1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

39 911 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng áp dụng về tiền lương trong các doanh nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế và một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về tiền lương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Huế
Thể loại tiểu luận
Thành phố thừa thiên huế
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 164,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về tiền lương Theo báo cáo của Sở thương binh lao động xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế,tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp tương đối ổn định và tănghơn so với các năm trước đ

Trang 1

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

2.1 Đặc điểm các doanh nghiệp và lao động trong các doanh nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế

2.1.1 Số lượng, chất lượng các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt ViệtNam đã là thành viên của WTO các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung vàdoanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế nói riêng ngày càng phát triển số lượng, nângcao chất lượng và đa dạng về các ngành nghề

2.1.1.1 Về số lượng

Thực hiện Luật doanh nghiệp những năm qua số lượng doanh nghiệp đăng

ký và hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ngày một tăng về số lượng.Theo báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng số lượng doanhnghiệp vào năm 2006 là 1955 doanh nghiệp Năm 2007 số doanh nghiệp tănglên 2400 doanh nghiệp Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là cổ phầnhóa doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp nhà nước ngày càng giảm, các công ty

cổ phần, trách nhiệm hữu hạn ngày càng tăng Đến cuối năm 2008 số doanhnghiệp tiếp tục tăng lên 2854 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừachiếm 96% số doanh nghiệp của tỉnh Thực hiện cơ chế mở cửa đầu tư, số doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng

Từ năm 2006 đến năm 2007, số doanh nghiệp giải thể có xu hướng giảmdần Tuy nhiên cuối năm 2008 doanh nghiệp giải thể có xu hướng tăng lên.Nguyên nhân do ảnh hưởng của lạm phát, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, mặcdầu đã gặp khó khăn do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, song các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề

xã hội như; tạo thu nhập, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động

và góp phần thu ngân sách cho tỉnh

2.1.1.2 Về chất lượng

Trang 2

Các doanh nghiệp trong tỉnh nhìn chung năng động và thích ứng với nhữngthay đổi của thị trường, giữ gìn phát huy các ngành nghề truyền thống, phát triếncác sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho thị trường, tham gia tích cực vào khâu phânphối các sản phẩm cho thị trường cả nước và thế giới đáp ứng được nhu cầu củangười tiêu dùng, có sức len lỏi vào thị trường một cách năng động, linh hoạt đápứng nhu cầu đa dạng của thực tiễn sản xuất kinh doanh nên sức cạnh tranh củadoanh nghiệp từng bước được nâng cao, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi luônchiếm tỷ lệ cao, bình quân hằng năm có gần 90% doanh nghiệp kinh doanh cólãi, nộp ngân sách của các doanh nghiệp qua các năm đều tăng 8- 9 % , hằngnăm các doanh nghiệp thu hút và tạo việc làm khoảng 1000 lao động.

Các doanh nghiệp trong tỉnh luôn được sự quan tâm chỉ đạo và kịp thời xử

lý tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp Tuy nhiên so với cácdoanh nghiệp trên toàn quốc, các doanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế năng lực sảnxuất hạn chế do vốn tự có ít, trình độ công nghệ, máy móc kỹ thuật lạc hậu, cácdoanh nghiệp phân bố không đồng đều, phát triển chủ yếu ở thành phố Huế vàthị trấn Phú Bài, cơ cấu ngành nghề còn thiên về đầu tư vào các ngành nghề đòihỏi ít vốn đầu tư như thương mại, dịch vụ mà chưa chú trọng đầu tư dài hạn vàolĩnh vực sản xuất Mặt khác, sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhaucòn thấp dẫn đến chất lượng, hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh thấp Doảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực và biến động giá cả nguyên vật liệunên các doanh nghiệp rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư làm ảnhhưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.2 Số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động trong các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Hiện nay, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, quá trình xây dựng

và phát triển của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và cổ phần hóadoanh nghiệp, đội ngũ lao động trong doanh nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huếphát triển về số lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng về cơ cấu

2.1.2.1 Về số lượng

Theo niên giáp thống kê 2005, 2006, 2007 tỉnh Thừa Thiên Huế, tổng sốlao động trong các doanh nghiệp vào năm 2005 là 38601 người , trong đó khuvực trong nước là 35277 người, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3324

Trang 3

người, chiếm 8.6% tổng số lao động trong các doanh nghiệp tại Thừa ThiênHuế Năm 2006 con số lao động làm việc trong doanh nghiệp có xu hướng tănglên 40261 người, tăng 2020 người so với năm 2005, trong đó số lao động trongcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm, do nhu cầu sắp xếp và chuyểnđối lại doanh nghiệp, chiếm 0,79% tổng số lao động trong doanh nghiệp.

Do số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng về số lượng lẫn chất lượng,nhu cầu tuyển dụng lao động các doanh nghiệp tiếp tục tăng lên vào năm 2007 là

48445 người, tăng 7824 lao động so với năm trước Bên cạnh đó, ở địa bàn tỉnh

số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều và có chất lượnghơn so với doanh nghiệp trong nước, nên số lao động tăng lên 3658 người làmtrong khu vực này

Đến cuối năm 2008, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tại ThừaThiên Huế là 58.600 người, trong đó tổng số người đã đăng ký hợp đồng laođộng là 52.447 người chiếm 89.5%, còn 5% số lao động thuộc đối tượng phải kýhợp đồng lao động nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động chưa thực hiện

Số lao động này tập trung ở một số doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp FDI, ở cácdoanh nghiệp tư nhân có số lượng 20 người trở xuống Với sự cạnh tranh cácdoanh nghiệp, các doanh nghiệp FDI có lợi thế so với các doanh nghiệp trongnước, đến cuối năm 2008 số lao động làm trong các công ty này là gần 15000người, thu hút ngày càng nhiều lao động trẻ, tay nghề cao, phần lớn được đàotạo cơ bản và có trình độ chuyên môn Tuy gặp khó khăn về việc làm và đờisống nhưng lực lượng lao động trong các doanh nghiệp FDI hằng năm cò nhiềuđóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội Thừa Thiên Huế

2.1.2.2 Về chất lượng

Chất lượng trong các doanh nghiệp trên địa bàn Thừa Thiên Huế được nângcao về nhiều mặt Nhìn chung tuổi đời của công nhân – viên chức lao động trongcác doanh nghiệp còn trẻ, chủ yếu là 20 – 35 tuổi, bình quân tuổi nghề là 10 đến

15 năm Trình độ học vấn cao hơn trước, trình độ phổ thông trung học cao hơntrước chiếm 58 % , công nhân trực tiếp sản xuất đã được nâng lên từ 45% vào

1998 đến 70 % năm 2007 Công nhân kỹ thuật và công nhân có tay nghề bậc thợcao (5-7) chiếm 20%, đa số tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

Trang 4

ngoài Số có trình độ đại học vấn trên đại học chiếm 19 %

Xét ở góc độ chung nhất, lực lượng lao động làm việc trong các doanhnghiệp Thừa Thiên Huế chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao độngqua đào tạo thấp, năng xuất lao động không cao , năng lực cán bộ quản lýdoanh nghiệp không được đào tạo chính quy, hạn chế về quản trị doanh nghiệp,thiếu kỷ năng, thiếu kiến thức tiếp thị và thiếu thông tin, việc quản lý doanhnghiệp còn lạc hậu

2.1.2.3 Về cơ cấu lao động

Theo số liệu tổng kết của Chi cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế, trong cácngành nghề công nghiệp, xây dựng, dịch vụ - du lịch, số lao động có xu hướngphát triển, giảm dần ở khu vực nông lâm ngư nghiêp, cụ thể là: Nông lâm ngưnghiệp chiếm 1,75% Thương mại dịch vụ 38%, công nghiệp xây dựng chiếm72% Lực lượng lao động có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ lệ lớn gần 60% tổng

số lao động làm việc trong doanh nghiệp, nhất là trong các ngành thương mạidịch vụ, may mặc, chế biến thủy hải sản- số lao động tuy khó khăn về việc làm

và đời sống, nhưng hiện nay có xu hướng tăng cao, hàng năm tạo thêm thu nhậpcho gia đình, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội tỉnh phát triển Đội ngũ lao độngtrong các doanh nghiệp không ngừng nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng,năng động sáng tạo tiếp cận với khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại góp phầntạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá trị kinh tế lớn

Bên cạnh những bước tiến vượt bậc nói trên, đội ngũ công nhân lao độngtrong doanh nghiệp còn bộc lộ những mặt yếu kém cơ bản Trình độ học, taynghề của người lao động còn thấp chưa theo kịp với sự phát triển của khoa học

kỹ thuật Điều kiện sống, làm việc và nghỉ ngơi của người lao động còn thấp,kiến thức pháp luật - đặc biệt pháp luật lao động còn hạn chế

2.1.3 Về tình hình việc làm, tiền lương, đời sống của người lao động 2.1.3.1 Về việc làm

Trong những năm gần đây, do Nhà nước có nhiều cơ chế, chính sách khuyếnkhích và đào tạo cho các thành phần kinh tế phát triển nên có nhiều doanh nghiệpđược thành lập tại Thừa Thiên Huế tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.Trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, trên toàn tỉnh có gần 3000 lao

Trang 5

động được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp Tuy nhiên, do ảnh hưởng củalạm phát và sự suy thoái của nền kinh tế thế giới nên các doanh nghiệp trên đại bàntỉnh liên tiếp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và thị trường tiêu thụ Đầu năm 2009, toàn tỉnh có hơn 1800 lao động bị thôi việc hoặc nghỉ việc tạm thời.

2.1.3.2 Về tiền lương

Theo báo cáo của Sở thương binh lao động xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế,tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp tương đối ổn định và tănghơn so với các năm trước đây Ở các doanh nghiệp nhà nước tiền lương ổn địnhhơn các loại hình doanh nghiệp khác, bình quân 2400.000 đồng/ tháng/ 1 người,doanh nghiệp dân doanh bình quân 1.900.000 đồng/ tháng/ 1 người, doanhnghiệp FDI bình quân 1.600.000 đồng/ tháng/ 1 người

Điều đáng quan tâm ở đây là sự chênh lệch thu nhập của người lao độngtrên cùng một địa bàn, tronng cùng một ngành nghề, giữa người lãnh đạo vàngười lao động trực tiếp Hiện nay, mức thu nhập của người lao động có tănghơn so với những năm trứơc Tuy nhiên, so với các tỉnh khác thì mức thu nhậpcủa người lao động như vậy vẫn còn thấp so với các tỉnh khác

2.1.3.3 Về điều kiện làm việc

Nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có trang thiết bị công nghệtương đối tốt, nhưng điều kiện làm việc của công nhân còn kém, tình trạng côngnhân phải lao động thủ công nặng nhọc Hơn thế nữa, công nhân còn phải làmviệc trong điều kiện môi trường độc hại như: nóng, ồn, bụi, độ rung vượt tiêuchuẩn cho phép; phương tiện bảo hộ lao động kém chất lượng, tai nạn lao độngcòn thường xuyên xảy ra Theo báo cáo của Thanh tra Sở lao động thương binh

và xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế tại địa bàn tỉnh bình quân hàng năm có gần 100

vụ tai nạn lao động và đang có xu hướng tăng nhanh trong thời gian tới

2.1.4 Về quan hệ lao động và tranh chấp lao động

2.1.4.1 Về quan hệ lao động

Trong những năm vừa qua, người lao động ngày càng hiểu biết về phápluật lao động nhưng vẫn còn hạn chế do tình trạng làm việc không ổn định Tìnhtrạng người sử dụng lao động tìm cách tăng giờ làm, giảm tiền lương, tăng địnhmức lao động, bớt xén các khoản an sinh xã hội vẫn xảy ra thường xuyên

Trang 6

Các quy định về ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nộiquy lao động bị người sử dụng lao động vi phạm hoặc không sử dụng Đa sốngười lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI chỉ có hợp đồng thời vụhoặc hợp đồng dưới một năm dù công việc đang làm ổn định trong nhiều năm.Tình trạng trên đã dẫn đến người lao động còn gặp nhiều thiệt thòi và khó khăntrong cuộc sống.

2.1.4.2.Tranh chấp lao động

Theo tổng kết của Tòa án nhân dân và Sở lao động thương binh xã hội tỉnhThừa Thiên Huế, trong những năm vừa qua tình trạng tranh chấp lao động xảy rangày càng nhiều, bình quân mỗi năm có 11 vụ Nguyên nhân là người sử dụng

lao động không thực hiện đúng theo hợp đồng lao động và Bộ luật lao động quy

định Mặt khác, do trình độ hiểu biết pháp luật lao động của người lao động cònhạn chế ít được thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật Đa số các doanhnghiệp nhất là các doanh nghiệp FDI chưa thành lập Ban chấp hành công đoàn,

có thành lập thì hoạt động của Ban chấp hành công đoàn chua phát huy hết chứcnăng của mình

Tình hình trên cho thấy, với sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung vàtỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, các doanh nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên Huế phảithường xuyên đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, trang bị những tư liệu sản xuất kỹthuật mới để cạnh tranh với các tỉnh bạn Bên cạnh đó, người lao động trong cácdoanh nghiệp cần phải nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, pháp luật và trình

độ chuyên môn nghiệp vụ là một nhiệm vụ quan trọng đối với các doanh nghiệp

và người lao động đang hoạt động trên địa bàn tỉnh

2.2 Thực trạng áp dụng tiền lương trong các doanh nghiệp tại Thừa Thiên Huế

2.2.1 Những kết quả đạt được

Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn tỉnh nói chung và các doanhnghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh nói riêng Hằng năm các doanh nghiệpthu hút, tạo việc làm và nguồn thu nhập chủ yếu cho hàng chục nghìn lao động.Các doanh nghiệp thực hiện việc trả lương cho người lao động trong những nămqua đã đạt được những kết quả sau:

2.2.1.1 Tiền lương và tiền thưởng cho người lao động

Trang 7

Để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quảcao Mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người lao động, đảm bảo đựơc cuộcsống tối thiểu nhất cho người lao động, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh luônluôn quan tâm đến tiền lương của người lao động.

Theo niên giáp thống kê Thừa Thiên Huế và báo cáo tổng kết của Sở laođộng thương binh và xã hội Thừa Thiên Huế, tiền lương của người lao động quacác năm được tăng theo giá thị trường, bình quân thu nhập của người lao độngđươc thể hiện qua bảng sau

Đơn vị : 1000 đồng

Loại hình doanh nghiệp

Năm Thu nhập bình quân(đồng/tháng/người)

Qua số liệu và biểu đồ trên ta thấy, bình quân tiền lương của người lao độngtăng lên qua các năm, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhà nước và doanhnghiệp dân doanh, trung bình tăng hằng năm khoảng 305.000 đồng/tháng, doanhnghiêp FDI có xu hương tăng lương nhanh qua các năm nhưng không đồng đều.Điều đó cho thấy một điều đáng mừng các doanh nghiệp trong nước có tínhcạnh tranh cao và ngang bằng với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nứơc ngoài

Mặc dù so với các doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố lớn thì tiền lươngcòn thấp nhưng nếu tiền lương cứ duy trì như vậy thì người lao động an tâm vớinguồn thu nhập của mình, đảm bảo được cuộc sống, và làm việc có hiệu quả hơn

Về tiền thưởng cho người lao động: Trong những năm qua ngoài tiền lương

cố định mà người lao động nhận được từ các doanh nghiệp, người lao động cònđược nhận thêm khoản tiền thưởng (chủ yếu là thưởng vào dịp tết dương lịch vàtết nguyên đán) Theo báo cáo sơ bộ của phòng lao động- tiền lương( Sở laođộng thương binh và xã hội Thừa Thiên Huế ) vào cuối năm 2008 tiền thưởng

Trang 8

của các doanh nghiệp như sau: Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài FDI có tiền thưởng cao nhất- có doanh nghiệp thưởng tới 123 triệuđồng/người, bình quân 1,6 triệu đồng/ người Trong khối doanh nghiệp nhànước người nhận tiền thưởng cao nhất là 9 triệu đồng/ người, bình quân là 1,5triệu đồng/người, ở doanh nghiệp dân doanh mức thưởng cao nhất đạt 15 triệuđồng/người, bình quân của khối này là 1,4 triệu đồng/người.

2.2.1.2 Về công tác thực hiện các quy định về tiền lương, thu nhập của người lao động

Để nâng cao uy tín của doanh nghiệp và hiệu quả trong công tác chi trả tiềnlương cho người lao động, các doanh nghiệp đang hoạt động tại Thừa Thiên Huế

đã tập trung xây dựng thang lương, bảng lương, quy chế trả lương và thưởngcho người lao động phù hợp với từng thời kỳ, thực hiện theo mục tiêu “trả đúng,trả đủ, trả kịp thời” cho từng đối tượng lao động Vì vậy các doanh nghiệp tạiThừa Thiên Huế luôn luôn không ngừng tiếp cận các văn bản pháp luật điềuchỉnh về tiền lương để đảm bảo nguyên tắc của pháp luật lao động là “Bảo vệngười lao động”

Về việc xây dựng thang lương, bảng lương để làm cơ sở ký kết và thỏathuận tiền lương với người lao động

Theo báo cáo của Sở lao động thương binh và xã hội Thừa Thiên Huế đếncuối năm 2008 đầu năm 2009 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 2854 doanhnghiệp có đăng ký hoạt động kinh doanh, thuộc diện xây dựng thang bảng lương

áp dụng cho người lao động( không tính hộ gia đình và cá nhân có sử dụng laođộng ) Hiện có 106 doanh nghiệp đã thực hiện việc đăng ký thang lương, bảnglương với Sở lao động thương binh và xã hội chiếm 3.6% số doanh nghiệp đanghoạt động, trong đó có 20 doanh nghiệp tự xây dựng thang lương riêng để thựchiện còn lại đăng ký áp dụng hệ thống thang bảng lương của công ty nhà nướctheo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP của Chính phủ Việc các doanh nghiệp tựxây dựng thanh lương, bảng lương cho doanh nghiệp mình chủ yếu là các doanhnghiệp có vốn đầu tư nứơc ngoài (FDI)

Để thực hiện việc trả lương cho người lao động các doanh nghiệp xây dựngquy chế trả lương, trả thưởng cho người lao động nhằm khuyến khích người lao

Trang 9

động nâng cao năng lực, đạt năng suất lao động cao đem lại nguồn thu nhập vàlợi nhuận cao cho người lao động.

Qua thực tế khảo sát việc xây dụng thang bảng lương của các doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, các doanh nghiệp áp dụng Nghị định205/2004/NĐ-CP đều áp dụng đúng với quy định của Nghị định, mức lương bậc

1 đều bằng và cao hơn mức lương tối thiểu Các doanh nghiệp tự xây dựngthang bảng lương cho doanh nghiệp mình thì có khác, mức lương bậc 1 cao hơnmức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định

Thực tế đã chứng minh rằng, khi Nhà nước điều chỉnh pháp luật về tiềnlương tối thiểu chung và tiền lương tối thiểu vùng thì các doanh nghiệp ở ThừaThiên Huế cũng điều chỉnh tiền lương cho người lao động để đáp ứng với nhữngbiến động trên thị trường, nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao độngdưới tác động của các yếu tố chỉ giá sinh hoạt, điều kiện lao động

Ví dụ : Công ty TNHH Scanword chi nhánh Huế, Công ty cổ phần cơ khí ô

tô Thừa Thiên Huế đã qua 4 lần điều chỉnh tiền lương thì tiền lương tăng thêmkhoảng 90.000 đồng đến 120.000 đồng/tháng/người qua mỗi lần điều chỉnh.Theo báo cáo của Phòng lao động tiền lương ( Sở lao động thương binh và xãhội Thừa Thiên Huế) kể từ ngày 01/01/2009 hai Nghị định 110, 111 của chính phủban hành về sự điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng cho người lao động có hiệu lựcthì trong 3 tháng đầu năm 2009 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có 15 doanhnghiệp có sự điều chỉnh thang bảng lương để phù hợp với Nghị định

Ngoài tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động, các doanhnghiệp còn quy định chế độ phụ cấp trách nhiệm và các phụ cấp khác Mức tiềnphụ cấp từ 80.000 đến 400.000 đồng/tháng/người

2.2.1.3 Về hình thức và trả lương trong một số trường hợp khác cho người lao động:

Theo báo cáo của Sở lao động thương binh và xã hội, tổng số lao độngđang làm việc tại doanh nghiệp, tổ chức cá nhân thuộc đối tượng đăng ký hợpđồng lao động là 58.600 người đến hiện nay thì có 52.477 lao động đăng ký hợpđồng lao động chiếm 89.5 % Đa phần các doanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế đều

áp dụng hình thức trả lương theo theo thời gian, các doanh nghiệp kinh doanh

Trang 10

các mặt hàng thủy hải sản, may mặc, dày gia có số lượng đơn đặt hàng lớn là kếthợp hình thức trả lương cho người lao động theo thời gian và theo khoán Việctrả lương cho người lao động của các doanh nghiệp đều thực hiện theo tháng, vàđịa điểm trả lương là tại nơi làm việc Các doanh nghiệp luôn trả đủ lương vàđúng cho người lao động Hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế trả lương trực tiếp cho người lao động, chỉ có một số ít doanh nghiệptrả lương qua thẻ.

Về tình hình các doanh nghiệp trả lưong cho người lao động trong một sốtrường hợp khác Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu làcác doanh nghiệp dân doanh, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưanhiều Nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dân doanhthựchiện việc trả lương làm thêm giờ, làm đêm cho người lao động đúng theo quyđịnh của pháp luật Bên cạnh đó khi người lao động đi học, nghĩ chế độ, đi côngtác các doanh nghiệp luôn trả lương cho người lao động theo tỷ lệ mà pháp luậttiền lương quy định hoặc hai bên thỏa thuận

2.2.1.4 Về công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền pháp luật

Thực hiện chủ trương của Bộ lao động thương binh và xã hội, Tổng liênđoàn lao động Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở lao độngThương binh xã hội và Liên đoàn lao động tỉnh , đã đẩy mạnh công tác thanh tra,kiểm tra, tuyên truyền pháp luật cho các doanh nghiệp và người lao động trongquá trình thực thi chế độ, chính sách tiền lương Công tác thực hiện chế độ, chínhsách tiền lương cho người lao động ngày càng phức tạp, đặc biệt với sự phát triểnkinh tế của thế giới và khu vực, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về chínhsách tiền lương Vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, tuyên truyền pháp luật đượctăng cường tần suất với nhiều nội dung, hình thức Trong quá trình triển khai thựchiện, Sở lao động thương binh và xã hội (đặc biệt là Thanh tra sở) đã thống nhấtxây dựng chương trình kiểm tra, tuyên truyền pháp luật, chủ động kết hợp với cácban ngành liên quan để thực hiện pháp luật lao động

Thanh tra Sở lao động thương binh xã hội, kết hợp với các ban nghành liênquan, 4 năm qua đã tiến hành thanh tra, kiểm tra 349 doanh nghiệp, trong đó có

99 doanh nghiệp nhà nước, 120 công ty cổ phần và 130 doanh nghiệp khác

Trang 11

Hàng năm Phòng chính sách tiền lương - lao động thuộc Sở lao động thươngbinh xã hội Thừa Thiên Huế đã tổ chức các lớp tập huấn về chính sách tiềnlương cho các doanh nghiệp.

Tháng 12 năm 2008, Sở lao động thương binh xã hội đã tổ chức tập huấn 5lớp để triển khai các Nghị định số 110/2008/ND-CP và Nghị định số111/2008/NĐ- CP ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định mứclương tối thiểu vùng cho các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cho 150doanh nghiệp trên 350 số doanh nghiệp được mời tham gia tập huấn; đồng thờitriển khai những nội dung cơ bản trong quan hệ lao động như: Hợp đồng laođộng, thỏa ước tập thể lao động, kỹ năng lao động và trách nhiệm vật chất, tiềnlương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thành lập Hộiđồng hòa giải cơ sở

Qua quá trình công tác thanh tra, việc xây dựng thang lương, bảng lươngđược các đơn vị sử dụng lao động thực hiện tốt, đặc biệt là các doanh nghiệp sửdụng từ 50 lao động trở lên

2.2.2 Những tồn tại trong quá trình thực hiện

Trong những năm qua, dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưngchính sách tiền lương trong các doanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế vẩn còn nhiềuhạn chế cả về gốc độ pháp lý cũng như ở thực tiển áp dụng

2.2.2.1 Về mặt pháp luật

* Thứ nhất; về tiền lương tối thiểu và chính sách tiền lương :

Mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định là sự cụ thể hóa quy định của

Bộ luật lao động, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi củangười lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận mức lương cao hơn vàgiải quyết những vấn đề khác cho người lao động theo pháp luật quy định, tạođiều kiện hình thành giá tiền công trên thị trường, từng bước thực hiện đúng,tính đủ tiền lương trong giá thành và phí lưu thông trong doanh nghiệp nhànước, thúc đẩy quá trình đổi mới trong doanh nghiệp gắn tiền lương với năngsuất lao động hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 12

Hiện nay pháp luật quy định tiền lương tối thiểu áp dụng cho các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế

và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, và tiền lương tối thiểu áp dụng cho cácdoanh nghiệp, công ty, hợp tác xã, tổ hợp tác,trang trại, hộ gia đình có thuêmướn sử dụng lao động Trong đó tiền lương tối thiểu được xá định trên cơ sởnhu cầu của người lao động, hệ thống thang bảng lương hiện hành, thu nhậpquốc dân và đặc biệt là sự tác động ảnh hưởng của các quy luật khách quan củanền kinh tế thị trường Trên những cơ sở này, tiền lương tối thiểu trong các loạihình doanh nghiệp nói trên được xây dựng theo vùng, lãnh thổ nhất định Việcxây dựng tiền lương tối thiểu theo nguyên tắc này nó đã tính đến yếu tố đặc thùcủa vùng nhưng nó vẫn còn những hạn chế nhất định Tiền lương tối thiểu chưaphản ánh được giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn với mối quan hệ cung cầulao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc độ tăng năng suấtlao động, mức lương tối thiểu còn thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cầnthiết để tái sản xuất sức lao động

Với mức tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đàu tư nướcngoài pháp luật quy định là 1200.000 đồng/tháng và trong doanh nghiệp còn lại

là 800.000 đồng/tháng áp dụng cho vùng 1 và mức lương tối thiểu là 920.000đồng/tháng và 650.000 đồng/ tháng áp dụng cho vùng 4 Sự quy định của phápluật về tiền lương tối thiểu giữa các vùng vẫn còn chưa hợp lý Có sự chênh lệchquá lớn về tiền lương tối thiểu giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI

và các doanh nghiệp trong nước, tiền lương ở vùng 1 của doanh nghiệp trongnước lạo thấp hơn mức lương ở vùng 4 của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, trong lúc điều kiện sống, giá cả của vùng 1 lại cao hơn rất nhiều so vớivùng 4, hơn thế nữa quy định như vậy làm mất đi sự công bằng giữa các doanhnghiệp Bên cạnh đó cùng một vùng có chung một mức giá cả thị trường, cùnghoạt động trong một môi trường kinh doanh như nhau nhưng pháp luật quy định

về mức lương khác nhau như vậy là chưa phù hợp, chênh lệch đến 400.000đồng/tháng tạo nên sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệpngoài nước

Chế độ tiền lương chủ yếu vẫn dựa trên hệ thống phân phối theo việc, gắn

Trang 13

tiền lương với hệ số tiền lương tối thiểu là như nhau, nên không tạo động lựclàm việc hiệu quả, tạo ra những tác động cản trở, sự chênh lệch về thu nhập giũacác doanh nghiệp, các chế độ chính sách như phụ cấp, bảo hiểm xã hội, an toànlao động vẫn chưa được coi trọng Chính sách tiền lương chưa được đảm bảocho người lao động, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức Như vậy mức tiềnlương ở mức trung bình khá trong xã hội, chưa khuyến khích và thu hút ngườitài, người làm việc giỏi.

Hầu hết tiền lương trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệpnhà nước, cơ chế phân phối tiền lương chưa phân phối theo nguyên tắc thịtrường, còn mang tính bình quân

* Thứ 2; về hệ thống thang lương, bảng lương.

Hiện nay hệ thống thang lương, bảng lương đã được thu gọn từ hàng chục (năm 1993) xuống còn 6 hệ thống thang lương, bảng lương Bao gồm:

- Các thang lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh

- Các bảng lương công nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất, kinh doanh

- Bảng lương của thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị

- Bảng lương của Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó tổng giám đốc, Phó giámđốc, Kế toán trưởng

- Bảng lương chuyên gia cao cấp và nghệ nhân

- Bảng lương viên chức, chuyên môn, nghiệp vụ ở các công ty nhà nước.Trong đó có quy định doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp có vốn đàu

tư nước ngoài FDI có trách nhiệm xây dựng thang bảng lương theo tiêu chuẩn,cấp bậc, chức danh, chuyên môn nghiệp vụ làm cơ sở ký kết hợp đồng lao động

và thỏa ước lao động tập thể.Tuy nhiên các quy định này chưa phù hợp với cơchế thị trường vì quan hệ lương tối thiểu- trung bình - tối đa còn mang tính bìnhquân Đặc biệt là thang lương, bảng lương được quy định đối với các công tynhà nước chủ yếu áp dụng để đóng bảo hiển xã hội, bảo hiểm y tế chứ chưa theo

cơ chế thị trường

Trong doanh nghiệp nhà nước đang áp dụng hai thang lương(1 thang lương

6 bậc và một thang lương 7 bậc) chia theo 21 ngành nghề khác nhau Ngoài ra còn

có các chế độ phụ cấp khu vực, đặc biệt, trách nhiệm, lưu động Hệ thống thang

Trang 14

bảng lương ban hành vẫn chưa dự tính hết được sự phát triển của các ngành nghề,

sự tiến bộ của công nghệ và kỹ thuật của các ngành khi nền kinh tế chuyển sangnền kinh tế thị trường, mức lương trong các thang lương, bảng lương chỉ chiếm25- 30% mức lương thực lĩnh của người lao động Mức lương này chỉ còn giữ vaitrò quan trọng để tính đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế vàthực hiện các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật lao động

Việc xác định phụ cấp lương có sự trùng lặp về các yếu tố của chế độ phụcấp với các chế độ phụ cấp khác đã làm giảm tác dụng của chế độ phụ cấp.Ví dụnhư; theo Nghị định 205/2004/ NĐ- CP của Chính phủ ngày 14 tháng 12 năm

2004 quy định về phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm công việc,phụ cấp khu vực đèu có chung một hệ số phụ cấp là 0.1- 0.2- 0.3 so với mứclương tối thiểu chung Quy định như thế này là quá thấp và có sự trùng lặp giữacác chế độ phụ cấp đã mất đi tác dụng của nó Chẳng hạn, một lao động làm việctrong môi trường độc hại, nguy hiểm thì với mức phụ cấp cao nhất so với múclương tối thiểu chung như hiện nay là 260.000, trong đó các chế độ phụ cấp kháclại cao hơn như phụ cấp thu hút

Trong Nghị định 205/2004/ NĐ- CP của Chính phủ có sự trùng lặp giữabảng B.15 công nhân viên ngành du lịch, dịch vụ quy định mức lương của chứcdanh phục vụ bàn, nhưng ở thang lương A1-1 du lịch, dịch vụ khác quy định mứclương của phục vụ bàn Ở thang lương A1-1 quy định mức lương bậc 1 của phục

vụ bàn là 391500 đồng nhưng ở bảng lương B15 quy định mức lương bậc 1 phục

vụ bàn là 493000 đồng Từ đó thấy rằng có sự chồng chéo lẫn nhau giữa hai hệthống thang lương, bảng lương quy định về nhân viên phục vụ bàn, điều đó đãdẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trả lương cho người lao động

Về quan hệ tiền lương giữa thang lương và bảng lương của khối trực tiếp sảnxuất, giữa lao động nặng nhọc độc hại, có nơi chưa hợp lí đặc biệt bảng lươngB.10 quy định nhân viên trên tàu là lao động nặng nhọc, nguy hiểm xếp loại IV,bậc cuối cùng của chức danh này có hệ số mức lương 3.17 lại thấp hơn bậc cuốicùng của tất cả chức danh nhóm 1(lao động bình thường) của thang lương A1 có

hệ số mức lương là 3.60 Sự quy định của pháp luật như vậy đã dẫn đến khôngcông bằng trong việc trả lương cho người lao động

Trang 15

* Thứ ba; doanh nghiệp tự xây dựng thang lương, bảng lương còn nhiều bất cập.

Gần như 100% các cuộc đình công xảy ra ở các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ trước đến nay đều cónguyên nhân từ tranh chấp về tiền lương Trong khi nhà nước chỉ quy địnhnguyên tắc và hướng dẫn các phương pháp để các doanh nghiệp tự xây dựngthang lương, bảng lương nhằm làm cơ sở ký kết hợp đồng lao động, thỏa ướclao động tạp thể, xác định đơn giá tiền lương và trả lương cho người lao động.Nên thực tế đã dẫn đến nhiều tồn tại, bất cập Ví dụ như, có doanh nghiệp FDI ởThừa Thiên Huế đưa ra thang bảng lương mà bậc lương sau cao hơn bậc lươngtrước là 5000 đồng, người lao động chỉ tăng lương 3 lần thì lương thực lĩnh cũngđược tăng 15000 đồng

Bên cạnh đó, các thang lương, bảng lương ở các doanh nghiệp dân doanh

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên thực tế cũng còn nhiều bất cậpkhi pháp luật quy định cho các doanh nghiệp này tự xây dựng thang lương, bảnglương, cụ thể là: bảng lương chưa có sự phân biệt mức lương bậc một với mứclương tối thiểu, mức lương công việc có điều kiện lao động bình thường vớicông việc nặng nhọc, độc hại, khoảng cách ngạch lương, bậc lương chưa khuyếnkhích được người lao động nâng cao trình độ, tay nghề

Thứ tư, ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều cơ chế tiền lương giữa các loại hình doanh nghiệp.

Ở Việt Nam hiện nay về thực hiện cơ chế tiền lương chưa tạo ra một sânchơi chung trong việc trả lương, việc quy định của pháp luật như thế này có sựphân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Điều này

đã dẫn đến những điều bất cập là: Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa cácdoanh nghiệp trong việc thu hút lao động, và làm giảm đi sự yếu thế của cácdoanh nghiệp trong nước

Ví dụ: Ở Việt Nam vẫn còn hai cơ chế tiền lương cho doanh nghiệp nội địa

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI Đó là pháp luật Việt Nam quyđịnh hai hệ thống mức lương tối thiểu cho hai loại hình doanh nghiệp trên Nhànước chưa tạo một “sân chơi” chung về tiền lương tối thiểu cho các loại hình

Trang 16

doanh nghiệp, Nhà nước vẫn còn độc quyền bảo hộ đối với doanh nghiệp Nhànước Điều đó đã dẫn đến việc cạnh trang không lành mạnh về thu hút nguồn laođộng cho doanh nghiệp mình

2.2.2.2 Về công tác tổ chức thực hiện

* Thứ nhất, về việc thực hiện đăng ký thang lương, bảng lương.

Theo Điều 57 Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định:Thang lương, bảng lương phải được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước vềlao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đặt trụ sở chính củangười lao động

Theo báo cáo của Sở lao động thương binh xã hội trên địa bàn tỉnh ThừaThiên Huế có 2554 doanh nghiệp đang hoạt động thuộc diện xây dựng và đãđăng ký thang lương, bảng lương; Hiện toàn bộ doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn tỉnh chỉ có 106 doanh nghiệp đã đăng ký thang lương, bảng lương với cơquan lao động cấp tỉnh, chiếm 3,6% tổng số doanh nghiệp và trong số đó có 86doanh nghiệp áp dụng thang lương, bảng lương do nhà nước quy định (Nghịđịnh 200/2004/NĐ- CP) và 20 doanh nghiệp tự đăng ký xây dựng thang lương,bảng lương cho doanh nghiệp mình Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chủyếu do đa phần các doanh nghiệp ở Thừa Thiên Huế có quy mô sản xuất, kinhdoanh vừa và nhỏ chiếm 96% số doanh nghiệp của tỉnh, tính chất làm ăn thời vụ

và gia đình là phổ biến nên đa số lao động làm việc không ổn định Bên cạnh đó

do công tác quản lý đối với một số doanh nghiệp còn thiếu sót nên vẫn cònnhiều doanh nghiệp chưa xây dựng thang lương, bảng lương, nếu có thì khôngđăng ký ( chủ yếu là các doanh nghiệp có dưới 50 lao động ) chưa nghiêm túctrong việc xây dựng thang lương, bảng lương theo quy định

Bên cạnh đó do nhận thức của người lao động trong vấn đề xây dựng thanglương, bảng lương, kiến thức pháp luật lao động chưa sâu và do sức ép việc làmtrong cơ chế thị trường lên vai người lao động làm cản trở hoạt động đấu tranhđòi quyền lợi của họ khi phát hiện có vi phạm Trong phạm vi cả nước nóichung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng chế tài xử lý các vi phạm về đăng kýthang lương, bảng lương là chưa có, hoặc quá thấp, lại chưa được thực thi bởi cơquan nhà nước có thẩm quyền nên tính khả thi còn thấp Khả năng tổ chức, phối

Trang 17

hợp thực hiện giữa các cơ quan có thẩm quyền chưa được thực hiện một các chặtchẽ nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường đang có những bước chuyển đổisâu sắc tác động mạnh mẽ đến các nhân tố lao động, việc làm, tiền lương

* Thứ hai, về việc xây dựng thang lương, bảng lương và cơ chế quản lí tiền lương của các doanh nghiệp

Hệ thống thang, bảng lương ban hành vẫn chưa dự tính được hết sự pháttriển của các ngành nghề, sự tiến bộ của công nghệ và kỹ thuật mới của cácngành khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường

Thang, bảng lương xây dựng chủ yếu để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế ở mức thấp nhất cho phép nhằm tránh mức tăng thêm mà doanh nghiệp đãđóng Chính vì bất cập này, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động bịxâm phạm

Về cơ chế quản lí tiền lương và thu nhập đối với doanh nghiệp nhà nước,nhà nước thống nhất quản lí chi phí tiền lương “đầu vào” còn tiền lương cao haythấp lại tùy thuộc vào năng suất hiệu quả “đầu ra” của doanh nghiệp, nhưng trênthực tế có nhiều doanh nghiệp “đầu ra” không chỉ hoàn toàn do năng suất, mà dolợi thế ngành, hoặc hàng độc quyền đem lại Mối quan hệ giữa cơ chế quản lítiền lương, thu nhập và cơ chế quản lí tài chính chưa chặt chẽ; chưa tìm raphương thức hợp lí để gắn tiền lương với lợi nhuận của các loại hình doanhnghiệp Vì vậy xu hướng chung trong doanh nghiệp nhà nước là tốc độ tăng tiềnlương bình quân nhanh hơn tốc độ tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuậnbình quân

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì xu hướng chung mứctiền công của người lao động luôn luôn bị ép xuống, trong khi thời gian làm việctheo định mức lao động ngày càng tăng Vì vậy, trong nhiều doanh nghiệp luôn

có sự tranh chấp dẫn đến đình công đòi giải quyết quyền lợi mà trước hết là đòităng lương

* Thứ ba, về việc thực hiện trả lương, trả lương làm thêm giờ, tiền thưởng.

Các doanh nghiệp trên địa bàn chưa thực hiện đúng với quy định của phápluật Nhất là vào những dịp cuối năm, những việc cần hoàn thành gấp đơn đặt

Trang 18

hàng, những đợt cần giao hàng Việc tăng thời gian làm thêm giờ xuất phát từhai phía, nhưng lại chưa thực hiện tốt chính sách đãi ngộ tiền lương, tiền cônglàm thêm giờ; có những công nhân không được doanh nghiệp thỏa thuận về tiềnlương, tiền công làm thêm giờ hoặc không biết gì về vấn đề này Đời sống củangười lao động trong doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào đồng lương mà người

sử dụng lao động trả cho họ, khoản tiền lương này dành cho việc chi tiêu phục

vụ nhu cầu sinh hoạt và có thể tích lũy Với mức thu nhập không cao, lại chi tiêucho nhiều khoản, giá cả phục vụ cho tiêu dùng không ổn định, nên người laođộng luôn chịu sức ép về vấn đề này Tuy nhiên các doanh nghiệp trên địa bàntỉnh Thừa Thiên Huế không phải doanh nghiệp nào, người sử dụng lao động nàocũng thực hiện đúng quy định của pháp luật về trả lương cho người lao động,thậm chí nhiều doanh nghiệp thường xuyên chậm trả lương, thậm chí ba đến bốntháng mới trả một lần Bên cạnh đó có nhiều doanh nghiệp còn trả không đúnglương tối thiểu do pháp luật quy định

Nhiều doanh nghiệp huy động công nhân làm thêm giờ, tăng ca để hoànthành kế hoạch sản xuất, hoàn thành đơn đặt hàng của đối tác, nhưng việc trảlương làm thêm giờ mỗi doanh nghiệp mỗi kiểu và hầu như không thực hiệnđúng theo pháp luật quy định Nhiều lao động trong doanh nghiệp phaỉo làmviệc cả ngày chủ nhật hoặc từ 20 giờ đến 21 giờ mới được tan ca Thời gian làmviệc dài, cường độ lao động cao, tiền lương trả chưa tương xứng với sức laođộng mà họ bỏ ra, còn nỗi lo thường trực là bị sa thải vô cớ, tất cả những điều

đó đã gây ra những bất bình , bức xúc cho người lao động

* Thứ tư, về công tác tuyên truyền pháp luật.

Công tác thông tin, tuyên truyền pháp luật chưa được thường xuyên, cậpnhật, đội ngũ công tác viên, tuyên truyền viên trong các cơ quan thực hiện chứcnăng về tiền lương còn quá mỏng về số lượng và chất lượng Trên toàn tỉnh nóichung, đặc biệt là công nhân lao động trong các doanh nghiệp nói riêng am hiểupháp luật lao động còn hạn chế hoặc là không biết, người hiểu biết pháp luật lạikhông giám đấu tranh khi bị vi phạm vì họ sợ mất việc làm Hình thức của hoạtđộng tuyên truyền còn yếu chưa phát huy được hiệu quả cao, kinh phí hoạt độngtrong lĩnh vực này chưa có hoặc còn hạn hẹp

Trang 19

* Thứ năm, công tác thanh tra, kiểm tra.

Công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay Một nămcác cơ quan lao động ở Thừa Thiên Huế chỉ có thể kiểm tra một vài doanhnghiệp nhất định không thể kiểm tra toàn bộ các doanh nghiệp hoạt động trênđịa bàn tỉnh

Hiện nay công tác thanh tra, kiểm tra pháp luật lao động ( tiền lương ) trên

cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng còn nhiều hạn chế bởi nhiều

lí do xuất phát từ những yếu tố khách quan như quan hệ đặc thù của quan hệ laođộng và chủ quan như đội ngũ làm công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu, sốlượng cán bộ làm công tác nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra còn quá mỏng, trong khihành vi vi phạm lại nhiều và phức tạp Pháp luật về thanh tra, kiểm tra còn nhiềubất cập, cần khắc phục; quyền hạn của cơ quan như Thanh tra lao động, Liên đoànlao động tỉnh còn nhiều chồng chéo dẫn tới tình trạng thiếu trách nhiệm, đùnđẩy lẫn nhau Ví dụ như: Theo chỉ thị số 03 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa ThiênHuế ngày 10 thang 01 năm 2009 quy định, Sở lao động thương binh và xã hộităng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn việc thực hiện luật laođộng Liên đoàn lao động tỉnh có nhiệm vụ phổ biến, giáo dục chính sách phápluật cho người lao động Điều đó đã dẫn đến xảy ra tình trạng trên

* Thứ sáu, Công đoàn trong các doanh nghiệp.

Có những doanh nghiệp chưa thành lập được Ban chấp hành công đoànhoặc có thành lập nhưng chưa đáp ứng so với nhu cầu của đội ngũ lao động Đa

số các lao động làm việc trong các doanh nghiệp xuất phát từ lao động nôngnghiệp, việc tuyển dụng lao động đơn giản, công nhân lao động chưa được đàotạo cơ bản, nhiều doanh nghiệp sử dụng lao động vừa làm việc vừa đào tạo tạichỗ, chưa chú trọng rèn luyện tác phong công nghiệp, bản lĩnh chính trị, ý thức tổchức kỷ kuật Bên cạnh đó công đoàn các cấp chưa thực hiện hết vai trò củamình Với tư cách là cơ quan đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp củangười lao động, công đoàn được thành lập nhằm bải vệ các quyền của người laođộng trong quan hệ lao động và các quan hệ khác Vì vậy công đoàn giữ một vị tríquan trọng trong vấn đề phát huy hiệu quả pháp luật nói chung và pháp luật laođộng nói riêng Thế nhưng thực tế cho thấy, hiện nay công đoàn đặc biệt là công

Ngày đăng: 20/10/2013, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Loại hình doanh nghiệp - THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG
o ại hình doanh nghiệp (Trang 7)
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÔNG NHÂN ĐÌNH CÔNG, ĐÒI DOANH NGHIỆP TĂNG LƯƠNG - THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CÔNG NHÂN ĐÌNH CÔNG, ĐÒI DOANH NGHIỆP TĂNG LƯƠNG (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w