Tổng quan về tình hình khai báo hải quan điện tử hàng hóa xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh Trong thời gian qua, việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử được thựchiện đồ
Trang 1THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tổng quan về tình hình khai báo hải quan điện tử hàng hóa xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh
Trong thời gian qua, việc triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử được thựchiện đồng thời cả hai phương thức truyền thống và điện tử đã đáp ứng được tình hìnhthực tiễn và yêu cầu mở rộng, đảm bảo tính lan tỏa, phù hợp với điều kiện hiện tại vàlàm tiền đề để triển khai mô hình thông quan tập trung sau này Kim ngạch xuất nhậpkhẩu và số lượng tờ khai thực hiện qua thông quan điện tử trong những năm qua
không ngừng tăng lên Hải quan điện tử giúp doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan
nhanh hơn, tiện hơn và chính xác hơn chính vì vậy mà kết quả đạt được là những con
số rất đáng khích lệ, đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành xuất nhập khẩu TP.HCM
2.1.1 Tổng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu khai báo hải quan điện tử tại
thành phố Hồ Chí Minh trong 3 năm gần đây
Tình hình khai báo hải quan điện tử của hàng hóa xuất nhập khẩu tại TP HCMqua các năm không ngừng tăng lên về số lượng Cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua TQĐT tại TP HCM từ năm
Số lượng Năm sau so với nămtrước(%) (tỷ đồng)Số lượng Tỷ lệ(%)
Trang 2Hình 2.1 Số lượng tờ khai HQĐT tại TP.HCM giai đoạn 2008-2010
32.924 42.520
254.248
- 50.000 100.000 150.000 200.000 250.000 300.000
Số tờ khai
Hình 2.2 Số thuế xuất nhập khẩu Hải quan đã nộp vào Ngân sách Nhà nước giai
đoạn 2008-2010
60.514
0 10.000 20.000 30.000 40.000 50.000 60.000 70.000
Trang 3đạt 19,5 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt 27,2 tỷ USD, kim ngạch xuất nhập khẩuqua TTHQĐT đạt gần 5,15 tỷ USD, tương ứng 128,75% so với năm 2008 Tổng thuếxuất nhập khẩu Hải quan TP.HCM thu nộp ngân sách nhà nước là 5038 tỷ đồng, tănggần 55%.
Lượng tờ khai thực hiện TTHQĐT năm 2010 tăng từ 42.520 tờ khai lên254.248 tờ khai, đạt mức tăng trưởng 598% so với năm 2009 Kim ngạch XNK quaTTHQĐT cũng tăng từ gần 5,15 tỷ USD năm 2009 lên 27,93 tỷ USD năm 2010, tăng442,33% Năm 2010, Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã thu nộp ngân sách đạt trên60.514 tỉ đồng, vượt chỉ tiêu hơn 13.400 tỉ đồng
Số lượng tờ khai thực hiện hải quan điện tử đạt được trong 6 tháng đầu năm
2011 chiếm đến 60% trong tổng số gần 700.000 tờ khai đã hoàn thành thủ tục hảiquan Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện hải quan điện tử trong toàn Cục cũng đạtgần 60% trong số 34 tỷ USD tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm Hảiquan TPHCM tiếp tục phấn đấu đến hết năm 2011 sẽ có 80% số tờ khai và 80% kimngạch xuất nhập khẩu thực hiện hải quan điện tử
Theo chiến lược phát triển Hải quan, mục tiêu của Hải quan TP HCM từ naycho đến hết năm 2020 chia làm hai giai đoạn:
Từ nay đến năm 2015: phấn đấu 100% các cục hải quan, chi cục hải quan tạicác địa bàn trọng điểm, cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, các khu kinh
tế, 60% các loại hình hải quan cơ bản, 70% kim ngạch xuất nhập khẩu, 60% DN thựchiện thủ tục HQĐT Tỷ lệ các giấy phép xuất nhập khẩu thực hiện trong cơ chế mộtcửa hải quan quốc gia đến năm 2015 là 50%
Từ năm 2015 đến năm 2020: phấn đấu đạt 100% các loại hình hải quan cơbản, 90% kim ngạch xuất nhập khẩu, 80% DN thực hiện HQĐT Tỷ lệ kiểm tra thực
tế hàng hóa đến năm 2015 là dưới 10% và đến 2020 phấn đấu đạt dưới 7% Tỷ lệ cácgiấy phép xuất nhập khẩu thực hiện trong cơ chế một cửa hải quan quốc gia đến năm
2020 là 90%
Qua các số liệu trên cho thấy số lượng các doanh nghiệp thực hiện khai báo hảiquan qua phần mềm điện tử ngày một tăng lên nhanh chóng chứng tỏ thủ tục hải quanđiện tử đang ngày càng trở nên phổ biến và ngày càng được các doanh nghiệp cũngnhư cơ quan Bộ, ngành quan tâm phát triển Trong tương lai không xa nữa, cùng với
Trang 4xu hướng phát triển của kinh tế - xã hội thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việcxuất nhập khẩu hàng hóa sẽ ngày một dễ dàng và nhanh chóng, đạt hiệu quả kinh tếcao nhờ sự phát triển của công cụ Hải quan điện tử
Bảng 2.2a Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của TP HCM từ 2007-2010
Kinh tế trung ương địa phương Kinh tế Tổng cộng
Bảng 2.2b Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim
ngạch xuất khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2007-2010
Tỷ
trọng
Kim ngạch XK
Tỷ
trọng
Kim ngạch XK
Tỷ trọng
Kinh tế
TƯ 18.361,4 77.40% 20.920,3 75.90% 17.916,4 74.40% 16.938,0 70.60%Kinh tế
Trang 5Hình 2.3 Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim
ngạch xuất khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2007-2010
Bảng 2.2c Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim
ngạch xuất khẩu TP HCM từ 2007-2010
Tỷ
trọng
Kim ngạch XK
Tỷ
trọng
Kim ngạch XK
Tỷ
trọng
Kim ngạch XK
Tỷ trọng
Kinh tế
trong
nước
23.717,6 85.0% 27.575,3 84.7% 24.095,7 84.4% 23.998,9 81.5% Kinh tế có
Trang 6Hình 2.4 Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim
ngạch xuất khẩu TP HCM từ 2007-2010
NHẬN XÉT:
Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ 2007 – 2010:
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không ổn định Cụ thể làkim ngạch xuất khẩu biến động tăng ở năm 2007 và 2008 lần lượt là 12,4%; 24,1%tuy nhiên do tình hình kinh tế chính trị bắt đầu lâm vào khủng hoảng từ cuối năm
2008 nên kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh vào 2009 đã có sự giảm sút, cụ thể làgiảm đi 16,6% so với kim ngạch cùng kỳ năm 2008 chỉ số này đã được cải thiện vàonăm 2010 tốc độ tăng trưởng so với năm 2009 lại có sự tăng nhẹ (4.4%)
Theo thành phần kinh tế thì các đơn vị có vốn Đầu tư nước ngoài dần dần tăng
tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, từ 15,3% năm 2008 tăng lên 18,5% vào năm
2010 Ngược lại thì quốc doanh có xu hướng giảm dần tỉ trọng lần lượt là 2008 chiếm84,7%; 2009 chiếm 84,4% và 2010 chiếm 81,5%, nguyên nhân chủ yếu là do quốcdoanh Trung ương giảm tỉ trọng.Tuy vậy khu vực quốc doanh Trung ương vẫn chiếm
ưu thế và có tỉ trọng cao nhất Khu vực quốc doanh địa phương mặc dù kim ngạchxuất khẩu có giảm nhưng xét về tỉ trọng thì lại tăng lên cụ thể 2008 chiếm 24,1%;
2009 chiếm 25,6% và 2010 chiếm đến 29,4% kim ngạch xuất khẩu của thành phầnkinh tế quốc doanh
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh có sự biến động trong giaiđoạn 2007 – 2010 là do cả 2 thành phần kinh tế trong nước (bao gồm kinh tế trung
Trang 7ương và kinh tế địa phương) và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều chịuảnh hưởng mạnh mẽ từ hình hình kinh tế - chính trị thế giới Cuộc khủng hoảng kinhtế- tài chính thế giới đã đổ bộ vào nền kinh tế Việt Nam nói chung và Tp.Hồ Chí Minhnói riêng, ăn sâu vào hoạt động của tất cả thành phần kinh tế Trong giai đoạn khókhăn này, Nhà nước cần có chính sách điều tiết kinh tế vi mô và vĩ mô hợp lý để nềnkinh tế được giữ vững cũng như cải thiện tình hình xuất khẩu trong tương lai.
Bảng 2.3 Mặt hàng xuất khẩu chính TP HCM giai đoạn 2007-2010
Nông, lâm, thủy sản Hàng giày dép Hàng may mặc Dầu thô
Trang 8 NHẬN XÉT:
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:
+ Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Điển hình là dầu thô, đây là mặt hàng luôn chiếm tỉ trọng lớn trong kim ngạchxuất khẩu Tp.Hồ Chí Minh Năm 2007 chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu Tp.Hồ ChíMinh Sản lượng dầu thô có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2007 – 2010 Khốilượng xuất khẩu dầu thô nhìn chung chưa ổn định, tăng rất mạnh ở năm 2008 (từ8.487,6 triệu USD năm 2007 tăng lên 10.356,8 triệu USD năm 2008) rồi giảm dần ởcác năm kế tiếp Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khicông tác thăm dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt được nhiều tiếntriển Thêm vào đó, sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông hiện nay cũnggây rất nhiều trở ngại đến ngành Công nghiệp dầu khí Việt Nam Để tiết kiệm tàinguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàngnhiên liệu sẽ giảm dần, đồng thời phải kết hợp với triển khai các dự án xây dựng kho
dự trữ dầu thô để đảm bảo an ninh năng lượng cho sự phát triển bền vững Để gópphần giảm nhập siêu, bảo vệ nguồn dữ trữ lâu dài các mỏ dầu quốc gia Nhà nước cầnphát triển công nghệ chế biến dầu thô phục vụ thị trường trong nước bên cạnh việcnhập khẩu
+ Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản:
Các mặt hàng gạo, cà phê có kim ngạch xuất khẩu tăng lên không ngừng từ
2007 – 2010 cụ thể là gạo từ 2.043,1 nghìn USD năm 2007 tăng lên 2.545,6 nghìnUSD 2010; cà phê tăng từ 37.722 nghìn USD 2007 lên 163.620 nghìn USD năm 2010(tăng 333,7% tương đương 34 lần) Tuy nhiên cũng có 1 số sản phẩm có sự tăngtrưởng không đều qua các năm như: tiêu, sữa và sản phẩm từ sữa, thủy sản, cao su.Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này hiện tại đang có xu hướng tăng tuy nhiên vàothời điểm 2008, 2009 lại có sự chùng xuống Đây là những mặt hàng chịu nhiều tácđộng của thị trường thế giới Trong những năm 2007 – 2010, do ảnh hưởng của khủnghoảng kinh tế thế giới, cùng với thiên tai, mất mùa thường xuyên xảy ra trên phạm viquốc gia, châu lục đã làm cho nhu cầu về nhóm hàng nông lâm thủy sản tăng lên
Trang 9Thiên tai thường xuyên đã gây ra khó khăn cho nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam,ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả nông sản.
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam nóichung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng trước những thời cơ và thách thức mới
Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dàicần phát triển theo xu hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượngchế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầnghợp lý
+ Nhóm hàng chế biến:
Đây là nhóm hàng gốm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, giàydép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ cóthể phân chia các mặt hàng này làm 2 nhóm:
Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chếbiến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ
Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm
Ở đây xin được phân tích số liệu nhóm hàng xuất khẩu chính là dệt may, dagiày: Tình hình xuất khẩu hàng giày dép và hàng may mặc của Tp.Hồ Chí Minh trong
4 năm qua luôn ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành giày dép, ngành hàng
may mặc là 17.5%/ năm Trong đó, năm 2010 được xem là năm thành công của nhiềumặt hàng xuất khẩu, dệt may đạt kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9 tỷ USD (tăng 16,9% sovới năm 2009); da giày đạt 0,5 tỷ USD (tăng 14,3% so với năm 2009)…
Hai ngành này có chung điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế
lao động giá rẻ ở Việt Nam Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào
nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60% - 70%), hao phí điện năng lớn do vậy giá trịgia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các Doanh nghiệp chưa thực sự chủ độngtrong việc ký kết hợp đồng Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công
Trang 10Bảng 2.4a Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của TP HCM từ 2007-2010
ĐVT: Nghìn USD
Năm kim ngạch Tổng
Kinh tế trong nước
Kinh tế có vốn ĐTNN
Kinh tế trung ương
Kinh tế địa phương Tổng cộng
Bảng 2.4b Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim
ngạch nhập khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2007-2010
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ trọng
Kinh tế
Trung ương 3.415,5 23.6% 5.485,2 29.1% 4.114,1 26.7% 4.078,4 24.7%Kinh tế
địa phương 11.063,7 76.4% 13.380,8 70.9% 11.276,2 73.3% 12.402,3 75.3%
Nguồn: Cục Thống kê TP HCM
Trang 11Hình 2.6 Tỷ trọng của kinh tế trung ương và kinh tế địa phương trong kim
ngạch nhập khẩu của kinh tế quốc doanh từ 2007-2010
Bảng 2.4c Tỷ trọng của kinh tế trong nước và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ
trọng
Kim ngạch NK
Tỷ trọng
Trang 12Hình 2.7 Tỷ trọng của kinh tế quốc doanh và kinh tế có vốn ĐTNN trong kim
Kinh tế trong nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
NHẬN XÉT:
Giá trị và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ 2007 – 2010:
Theo báo cáo của Cục thống kê Tp.Hồ Chí Minh, tổng kim ngạch Nhập khẩuTp.HCM trong vòng 4 năm trở lại đây, từ 2007 – 2010 tăng trưởng không ổn định ,nhìn chung có xu hướng tăng, nhưng bị chùng lại ở năm 2009 Kim ngạch nhập khẩunăm 2008 so với 2007 tăng 5183, 9 triệu USD (khoảng 28,64%), năm 2009 kim ngạchnhập khẩu có tốc độ giảm 16,4% sau đó lại tăng trưởng trở lại ở năm 2010 từ 19477,4triệu USD lên 21.063,5 triệu USD (tăng 8,1%) đạt mức cao nhất
Cũng như kim ngạch xuất khẩu, trong giai đoạn vừa qua, hoạt động nhập khẩuTp.Hồ Chí Minh tuy tăng giá trị nhưng chưa mang tính ổn định, vẫn còn phụ thuộcnhiều vào những yếu tố bên ngoài như diễn biến giá cả, cung cầu trên thị trường thếgiới, tình hình kinh tế của các nước bạn hàng…
Theo thành phần kinh tế thì các đơn vị có vốn đầu tư trong nước dần giảm tỉtrọng nhưng không đáng kể trong tổng kim ngạch nhập khẩu và chiếm tỉ trọng lớnnhất trong suốt giai đoạn từ năm 2007 đến 2010, trong đó cao nhất là 81% vào năm
2008 Trong đó quốc doanh địa phương có xu hướng tăng dần tỉ trọng Kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài có xu hướng tăng dần tỉ trọng nhưng không đáng kể trong tổng kimngạch nhập khẩu Năm 2009 kim ngạch nhập khẩu của khu vực này chiếm 21% tổng
Trang 13kim ngạch nhập khẩu, tăng 2% so với 2007, năm 2007, năm 2010 là 21,8% tăng 0,8%
- Nguyên, phụ liệu tân dược 46.543 40.769 34.721 46.473
- Nguyên, phụ liệu giày dép 132.143 168.871 142.415 166.358
- Sữa và sản phẩm từ sữa - Dầu mỡ động thực vật - Phân bón
- Xăng dầu - Nguyên, phụ liệu giày dép - Phụ liệu ngành may
NHẬN XÉT:
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu:
Sản phẩm có kim ngạch nhập khẩu nhiều nhất năm 2010 là xăng dầu (612.581nghìn USD), vải (611.638 nghìn USD) sữa và sản phẩm từ sữa (285,493 nghìn USD),
Trang 14nguyên phụ liệu ngành may (179.939 nghìn USD), nguyên phụ liệu ngành giàydép(166.358 nghìn USD),… Qua biểu trên cho thấy, trên địa bàn TP HCM cơ cấunhập khẩu theo nhóm hàng có những chuyển biến theo hướng gia tăng nhập khẩunhóm hàng nguyên nhiên liệu trừ xăng dầu, phân bón Các mặt hàng xăng dầu có sảnlượng nhập khẩu giảm dần trong những năm gần đây do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệttrong khi công tác thăm dò gặp nhiều trở ngại Bên cạnh đó, khi nhà máy lọc dầuDung Quất được đưa vào vận hành sẽ đáp ứng được phần nào lượng xăng dầu tiêudùng trong nước, giảm nhập khẩu từ nước ngoài Sản lượng xăng dầu nhập khẩu thấpnhất là 612.581 nghìn USD (năm 2010) giảm đi khoảng bốn lần so với năm 2007,phân bón nhập khẩu thấp nhất đạt 170.760 tấn vào năm 2010, giảm đi 35% so với năm2009.
Tóm lại, những sản phẩm nhập khẩu chủ yếu vẫn là nguyên nhiên liệu phục vụsản xuất của các ngành công nghiệp chế biến Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của các ngành này một khi những nguồn hàng nhập khẩutrên bị sụt giảm sản lượng do tác động của giá cả, thị trường nhập khẩu và tình hìnhkinh tế của các nước xuất khẩu hàng hóa cho TP HCM nói riêng và Việt Nam nóichung
Hình 2.9 Xuất nhập khẩu hàng hóa TP.HCM giai đoạn 2007 - 2010
18,101
23,284 19,477 21,063
10,925 13,724 13,884 15,998
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Xuất khẩu không tính dầu thô)
Export (include crude oil)