán bên ngoài sẽ cung cấp việckiểm tra độc lập về thông tin tài chính được cung cấp bởi nhà quản lý, và việc nàyđóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố niềm tin vào thông tin tài chính màcông ty công bố ra bên ngoài Do đó, kiểm toán độc lập được coi là một trongnhững cơ chế quản trị công ty bên ngoài để giảm thiểu các vấn đề về đại diện vàgiảm bớt sự bất cân xứng thông tin Tuy nhiên có nhiều yếu tố tác động đến việc lựachọn công ty kiểm toán như môi trường thể chế, cơ cấu quản trị doanh nghiệp, sởhữu cổ phần và đặc điểm công ty… đặc biệt là vấn đề về sở hữu, có thể kể đến một

số nghiên cứu như sau: Josephph Fan, Tjwong (2004), W.Robert Knechel, LasseNiemi và Stefan Sundgren (2008), Z Jun Lin, Ming Liu (2009), Omrane Guedhami,Jeffrey A.Pittman, Walid Saffar (2009), Xianjie He, Oliver Rui, Liu Zheng,Hongjun Zhu (2014), Omrane Guedhami, Jeffrey A.Pittman, Walid Saffar (2009),Khan (2015), Salim Darmadi (2016), Gaetano Matonti, Jon Tucker, AurelioTommasetti (2016)

Nghiên cứu của Josephph Fan, Tjwong (2004) chỉ ra rằng ở các thị trường mớinổi, vấn đề đại diện xảy ra do xung đột giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số làrất khó để giảm thiểu, và vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tập trung của các công tytại Đông Á làm phát sinh chi phí đại diện này Và bài nghiên cứu tập trung vào kiểm traliệu kiểm toán viên độc lập bên ngoài có được sử dụng như một cơ chế giám sát đểlàm giảm bớt các vấn đề đại diện hay không Sử dụng mẫu từ hơn 40 nền kinh tế với3,672 quan sát từ 1994-1996 Liên quan đến vấn đề lựa chọn công ty

Trang 15

kiểm toán, nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ (i) Quyết định thuê Big 5 với vấn đề sởhữu tập trung, (ii) Quyết định thuê Big 5 với nhu cầu về vốn của công ty Nghiêncứu sử dụng mô hình hồi quy logistic gộp để kiểm định mối quan hệ giữa lựa chọncông ty kiểm toán và vấn đề sở hữu Nghiên cứu sử dụng các công ty kiểm toán Big

5 như là công ty kiểm toán có chất lượng cao, 3 biến chính được đưa vào mô hình

để tìm hiểu ảnh hưởng đến lựa chọn công ty kiểm toán là giá trị thị trường của vốnchủ sở hữu, đòn bẩy tài chính, vòng quay tài sản và nghiên cứu sử dụng mức 30%xác định như là mức sở hữu có quyền kiểm soát

Kết quả hồi quy cho thấy rằng doanh nghiệp có quyền sở hữu tập trung cao cónhiều khả năng để thuê kiểm toán viên Big 5 nhằm giúp tăng cường khả năng huyđộng vốn, và mối quan hệ này được thể hiện rõ trong các doanh nghiệp thườngxuyên huy động vốn cổ phần Ngoài ra, kết quả hồi quy cũng chỉ ra rằng, công tycàng lớn, lợi nhuận càng cao thì nhu cầu thuê Big 5 càng cao và ảnh hưởng của đònbẩy tài chính thì không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của W Robert Knechel, Lasse Niemi và Stefan Sundgren (2008)thực hiện nghiên cứu về lựa chọn công ty kiểm toán của các công ty vừa và nhỏ tạiPhần Lan mà tại đây, các công ty vừa và nhỏ có thể lựa chọn một trong bốn dạngcông ty kiểm toán khác nhau: Công ty kiểm toán cấp quốc tế, công ty kiểm toán cấpquốc gia, công ty kiểm toán cấp địa phương, và công ty kiểm toán chưa có chứngchỉ Nghiên cứu với mục tiêu kiểm tra mối quan hệ giữa (i) Sự lựa chọn công tykiểm toán với sự phức tạp trong hoạt động của công ty, (ii) Sự lựa chọn công tykiểm toán có liên quan với nhu cầu về tài chính bên ngoài, (iii) Sự lựa chọn công tykiểm toán có liên quan với đòn bẩy tài chính, (iv) Sự lựa chọn công ty kiểm toán vớiviệc sử dụng vốn chủ sở hữu bên ngoài Bài nghiên cứu sử dụng hồi quy logictis đểkiểm tra ảnh hưởng của lựa chọn kiểm toán trong 3 trường hợp, kiểm toán cóchứng chỉ và kiểm toán viên không có chứng chỉ, kiểm tóan có chứng chỉ tại địa

Trang 16

phương với chứng chỉ cấp quốc gia, Big 6 và công ty kiểm toán ngoài Big 6 vớimẫu nghiên cứu gồm 2,333 công ty vừa và nhỏ tại Phần Lan đã nộp báo cáo tàichính trong giai đoạn từ 1994 đến 1999 Nghiên cứu này tập trung vào các yếu tốảnh hưởng đến quyết định lựa chọn công ty kiểm toán liên quan chủ yếu đến hoạtđộng của doanh nghiệp nên các biến được đưa vào mô hình là quy mô công ty, tiềnlương, đòn bẩy tài chính, sự phức tạp trong hoạt động

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mức độ phức tạp trong hoạt động của công

ty ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn kiểm toán viên Kết quả phân tích cho thấy

sự lựa chọn công ty kiểm toán của các công ty nhỏ phụ thuộc vào các vấn đề phứctạp và hoạt động nội bộ của công ty Thứ hai, các công ty cỡ trung chọn kiểm toánviên dựa trên nhu cầu vay nợ Cuối cùng, công ty lớn hơn cũng bị ảnh hưởng bởiđòn bẩy (đặc biệt nợ không có bảo đảm) trong việc lựa chọn công ty kiểm toán

Nghiên cứu của Z Jun Lin, Ming Liu (2009) nghiên cứu tác động của quản trịdoanh nghiệp đến lựa chọn công ty kiểm toán tại thị trường Trung Quốc cho rằnghoặc thuê kiểm toán chất lượng cao giúp phát đi một tín hiệu về quản trị doanhnghiệp tốt để giúp họ giảm chi phí huy động vốn, hoặc để chọn kiểm toán viên chấtlượng thấp với việc giám sát kiểm toán kém hiệu quả tạo điều kiện để thu lợi ích cánhân và che dấu sự minh bạch Mục tiêu của nghiên cứu này là điều tra yếu tố quyếtđịnh đến sự lựa chọn công ty kiểm toán của các công ty ở Trung Quốc, nghiên cứuđưa ra giả thuyết: (i) Tỷ lệ nắm giữ cổ phần của cổ đông lớn nhất càng cao thì khảnăng thuê kiểm toán có chất lượng cao (Top 10) càng thấp, (ii) một công ty mà vịtrí Giám đốc điều hành kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT là ít có khả năng để lựa chọnmột công ty kiểm toán có chất lượng cao (Top 10) Mẫu nghiên cứu được lấy từ

184 công ty IPO niêm yết tại Sở giao dịch Thượng Hải và Thâm Quyến từ đầu năm2001-2004 Bài nghiên cứu phát triển mô hình hồi quy Logistic tập trung vào việckiểm tra vấn đề quản trị nội bộ của công ty về các quyết định lựa chọn công ty kiểm

Trang 17

toán Ba biến được sử dụng để đại diện cho cơ chế quản lý nội bộ công ty của cáccông ty là tỷ lệ sở hữu, kích thước của ban giám sát, và Giám đốc điều hành kiêmnhiệm chủ tịch hội đồng quản trị.

Kết quả hồi quy của cả ba biến tỷ lệ sở hữu, kích thước của ban giám sát, vàGiám đốc điều hành kiêm nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị đều có ý nghĩa thống kê

và kết quả cho thấy rằng các công ty với cổ đông kiểm soát lớn hơn tức cổ đôngnắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn, số lượng thành viên trong ban giám sát nhỏ, Giám đốcđiều hành kiêm nhiệm, ít có khả năng để thuê kiểm toán có chất lượng cao Điềunày cũng cho thấy rằng các doanh nghiệp có cơ chế quản lý nội bộ công ty yếu có

xu hướng để lựa chọn một công ty kiểm toán có chất lượng thấp để duy trì sựkhông rõ ràng trong báo cáo của họ

Nghiên cứu của Omrane Guedhami, Jeffrey A.Pittman, Walid Saffar (2009)nghiên cứu việc lựa chọn công ty kiểm toán dưới tác động của sở hữu nhà nước và

sở hữu nước ngoài Nghiên cứu cung cấp bằng chứng xuyên quốc gia về tầm quantrọng của minh bạch kế toán bằng cách kiểm tra vai trò của sự lựa chọn công tykiểm toán bằng cách phân tích tập trung vào việc liệu những công ty có tỷ lệ sở hữutập trung có chấp nhận sự giám sát từ các công ty kiểm toán chất lượng cao Big 4

Cụ thể, nghiên kiểm định mối quan hệ giữa (i) Khả năng lựa chọn công ty kiểm toánBig 4 với tỷ lệ sở hữu nhà nước, (ii) Khả năng lựa chọn công ty kiểm toán Big 4 vớimức độ sở hữu nước ngoài Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 176 công ty tưnhân từ 21 nền kinh tế mới nổi và 11 quốc gia công nghiệp trong giai đoạn từ 1980đến 2002 Nghiên cứu sử dụng kiểm định mô hình hồi quy logistic, sử dụng banhóm biến chính: nhóm biến về sở hữu nhà nước, nhóm biến về sở hữu nước ngoài,

và nhóm tập hợp các biến kiểm soát liên quan đến công ty và quốc gia

Kết quả hồi quy cho thấy rằng khả năng mà các doanh nghiệp tư nhân chọn mộtcông ty kiểm toán Big 4 giảm với mức độ sở hữu của nhà nước và khả năng chọn Big

4 tăng đồng biến với tỷ lệ sở hữu của nước ngoài, tuy nhiên biến liên quan

Trang 18

đến sở hữu nước ngoài lại không có ý nghĩa thống kê Ngoài ra, nghiên cứu nàythừa nhận rằng các nhà đầu tư nước ngoài một cách hợp lý có thể chọn để đầu tưvào những công ty mà thuê kiểm toán chất lượng cao, và thêm vào đó chủ sở hữunước ngoài sẽ thích thuê một công ty kiểm toán Big Four vì họ cho rằng họ cầnthông tin chính xác hơn để ngăn chặn lợi ích của họ bị ảnh hưởng.

Nghiên cứu của Xianjie He, Oliver Rui, Liu Zheng, Hongjun Zhu (2014) tiếnhành nghiên những tác động của sở hữu nước ngoài vào sự lựa chọn công ty kiểmtoán, trong nghiên cứu đề cập do việc tiếp cận vốn nước ngoài khó khăn và tốn kém

vì vấn đề thông tin và chi phí đại diện, đặc biệt là các doanh nghiệp tại các thịtrường mới nổi với một môi trường pháp lý yếu và quản trị doanh nghiệp yếu kém,

vì vậy nhà đầu tư nước ngoài thường đánh giá báo cáo tài chính dựa vào việc lựachọn kiểm toán viên chất lượng cao để cung cấp sự đảm bảo về chất lượng báo cáotài chính và đóng vai trò quản lý trong việc giám sát và hạn chế vấn đề lợi ích cánhân Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logistic cho mẫu các công ty từ năm

1992 đến 2006 tại thị trường chứng khoán Trung Quốc

Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty trải qua sự sụt giảm lớn hơn trong quyền

sở hữu nước ngoài có nhiều khả năng để chuyển sang thuê kiểm toán viên khôngphải Big 4 Kết quả này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu đưa ra là đầu tư nướcngoài có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi trong lựa chọn công ty kiểm toán tức sởhữu nước ngoài càng tăng thì càng có khả năng để thuê công ty kiểm toán Big 4 Vềvai trò của sở hữu nước ngoài, nghiên cứu thực nghiệm này đề cập đến yếu tố nộisinh trong quan hệ giữa các nhà đầu tư và việc lựa chọn kiểm toán viên là vì vấn đề

Trang 19

công ty có sở hữu tập trung cao, thị trường vốn yếu kém, thiếu các hoạt động cổđông và việc giám sát thực thi các quy định chưa chặt chẽ Nghiên cứu đề cập đếntác động của kiểm soát gia đình và lựa chọn công ty kiểm toán trong bối cảnh nềnkinh tế đang phát triển, vấn đề mà trước đó chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến.Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm tra nhu cầu về công ty kiểm toán chất cao (Big 4)trong công ty gia đình và công ty không thuộc gia đình Nghiên cứu cũng đưa rađịnh nghĩa về công ty gia đình tức công ty trong đó có 20% cổ phần (trực tiếp hoặcgián tiếp) được sở hữu bởi một nhóm cổ đông thuộc một gia đình, và có ít nhất mộtthành viên của gia đình kiểm soát nắm giữ một vị trí quản lý như thành viên hộiđồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc chủ tịch Nghiên cứu sử dụng hồi quy probit vàLogistic cho 1.058 quan sát công ty niêm yết công khai tại Bangladesh, nơi cáccông ty gia đình là hình thức chi phối hầu hết các công ty đại chúng Mô hình hồiquy gồm 3 nhóm biến chính: biến sở hữu gia đình, nhóm biến về đặc điểm cụ thểcủa công ty (tỷ lệ sỡ hữu của chính phủ, quy mô công ty, đòn bẩy, lợi nhuận) vànhóm biến về ngành công nghiệp.

Nghiên cứu chỉ ra rằng so với các công ty không thuộc gia đình, các công tygia đình trong mẫu nghiên cứu ưu tiên lựa chọn kiểm toán viên chất lượng thấp.Tuy nhiên, đối với các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, các doanh nghiệpgia đình có vẻ thích sử dụng kiểm toán viên chất lượng tốt hơn so với các công tykhông thuộc gia đình Nói chung, những phát hiện trong nghiên cứu này có ý nghĩaquan trọng đối với thị trường kiểm toán trong nền kinh tế mới nổi, hỗ trợ tronghoạch định chính sách ở các nước đang phát triển khi họ chứng minh sức mạnh củaviệc đảm bảo chất lượng kiểm toán và cuối cùng bảo vệ lợi ích công cộng

Nghiên cứu của Salim Darmadi (2016) nghiên cứu về việc lựa chọn công tykiểm toán bị tác động như thế nào bởi vấn đề tập trung quyền sở hữu và kiểm soátgia đình tại thị trường Indonesia Nghiên cứu này xem xét liệu quyền sở hữu tập

Trang 20

trung và việc kiểm soát tập trung trong tay của một gia đình ảnh hưởng như thế nàođến khả năng lựa chọn kiểm toán viên bên ngoài có chất lượng cao, cụ thể là Big 4.Nghiên cứu này tập trung vào một thị trường mới nổi, cụ thể là, Indonesia, nơi tậptrung quyền sở hữu và kiểm soát của gia đình là tương đối cao hơn so với các thịtrường phát triển khác Với mục tiêu là kiểm tra mối quan hệ giữa việc tập trung sởhữu với lựa chọn công ty kiểm toán và việc sở hữu gia đình tác động như thế nàođến lựa chọn công ty kiểm toán Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu bao gồm 300công ty với 787 quan sát của các công ty đại chúng niêm yết trên sàn chứng khoánIndonesia từ 2005-2007 và sử dụng hồi quy logistic để kiểm tra các giả thuyếtnghiên cứu Ba nhóm biến chính được đưa và mô hình là sở hữu tập trung, nhómbiến về kiểm soát gia đình, và nhóm biến kiểm soát liên quan đến đặc điểm cụ thểcủa công ty như: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận.

Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng các công ty với mức độ tập trungquyền sở hữu cao hơn có nhiều khả năng để thuê một công ty kiểm toán Big 4 Do

đó, trong công ty như vậy, kiểm toán chất lượng cao được sử dụng để giảm thiểucác vấn đề liên quan đến chi phí đại diện Tuy nhiên, khi các cổ đông kiểm soát làmột gia đình, sự liên quan giữa việc tập trung quyền sở hữu và nhu cầu kiểm toánviên chất lượng cao nghịch biến nhau, ngụ ý rằng các công ty được gia đình kiểmsoát có xu hướng duy trì mức tăng không rõ ràng bằng cách thuê kiểm toán viênchất lượng thấp hơn

Nghiên cứu của Gaetano Matonti, Jon Tucker, Aurelio Tommasetti (2016),Nghiên cứu này xem xét các yếu tố quyết định đến sự lựa chọn giữa kiểm toán viênchất lượng cao và kiểm toán viên được chỉ định tại các công ty không niêm yết ở Ý.Bài nghiên cứu này đề cập đến vấn đề sở hữu gia đình, và điều tra xem liệu quyền sởhữu gia đình có ảnh hưởng đến sự lựa chọn kiểm toán viên hay không Cụ thể, nghiêncứu đi kiểm định mối quan hệ giữa: (i) Việc lựa chọn công ty kiểm toán và

Trang 21

tỷ lệ sở hữu của gia đình, (ii) Việc lựa chọn công ty kiểm toán và tỷ lệ sỡ hữu củacác cổ đông nước ngoài, (iii) Việc lựa chọn công ty kiểm toán với mức độ độc lậpcủa hội đồng quản trị Nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ 384 công tykhông niêm yết tại Ilalia tại năm 2009, những công ty phải có vốn chủ sỡ hữu lớnhơn $120.000 và sử dụng hồi quy logistic để tiến hành kiểm tra mối tương quangiữa các biến trong mô mình Mô hình nghiên cứu gồm 20 biến độc lập, trong đó có

3 biến chính là sở hữu gia đình, sở hữu nước ngoài và hội đồng quản trị độc lập, còn lại

là các biến liên quan đến đặc điểm, hoạt động của công ty như doanh thu nước

ngoài, đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tàisản…các biến này liên quan đến các vấn đề đại diện, sự phức tạp trong tổ chức vàyếu tố rủi ro công ty

Và kết quả hồi qui không tìm thấy bằng chứng về tác động của sở hữu gia đìnhvào sự lựa chọn công ty kiểm toán, công ty càng có cơ cấu tổ chức phức tạp có xuhướng giảm nhu cầu đối với kiểm toán chất lượng cao, tuy nhiên những công lớnhơn, có nhiều công ty con thì ưa thích lựa chọn kiểm toán viên chất lượng cao đểtận dụng được kinh nghiệm và yếu tố độc lập của họ, tuy nhiên, hai biến sở hữu giađình và sở hữu nước ngoài lại không có ý nghĩa thống kê Kết luận rằng đối với cáccông ty chưa niêm yết, việc lựa chọn kiểm toán viên chất lương cao sẽ mang tínhthương mại do phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí bỏ ra

Tóm lại, với các nghiên cứu trình bày ở trên đây, kết quả nhìn chung đều chỉ

ra mối quan hệ giữa vấn đề sở hữu, kiểm soát gia đình và các yếu tố liên quan đếnđặc điểm của doanh ngiệp đến việc lựa chọn công ty kiểm toán, các kết quả đượctrình bày tóm tắt dưới đây

Trang 22

Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước đây.

Tác giả Tên nghiên cứu Mẫu nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

Kiểm toán viên

Josephph Fan, hiện vai trò quản 40 nền kinh tế tại trung cao cùng chiềuTjwong (2004) trị doanh nghiệp ở Đông Á (+) với lựa chọn kiểm

các thị trường mới toán viên Big 5nổi?

W Robert Knechel, Yếu tố quyết định Quy mô công ty cùng

lựa chọn kiểm 2,333 công ty vừa chiều (+), Lợi nhuậnLasse Niemi và

toán: Bằng chứng và nhỏ tại Phần cùng chiều (+) vớiStefan Sundgren

từ thị trường khách Lan lựa chọn công ty(2008)

Z Jun Lin, Ming bằng chứng tại niêm yết tại Sở giám sát cùng chiều

Trung Quốc giao dịch Thượng (+), Giám đốc điềuLiu (2009)

Hải và Thâm hành kiêm nhiệmQuyến cùng chều (-) với lựa

chọn công ty kiểmtoán có chất lượngcao (Top 10)

Trang 23

Lựa chọn công ty

Omrane Guedhami, các công ty tư 21 nền kinh tế mới nước (-), tỷ lệ sở hữu

Jeffrey A.Pittman, nổi và 11 quốc gia

thực nghiệm về vai với lựa chọn công ty

khoán Trung Quốc

lượng cao (Big 4)

toán và ảnh hưởng chiều (-) với lựa chọn

Arifur Khan, của các bên liên công ty kiểm toán có

từ một nền kinh tế 4), đối với các ngành

Siddiqui (2015)

doanh nghiệp giađình (+) kiểm toánviên chất lượng cao

Trang 24

Sở hữu tập trung, Mức độ tập trung

Salim Darmadi toán. 300 công ty niêm chọn công ty kiểm

toán Big 4, công ty

được gia đình kiểmsoát ngược chiều (-)lựa chọn công tykiểm toán Big 4

toán tại công ty gia đình ngược chiều

Italia 384 công ty không ngoài (+) với lựaJon Tucker, Aurelio

niêm yết tại Ilalia chọn công ty kiểmTommasetti (2016)

toán bên ngoài, tuynhiên không có ýnghĩa thống kê

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp.

2.2 Tổng quan thị trường kiểm toán độc lập tại Việt Nam.

Hệ thống kiểm toán độc lập của Việt Nam ra đời khá trễ so với các thị trường

khác trên thế giới, trong khi kiểm toán độc lập trên thế giới đã có từ hơn 100 năm

nhưng Việt Nam thì chính thức hiện diện kiểm toán độc lập từ năm 1991 với sự ra

đời của Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty Dịch vụ kế toán, kiểm

toán và tư vấn tài chính (AASC)

Hoạt động kiểm toán độc lập đã trở thành nhu cầu cần thiết hỗ trợ cho vấn đề

công khai, minh bạch thông tin tài chính, phục vụ lợi ích của doanh nghiệp, các nhà

Trang 25

đầu tư trong và ngoài nước, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành kinh tế,tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần vào lộtrình tiến tới hội nhập tài chính với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới.Theo Đào Thị Hằng (2016) trải qua 25 năm xây dựng và phát triển, lĩnh vực kiểmtoán độc lập Việt Nam đã dần khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế thịtrường và trở thành bộ phận cấu thành của hệ thống công cụ quản lý vĩ mô, phục vụcông cuộc phát triển kinh tế đất nước Các công ty kiểm toán độc lập giúp tham giavào quá trình hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hệ thống kế toán kiểm toán tạiViệt Nam, giúp các doanh nghiệp tiến tới tuân thủ các nguyên tắc về minh bạchthông tin tài chính trong lộ trình tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và trênthế giới Bên cạnh VACPA, Việt nam cũng đã hình thành một số hiệp hội về kế toánkiểm toán như Hội Kế toán và Kiểm toán Việt nam (VAA) năm 1994, Hiệp hội Kếtoán Công chứng Anh (ACCA), Hiệp hội Kế toán công chứng Australia (CPAAustralia), Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Hiệp hội Kế toánQuản trị Công chứng Anh Quốc (CIMA)

Về cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam, các quy định,văn bản về pháp lý cho hoạt động kiểm toán đã được ban hành khá đầy đủ và phùhợp với thông lệ quốc tế như:

- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Bộ Tài chính đã công bố 38

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (CMKiT VN) phù hợp với Chuẩn mực kiểm toánquốc tế từ 1999 đến 2006 và gần đây nhất, tháng 12/2012, Bộ Tài chính đã công bốmới 37 CMKiT do Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam soạn thảo dựa trên cácCMKiT mới nhất của quốc tế và có hiệu lực thi hành từ năm 2014

- Luật Kiểm toán độc lập công bố năm 2011, quy định các nội dung cơ bản vềnguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hoạt động kiểm toán độc lập; quyền,nghĩa vụ của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanhnghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam và đơn vị được kiểm toán

Trang 26

- Ngày 08 tháng 5 năm 2015 Bộ Tài chính ban hành bộ chuẩn mực đạo đứcnghề nghiệp quy định nguyên tắc đạo đức cơ bản về nghề nghiệp kế toán, kiểm

toán Trong chuẩn mực có cung cấp một khuôn khổ mà kế toán viên, kiểm toán viênchuyên nghiệp phải áp dụng để xác định các nguy cơ ảnh hưởng tới việc tuân thủcác nguyên tắc đạo đức cơ bản

- Và liên quan đến kiểm toán các doanh nghiệp niêm yết, Bộ Tài Chính banhành thông tư 183/2013/TT-BTC về về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích côngchúng, trong đó quy định nghiêm ngặt về các điều kiện mà tổ chức kiểm toán

phải đảm bảo để được được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi íchcông chúng, theo đó, công ty kiểm toán để được kiểm toán cho công ty niêm yếtphải đảm bảo các điều kiện sau:

 Có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán được Bộ Tài chính cấp còn hiệu lực;

 Vốn điều lệ: từ 4 tỷ đồng trở lên và phải thường xuyên duy trì vốn chủ sởhữu trên bảng cân đối kế toán không thấp hơn 4 tỷ đồng Từ năm 2016, số vốn nêu trên là

6 tỷ đồng trở lên;

 Số lượng kiểm toán viên hành nghề: từ 07 người trở lên, trong đó có Giám

đốc hoặc Tổng Giám đốc, có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 8 củaThông tư này Từ kỳ chấp thuận cho năm 2016, có số lượng kiểm toán viênhành nghề từ 10 người trở lên;

 Thời gian hoạt động kiểm toán tại Việt Nam: tối thiểu là 24 tháng tính từngày được cơ quan có thẩm quyền xác nhận danh sách đăng ký hành nghề kiểm toán lầnđầu hoặc từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toánlần đầu đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thực hiện kiểm toán;

 Điều kiện về hoạt động: phát hành báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chínhcho tối thiểu 100 khách hàng tính từ ngày 01/01 của năm nộp hồ sơ đến ngày

Trang 27

nộp hồ sơ đăng ký Từ năm 2016, số lượng khách hàng tối thiểu này là 250 khách hàng.

- Ngoài ra, một số văn bản pháp luật khác như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp,Luật Thương mại, các Nghị định của Chính phủ về quy chế kiểm toán độc lập trong nềnkinh tế quốc dân, thông tư và quyết định về tổ chức thi tuyển cấp bằng kiểm toán viên, quyđịnh về đăng ký hành nghề kiểm toán… Tất cả đã giúp tạo nên một nền tảng pháp lý khávững chắc cho việc thực hành công việc kiểm tra, giám sát, kiểm toán báo cáo tài chính , gópphần nâng cao độ tin cậy của nhà đầu tư và xã

hội vào sự công khai, minh bạch của thị trường tài chính

Theo thống kê của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) chothấy, trong 25 năm qua, từ chỗ chỉ có 02 công ty kiểm toán độc lập, tính đến tháng7/2016 cả nước đã có 142 công ty kiểm toán, với trên 9.705 người làm việc, cungcấp 30 loại dịch vụ cho 42.000 khách hàng, doanh thu đạt 5.139 tỷ đồng (doanh thubình quân 435 triệu đồng/đầu người /năm) Bộ Tài chính đã cấp 3837 chứng chỉkiểm toán viên, và cả nước có khoảng 1600 Chứng chỉ quốc tế Theo ông Bùi VănMai cho biết thêm tốc độ tăng bình quân của kiểm toán độc lập là từ 20 đến25%/năm trên tất cả các chỉ tiêu nói trên Sự lớn mạnh đó đã chứng tỏ sự cần thiết

và tầm quan trọng của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường Việt Nam

Ngoài hoạt động của những công ty kiểm toán trong nước, tại thị trường Việtnam hiện nay đã có sự tham gia đầy đủ của các hang kiểm toán lớn trên thế giới, màdẫn đầu các công ty kiểm toán trên thế giới là Big 4 Theo Phạm Thị Thùy Vân(2014) thì không chỉ trên thị trường thế giới mà tại Việt Nam, các công ty kiểm toánBig 4 cũng đóng một vai trò quan trọng trong thị trường kiểm toán độc lập tại ViệtNam, 4 công ty kiểm toán nước ngoài lớn ( Big 4 gồm: EY, Deloitte, KPMG vàPwC) chiếm ưu thế về doanh thu và lượng khách hàng, đã đóng góp to lớn vào sựlớn mạnh của hệ thống kiểm toán độc lập cũng như quá trình làm lành mạnh cácquan hệ tài chính – tiền tệ

Trang 28

Theo số liệu cửa Bộ Tài chính và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam(VACPA) đã công bố kết quả xếp hạng một số chỉ tiêu hoạt động của các công tykiểm toán độc lập năm 2015 thì theo đó 4 công ty kiểm toán Big 4 dẫn dầu về doanhthu trong năm 2015 và doanh thu của các công ty kiểm toán Big cao hơn một cácvượt trội so với các công ty kiểm toán trong nước Khi so sánh về số lượng kháchhàng trên toàn thị trường kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán thuộc Big

4 vẫn luôn dẫn đầu về số lượng khách hàng, cả về khách hàng là công ty cổ phầnniêm yết trên sàn chứng khoán và khách hàng là các loại hình công ty khác, điều đó

có thể cho thấy một thực tế là các công ty kiểm toán Big 4 luôn là ưu tiên lựa chọncủa hầu hết các công ty khi có nhu cầu về việc xác nhận thông tin của bên thứ 3 làkiểm toán độc lập và đồng thời khẳng định chất lượng của dịch vụ kiểm toán đượccung cấp bởi các công ty kiểm toán Big 4

2.3 Cơ sở lý thuyết.

2.3.1 Lý thuyết về chi phí đại diện.

Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976), nghiên cứuđưa ra khái niệm về vấn đề đại diện nói rằng những xung đột giữa các nhà quản lý

và chủ sở hữu hay giữa người ủy quyền và người được ủy quyền xuất phát từ việcthiếu sự liên kết và có sự khác biệt về lợi ích Sự tách biệt giữa quyền sở hữu vàquyền kiểm soát của công ty dẫn đến sự bất đối xứng thông tin, nơi các nhà quản lý

có lợi thế thông tin so với các bên khác nhau, bao gồm cả cổ đông (Ross, 1977) Vàchính sự tách biệt giữa sở hữu và kiểm soát sẽ tạo nên sự khác nhau trong mục tiêucủa nhà quản lý và chủ sở hữu và làm cho hiệu quả hoạt động của công ty có nguy

cơ không đạt mức tối ưu Vấn đề đại diện phát sinh giữa chủ sở hữu và người quản

lý được gọi là vấn đề đại diện I

Ngoài mâu thuẫn lợi ích phát sinh giữa quyền kiểm soát và quyền quản lý thìtrong công ty cổ phần vấn đề đại diện có thể phát sinh giữa các cổ đông kiểm soát

và cổ đông thiểu số vì các cổ đông lớn có nhiều cơ hội hơn để chiếm đoạt tài sản

Trang 29

của công ty (Shleifer và Vishny, 1997) gọi là Vấn đề đại diện II, các cổ đông kiểmsoát được hưởng lợi ích đáng kể từ quyền kiểm soát, dẫn đến sự mất cân bằng vềlợi ích giữa các cổ đông thiểu số và cổ đông kiểm soát.

Trong các công ty cổ phần thì vấn đề đại diện II thường xuyên tồn tại khi mà

tỷ lệ cổ phần sở hữu bởi các cổ đông có sự chênh lệch, tức là một cổ đông nắm giữphần lớn tỷ lệ cổ phần trong công ty sẽ có lợi thế trong việc nắm quyền kiểm soát vàđưa ra quyết định Các cổ đông kiểm soát này có thế lợi dụng việc kiểm soát để đưa

ra những quyết định nhằm mục đích mang lại lợi ích cá nhân Chẳng hạn như vấn

đề lựa chọn công ty kiểm toán, khi quyết định lựa chọn công ty kiểm toán nằmtrong tay các cổ đông, hay nói đúng hơn là các cổ đông lớn thì họ có khả năng sẽlựa chọn các công ty kiểm toán với chất lượng thấp hơn nhằm giảm mức độ bị giámsát từ bên ngoài

2.3.2 Chất lượng kiểm toán.

Theo như Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, đã đưa ra khái niệm liênquan đến chất lượng nói chung như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp cácđặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay qúa trình để đáp ứng các yêu cầu củakhách hàng và các bên có liên quan" Đối với hoạt động kiểm toán, thì kiểm toán làmột hoạt động đặc biệt, đây là một loại hình hoạt động dịch vụ đảm bảo để giúp cácđối tượng sử dụng thông tin an tâm về tính trung thực, hợp lý của các thông tin đãđược kiểm toá, vì vậy kết quả kiểm toán phải đạt những tiêu chuẩn chất lượng nhấtđịnh Từ mục đích của hoạt động kiểm toán với khái niệm về chất lượng, khái niệm

về chất lượng kiểm toán cũng được nêu ra, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số

220 về vấn đề kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán thì định nghĩa chất lượngkiểm toán được nêu ra như sau: “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ thoảmãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậyvào ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn

Trang 30

vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý”.

Dựa trên định nghĩa về chất lượng kiểm toán theo VSA 220, ta có thể đưa ramột số nội dung và đặc điểm liên quan đến chất lượng kiểm toán, những tiêu chuẩn

cơ bản để đánh giá chất lượng kiểm toán, bao gồm: mức độ thỏa mãn của đơn vịđược kiểm toán và đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán

Thứ nhất, chất lượng dịch vụ kiểm toán phải thỏa mãn nhu cầu từ phía các đốitượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đó chính là khách hàng – đơn vị được kiểm toán.Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán thì không phải lúc nào họ cũng cóthể phát hiện và ngăn ngừa được các sai sót trong quá trình quản lý và lập báo cáotài chính, vì vậy, trách nhiệm của các kiểm toán viên độc lập là phải đảm bảo rằngđối tượng được kiểm toán không có sai sót trọng yếu, và nếu có thì cần phải đượcchỉ ra những sai sót đó để đơn vị sửa chữa và điều chỉnh Đó chính là cơ sở để cácnhà quản lý tin tưởng và từ đó đảm bảo nâng cao chất lượng thông tin tài chính củađơn vị

Thứ hai, dưới góc nhìn của nhà đầu tư, là những đối tượng thứ ba chịu tácđộng rủi ro cũng như lợi ích nhiều nhất từ việc sử dụng dịch vụ kiểm toán Dướigóc nhìn của nhóm đối tượng này, một cuộc kiểm toán có chất lượng phải thỏa mãnđược nhu cầu về độ tin cậy, tính trung thực và hợp lý của các BCTC được kiểmtoán, để từ đó đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn, điều hành cho phù hợp Nhữngngười sử dụng kết quả kiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởngrằng ý kiến kiểm toán đưa ra dựa trên các cơ sở ý kiến kiểm toán được đưa ra bởichuyên gia kiểm toán có đủ năng lực, trình độ chuyên môn; và tính độc lập, kháchquan của ý kiến kiểm toán

Bên cạnh đó, có một số quan điểm cho rằng, chất lượng kiểm toán là khả năngphát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trong BCTC của doanh nghiệp quan

Trang 31

điểm này cũng phù hợp với một số nghiên cứu trên thế giới, như Lin và Liu (2009)

đề cập chất lượng kiểm toán gồm hai thành phần: khả năng phát hiện sai sót trọngyếu và sự sẵn sàng để báo cáo các sai sót trọng yếu đó trong cuộc kiểm toán, hayDeAngelo (1981) định nghĩa tương tự là chất lượng kiểm toán là xác suất chung màmột kiểm toán viên sẽ khám phá ra một sự vi phạm trong kế toán và báo cáo sự viphạm đó Từ những yếu tố đã đề cập ở trên, kiểm toán được đánh giá là kiểm toán

có chất lượng cao nếu thỏa mãn các yêu cầu các khía cạnh sau: luôn đảm bảo tínhđộc lập, khách quan và chính trực; Kiến thức, kỹ năng kinh nhiệm, có năng lực caocủa kiểm toán viên tham gia kiểm toán, Các phương pháp thu thập và đánh giá bằngchứng kiểm toán của công ty kiểm toán; Công ty kiểm toán có công tác giám sát,quản lý cuộc kiểm toán được tiến hành phù hợp; Công ty có thủ tục soát xét và pháthành báo cáo kiểm toán chặt chẽ

Để thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng kiểm toán chất lượng cao, thì dườngnhư trên thị trường kiểm toán độc lập hiện nay, các công ty kiểm toán Big Fourthỏa mãn các yêu cầu này Các công ty kiểm toán Big Four chiếm ưu thế về thịtrường kiểm toán, các nhà đầu tư có thể tin tưởng vào tính tin cậy cao của dịch vụkiểm toán của Big Four hơn bởi vì họ có các nguồn lực đa dạng về mặt địa lý và kỹthuật nhiều hơn để mang đến cuộc kiểm toán tốt hơn, và nhờ vào quy mô lớn hơn vàdùng danh tiếng công ty để cung cấp các dịch vụ kiểm toán đảm bảo và toàn vẹn

2.3.3 Chất lượng kiểm toán và lựa chọn kiểm toán.

Báo cáo tài chính được được lập bởi ban giám đốc của công ty, tuy nhiên, theo lýthuyết đại điện lập luận rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát dẫnđến một cuộc xung đột lợi ích tiềm tàng giữa nhà quản lý và chủ sở hữu của một công

ty Các nhà quản lý có thể lợi dụng quyền hạn của mình để tham gia vào các hoạt độnglàm tối đa hóa lợi ích cá nhân mà tại đó có thể không được các chủ sở hữu giám sátchặt chẽ Vì vậy để kiểm soát và quan sát các quyết định của nhà quản lý, chủ sở hữu

có xu hướng trả thêm một số chi phí giám sát khác trong đó có chi

Trang 32

phí liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính Do đó, việc cung cấp cácbáo cáo tài chính đã được kiểm toán là một cơ chế giám sát giúp thu hẹp khoảngcách thông tin giữa các bên chủ sở hữu và nhà quản lý, đảm bảo rằng báo cáo tàichính được lập không có sai sót trọng yếu (Watts và Zimmerman, 1986) Báo cáokịp thời có thể được xem như là một trong những yếu tố quyết định chính của chấtlượng báo cáo tài chính nhằm nâng cao chất lượng ra quyết định, giảm vấn đềthông tin bất cân xứng Do đó, ở góc độ quản trị doanh nghiệp, kiểm toán độc lậpcung cấp các liên kết hoặc giám sát cơ chế để giảm thiểu xung đột đại diện, giảmchi phí đại diện.

Lin và Liu (2009) đề cập chất lượng kiểm toán gồm hai thành phần: khả năngphát hiện sai sót trọng yếu và sự sẵn sàng để báo cáo các sai sót trọng yếu đó trongcuộc kiểm toán Tuy nhiên, tồn tại những khó khăn trong việc quan sát đo lường chấtlượng kiểm toán dẫn đến việc các nghiên cứu khác nhau sẽ sử dụng các chỉ số khácnhau Một số thước đo được sử dụng để đo lường chất lượng kiểm toán được sử dụngtrong các nghiên cứu trước đây có thể kể đến như là: qui mô công ty kiểm toán nhưPalmrose (1988), trình độ, nghiệp vụ chuyên môn của kiểm toán viên như Schauer(2002), hay phí kiểm toán như Francis (2004 Một trong những thước đo được sử dụngrộng rãi là phí kiểm toán Như nghiên cứu của Francis (2004), một khoản phí cao hơn

có nghĩa là chất lượng kiểm toán cao hơn, và nó sẽ xứng đáng với nỗ lực của kiểm toán

và cũng như là sử dụng những kiểm toán viên có chuyên môn cao hơn Điều quantrọng là không phải tất cả các thị trường đều yêu cầu công bố thông tin về lệ phí kiểmtoán trong các báo cáo của công ty, vì vậy việc sử dụng thước đo phí kiểm toán để đolường chất lượng kiểm toán khá khó khăn Một thước đo được sử dụng rộng rãi làkích thước, uy tín của công ty kiểm toán, như được sử dụng trong các nghiên cứu nhưDeAngelo (1981), Palmrose (1988) Những nghiên cứu này thường lập luận rằng cáccông ty kiểm toán lớn hơn hoặc có uy tín có thể cung cấp các dịch vụ kiểm toán chấtlượng cao hơn so với các công ty kiểm toán

Trang 33

nhỏ hơn Bởi vì công ty kiểm toán lớn hơn có một thị phần lớn hơn, họ có xu hướngduy trì các cuộc kiểm toán chất lượng cao để bảo vệ danh tiếng của họ và tránh chiphí kiện tụng cao, công ty kiểm toán lớn hơn thường có mức độ độc lập và trình độchuyên mơn cao hơn và có khả năng tốt hơn để phát hiện báo cáo bất thường vànhững sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính Mansi, Maxwell, và Miller (2004).Theo Bùi Thị Thủy (2012) đã nghiên cứu các nhân tố hưởng đến chất lượngbáo cáo tài chính tại thị trường trường Việt Nam, nghiên cứu đã chỉ ra 3 nhóm nhân

tố chính ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính báo gồm: nhómnhân tố thuộc về kiểm toán viên gồm 8 nhân tố: mức độ chuyên sâu, kinh nghiệm,trình độ, độc lập, ý thức tuân thủ chuẩn mực, thái độ thận trọng, chuyên nghiệp,nhân tố khác , nhóm nhân tố thuộc về công ty kiểm toán gồm 5 nhân tố: giá phíkiểm toán, quy mô công ty, phương pháp kiểm toán, hệ thống kiểm soát chất lượng,nhân tố khác, và nhóm nhân tố bên ngoài liên quan đến đặc diểm của từng quốc gianhư môi trường pháp lý, khách hàng, kiểm soát bên ngoài Nghiên cứu có nhấnmạnh, nhóm nhân tố thuộc về công ty kiểm toán được coi là quan trọng để quyếtđịnh chất lượng cuộc kiểm toán, trong đó có nhân tố liên quan đến quy mô, danhtiếng của công ty kiểm toán, các công ty kiểm toán có danh tiếng thường có kiểmtoán báo cáo tài chính chất lượng hơn Từ những yếu tố trên, việc lựa chọn công tykiểm toán cũng góp phần vào việc quyết định chất lượng kiểm toán và tùy vào mụcđích quản lý của chủ sở hữu công ty, các công ty sẽ đưa ra quyết định lựa chọn cáccông ty kiểm toán khác nhau

Các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu các yếu tố quyết định sự lựa chọn công

ty kiểm toán và đề cập đến nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm công bao gồm quy

mô doanh nghiệp, đòn bẩy, và sự phức tạp kinh doanh như Copley và Douthett(2002); Knechel et al (2008) Các nghiên cứu khác kiểm tra ảnh hưởng của việccông bố thông tin và lựa chọn kiểm toán (Lee et al., 2003), hay việc lựa chọn công

ty kiểm toán và đặc điểm của ban giám đốc (Beasley và Petroni, 2001; Lin và Liu,

Trang 34

2009 ), Đối với cơ cấu sở hữu là một trong những cơ chế quản trị công ty quantrọng, các nghiên cứu trước đây cũng đã kiểm tra xem các hình thức sở hữu kết hợpvới lựa chọn công ty kiểm toán tác động với nhau như thế nào Ví dụ, nghiên cứu

về sự ảnh hưởng của quyền sở hữu Nhà nước về lựa chọn công ty kiểm toán đượcđiều tra bởi Guedhami et al (2009) Với việc tập trung quyền sở hữu và kiểm soátcủa gia đình được xem như là một hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới thì đã cónhững nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng của vấn đề sở hữu vào sự lựa chọn công tykiểm toán, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển như El-Ghoul et al (2007),

và Lin và Liu (2009) và cũng có nghiên cứu về cách kiểm soát gia đình của cáccông ty có liên quan đến kiểm toán viên lựa chọn đã được kiểm tra bởi Francis et al.(2009), và Niskanen et al (2010, 2011b)

Tóm lại, xuất phát từ vấn đề đại diện phát sinh giữa chủ sở hữu và nhà quản lý,

giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số đã dẫn đến nhu cầu xác nhận thông tintrên báo cáo tài chính của bên thứ ba là kiểm toán độc lập, giúp giảm thiểu vấn đềbất cân xứng thông tin, giảm chi phí đại diện Tuy nhiên, tồn tại những khó khăntrong việc quan sát đo lường chất lượng kiểm toán dẫn đến việc các nghiên cứukhác nhau sẽ sử dụng các chỉ số khác nhau, một thước đo được sử dụng rộng rãi làkích thước, uy tín của công ty kiểm toán Để đảm bảo các yêu cầu liên quan đếnchất lượng kiểm toán thì các công ty kiểm toán lớn đặc biệt là Big Four là ưu tiênhàng đầu về kiểm toán chất lượng cao Vấn đề lựa chọn công ty kiểm toán để phục

vụ cho nhu cầu quản trị của công ty còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó tậptrung quyền sở hữu và kiểm soát của gia đình được đề cập khá nhiều trong xác địnhảnh hưởng đến lựa chọn công ty kiểm toán

Trang 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

3.1 Mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình.

3.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu.

Bằng chứng về mối quan hệ giữa tập trung sở hữu và lựa chọn công ty kiểmtoán đã được cung cấp trong nghiên cứu thực nghiệm trước Trong các công ty có

sở hữu tập trung, vấn đề đại diện có thể bị trầm trọng hơn hoặc được giảm nhẹ đi.Một mặt, quyền kiểm soát nằm trong tay của một cổ đông có thể bị lợi dụng đểchiếm dụng các nguồn vốn của công ty, hoặc hành động vì lợi ích cá nhân, các cổđông này sẽ làm cho tình trạng báo cáo tài chính không rõ ràng kéo dài, dẫn đến cổđông kiểm soát sẽ tích lũy được lợi ích cá nhân Như vậy, để giảm mức độ bị giámsát và thực hiện các hành vi vì lợi ích cá nhân, các cổ đông kiểm soát có thể chọn để

có báo cáo tài chính được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán có chất lượng thấphơn (Lin và Liu, 2009)

Mặt khác, các cổ đông kiểm soát có thể lo lắng đến cơ chế giám sát, vấn đềkhả năng của mình bị hạn chế trong quản trị có thể ảnh hưởng đến lợi ích của mình

Họ có thể tin rằng công ty cần phải thuyết phục các cổ đông thiểu số và các nhà đầu

tư tiềm năng về độ tin cậy của quản trị công ty và báo cáo tài chính để đảm bảoquyền lợi của mình được bảo vệ tốt hơn Mối quan tâm này có thể dẫn đến việc bổnhiệm kiểm toán viên chất lượng cao để kiểm tra các báo cáo tài chính của công ty.Như Fan và Wong (2005) cũng cho rằng những công ty có tập trung sở hữu cao cónhiều khả năng để thuê các công ty kiểm toán Big 4, các công ty kiểm toán lớn cóthể giúp nâng cao sự tự tin của nhà đầu tư trên thị trường vốn

Với hai quan điểm như trên thì có rất nhiều bằng chứng về mối quan hệ giữavấn đề sở hữu và lựa chọn công ty kiểm toán đã được cung cấp bởi các nghiên cứuthực nghiệm trước Theo một số nghiên cứu, mức độ tập trung quyền sở hữu có liên

Trang 36

quan ngược chiều với khả năng của việc thuê công ty kiểm toán có chất lượng cao,như nghiên cứu bởi Gaetano Matonti et al (2016) Từ nền kinh tế đang phát triển,Lin và Liu (2009) chứng minh rằng các công ty Trung Quốc với sự tập trung quyền

sở hữu lớn hơn ít có khả năng để thuê Big 10 thực hiện kiểm toán

Các môi trường thể chế và bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường vốn tại ViệtNam là tương đối yếu hơn so với các thị trường phát triển Với tình trạng này, trongcác công ty niêm yết với cơ cấu sở hữu tập trung, các cổ đông kiểm soát có thể cónhiều cơ hội hơn để duy trì những lợi ích không rõ ràng của họ Một mức độ thấphơn về chất lượng kiểm toán có thể được sử dụng để bảo vệ lợi ích cá nhân, dựatrên dự đoán này và kết quả của một số nghiên cứu trước, giả thuyết đầu tiên đượcxây dựng như sau:

Giả thiết H1 Có một mối tương quan âm giữa việc tập trung quyền sở hữu

và khả năng để thuê các công ty kiểm toán chất lượng cao.

Tiếp theo, nghiên cứu này xem xét liệu quyền sở hữu và kiểm soát tập trung trongtay của một gia đình có ảnh hưởng đến cơ chế quản trị doanh nghiệp hay không, đặcbiệt là có ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn kiểm toán viên bên ngoài có uy tín cao.Ngoài tập trung quyền sở hữu, kiểm soát gia đình cũng có thể đóng một vai trò hoặclàm trầm trọng thêm hoặc giảm thiểu các vấn đề đại diện giữa gia đình kiểm soát và các

cổ đông khác Theo đề nghị của Khan (2015), các công ty được gia đình kiểm soát có

xu hướng dễ bị tổn thương nhiều hơn bởi các vấn đề đại diện Một mặt, vì nó có ảnhhưởng đến vấn đề kiểm soát của công ty và chỉ định các thành viên trong gia đình đểngồi ở hội đồng quản trị hoặc đội ngũ quản lý, gia đình kiểm soát có thể có cơ hội lớnhơn để khai thác lợi ích cá nhân và làm cho tính minh bạch của công ty thấp hơn Vớitình trạng này, các công ty được gia đình kiểm soát có thể không muốn áp đặt giám sátbên ngoài và do đó, có nhiều khả năng để thuê kiểm toán chất lượng thấp để bảo vệ lợiích riêng tư của gia đình, theo Salim Darmadi

Trang 37

(2014) Mặt khác, cũng có một số nghiên cứu cho rằng các công ty được gia đìnhkiểm soát tương đối quan tâm nhiều hơn về vấn đề dài hạn và uy tín của công ty,dẫn đến họ cung cấp thông tin tài chính chất lượng cao để duy trì niềm tin của nhàđầu tư, theo Khan (2015) và tình trạng này có thể dẫn đến việc bổ nhiệm của kiểmtoán viên chất lượng cao.

Để khẳng định tốt nhất các quan điểm đưa ra, các nghiên cứu trước đã kiểm tramối liên hệ giữa sự kiểm soát gia đình và sự lựa chọn công ty kiểm toán và đa sốcác nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty được gia đình kiểm soát có rất ít khả năngthuê kiểm toán chất lượng cao Sử dụng một mẫu của các công ty ở Indonesia,Salim Darmadi (2014) cung cấp bằng chứng về sự nghịch biến này Tại Bangladesh,một kết quả tương tự như vậy cũng được báo cáo từ Khan (2015) Do đó, bàinghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ hai là phùhợp với sự phát hiện của các nghiên cứu trước tiến hành tại các thị trường trước đó

Giả thiết H2: Có một mối tương quan âm giữa sự kiểm soát của gia đình

và khả năng để thuê các công ty kiểm toán chất lượng cao.

Bài nghiên cứu cũng xem xét một số đặc điểm của công ty cụ thể mà có khả năngảnh hưởng đến lựa chọn công ty kiểm toán Các đặc điểm đó tác động đếnv iệc lựachọn công ty kiểm toán như sau, những công ty có quy mô lớn hơn có thể thích kiểmtoán viên chất lượng cao vì họ muốn duy trì danh tiếng của họ trên thị trường Bêncạnh đó, các công ty như vậy dường như có nguồn lực tài chính tốt hơn để thuê kiểmtoán chất lượng cao Các nghiên cứu trước đã chứng minh rằng quy mô doanh nghiệpcùng chiều trong các nhu cầu về kiểm toán viên chất lượng cao (Knechel et al 2008).Đối với đòn bẩy tài chính, các công ty có đòn bẩy cao hơn có xu hướng có vấn đề đạidiện nặng hơn Knechel et al (2008) và với môi trường thể chế tương đối yếu, các công

ty đó có thể ít có khả năng bổ nhiệm kiểm toán viên chất lượng cao Hơn nữa, cácdoanh nghiệp với hiệu suất hoạt động của công ty cao có xu

Trang 38

hướng thể hiện bằng trong việc thuê kiểm toán viên chất lượng cao (Lin và Liu,2009).

3.1.2 Mô hình nghiên cứu.

Bài nghiên cứu tập trung vào việc lựa chọn công ty kiểm toán có chất lượng cao,các nghiên cứu trước đây có nhiều cách khác nhau để xác định một công ty kiểmtoán được coi là có chất lượng cao Như nghiên cứu Lin và Liu (2009) sử dụng top

10 công ty kiểm toán lớn nhất, hay Knechel et al (2008) thì dựa vào loại chứng chỉcủa kiểm toán viên Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây thì sử dụng các công ty kiểmtoán Big 4 để xác định như là công ty kiểm toán có chất lượng cao (như nghiêncứu Guedhami et al (2009), Salim Darmadi (2014), Xianjie He et al (2014)), vìvậy, luận văn thực hiện xác định biến AUD trên tinh thần kế thừa các nghiên cứutrước đây, tức biến phụ thuộc (AUD) lựa chọn công ty kiểm toán là biến nhị phân,tức bằng 1 nếu công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán Big 4(Price Waterhouse Coopers, Deloitte, Ernst & Young, và KPMG) và bằng 0 nếukhông phải kiểm toán bởi Big 4 Vì biến phụ thuộc là biến nhị phân nên bài nghiêncứu sử dụng mô hình hồi quy logistic, kỹ thuật này phù hợp với hầu hết các nghiêncứu trước đây (Gaetano Matonti et al (2016), Lin và Liu (2009), Guedhami et al.(2009)…)

Để tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, luận văn

đã tham khảo các mô hình nghiên cứu trước đây trên thế giới về vấn đề lựa chọnkiểm toán, đặc biệt là nghiên cứu liên quan đến vấn đề sở hữu tập trung và kiểmsoát gia đình được thực hiện tại các thị trường mới nổi Theo các nghiên cứu trước

đã đề cập trong chương 2, biến OWNCONC sở hữu tập trung và biến FAMCONkiểm soát gia đình là hai biến độc lập chính trong mô hình dùng để xem xét mốiquan hệ với biến phụ thuộc AUD Ngoài ra, việc lựa chọn công ty kiểm toán khôngchỉ chịu ảnh hưởng của vấn đề sở hữu mà còn chịu sự tác động của nhiều yếu tốkhác nhau liên quan đến đặc điểm công ty như quy mô, đòn bẩy tài chính, giám đốc

Trang 39

điều hành, lợi nhuận hay hiệu quả hoạt động, do đó luận văn tiến hành đưa các biếnnày vào mô hình với vai trò là biến kiểm soát, các biến này cũng tác động vào biếnphụ thuộc đang xem xét nhưng bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mối quan hệvới sở hữu tập trung và kiểm soát gia đình.

Phương trình hồi quy logistic được trình bày như sau:

(1)Trong đó:

 AUD là sự lựa chọn kiểm toán công ty kiểm toán

 OWNCONC là tập trung quyền sở hữu

 FAMCON là sự hiện diện của gia đình kiểm soát

 BOARD là giám đốc kiêm nhiệm

 FSIZE là quy mô doanh nghiệp

 LEVER là Đòn bẩy tài chính

 PROFIT là Lợi nhuận

 TOBINQ là Hiệu suất hoạt động dựa trên thị trường

 i, t : Mẫu công ty thứ i vào năm t

3.1.3 Đo lường các biến trong mô hình.

Trong phần này, nghiên cứu sẽ trình bày cách đo lường các biến trong môhình dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước đây

(a) Biến phụ thuộc.

Lựa chọn công ty kiểm toán (AUD)

Để đánh giá công ty kiểm toán có chất lượng cao thì phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau và tùy vào cách đo lường của từng vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu gầnđây thường sử dụng các công ty kiểm toán Big 4 để xác định như là công ty

Trang 40

kiểm toán có chất lượng cao (như nghiên cứu Guedhami et al (2009), SalimDarmadi (2014), Xianjie He et al (2014)) Thật vậy, top 4 công ty kiểm toán Big 4(Price Waterhouse Coopers, Deloitte, Ernst & Young, và KPMG) được đánh giá làbốn hãng kiểm toán hàng đầu thế giới, tại Việt Nam, theo số liệu của VACPA tínhđến năm 2015, thì Big 4 đang có doanh thu dẫn đầu thị trường kiểm toán độc lậpViệt Nam.

Biến phụ thuộc (AUD) lựa chọn công ty kiểm toán là biến nhị phân, tức bằng

1 nếu công ty được kiểm toán bởi một trong bốn công ty kiểm toán Big 4 và bằng 0nếu không phải kiểm toán bởi Big 4

(b) Các biến độc lập.

Biến Tập trung quyền sở hữu (OWNCONC)

Biến này được đo lường bởi tỷ lệ cổ phần phổ thông, đơn vị tính là %, được

sở hữu bởi cổ đông lớn nhất, tức biến này sẽ được xác định bằng tỷ lệ phần tram cổphần mà cổ đông lớn nhất công ty hiện đang sở hữu vào cuối năm thứ t

Cách đo lường này tương tự như trong nghiên cứu của Lin và Liu (2009),Xianjie He et al (2014) cũng sử dụng cách đo lường này khi xác định vấn đề sở hữutập trung tác động đến việc lựa chọn công ty kiểm toán Theo Lin và Liu (2009) chorằng việc áp dụng đo lường tập trung sở hữu cổ phần phản ánh mức độ chi phối, ảnhhưởng trong việc ra quyết định lựa chọn công ty kiểm toán Vấn đề này cũng phùhợp tại Việt Nam khi mà việc lựa chọn công ty kiểm toán phải được hội đồng cổđông thông qua, và họ là những người ra quyết định nên chọn công ty kiểm toánnào, cổ đông càng có mức độ sở hữu lớn càng có ảnh hưởng trong vấn đề ra quyếtđịnh

Để thu thập dữ liệu liên quan đến biên này, nghiên cứu sử dụng thông tin về tỷ

Ngày đăng: 24/09/2020, 15:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w