ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 5452.1 Giới thiệu về Công ty Xây dựng công trình 545 2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và
Trang 1ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 545
2.1 Giới thiệu về Công ty Xây dựng công trình 545
2.1.1 Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển
Công ty Xây dựng công trình 545 tiền thân là Xí nghiệp Xây dựng công trình
545 được thành lập theo QĐ số 1815/TCCB ngày 03 tháng 8 năm 2000 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5
Thực hiện chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải Theo đề nghị của Chủ tịch hội đồng quản trị Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 5, ngày 02 tháng 6 năm 2003, Xí nghiệp xây dựng công trình 545 được sáp nhập với Xí nghiệp xây dựng dân dụng & công nghiệp 576 và Xí nghiệp xây dựng công trình 577 vào Công ty Xây dựng công trình 519 và đổi tên thành Công ty Xây dựng công trình 545 theo QĐ số 1583/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải
Tên giao dịch quốc tế là CIVIL ENGINEERING CONSTRUCTION COMPANY 545 viết tắt là CECO 545, là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO5) có trụ sở chính đặt tại 161 đường Núi Thành, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Tuy mới được thành lập và đi vào hoạt động được 5 năm, một khoảng thời gian tương đối ngắn ngủi nhưng công ty đã có bước trưởng thành và phát triển mạnh mẽ, mặc dù là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty nhưng trong quá trình họat động sản xuất kinh doanh đơn vị đã thể hiện được tính độc lập rất cao trong quá trình đấu thầu cũng như tổ chức thi công Công ty đã trúng thầu và được giao một số công trình
có quy mô lớn và đòi hỏi có trình độ kỹ thuật cao, phức tạp như Công trình đường Nguyễn Tri Phương nối dài, đường du lịch ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, Hạ tầng kỹ thuật khu dân dư An Hoà, hệ thống cáp quang đường Hồ Chí Minh, khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc, công trình thủy lợi Sesalong, Hội Thuột (Lào), Với thành tích
đó, công ty đã vinh dự được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ trưởng
Bộ giao thông vận tải và của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng
2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh
Trang 2Xây dựng các công trình giao thông trong và ngoài nước, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, thủy điện; Đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở
hạ tầng khu công nghiệp, cụm dân cư khu đô thị; Đầu tư xây dựng - kinh doanh - chuyển giao BOT các công trình giao thông, thủy điện, điện công nghiệp; Sản xuất vật liệu xây dựng, kết cấu bê tông đúc sẵn, dầm cầu thép, cấu kiện thép và sản phẩm cơ khí khác; Sửa chữa phương tiện, thiết bị thi công; Cung ứng, xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng; Sản xuất và kinh doanh điện; Đầu tư xây dựng và kinh doanh nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí; Du lịch lữ hành, nội địa và quốc tế; Tổ chức đào tạo và liên kết dạy nghề hướng nghiệp chuyên ngành giao thông vận tải; Tư vấn giám sát và thí nghiệm chất lượng công trình
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty xây dựng công trình 545
Tùy theo đặc thù sản xuất kinh doanh riêng biệt của mỗi doanh nghiệp mà việc
tổ chức, cơ cấu được bố trí cho phù hợp Cơ cấu, bộ máy của Công ty xây dựng công trình 545 được tổ chức hoạt động theo mô hình (như sơ đồ 2.1)
Theo sơ đồ 2.1, toàn công ty gồm có giám đốc và hai phó giám đốc giúp việc,
04 phòng chức năng, một trạm trộn bê tông nhựa, một đội thảm bê tông nhựa, một đội thi công cơ giới và 14 đội xây dựng Mỗi phòng có chức năng và nhiệm vụ khác nhau để hỗ trợ nhau một cách hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty Mỗi phòng đều có một cơ cấu đồng nhất với nhau trong công việc để tạo được hiệu quả cao nhất, đảm bảo sự nhất trí, hoà hợp trong mối liên hệ giữa cấp trên với cấp dưới Những phòng này được giao nhiệm vụ tham mưu cho người lãnh đạo tương ứng ở các công việc thu thập và xử lý thông tin, lập dự án Sau đó trình dự án cho người lãnh đạo cao nhất Người lãnh đạo khi đó mới quyết định lựa chọn và truyền đạt cho các bộ phận thừa hành trực tiếp dưới quyền Các đội xây dựng, trạm trộn là những đơn vị trực tiếp tiến hành thi công các công trình
GIÁM ĐỐC
PGĐ phụ trách
Kế toán - Vật tư PGĐ phụ trách
Kỹ thuật - Kế hoạch
Trang 3Quan hệ chức năng:
Quan hệ trực tuyến:
Sơ đồ 2.1: Mơ hình tổ chức quản lý
Cịn mơ hình tổ chức Ban điều hành dự án của Cơng ty xây dựng cơng trình 545 hiện đang được áp dụng theo sơ đồ 2.2 dưới đây Theo mơ hình này việc quản lý được thực hiện theo chức năng theo chuyên mơn bằng cách chia các bộ phận theo chức năng chuyên mơn
DỈÛ ẠN ÂANG THI CÄNG Trưởng ban điều hành Phịng nhân sự Phịng Kỹ thuật Phịng
Kế tốn Phịng KH - VT
Đội TC
cơ giới Trạm trộn
BT nhựa Đội thảm BT nhựa
Trang 4Sơ đồ 2.2: Mô hình cơ cấu tổ chức quản lý điều hành dự án
2.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh trong thời gian vừa qua (2001-2004)
Trong những năm vừa qua, thị trường xây dựng diễn ra sự cạnh tranh gay gắt bởi
sự tham gia của đông đảo các nhà thầu từ mọi thành phần kinh tế và các nhà thầu đến từ nước ngoài Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó Công ty xây dựng công trình 545 vẫn tham gia và thắng thầu nhiều công trình có giá trị sản lượng cao, sản xuất kinh doanh có lãi, tạo được công ăn việc làm cho đội ngũ lao động, đồng thời thực hiện đầy đủ đối với nghĩa vụ ngân sách nhà nước Điều này được phản ánh qua Bảng sau:
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh từ 2001-2004
5 L/Nhuận sau thuế 59 298 (6.801) 5.635
6 Tỷ suất lợi nhuận 0,008 0,016 (0,198) 0,109
2003, tăng so với năm 2001 đến 622% Điều này chứng tỏ rằng Công ty rất thành công trong các cuộc đấu thầu
Trang 5Hiệu quả sử dụng vốn của công ty tương đối tốt Tuy nhiên, mặc dù doanh thu tăng trưởng rất mạnh nhưng lợi nhuận của năm 2003 âm Nguyên nhân là do phải gánh chịu những thua lỗ do kinh doanh của các đơn vị khi sáp nhập (Xí nghiệp xây dựng 576
lỗ 1,375 tỷ đồng, Xí nghiệp xây dựng 577 lỗ 5,338 tỷ đồng) Chính vì vậy mà chỉ số lợi nhuận của công ty năm 2003 bị âm
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tăng trưởng doanh thu các năm 2001 - 2004
2.1.5 Tình hình đấu thầu
Là một đơn vị mới được thành lập, với thâm niên còn rất non trẻ so với các doanh nghiệp khác trên cùng thị trường Nhưng Công ty Xây dựng công trình 545 đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại và đồng bộ, làm tốt công tác quản lý điều hành, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật và công nhân lành nghề Vì vậy, tuy mới được 5 năm tuổi đời nhưng Công ty đã vượt qua rất nhiều đối thủ sừng sỏ để trúng thầu một số dự án lớn như công trình đường Nguyễn Tri Phương nối dài, hạ tầng kỹ thuật khu dân cư số 3, khu dân cư An Hoà, đường du lịch ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, đường ven sông Tuyên Sơn - Tuý Loan km00 - km10, kè ven sông Tuyên Sơn - Tuý Loan km00 - km10, Trong vòng gần 5 năm (từ 2001 - 2004) với giá trị tổng sản lượng đạt được là hơn 111 tỷ đồng thì giá trị sản lượng đạt được do đấu thầu là 106 tỷ (chiếm 95%), còn lại là doanh thu từ vận chuyển Biểu dưới đây phản ánh kết quả đấu thầu của Công ty trong những năm qua:
Bảng 2.2: Kết quả số lần trúng thầu/số lần dự thầu Năm Số lần dự thầu
(Nguồn: Phòng Kế hoạch - Vật tư, Công ty XDCT 545)
- Bằng cách áp dụng công thức 1.1 đã trình bày ở chương 1 ta tính được tỷ lệ trúng thầu trong từng năm tính theo số lần tham gia là:
Tlần 2001 = ∑ ∑ dt
tt DA DA
x100%=22
8x100% = 36%
Tương tự ta tính được Tlần 2002 = 39%; Tlần 2003 = 46%; Tlần 2004 = 41%
Trang 6Bảng 2.3: Giá trị trúng thầu/giá trị dự thầu
(Nguồn: Phòng Kế hoạch - Vật tư, Công ty XDCT 545)
- Cũng áp dụng công thức 1.2 ở chương 1 ta tính được tỷ lệ trúng thầu trong từng năm tính theo giá trị là:
Tgiátrị 2001 = ∑ ∑ dt
tt G G
x 100% = 618.574
2,786.92
x 100% = 15%
Tương tự ta tính được Tgiátrị 2002 = 22%; Tgiátrị 2003 = 26%; Tgiátrị 2004 = 35%
Biểu đồ 2.2: Tình hình đấu thầu tính theo số lần dự thầu
Biểu đồ 2.3: Tình hình đấu thầu tính theo giá trị công trình
- Số lượng công trình được chỉ định thầu: 0
* Nhận xét: Qua kết quả tính toán ở trên cho thấy số lần trúng thầu và giá trị trúng thầu tăng đều trong các năm Bình quân trong một năm Công ty tham gia đấu là 21 lần, số lần trúng thầu bình quân là 9, đạt tỷ lệ 40,5% Giá trị trúng thầu bình quân trong năm là 169,17 tỷ đồng, tỷ lệ trúng thầu bình quân tính theo giá trị là 24,5%
Như vậy, có thể nhận thấy tần suất trúng thầu và giá trị trúng thầu hàng năm của công ty là tương đối cao trong điều kiện cạnh tranh hiện nay Công tác đấu thầu xây dựng của công ty trong 4 năm qua đang từng bước đi vào ổn định và phát triển
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Xây dựng công trình 545
2.2.1 Về kinh nghiệm, năng lực thi công
Là một doanh nghiệp mới được thành lập và đi vào hoạt động được 5 năm, kinh nghiệm chưa nhiều, năng lực còn hạn chế nhưng nhờ chính sách tốt đã thu hút được nhiều kỹ sư có kinh nghiệm từ các nơi về và nhờ có sự hỗ trợ của Tổng công ty nên bước đầu đã đạt được một số kết quả tương đối khả quan được các chủ đầu tư đánh giá cao, nhất là các công trình về giao thông
Trang 7Tuy nhiên, khi xem xét toàn diện thì có thể thấy rằng hiện tại năng lực, kinh nghiệm thi công của Công ty mạnh chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng giao thông đường
bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng dân dụng và xây dựng cầu ở mức độ đơn giản Kinh nghiệm, năng lực thi công trong lĩnh vực xây dựng cầu, các công trình kiến trúc dân dụng có quy mô lớn còn yếu Và đặc biệt là chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng thủy lợi, thuỷ điện Điều này thể hiện rất rõ qua bảng danh mục các công trình thắng thầu, các công trình xây dựng về giao thông chiếm tỷ trọng hơn 75% giá trị trúng thầu (phụ lục 6)
2.2.2 Về chất lượng, kỹ thuật - công nghệ xây dựng công trình
Chất lượng là yếu tố quan trọng hàng đầu trong xây dựng, ý thức được vấn đề này nên công ty luôn coi trọng và không ngừng tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sử dụng đội ngũ công nhân tay nghề cao để nâng cao chất lượng công trình, giảm chi phí Thành lập các ban quản lý điều hành, xây dựng quy trình giám sát tiến độ thi công để nhằm giám sát và ngăn ngừa tình trạng thi công ẩu, không đúng theo yêu cầu thiết kế kỹ thuật
Nhìn chung phần lớn các công trình đều đáp ứng được kỹ thuật, chất lượng theo yêu cầu của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, TCN) nói chung và của chủ đầu tư nói riêng, tuy nhiên là công ty mới thành lập nên máy móc, thiết bị chưa mạnh, nguồn vốn chủ sở hữu ít bên cạnh đó chất lượng quản lý ở 1 số khâu nhiều khi còn sai sót, chưa đảm bảo,
bị chủ đầu tư yêu cầu dỡ bỏ làm lại nên đã làm tăng chi phí, chậm tiến độ
Xác định chất lượng là vấn đề sống còn trong điều kiện kinh doanh hiện nay nên ban lãnh đạo công ty luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lượng công trình, từ việc kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu đầu vào đến việc nâng cao vai trò quản lý, giám sát thi công xây lắp và nghiệm thu công trình Từ đó góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Về công nghệ thi công thì hiện nay các dự án xây dựng ở Việt Nam đều yêu cầu thi công theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, TCN) và hệ thống tiêu chuẩn của ASSHTO (Hiệp hội các viên chức ôtô và vận tải Hoà Kỳ) Đội ngũ kỹ sư và công nhân của công
ty nắm vững và sử dụng thành thạo công nghệ thi công theo 2 quy trình trên Tuy nhiên qua khảo sát các hồ sơ mời thầu ở một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài cho thấy có
Trang 8một số tiêu chuẩn và quy trình thi công khác mà công ty chưa nắm vững như BS của Anh, BPEL của Pháp hoặc Aus Road của Australia.
2.2.3 Về tiến độ thi công
Đây cũng là một nhân tố quan trọng trong cạnh tranh đấu thầu xây dựng, đối với sản phẩm xây dựng, do yêu cầu kỹ thuật nên không thể đốt cháy giai đoạn rút ngắn thời gian như các sản phẩm của các ngành khác được vì muốn đảm bảo chất lượng công trình thì phải có thời gian, chẳng hạn như sau khi đổ bê tông hay sau khi đổ cấp phối lu nền đường thì phải chờ một thời gian nhất định để đảm bảo độ đông kết, độ ổn định mới có thể thi công tiếp công đoạn tiếp theo Do đó khi xây dựng tiến độ thi công cần phải tính toán khoa học và chính xác
Nhìn chung phần lớn các công trình mà công ty đảm nhận thi công nếu không bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân khách quan như thời tiết xấu hay công tác giải toả mặt bằng thì đều hoàn thành đúng tiến độ mà đơn vị cam kết khi dự thầu Tiêu biểu như công trình đường ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, công trình cải tạo và nâng cấp đường Nguyễn Du, Công trình đường vào Trại giam An Điềm, vv Tuy nhiên qua xem xét hồ
sơ hoàn công trong những năm qua thì thấy vẫn còn một số điểm còn yếu kém và trong thực tế một số ít công trình của tiến độ thực hiện không đúng so với tiến độ bỏ thầu do các nguyên nhân thiếu vốn, trục trặc trong quá trình cung cấp vật liệu, làm giảm uy tín của công ty Vì vậy cần phải khắc phục trong thời gian đến
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty Xây dựng công trình 545
Như ở chương 1 đã đề cập, trong quá trình đấu thầu để dành thắng lợi thì doanh nghiệp phải huy động toàn bộ các nguồn lực của mình như tài chính, thiết bị công nghệ, marketing, nguồn nhân lực, tổ chức quản lý để tạo ra lợi thế cạnh tranh của mình so với doanh nghiệp khác trong quá trình dự thầu Vì vậy khi đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp thì phải đánh giá toàn bộ các nguồn lực của doanh nghiệp đó và việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của doanh nghiệp cũng chính là giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu
2.3.1 Nhóm các nhân tố bên trong
2.3.1.1 Tài chính
a Cơ cấu tài sản
Trang 9Vốn là yếu tố cơ bản trong việc duy trì sản xuất kinh doanh của công ty Hiện nay Công ty xây dựng công trình 545 luôn cố gắng đảm bảo được vốn sản xuất kinh doanh bằng cách vay ngân hàng hoặc tự bổ sung
Bảng 2.4: Cơ cấu tài sản công ty năm 2004
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Số tiền Số đầu năm Tỷ lệ (%) Số tiền Số cuối năm Tỷ lệ (%)
3 Thuế GTGT được khấu trừ 576 0,57 462 0,56
4 Phải thu nội bộ 2 0,00 2 0,00
Trang 101 Nguyên liệu tồn kho 175 0,17 240 0,29
Nguồn : Bảng cân đối tài sản năm 2004
Về quy mô tài sản ta thấy tổng giá trị vốn tài sản của công ty năm 2004 giảm so với năm 2003 là 18.685 triệu đồng, trong đó tài sản cố định (TSCĐ) và các khoản đầu
tư ngắn hạn giảm 242 triệu đồng Tài sản lưu động và các khoản đầu tư ngắn hạn giảm 18.443 triệu đồng Trong năm 2004 cơ cấu tài sản của công ty có biến động nhưng không nhiều So với năm trước tỷ trọng TSLĐ của công ty giảm 2,52% và tỷ trọng TSCĐ tăng 2,52%
Về vốn bằng tiền, so với năm 2003 thì hiệu quả sử dụng vốn của công ty năm
2004 có tăng lên, tuy nhiên lượng tiền tồn quỹ cuối năm 2004 của công ty tăng gần 100 triệu đồng chiếm 0,17% trong cơ cấu tài sản Đây là lượng tiền nhàn rỗi chưa được đưa vào lưu thông do vậy mà không có khả năng sinh lời
Đối với các khoản phải thu, việc thu hồi các khoản nợ của khách hàng là tương đối tốt Năm 2003 khách hàng chiếm dụng vốn của công ty số tiền là 46.680 triệu đồng thì năm 2004 số này giảm xuống còn 31.540 triệu đồng Điều này góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty
Về hàng tồn kho thì chi phí sản phẩm dở dang chiếm khá lớn, mặc dù năm 2004
có giảm nhưng không đáng kể, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán
Trang 11của công ty vì trong quá trình kinh doanh công ty phải vay một lượng vốn ngắn hạn hết sức lớn, kéo theo đó là gánh nặng về chi phí lãi vay Vì vậy công ty cần phải có biện pháp tăng cường để giảm tỷ lệ này trong các năm tới.
Tuy tỷ trọng tài sản cố định mặc dù có tăng lên 15% nhưng vẫn thấp, chưa hợp
lý cho lắm, điều này cho thấy việc đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị của công ty không nhiều Đối với các doanh nghiệp xây dựng thì tỷ trọng này phải chiếm từ 50% Vì vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư để tăng dần cơ cấu vốn lên đến mức hợp lý
b Cơ cấu nguồn vốn
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn của công ty năm 2004
2 Phải trả cho người bán 2.985 2,94 4.659 5,62
3 Người mua trả trước 18.830 18,53 37.449 45,15
5 Phải trả công nhân viên 231 0,23 231 0,286.Phải trả các đ/ vị nội bộ 8.593 8,45 5.725 6,90
1 Nguồn vốn kinh doanh 100 0,10 1.100 1,33
Trang 125 Lợi nhuận chưa ph/phối (2.963) 11 0,01
1 Quỹ phúc lợi (4,87) 0,00 (4,87)
2 Quỹ quản lý cấp trên 25,48 0,03 25,48 0,03
Nguồn: Bảng cân đối tài sản năm 2004
Cơ cấu nguồn vốn của công ty năm 2004 có nhiều biến chuyển so với năm 2003 Tổng vốn sản xuất kinh doanh giảm 18.685 triệu đồng, nguyên nhân do công ty phải trả
nợ gốc và lãi vay hàng năm của khoản vốn vay dài hạn Tuy nhiên có sự tăng mạnh của của vốn chủ sở hữu, năm 2003 vốn chủ sở hữu là (2.807) triệu nhưng đến cuối năm tăng lên 1.168 triệu, tức là tăng gần 4.000 triệu Về tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu của công ty năm 2004 cũng tăng lên đạt 1,41% tăng 4,17% Điều này chứng tỏ rằng năng lực tài chính của công ty đang dần được cải thiện Về cơ cấu vốn chủ sở hữu thì vốn kinh doanh tăng từ 100 triệu lên đến 1.100 triệu, đây là nguồn lực tài chính chủ yếu hình thành lên nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Về các khoản nợ phải trả của công ty năm 2004 giảm 22.650 triệu trong đó nợ ngắn hạn phải trả năm 2004 so với năm 2003 giảm từ 91.905 triệu xuống còn 69.690 triệu, trong đó vay ngắn hạn giảm từ 13.662 triệu xuống còn 4.789 triệu nhưng khoản phải trả cho người bán lại tăng từ 2.985 triệu lên 4.659 triệu và người mua trả trước tăng từ 18.830 triệu lên 37.449 triệu So với năm 2003 về căn bản có sự biến động theo chiều hướng tích cực của nguồn vốn chủ sở hữu, tuy vậy công ty vẫn trong tình trạng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác và vốn đi vay để thực hiện kinh doanh trong đó chủ yếu là của nhà cung cấp và của chủ đầu tư ứng trước Trong khi đó nợ dài hạn vẫn duy trì ở mức cũ nhưng tỷ trọng lại tăng từ 12,3% lên 14,5 % chứng tỏ cũng rất tốt Tuy vậy, trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ nợ vẫn ở mức quá sức cao
c Khả năng thanh toán nợ của công ty
Bảng 2.6: Khả năng thanh toán của công ty
Trang 135 Tổng số nợ 104.443 81.784
7 KNTT tức thời = (4)/(6) 0,01 0,01
8 KNTT nhanh = (2-3)/(6) 0,83 0,83 9.KNTT hiện hành = (2)/(5) 0,85 0,86
10 Hệ số vay nợ = (5)/(1) 1,03 0,99
Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2004 và tự tính
Chỉ số khả năng thanh toán tức thời của công ty qua 2 năm không có biến động lớn, khả năng trả nợ ngắn hạn là rất thấp nhưng có thể thấy rằng là công ty sử dụng có hiệu quả nguồn vốn bằng tiền, không để tồn vốn nhàn rỗi nhiều
Chỉ số thanh toán hiện hành của công ty cũng không tăng nhiều nhưng ở vị trí tương đối an toàn Tức là nếu công ty buộc phải thanh toán tất cả các khoản nợ phải trả trong một khoản thời gian ngắn (thường là dưới 1 năm) thì toàn bộ tài sản lưu động đủ trang trải 86% các khoản nợ này
Chỉ số thanh toán nhanh cũng không tăng, nó chỉ ra cho thấy công ty chỉ có khả năng thanh toán được 83% các khoản nợ ngắn hạn vì có khá nhiều tài sản lưu động nằm
ở sản phẩm dở dang
Như vậy, có thể thấy năm 2004 các chỉ số thanh toán của công ty có xu hướng dịch chuyển theo hướng tích cực Chỉ số thanh toán ngày càng được cải thiện nhưng vẫn ở mức dưới 1, so với các ngành khác có thể còn thấp nhưng so với các doanh nghiệp khác trong ngành xây dựng thì tương đối tốt và vẫn trong vòng kiểm soát
Qua phân tích tài sản, nguồn vốn và tương quan giữa tài sản và nguồn vốn cho thấy nguồn vốn của công ty tăng dần theo các năm Tuy vậy cơ cấu vốn và nguồn vốn vẫn chưa được hợp lý, nguyên nhân là do công ty mới được thành lập được 5 năm nên mức tích luỹ chưa nhiều, ngoài ra kể từ khi thành lập đến nay công ty chưa được cơ quan chủ quản cấp 1 đồng vốn nào để hoạt động như các doanh nghiệp nhà nước khác
mà chủ yếu là dùng vốn vay để sản xuất kinh doanh do vậy mà công ty luôn bị động trong việc luân chuyển nguồn vốn và phải dành ra một khoản tiền lớn để thanh toán nợ gốc và lãi vay hàng năm Vì vậy, trong thời gian tới công ty phải có sự điều chỉnh trong chiến lược tài chính nếu không sẽ xuất hiện nguy cơ mất khả năng thanh toán về các khoản nợ tồn đọng và sản phẩm dở dang sẽ rất cao Đồng thời sự thuận lợi và uy tín vay
nợ đối với ngân hàng và các nhà cung cấp nguyên liệu cũng sẽ giảm sút theo dẫn đến
Trang 14mất niềm tin với chủ đầu tư, đây là một trong những điểm yếu để các đối thủ cạnh tranh khai thác.
8 Tỷ suất lợi nhuận VCĐ (8) = (2)/(4) 0,31 0,81 0,50
9 Sức sinh lợi của TSCĐ (9) = (2)/(3) 0,19 0,40 0,21
10 Suất hao phí của TSCĐ (10) = (3)/(1) 0,45 0,37 (0,08)
Năm 2004 hiệu quả sử dụng TSCĐ của công ty tăng so với năm 2003 Một đồng nguyên giá đem lại 2,73 đồng doanh thu, tăng 0,5 đồng so với năm 2003 Mức hao phí TSCĐ năm 2004 so với năm 2003 là 11.950 triệu đồng (18.899 triệu - 15.454 triệu /2,22 = 11.950 triệu) Tức là để đạt được hiệu suất sử dụng như năm 2003 thì công ty chỉ cần 11.950 triệu đồng nguyên giá TSCĐ
Về hiệu suất sử dụng vốn cố định thì năm 2003 một đồng vốn cố định đem lại 3,62 đồng doanh thu nhưng sang đến năm 2004 một đồng vốn cố định đem lại 5,53 đồng doanh thu Với hiệu suất sử dụng vốn cố định năm 2004 như năm 2003 thì năm
2004 số vốn cố định cần là 14.260 triệu đồng (51.580 triệu/3,62 = 14.260 triệu), như vậy công ty đã tiết kiệm được là 14.260 triệu - 9.335 triệu = 4.925 triệu đồng (51.580 triệu /5,53 = 9.335 triệu) nguyên nhân là do có sự tăng mạnh về doanh thu trong năm
2004 Xét góc độ hàm lượng vốn cố định thì để có một đồng doanh thu năm 2003 cần 0,28 đồng vốn cố định còn năm 2004 chỉ cần 0,18 đồng Năm 2003 một đồng vốn cố
Trang 15định đem lại 0,31 đồng lợi nhuận, một đồng nguyên giá đem lại 0,19 đồng lãi thì năm
2004 tăng 59,6% tương ứng 0,81 đồng và 8,5% tương ứng 0,40 đồng
e Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Bảng 2.8: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
đã rất chú trọng đến việc giải quyết nợ ngắn hạn, vì tỷ lệ nợ ngắn hạn của năm 2004 giảm rất mạnh nên hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty tăng lên rất nhiều so với năm 2003
f Về nguồn vốn tín dụng:
Nguồn vốn vay chủ yếu của công ty đang huy động là vay ngân hàng Hiện tại công ty đang có quan hệ rất tốt với hai ngân hàng là Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở giao dịch III Đà Nẵng với tổng hạn mức tín dụng là 50 tỷ VNĐ Tuy vậy, với chỉ hai ngân hàng và hạn mức tín dụng có hạn thì công ty khó có thể chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhất là khi công ty triển khai nhiều dự án, tham dự nhiều cuộc đấu thầu cùng một thời điểm
Trang 16Hiện nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thị trường vốn đã hình thành và phát triển, có rất nhiều các tổ chức tài chính, tín dụng thuộc các thành phần kinh tế Công ty cần phải tranh thủ tìm mọi giải pháp để thu hút vốn từ khu vực này để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Để có thể hình dung được ta có thể so sánh năng lực tài chính của Công ty XDCT 545 với một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu trên địa bàn TPĐN (năm 2004):
Bảng 2.9: So sánh năng lực tài chính của Công ty xây dựng công trình 545 với
các đối thủ cạnh tranh (số liệu đến 31.12.2004)
Đơn vị tính: triệu đồng
Tổng T.S Vốn chủ SH Tổng nợ
2 Công ty công trình đô thị ĐN 234.029 20.104 213.924
3 Công ty công trình giao thông ĐN 178.841 18.558 160.283
Nguyên nhân do công ty mới được thành lập 5 năm, không được Nhà nước cấp vốn ban đầu cũng như vốn bổ sung hàng năm như nhiều doanh nghiệp nhà nước khác nên chưa tích lũy được nhiều so với các công ty đã có thâm niên hơn 20 năm, phần lớn những công ty này được thành lập từ thời kỳ bao cấp, họ được cấp đất đai, nhà xưởng, vốn được tích luỹ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp và từ hiệu quả sản xuất kinh doanh qua rất nhiều năm
Tóm lại, qua phân tích tổng hợp các mặt tình hình tài chính của công ty có thể nhận xét rằng công ty xây dựng công trình 545 sử dụng vốn tương đối có hiệu quả, tuy nhiên nguồn vốn chủ sở hữu của công ty vẫn ở mức thấp và các nguồn huy động vốn
Trang 17của công ty chưa nhiều, hình thức huy động vốn chưa đa dạng, phong phú Năng lực tài chính của công ty hiện tại chỉ đủ điều kiện đấu thấu những gói thầu có giá trị từ 80 tỷ đồng trở xuống mà thôi Vì vậy, để đảm bảo năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thì công ty cần phải có các biện pháp để cải thiện năng lực tài chính của mình.
2.3.1.2 Máy móc, thiết bị và công nghệ thi công
Đối với các doanh nghiệp xây dựng, ngoài yếu tố tài chính và nhân lực thì máy móc thiết bị là yếu tố góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh Vì vậy, để biết được tình hình về máy mọc thiết bị cần phải xem xét, đánh giá tình trạng máy móc thiết bị và mức đầu tư thiết bị công nghệ hàng năm
Theo kết quả khảo sát, điều tra đánh giá thực trạng kỹ thuật công nghệ vừa qua (nằm trong đề án “ Điều tra thực trạng công nghệ và xây dựng cơ sở dữ liệu về thực trạng công nghệ trên địa bàn TP Đà Nẵng” do Sở khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng chủ trì, trong đó Công ty xây dựng công trình 545 là một trong 10 doanh nghiệp của ngành xây dựng được chọn để điều tra, đánh giá) Bằng cách đánh giá theo quy trình QTĐG 02 : 2005 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, sử dụng tổng hợp các phương pháp (viết tắt là PP):
Phương pháp 1: Phương pháp cảm quan
Phương pháp 2: Phương pháp đo kiểm tại hiện trường
Phương pháp 3: Phương pháp lấy mẫu và kiểm tra mẫu
Phương pháp 4: Phương pháp chuyên gia
Phương pháp 5: Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phương pháp 6: Phương pháp khảo nghiệm
k M
= 66% (đạt ở mức 3 theo thang điểm từ 1 đến 5)
* Trong đó:
Trang 18- K: Là mức chất lượng thực tế của toàn bộ máy móc thiết bị.
- Mj: Là hệ số trọng lượng dùng để xác định mức chất lượng thưc tế (chất lượng còn lại của thiết bị) Mj được xác định bằng phương pháp chuyên gia theo nguyên tắc:+ Là số nguyên từ 1 đến 10 với ý nghĩa số các lớn thì tầm quan trọng càng lớn+ Giá trị của từng hệ số trọng lượng được xác định theo nguyên tắc đồng thuận giữa các chuyên gia/đánh giá viên
- kj: Là tỷ lệ % còn lại của từng thiết bị
b Thời gian sử dụng bình quân của thiết bị (T)
Sử dụng PP5- thu thập và xử lý thông tin ta có được
=
i j G
T
G
= 4,59/5 điểm (thang điểm từ 1 ÷
5)Trong đó:
Gj: là giá trị kết toán thiết bị tại phân xưởng thứ i hay thiết bị thứ i trong đợt kiểm kê gần nhất
Ti: là thời gian sử dụng bình quân các thiết bị tại phân xưởng thứ i hay thiết bị thứ i
c Năm sản xuất quy đổi của thiết bị (Nsxqđ)
Sử dụng các PP1, PP4, PP5 để đánh giá ta được kết quả
T
M
= 3,17/5 điểm (thang điểm từ 1 ÷
5)
d Quốc gia sản xuất quy đổi
Tương tự sử dụng các PP1, PP4, PP5 để đánh giá, thay Ti bằng Ni(quốc gia, vùng lãnh thổ) ta được kết quả
=
sxqd
i j M
N
M
= 3,44/5 điểm (thang điểm từ 1 ÷
5)
e Hệ số đổi mới thiết bị (Kdm)
Sử dụng các PP1, PP4, PP5 để đánh giá ta được kết quả
dm
K
=
100
∑
∑
sx
tbm G G
= 60%