1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TIỀN LƯƠNG

25 631 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái quát về tiền lương và sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 57,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức lương tối thiểu là 120nghìn đồng /tháng, bội số là 10, trong đó bảng lương thì so với lương tối thiểu,bảng lương công chức từ 1 đến 8.5, bảng lương doanh nghiệp từ 1 đến 7.06.Trước s

Trang 1

KHÁI QUÁT VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ TIỀN LƯƠNG

1.1 Khái quát tiền lương

1.1.1 quá trình hình thành và phát triển của tiền lương ở Việt Nam.

Từ ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước taluôn quan tâm đến đời sống nhân dân, đặc biệt là công nhân viên chức và ngườilao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước ta luôn cải cách chính sáchtiền lương cho phù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội quá trình hìnhthành và phát triển tiền lương ở Việt Nam được thể hiện như sau:

Những ngày đầu thành lập nước, chưa có doanh nghiệp Nhà nước chỉ cómột số doanh nghiệp trưng thu của chế độ cũ để lại Tiền lương giai đoạn nàyvẫn theo tiền lương và phụ cấp của chế độ cũ để lại Đến tháng 7-1946, Sắc lệnh

số 133/SL ấn định lương tối thiểu của công chức các ngành (mỗi tháng 150đồng = 15kg gạo cho Hà Nội và 130 đồng = 13 kg gạo cho Hải Phòng và cáctỉnh khác có phụ cấp bổ túc gạo đắt cho bản thân, vợ và đến con thứ tư Đếntháng 2/1947 lương tối thiểu nâng lên 180 đồng và lương tối đa là 600 đồng).Tháng 5/1948 chế độ công chức mới được ban hành có một thang lươngvới 5 ngạch công chức, đến tháng 2/1950 lương tối thiểu được nâng lên từ 220đồng đến 250 đồng

Từ năm 1950 chiến sự còn lan rộng, giá sinh hoạt mỗi nơi mỗi khác, giá trịthực tế của đồng tiền giảm Tháng 5/1950 Sắc lệnh 77/SL quy định công nhângiúp việc của Chính phủ áp dụng thang lương chung 18 bậc Sắc lệnh số 98/SL

ấn định lương và phụ cấp hằng tháng theo giá gạo

Tháng 12/1955, Nghị định 650/TTg quy định chế độ tiền lương mới, thựchiện trả lương bằng tiền thêm cung cấp nhà ở, giường, chiếu, điện, nước, quyđịnh thang lương 17 bậc có bậc riêng cho cán bộ dân cử, thang lương 11 bậccho các bộ nhân viên kỷ thuật nhà nước, thang lương 8 bậc cho cơ quan xínghiệp nhà nước, thang lương 6 bậc cho lao động phổ thông xí nghiệp

Từ những năm 1960 Đảng và Nhà nước tập trung tiến hành cải tạo xã hộichủ nghĩa Ban chấp hành trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 13 đã quyết

Trang 2

định vấn đề cải cách tiền lương Thang lương công nhân cơ khí 8 bậc làm cơ sởxây dựng thang lương các nghề khác.Tháng 7/1960 Chính phủ ra nghị định 25/

CP về chế độ lương khu vực sản xuất gồm 7 thang lương

Sau tháng 4/1975 nước nhà được thống nhất nhưng do hậu quả nặng nềcủa chiến tranh, phải tổ chức lại nền kinh tế, chính sách tiền lương lúc này cònbao cấp và mất ý nghĩa là đòn bẩy kích thích và bù đắp Năm 1985 Trung ươngĐảng họp hội nghị lần thứ 8 khóa 5, Nghị định 235/HĐBT ban hành hệ thốngtiền lương mới Lương tối thiểu ấn định là 220 đồng/tháng, bội số lương hànhchính là 3,5 Hệ số lương trong các ngành sản xuất so với lương tối thiểu là 1.05đến 1.6 có 5 thang lương và 15 bảng lương

Từ năm 1986 Nhà nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản

lý của nhà nước, đã phải chuyển mức lương lên 102,275% so với năm 1985, các

xí nghiệp Nhà nước tự chi trả tiền lương, ngân sách Nhà nước không bao cấp.Tháng 5/1993 Ban bí thư trung ương Đảng ra quyết định số 69/QĐTW đề án cảicách tiền lương, Chính phủ đã ban hành các Nghị định 25/Chính phủ, 26/Chínhphủ về quy định tạm thời chế độ tiền lương mới Mức lương tối thiểu là 120nghìn đồng /tháng, bội số là 10, trong đó bảng lương thì so với lương tối thiểu,bảng lương công chức từ 1 đến 8.5, bảng lương doanh nghiệp từ 1 đến 7.06.Trước sự thay đổi của nền kinh tế khu vực và thế giới, để phù hợp với điềukiện đó năm 1994 Bộ luật lao động ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng,tạo cơ sở pháp lý cho các bên khi quan hệ lao động, đặc biệt là về tiền lương.Đến nay Bộ luật đó đã qua hai lần sửa đổi và bổ sung vào năm 2002 và 2006 đểphù hợp với sự thay đổi của kinh tế - xã hội Bên cạnh đó các cơ quan Nhà nước

đã ban hành những Nghị định, Thông tư để điều chỉnh về chế độ tiền lương.Qua quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tiền lương và thực tiển

áp dụng, pháp luật tiền lương ở Việt Nam có những ưu điểm và hạn chế sau

Trang 3

xã hội của đất nước Bên cạnh đó, pháp luật tiền lương luôn thay đổi để đảmbảo quyền lợi cho các chủ thể đặc biệt là việc mở rộng thang lương, bảng lương

có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của nhân dân

1.1.2 Khái niệm tiền lương

Tiền lương không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầucủa các chính sách xã hội liên quan đến trực tiếp cuộc sống của người lao động.Thuật ngữ tiền lương đã được nhiều tạp chí đề cập đến

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tiền lương:

- Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO đã có quan điểm về tiền lương “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà

có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm (Điều 1- Công ước số 45 năm 1949).

Bên cạnh đó tiền lương còn được tiếp cận dưới phương diện về kinh tế, xãhội và phương diện về pháp lý

- Dưới góc độ kinh tế: Với sự thừa nhận sức lao động là hàng hóa, có thểhiểu tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao độngđược hình thành thông qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động trả cho

Trang 4

người lao động Như vậy, tiền lương về thực chất là tiền trả cho việc thuê mướnsức lao động, là một trong các yếu tố đầu vào của sản xuất,cấu thành nên chi phísản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương vừa là chi phí trong sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp vừa là lợi ích kinh tế, thu nhập của người lao động.

- Dưới góc độ xã hội: Tiền lương là mục đích là động cơ chủ yếu để ngườilao động tham gia quan hệ lao động, bên cạnh đó tiền lương là một vấn đề nhạycảm của quan hệ lao động và sự thống nhất, ổn định bền vững của quan hệ laođộng, đảm bảo được cuộc sống ổn định, ấm no của người lao động

- Dưới góc độ pháp lý: Tiền lương là số tiền tệ mà người sử dụng lao độngtrả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụđược pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động trên

cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Theo Điều 55 Bộ

luật lao động năm 1994 quy định “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suât lao động và hiệu quả công việc Mức lương của người lao độmg không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.

Có thể nói khái niệm tiền lương dưới phương diện pháp lý mang nhữngđặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất, về chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật về tiền lương.Chủ thể tham gia bao gồm: Người lao động và người sử dụng lao động.Trong đó người sử dụng lao động là người trả lương cho người lao động, cònngười lao động thông qua việc bán sức lao động của mình họ sẽ được nhận giátrị tiền tệ trên cơ sở lao động bỏ ra

- Thứ hai, về điều kiện trả lương

Điều kiện để người sử dụng lao động trả lương cho người lao động khi họhoàn thành công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo pháp luật quyđịnh

- Thứ ba, về căn cứ trả lương cho người lao động

Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận, khi người sử dụnglao động trả lương cho họ cần phải căn cứ vào: Năng suất, chất lượng và hiệuquả công việc được giao, ngoài tiền lương cũng phụ thuộc vào khu vực làm việc

Trang 5

và tính chất công việc mà người lao động thực hiện.

Khi trả lương cũng căn cứ vào quy định của pháp luật, đó là tiền lương tốithiểu, các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương

- Thư tư, về bản chất của tiền lương

Tiền lương là giá cả của sức lao động, thị trường sức lao động hoạt độngtheo quy luật cung cầu, người lao động và người sử dụng lao động có quyềnthỏa thuận về mức tiền lương, khi kinh tế - xã hội thay đổi thì kéo theo tiềnlương cũng thay đổi theo Bên cạnh đó khi người lao động bỏ ra nhiều công sứcthì họ được nhận được tiền lương xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra

Như vậy, tiền lương luôn được coi là đối tượng quan tâm hàng đầu củadoanh nghiệp và người lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, tiềnlương là giá cả cho một loại hàng hóa Tuy nhiên sức lao động là một loại hànghóa đặc biệt bởi thuộc tính nảy sinh giá trị và gắn liền với yếu tố con người, do

đó chế độ chính sách về tiền lương do Nhà nước quy định một mặt tôn trọng sựkhách quan của các quy luật cung cầu, giá trị trong thị trường, mặt khác phảixuất phát từ yêu cầu là quan tâm tới toàn diện mục đích, động cơ làm việc, cácnhu cầu lợi ích kinh tế của người lao động và người sử dụng lao động và củatoàn xã hội

1.1.3 Bản chất của tiền lương

Trong mổi giai đoạn khác nhau thì cách tiếp nhận về bản chất tiền lươngkhác nhau.Tuy nhiên có hai cách nhận thức cơ bản nhất về bản chất tiền lương Lao động của con người là một trong những yếu tố quan trọng và giữ vaitrò quyết định trong quá trình sản xuất – kinh doanh, được biểu hiện ở khả năng

tư duy sáng tạo Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu hết các doanhnghiệp đều thuộc sở hữu Nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh để thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước đặt ra Lúc bấy giờ, sức lao độngchưa được coi là hàng hóa, nên người sử dụng lao động không thương lượng,thỏa thuận với người lao động về tiền lương, tiền công mà đơn phương ấn địnhmức lương của người lao động trên cơ sở thang lương, bảng lương của Nhànước Khi đó người lao động chỉ biết chấp nhận các điều kiện lao động dongười sử dụng lao động đơn phương đưa ra để đưa vào làm việc với mức lương

Trang 6

được quy định sẵn trong thang lương, bảng lương của người sử dụng lao động.

Kể từ khi nước ta xóa bỏ cỏ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nềkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà hoạch định chínhsách tiền lương đã thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiềnlương Nhà nước đã công nhận sự tồn tại khách quan của phạm trù hàng hóa sứclao động, tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trùtrao đổi, phạm trù giá trị Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiệnbằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động Cũng như các thị trườngkhác thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu Do đó, ngườilao động có quyền thương lượng, thỏa thuận với người sử dụng lao động về việclàm và điều kiện lao động khác phù hợp với khả năng chuyên môn, năng lực củamình Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận và được ghi tronghợp đồng lao động Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động theonăng suất, chất lượng và hiệu quả công việc Nhà nước chỉ quy định mức lươngtối thiểu và yêu cầu người sử dụng lao động trả lương cho người lao độngkhông được thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định trong từng thời

kỳ Mức lương tối thiểu ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao độnglàm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sứclao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng vàđược dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác Trên

cơ sở mức lương tối thiểu và mức lương cụ thể đã thỏa thuận với người laođộng, người sử dụng lao động có quyền lựa chọn một trong các hình thức sau đểtrả lương cho người lao động: trả lương theo thời gian ( giờ, ngày, tháng, tuần)hoặc theo sản phẩm khoán Nhưng người lao động phải duy trì hình thức trảlương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người laođộng

Tiền lương có vai trò to lớn trong xã hội, luôn gắn liền với người lao động.Chính vì vậy, tiền lương mà các doanh nghiệp trả cho người lao động theo cơchế thị trường phải đáp ứng các điều kiện: tiền lương phải thực sự là thước đocho mỗi hoạt động của mỗi cơ sở kinh tế, từng người lao động và là đòn bẩykinh tế, tiền lương không phù hợp, phản ánh sai lệch sức lao động, nó sẽ cản trở

Trang 7

tính năng động, sáng tạo của người lao động và kìm hãm sự phát triển củadoanh nghiệp của nền kinh tế.

1.1.4 Chức năng của tiền lương

Tiền lương có vai trò rất quan trọng trong đời sống người lao động cũngnhư đối với doanh nghiệp Tiền lương là cơ sở để các bên thỏa thuận trong hợpđồng lao động đồng thời tiền lương cũng là căn cứ xác lập và giải quyết tranhchấp Tiền lương có rất nhiều chức năng như sau:

- Chức năng thước đo giá trị sức lao động.

Cũng như mối quan hệ của hàng hóa khác, sức lao động củng được trảcông căn cứ vào giá trị mà nó đã được cống hiến và tiền lương chính là biểuhiện bằng tiền của giá trị sức lao động trong cơ chế thị trường

Ngày nay ở nước ta thì tiền lương còn thể hịên một phần sức lao động màmổi cá nhân đã được bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiền lương làcăn cứ để thuê mướn lao động, tiền lương là cơ sở để người lao động tạo ra sựlinh hoạt trong việc thuê mướn lao động với những công việc khác nhau sẽ cómức lương khác nhau

Chức năng thước đo giá trị phẩn ánh thông qua thang lương, bảng lương,bậc lương và hệ số lương

- Chức năng tái sản xuất sức lao động.

Đây là chức năng cơ bản của tiền lương vì người lao động sau quá trình sửdụng súc lao động thì họ phải được bù đắp sức lao động đã bỏ ra, họ cần có thunhập bằng tiền lương cộng với các khoản thu khác (mà tiền lương là chủ yếu)

Do vậy tiền lương là cơ sở giúp người lao động bù đắp lại sức lao động đã haophí để họ có thể duy trì liên tục quá trình sản xuất kinh doanh

Mặt khác, do yêu cầu của đời sống xã hội nên việc sản xuất không ngừngtăng nhanh về quy mô, về chất lượng Để đáp ứng được yêu cầu đó thì tiềnlương phải đủ để họ duy trì và phát triển sản xuất lao động với ý nghĩa cả về sốlượng lẫn chất lượng

- Chức năng kích thích và thúc đẩy phân công lao động xã hội.

Để thực hiện chức năng đó khi người lao động làm việc có năng suất cao,hiệu quả rõ rệt thì chủ sử dụng lao động cần quan tâm tới tiền lương để kích

Trang 8

thích người lao động Khi tiền lương làm động lực cho người lao động hăng háilàm việc sản xuất thì sẽ làm cho năng suất lao động tăng lên, đây là tiền đề choviệc phân công lao động xã hội một cách đầy đủ hơn Người lao động sẽ đượcphân công làm những công việc thuộc sở trường của họ.

- Chức năng tích lũy.

Để thực hiện chức năng này thì tiền lương là phần thu nhập chủ yếu trongtổng số thu nhập của họ Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duytrì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng chocuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro

Ngoài các chức năng trên thì tiền lương còn góp phần làm cho việc quản lýlao động trong các đơn vị sản xuất kinh doanh trở nên dễ dàng và tiền lương còngóp phần hoàn thiện mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trongquá trình lao động

1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương

- Thứ nhất, trả lương phải trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động không được thỏa thuận thấp hơn mức lương ấn định của Nhà nước.

Xuất phát từ sự bình đẳng và sự tự do của hai bên khi ký kết hợp đồng laođộng Nguyên tắc này làm cơ sở cho các bên khi tham gia ký kết hợp đồng laođộng Mặt khác pháp luật quy định mức lương tối thiểu là bắt buộc các bên thỏathuận không được thấp hơn giới hạn này nhằm mục đích tôn trọng cái riêng tưcủa các chủ thể trong quan hệ lao động, đảm bảo tính hợp pháp của pháp luật đểđảm bảo sự linh hoạt trong việc trả lương khi trong điều kiện lao động khácnhau, khu vực lao động khác nhau, tính chất công việc khác nhau thì tiền lương

sẽ khác nhau và tránh được sự lạm dụng sức mua của người sử dụng lao động,đảm bảo quyền lợi cho người lao động trước sức ép của nền kinh tế thị trường,đảm bảo nhu cầu tối yếu cho người lao động

- Thứ hai, tiền lương phải được trả theo năng suất, chất lương lao động

và hiệu quả công việc.

Đây là nguyên tắc làm cơ sở cho việc hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy

để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động là điều kiện để phát triển sản

Trang 9

xuất Mặt khác, tiền lương là biểu hiện của giá trị sức lao động và nó chịu sự chiphối bởi năng suất lao động và các quy luật cung cầu về sức lao động trên thịtrường, nên khi tính lương trả cho người lao động, người sử dụng lao động phảitính đến năng suất chất lượng và hiệu quả công việc.

- Thứ ba, tiền lương phải được trả trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc.

Tiền lương là một phần thu nhập chủ yếu để đảm bảo sinh hoạt và cuộcsống của người lao động cũng như gia đình của họ Nguyên tắc này đặt ra nhằmmục đích bảo vệ quyền và lợi ích tối đa của người lao động việc trả lương vàhạn chế được nhiều nguyên nhân như: Trả lương chậm, khấu trừ tiền lương saiquy định, trả lương không đủ, gây khó khăn phiền hà hà cho người lao động.Trong một số trường hợp pháp luật cho phép chủ sử dụng lao động đượctrả lương thông qua cai thầu, hoặc trung gian, qua ngân hàng nhằm mục đíchquản lý được nguồn thu nhập của người lao động để người lao động thực hiệnnghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và không gây phiền hà, khó khăn, nhanhgọn cho cảc các bên trong quan hệ lao động

1.1.6 Các hình thức trả lương

Điều 58 luật lao động 2002 sữa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật laođộng 1994 quy định các hình thức trả lương sau:

* Trả lương theo thời gian.

Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian lao động và cấp bậc để tínhlương cho từng người lao động

Trả lương theo thời gian có 4 hình thức:

- Trả lương theo tháng: Là lương trả cho người lao động theo tháng, theobậc lương đã sắp xếp và các khoản phụ cấp nếu có áp dụng đối với người laođộng không xác định được trước khối lượng công trình hoàn thành

Lương tháng = Mức lương theo bảng lương + phụ cấp( nếu có)

- Trả lương theo tuần: Là mức lương trả cho người lao động theo tuần vàđược tính theo công thức

- Lương ngày: Là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và sốgiờ làm việc thực tế của họ

Trang 10

Lương công nhật: Là tiền lương thỏa thuận giữa người lao động vàngười sử dụng lao động, làm việc ngày nào hưởng ngày ấy theo quy định củatừng loại công việc.

- Lương giờ: Là tiền lương được tính và trả theo giờ

Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm: Tính toán đơn giản, ổnđịnh trong việc trả lương và dự toán tiền lương của doanh nghiệp Nhưng trảlương theo thời gian thường mang tính bình quân, không khuyến khích đượctính tích cực của người lao động, ít quán triệt nguyên tắc phân phối lao động.Trên thực tế các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng hình thức trả lưong nàychủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp có viêc làm và kinhdoanh ổn định

* Trả lương theo sản phẩm.

Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo số và chất lượng củacông việc đã hoàn thành Tiền lương của người lao động phụ thuộc vào đơn giátiền lương của đơn vị sản phẩm và số sản phẩm hợp quy cách đã sản xuất ra

* Trả lương theo khoán

Hình thức này áp dụng với các công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽkhông có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho cả nhóm nhân viênhoặc một người hoàn thành trong một thời gian nhất định

Hình thức trả lương theo sản phẩm và theo khoán khá phù hợp với nguyêntắc phân phối theo lao động, gắn thu nhập với người lao động với kết quả sảnxuất kinh doanh, khuyến khích người lao động hăng say lao động, nâng caonăng suất Tuy nhiên hai hình thức này làm cho người la động ít quan tâm đếnmáy móc thiết bị, chỉ chạy theo số lượng, không chú ý đến chất lượng, khôngtiết kiệm nguyên vật liệu và không quan tâm đến tập thể

1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương

Chế độ tiền lương là tổng hợp những quy định của Nhà nước nhằm xác địnhcác mức lương, hình thức và cách thức trả lương để người lao động và người sửdụng làm căn cứ thỏa thuận và tiến hành trả lương trong quan hệ lao động

Chế độ tiền lương được nhà nước quy định để nhằm mục đích:

-Là cơ sở pháp lí để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận

Trang 11

với nhau khi ký kết hợp đồng lao động.

- Là căn cứ để các bên trong quan hệ lao động thực hiện các quy định củapháp luật về kinh tế, tài chính , đồng thời là căn cứ để giải quyết tranh chấp vềtiền lương có thể xảy ra,

- Là công cụ pháp lý để nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập dân cư,bảo đảm công bằng xã hội, định hướng phân công lao động xã hội

1.2.1 Tiền lương tối thiểu

* Khái niệm

Tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làmcông việc đơn giản nhất, ở mức độ nhẹ nhàng nhất và trong môi trường laođộng bình thường Nó đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tưliệu sinh hoại hiết yếu để tái sản xuất lao động của bản thân và dành một phần

để nuôi con và bảo hiểm lúc hết tuổi lao động

Theo Điều 56 Bộ luật lao động 1994 quy định “Mức lương tối thiểu được

ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao động lam công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đáp sức lao động giản đơn là một phần tích lủy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính mức lương cho các loại lao động khác”.

Từ khái niệm trên cho thấy, tiền lương tối thiểu có những đặc điểm sau:

- Được xác định với trình độ lao động đơn giản nhất,

- Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện laođộng bình thường,

- Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ cần thiết,

- Tương ướng với tư liệu sinh hoạt chủ yếu của vùng có mức giá trị trung bình

* Căn cứ quy định tiền lương tối thiếu

Việc xác định tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định, tuy nhiên khi quyđịnh mức lương tối thiểu phải căn cứ những điểm sau đây:

- Nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình,

- Mức tiền lương trung bình chung của cả nước,

- Mối tương quan về điều kiện sống giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng xuất lao động

Trang 12

Căn cứ đó luôn luôn có sự thay đổi, vậy khi các căn cứ đó thay đổi thìchúng ta phải điều chỉnh tiền lương tối thiểu cho hợp lý.

* Ý nghĩa của tiền lương tối thiểu.

Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà còn làkhung pháp lý quan trọng, là nền để trả công cho người lao động trong toàn xãhội Chính vì thế các mức lương trong thang, bảng lương không được thấp hơnmức lương tối thiểu

Theo Điều 7 Bộ luật lao động 1994 quy định “Người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định và theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc ”

Vậy, tiền lương tối thiểu có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động,người sử dụng lao động và nhà nước; điều đó được thể hiện

- Thứ nhất, là công cụ của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong

từng cơ sở kinh tế nhằm:

Hạn chế sự bốc lột đối với người lao động làm công ăn lương, bảo vệ sứcmua cho các mức lương khác nhau trước sự gia tăng của lạm phát và các yếu tốkinh tế khác và giảm bớt được sự đói nghèo

- Thứ hai, thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng

lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quản lý và sử dụng laođộng

- Thứ ba, đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động có

tham gia quan hệ lao động trong mọi khu vực kinh tế Là cơ sở để xây dựng hệthống thang lương, bảng lương và để các bên thỏa thuận tiền lương phù hợp vớiđiều kiện, khả năng và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động

* Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về tiền lương tối thiểu

Hệ thống tiền lương tối thiểu của một quốc gia được xây dựng phụ thuộcvào mối tương quan kinh tế- chính trị - xã hội trong tưng quốc gia Tiền lươngtối thiểu ở Việt Nam bao gồm các loại sau:

- Tiền lương tối thiểu chung:

Là mức lương áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, là căn cứ để các mức

Ngày đăng: 20/10/2013, 02:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w