ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ NGUYỄN THỊ KIM NGÂN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI LUẬN VĂN TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN-THƯ VIỆN
Chuyên ngành: Thông tin-Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Phan Tân
Hà Nội - 2015
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Trần Thị Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thông qua cuốn Luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới các thầy-cô giáo Khoa Thông tin-Thư viện - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các giáo viên đang công tác trong và ngoài trường đã tận tình hướng dẫn và dạy bảo tôi trong suốt thời gian học Đại học và Cao học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo-PGS.TS.Đoàn Phan Tân-Giáo viên hướng dẫn luận văn và cũng là người thầy đã tận tình chỉ dạy cho tôi hoàn thành tốt luận văn của mình Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, Giám đốc cùng toàn thể các cán bộ tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn người dùng tin của thư viện đã ủng hộ, giúp tôi hoàn thành phiếu khảo sát để tôi hoàn thành Luận văn với những số liệu xác thực
Cuối cùng, xin cám ơn gia đình,người thân, bạn bè đã bên cạnh, động viên, ủng hộ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình học và thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Giả thuyết nghiên cứu 10
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
6.Phương pháp nghiên cứu 11
7 Ý nghĩa khoa học và khả năng ứng dụng 12
8.Dự kiến kết quả nghiên cứu 13
9 Bố cục nội dung luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI 14
1.1 Khái niệm về tổ chức và hoạt động thư viện 14
1.1.1 Khái niệm về tổ chức thư viện 14
1.1.2 Khái niệm về hoạt động thư viện 16
1.2 Vai trò của tổ chức và hoạt động thư viện 18
1.2.1 Vai trò của tổ chức thư viện 18
1.2.2 Vai trò của hoạt động thư viện 20
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động thư viện 22
1.3.1 Nguồn nhân lực 22
1.3.2 Kinh phí hoạt động 23
1.3.3 Cơ sở vật chất-kỹ thuật 24
1.3.4 Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ 25
1.3.5 Trình độ và nhu cầu người dùng tin 26
1.3.6 Các văn bản pháp quy và nhận thức về vai trò thư viện 27
1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức và hoạt động trong cơ quan thông tin-thư viện 31
Trang 61.4.2 Tiêu chí về nguồn lực thông tin 32
1.4.3 Tiêu chí về mức độ ứng dụng khoa học công nghệ 32
1.4.4 Tiêu chí về tổ chức thư viện 33
1.5 Khái quát về Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 33
1.5.1 Lịch sử hình thành - phát triển 33
1.5.2 Cơ cấu tổ chức 35
1.5.3 Mục tiêu đào tạo giai đoạn đổi mới 36
1.6 Khái quát về thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 38
1.6.1 Lịch sử hình thành - phát triển 38
1.6.2 Chức năng - nhiệm vụ 40
1.6.3 Đặc điểm vốn tài liệu 41
1.6.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 44
1.7 Tầm quan trọng của tổ chức và hoạt động đối với sự nghiệp phát triển Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 55
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI 57
2.1 Thực trạng công tác tổ chức củaThư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 57
2.1.1 Cơ cấu tổ chức 57
2.1.2 Đội ngũ cán bộ 60
2.1.3 Cơ sở vật chất – kỹ thuật 70
2.2 Thực trạng hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 73
2.2.1 Phát triển nguồn tin 73
2.2.2 Xử lý tài liệu 82
2.2.3 Lưu trữ thông tin 88
2.2.4 Tổ chức kho và bảo quản tài liệu 92
2.2.5 Tìm tin và phổ biến thông tin 97
2.2.6 Ứng dụng khoa học công nghệ 109
2.2.7 Các hoạt động khác 112
Trang 72.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức và hoạt động của Thư viện
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 115
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 117
2.5 Nhận xét công tác tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 120
2.5.1 Ưu điểm 120
2.5.2 Hạn chế 124
2.5.3 Nguyên nhân 126
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI 128
3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức 128
3.1.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức 128
3.1.2 Kiện toàn đội ngũ cán bộ 129
3.1.3 Đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật 132
3.2 Nhóm giải pháp về hoạt động 133
3.2.1 Phát triển nguồn lực thông tin 133
3.2.2 Hoàn thiện công tác xử lý tài liệu 135
3.2.3 Nâng cao hiệu quả tổ chức kho và bảo quản tài liệu 136
3.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ 138
3.2.5 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm-dịch vụ thông tin-thư viện 140
3.2.6 Một số giải pháp khác 142
KẾT LUẬN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 PHỤ LỤC
Trang 81 DDC Khung phân loại thập phân Dewey
Dewey Decimal Classification
2 ISBD Mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tể
International Standard Bibliographic Description
Local Area Network
Marchine Readable Cataloging
Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến
Online Public Access Catalog
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Danh mục Bảng
Bảng 1.1: Thống kê tài liệu (sách) theo lĩnh vực (2014) 42
Bảng 1.2: Thống kê tài liệu điện tử theo lĩnh vực (2014) 44
Bảng 2.1: Trình độ ngoại ngữ của cán bộ thư viện ĐHCN GTVT 66
Bảng 2.2: Thống kê tài liệu đã biên mục 76
Bảng 2.3: Số lượng tài liệu được bổ sung (năm 2013) 79
Bảng 2.4: Danh sách các chủ đề trên tủ mục lục thư viện 89
Bảng 2.5: Tỉ lệ các lĩnh vực tài liệu NDT có nhu cầu 135
Danh mục Hình Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải 35
Hình 1.2: TV Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (cơ sở Hà Nội) 38
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức TV Trường ĐHCN GTVT (cơ sở Hà Nội) 59
Hình 2.2: Biểu ghi đã được biên mục hiển thị theo MARC 21 84
Hình 2.3 Mô tả quá trình tìm tin bằng tủ mục lục 98
Hình 2.4: Giao diện Trang chủ của TV ĐHCN GTVT 100
Hình 2.5 Giao diện các phân hệ của phần mềm Libol 110
Trang 10Danh mục Biểu đồ
Biểu đồ 1.1: Phân bố các nhóm người dùng tin 48
Biểu đồ 1.2: Phân bố tỉ lệ sinh viên sử dụng tài liệu cơ bản và tài liệu chuyên ngành - Giai đoạn 1 50
Biểu đồ 1.3: Phân bố tỉ lệ sinh viên sử dụng tài liệu cơ bản và tài liệu chuyên ngành - Giai đoạn 2 50
Biểu đồ 1.4: Phân bố nhu cầu tin của 4 nhóm NDT 53
Biểu đồ 1.5: Phân bố tỉ lệ khai thác thông tin của NDT tại TV 54
Biểu đồ 2.1: Số lượng cán bộ thư viện từ năm 2009 đến 2014 61
Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ cán bộ thư viện theo độ tuổi (2014) 62
Biểu đồ 2.3: Phân bố trình độ học vấn của cán bộ TV ĐHCN GTVT 64
Biểu đồ 2.4: Phân bố trình độ tin học của cán bộ TV ĐHCN GTVT 67
Biểu đồ 2.5: Phân bố cán bộ tại các bộ phận trong TV ĐHCN GTVT 68
Biểu đồ 2.6 : Tỉ lệ đáp ứng tài liệu theo nhu cầu tin 122
Biểu đồ 2.7 : Tỉ lệ đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ của NDT 123
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự kiện “bùng nổ thông tin” đã đưa thế giới phát triển lên một tầm cao mới Các phương tiện thông tin, truyền thông, các sản phẩm công nghệ tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng Thông tin trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong mọi hoạt động của con người hàng ngày: học tập, lao động tay chân, lao động trí óc, giải trí, Thông tin được xem là tiền đề để tiến tới xây dựng
và phát triển nền kinh tế tri thức Nhận thức được vai trò to lớn đó của thông tin, các trung tâm thông tin – thư viện trên thế giới và ở nước ta đã lần lượt được xây dựng để phát huy hết tiềm năng và vai trò của thông tin
Trong xã hội hiện đại ngày nay, thông tin trở thành sản phẩm của nền kinh tế tri thức, là nguồn lực tiềm tàng và là động lực cho phát triển Theo nhà
bác học Wiener: “Sống có hiệu quả là sống với thông tin”.Những nhà kinh tế công tác tại phố Wall – Mỹ cho rằng: thông tin là “thứ hàng hoá có giá trị
nhất mà họ biết”
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO vào tháng 11 năm 2006, từ đó nước ta bắt đầu hội nhập toàn diện trên trường quốc tế, thực hiện hàng loạt các cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, giảm bảo trợ trong nước, mở cửa thị trường Trong Giáo dục và đào tạo, việc các cơ sở đào tạo nước ngoài đầu tư 100% vốn vào ngành giáo dục vào Việt Nam sẽ làm tăng tính cạnh tranh đối với các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam Do đó yêu cầu các cơ sở đào tạo cần phải đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng, từng bước hội nhập với quốc tế, tạo sự cạnh tranh với các đối tác nước ngoài để có thể từng bước đổi mới và phát triển
Bên cạnh đó, vai trò của người cán bộ thông tin-thư viện (TT-TV) ngày nay đang thực hiện vai trò điều phối giữa một bên là dòng thác thông tin tăng trưởng nhanh chóng và một bên là nhu cầu thông tin của xã hội ngày càng bức thiết và khắt khe Nguồn tài nguyên thông tin và khả năng khai thác sử dụng
Trang 12tác động mạnh mẽ của nó, ít nhất trên lĩnh vực kinh tế, trên lĩnh vực đào tạo
và trên lĩnh vực thông tin Vì vậy việc hội nhập thế giới về phương diện thông tin – thư viện phải là sự lựa chọn mang tính đột phá của chiến lược “đi tắt đón đầu” bắt nhịp với sự phát triển của thế giới
Theo bản tin điện tử của Trung tâm Thông tin-Thư viện (TT-TV)
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM: “ Kỷ nguyên thông
tin vừa tôn vinh vừa đặt ra những thách đố đối với nghề Thư viện Thông tin, đặt hoạt động thông tin-thư viện vào môi trường “nóng bỏng nhất” của xã hội để tiếp cận, khai thác, sở hữu sử dụng và sản xuất ra thông tin- nguồn lực phát triển cơ bản và chủ lực của nền văn minh hiện đại ” (Trích: Bản tin điện
tử: “Hiện đại hoá thư viện và trung tâm thông tin ở Việt Nam” đăng trên
website: http://www.lirc.udn.vn - Bản tin các Trung tâm Học liệu) [42]
Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên, lĩnh vực thông tin-thư viện phải
có sự đổi mới mạnh mẽ và phải đi trước một bước mới đáp ứng được yêu cầu phục vụ thông tin - tri thức cho nâng cao chất lượng đào tạo đảm bảo phát triển vững chắc các lớp trí thức kế cận, tăng cường công tác giải trí, bồi dưỡng kiến thức cho nhân dân Như vậy sự thành bại trong sự phát triển của mỗi quốc gia tùy thuộc một phần vào khả năng với tới các nguồn thông tin phù hợp, phản ánh đúng hiện trạng và xu thế phát triển kinh tế của đất nước, khu vực và toàn thế giới
Hiện nay, công tác tổ chức và hoạt động trong cơ quan thông tin-thư viện đóng vai trò vô cùng to lớn trong việc đánh giá chất lượng của sản phẩm
và dịch vụ của cơ quan, cũng như đánh giá chất lượng phục vụ người dùng tin của cơ quan đó Công tác tổ chức và hoạt động của từng cơ quan thông tin – thư viện thể hiện những đặc thù riêng biệt của loại hình cơ quan đó so với các
cơ quan khác, đồng thời công tác tổ chức và hoạt động cũng đánh giá đúng khả năng, tiềm lực về: kinh tế, nhân lực, công nghệ thông tin, cơ sở vật chất
và đặc điểm người dùng tin của cơ quan Chính vì vậy, đã đặt ra yêu cầu cho
Trang 13những chính sách tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện khoa học, hợp lý, phù hợp để phát huy đúng vai trò của thông tin, nâng cao chất lượng tổ chức – hoạt động cơ quan thông tin – thư viện
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải(ĐHCN GTVT) được
thành lập dựa trên Quyết định số 630/QĐ-TTG ngày 27 tháng 04 năm 2011
của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải Hiện tại đội ngũ cán bộ, giảng viên của Trường đã đáp ứng
được tiêu chuẩn của một Trường Đại học, tuy nhiên về lâu dài để đáp ứng quy
mô đào tạo ngày càng tăng, chiến lược phát triển của Nhà trường đã xác định: xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giảng viên đảm bảo về số lượng, chất lượng, cơ cấu; đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực thực hành ngoại ngữ, tin học; có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp Mục tiêu đào tạo của Nhà trường là đào tạo đội ngũ kỹ sư, cử nhân có trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, sức khỏe, năng lực tin học, ngoại ngữ và các kỹ năng thực hành cần thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội
Nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải mang đặc thù của tài liệu thuộc lĩnh vực: công trình, xây dựng,
cơ khí, giao thông vận tải, thi công, cầu đường, vận tải, kinh tế, tài chính-ngân hàng, kế toán, Đây là những lĩnh vực vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng đến
sự phát triển nền kinh tế-xã hội của đất nước ta hiện nay, do đó công tác tổ chức và hoạt động tại thư viện trường có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu, tổ chức và giảng dạy của người dùng tin là cán bộ, giảng viên, học sinh – sinh viên trong và ngoài trường
Nắm bắt mục tiêu đào tạo chiến lược đã được đề ra của Nhà trường, Thư viện Trường ĐHCN GTVT đã nhanh chóng đổi mới, dần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ sở hạ tầng, trang thiết bị - kỹ thuật, nhân lực Sau một thời gian đã nhanh chóng đi vào hoạt động phục vụ tất cả đối tượng người dùng tin của trường Tuy nhiên, ở những bước đầu đổi mới và đi vào hoạt động, thư
Trang 14ngũ cán bộ chuyên môn, cơ sở hạ tầng, kinh phí, Chính vì vậy, vẫn còn những khó khăn chưa thể giải quyết ngay lập tức trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khó khăn trong công tác tổ chức và hoạt động thư viện Nhu cầu đặt
ra thời điểm này là đổi mới, kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện
Chính vì những lý do trên, việc tiến hành nghiên cứu lĩnh vực “Tổ chức
và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải” là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với ygtêu cầu của tình hình kinh tế - xã
hội, cũng như phù hợp với yêu cầu của thư viện Trường ở thời điểm hiện tại, nhằm đánh giá đúng thực trạng, đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Sau một thời gian nghiên cứu tại TV trường ĐHCN GTVT, tôi nhận định thấy lĩnh vực tổ chức và hoạt động của thư viện Trường thực sự là lĩnh vực còn nhiều vấn đề tồn tại, cần được nghiên cứu chuyên sâu để có cái nhìn tổng thể về công tác tổ chức và hoạt động, nhằm mang lại những kết quả nghiên cứu từ thực tế TV và đóng góp những đề xuất đổi mới thiết thực và có ích cho Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Xuất phát từ những ý nghĩa lý luận và thực tiễn, dựa trên những kiến thức được lĩnh hội trong quá trình học tập và công tác, sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và lựa chọn đề tài Luận văn Thạc sĩ, tôi đã quyết định
lựa chọn đề tài: “ Tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công
nghệ Giao thông Vận tải” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện, tiểu biểu có 2 cuốn sách:
Trang 15- Cuốn sách: “The really effective college library”=“Thư viện Trường Đại
học hoạt động có hiệu quả”viết bởi 2 tác giả người Mỹ là Sharon Markless và
David Streatfield, xuất bản năm 2000 (Nguồn: http://informat.org)
- Cuốn sách: “A plan of Organization for Small Libraries”=”Một phương
pháp tổ chức cho các thư viện nhỏ” của tác giả người Anh là Minnie Franklin,
do nhà xuất bản The Tribune Company ấn hành năm 1910.(Nguồn:
Trong tiến trình nghiên cứu về lĩnh vực thông tin – thư viện đã có rất nhiều tài liệu, công trình đề cập đến lĩnh vực tổ chức và hoạt động, tiêu biểu
có các tài liệu sau:
Giáo trình, sách, báo-tạp chí, bài viết
Theo tiến trình nghiên cứu tài liệu, tác giả nhận thấy có rất nhiều công trình là giáo trình,sách, báo-tạp chí đã nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của lĩnh vực tổ chức và hoạt động TT-TV, tiêu biểu có:
Giáo trình “Quản lý thư viện và trung tâm thông tin”của 2 tác giả
Nguyễn Tiến Hiển và Nguyễn Thị Lan Thanh, xuất bản năm 2002 Tài liệu
“Tổ chức và quản lý công tác thư viện” của tác giả Âu Thị Cẩm Linh, xuất
bản năm 2009 Giáo trình “Tổ chức và quản lý công tác thông tin – thư viện”
của hai tác giả Bùi Loan Thuỳ và Đào Hoàng Thuý xuất bản năm 1998 Giáo
trình “Tổ chức và bảo quản tài liệu” của hai tác giả Nguyễn Tiến Hiển và Kiều Văn Hốt xuất bản năm 2005 Tập bài giảng “Tổ chức và quản lý hoạt
động thông tin-thư viện” của Ths.Trần Hữu Huỳnh Ngoài ra, lĩnh vực tổ
chức và hoạt động thông tin-thư viện còn được nghiên cứu trong cuốn sách
Trang 16Các tài liệu trên đã khái quát và cụ thể các vấn đề liên quan đến tổ chức
và hoạt động TT-TV, giúp sinh viên ngành TT-TV nói chung và cá nhân tôi
có được những kiến thức lý luận hữu ích trong quá trình nghiên cứu khoa học
Trong thời gian gần đây, do những đòi hỏi bức thiết trong công tác đổi mới tổ chức hoạt động thông tin-thư viện, nhiều cơ quan trong nước đã tổ chức các hội nghị, hội thảo, trao đổi các khía cạnh khác nhau trong công tác
tổ chức thư viện và các giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động trong các cơ quan thư viện Theo hướng nghiên cứu của đề tài, có thể kể đến một số bài viết được đăng trên kỷ yếu hội nghị, hội thảo như:
Bài: “Báo cáo tổng kết hoạt động của hệ thống thư viện công cộng
toàn quốc 2 năm 1999-2000: phương hướng, nhiệm vụ năm 2001-2003” do
Vụ trưởng Vụ Thư viện trình bày trong Hội nghị tổng kết 2 năm hoạt động (1990-2000) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho những năm 2001-2003 của Hệ thống thư viện công cộng cả nước, diễn ra vào tháng 10 năm 2001 tại
Hà Nội Bài viết: “Đào tạo cán bộ thư viện hướng tới xã hội của nền văn
minh thông tin” do Th.S Võ Công Nam trình bày trong Hội nghị tổng kết 2
năm hoạt động (1990-2000) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho những năm 2001-2003 của Hệ thống thư viện công cộng cả nước, vào tháng 10 năm
2001 tại Hà Nội Cũng trong hội nghị này, có các bài viết sau: “Xã hội hóa
trong hoạt động thư viện tỉnh Cần Thơ” của tác giả Võ Thị Thu Hương; Bài
viết: “Tình hình hoạt động của thư viện Quãng Ngãi 2 năm 1999-2000” của Giám đốc TV Tỉnh Quảng Ngãi; Bài viết “Tổ chức và hoạt động của Thư
viện huyện Tràng Bảng tỉnh Tây Ninh” của tác giả Đào Mỹ Thanh
Tiếp đó, trên Kỷ yếu hội thảo Khoa học và thực tiễn hoạt động thông tin-thư viện, xuất bản năm 2007 cũng có những bài viết tiêu biểu về các khía cạnh trong công tác tổ chức và hoạt động TT-TV hiện nay, tiêu biểu có các
bài viết sau: Bài viết: “Xu hướng phát triển thư viện đại học trên thế giới và
quá trình đổi mới hoạt động tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN”
Trang 17thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện, xuất bản năm 2007 Hay bài viết:
“Đổi mới hoạt động thông tin – thư viện phục vụ học chế tín chỉ trong các trường đại học”của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt, đăng trên Kỷ yếu hội
thảo: Khoa học và thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện, xuất bản năm
2007 Bài viết: “Một vài suy nghĩ đầu năm về hướng hoạt động tương lai cả
ngành thông tin – thư viện” của tác giả Vũ Văn Sơn, đăng trên Kỷ yếu hội
thảo: Khoa học và thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện, xuất bản năm
2007 Bài viết: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thông
tin thư viện thời kỳ hiện đại” của tác giả Phùng Ngọc Sáng đăng trên website
của Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên vào năm 2012 , hay bài viết
“Hiện đại hóa công tác thư viện đại học-những vấn đề đặt ra” của tác giả Vũ
Dương Thúy Ngà đăng trên Kỷ yếu hội thảo: Khoa học và thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện, xuất bản năm 2007
Thông qua các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa ra những nhận định và những đánh giá riêng về công tác tổ chức và hoạt động trong cơ quan thông tin-thư viện, tác giả đưa ra những đóng góp xác thực nhằm góp phần đổi mới, hoàn thiện hệ thống thư viện, nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin trong giai đoạn hiện nay
Luận văn, Khoá luận tốt nghiệp
Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình thuộc phạm vi Luận văn; Khóa luận nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của lĩnh vực tổ chức và hoạt động thông tin-thư viện, một số công trình tiêu biểu như: đề tài khóa luận
tốt nghiệp “Tổ chức và hoạt động của trung tâm thông tin – thư viện Trường
Đại học Lao động - Xã hội” của tác giả Đào Thị Thanh Bình, bảo vệ năm
2008 “Tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện tại phòng tư liệu Khoa
Quốc tế học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội”: Khoá luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà, bảo vệ năm
2008 Hay đề tài luận văn: “Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Trang 18sự nghiệp đào tạo của nhà trường” của tác giả Phạm Lan Anh, bảo vệ năm
2010 Đề tài luận văn “Hiện đại hoá công tác tổ chức và hoạt động thông tin
tại trung tâm học liệu Trường Đại học Điện lực” do tác giả Lê Đình Hoàng
bảo vệ thành công năm 2013 Luận văn: “Tăng cường hoạt động thông tin –
thư viện Trường Đại học Y tế Công cộng trong giai đoạn hiện nay” của tác
giả Bùi Thị Ngọc Oanh, hoàn thành năm 2012 Hay đề tài luận văn “Nâng
cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của trung tâm thông tin khoa học tại Cục Quản lý Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Công An” do tác giả Hà
Hồng Anh bảo vệ thành công vào năm 2013 Đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện
tổ chức và hoạt động thư viện tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới”: Luận
văn Thạc sĩ TT-TV do tác giả Phạm Thị Hồng Loan hoàn thành năm 2010
Ngoài ra, còn có đề tài nghiên cứu cấp trường mang tên “Mô hình tổ chức
quản lý thư viện hiện đại qua khảo sát Trung tâm TT-TV Đại học Quốc gia
Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung, được bảo vệ thành công năm
2009
Có thể thấy, trong các công trình trên, tác giả đã đưa ra những nghiên cứu, đánh giá, nhận định, và các giải pháp riêng để hoàn thiện và nâng cao chất lượng trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động thông tin-thư viện hiện nay Các công trình nghiên cứu trên đã trở thành nguồn tài liệu tham khảo vô cùng
bổ ích đối với tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài luận văn của mình Nhìn chung, các công trình đã mang những sắc thái mới hơn trong việc
đề cập đến những vấn đề cơ bản trong hoạt động TT-TV, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học Mổi đề tài đã đi sâu nghiên cứu chi tiết vào lĩnh vực tổ chức và hoạt động của từng cơ quan thông
Trang 19nghệ Giao thông Vận tải, bao gồm: Đề tài “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ
thông tin – thư viện tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải”: Khoá luận tốt nghiệp do tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân bảo vệ thành
công năm 2012 Tiếp đến có đề tài nghiên cứu cấp trường: “Nghiên cứu nhu
cầu tin và đảm bảo thông tin phục vụ việc nghiên cứu học tập của học sinh-sinh viên tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải khu vực Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thương hoàn thành năm
2011 Ngoài ra, phải nhắc tới đề tài khóa luận “Tìm hiểu công tác phục vụ
người dùng tin tại Trung tâm Thông tin-thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải” của tác giả Nguyễn Thị Giang, bảo vệ vào năm 2013
Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã nghiên cứu đầy đủ về thực trạng của công tác tổ chức và hoạt động của từng cơ quan thông tin – thư viện cụ thể, tác giả đã đưa ra được các giải pháp thiết thực trong việc hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của
cơ quan thông tin – thư viện mà họ nghiên cứu Bên cạnh đó, các tác giả cũng
đã đưa ra được các quan điểm khác nhau về khái niệm tổ chức – hoạt động nói chung và khái niệm tổ chức – hoạt động trong cơ quan TT-TV, đồng thời cũng trình bày được vai trò to lớn của công tác tổ chức và hoạt động đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của cơ quan thông tin – thư viện mà họ nghiên cứu Đây chính là nguồn tài liệu vô cùng quý báu để tôi tham khảo, kế thừa, nghiên cứu và học hỏi trong quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu nêu trên chưa xuất hiện công trình nghiên cứu chuyên sâu, bao quát, quy mô Luận văn thuộc lĩnh vực: Tổ chức và hoạt động thông tin-thư viện tại Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải tính đến thời điểm hiện tại Chính vì vậy có thể khẳng
định đề tài “Tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ
Giao thông Vận tải” do tôi với vai trò tác giả là một đề tài luận văn hoàn toàn
mới và không trùng lặp tư tưởng nghiên cứu với đề tài nào trong và ngoài
Trang 203 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu công tác tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải nhằm hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Thư viện Trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mong muốn thực hiện được những mục đích trên, đề tài Luận văn
đã xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ các khái niệm thuộc lĩnh vực tổ chức và hoạt động TV, vai trò của tổ chức và hoạt động thư viện, các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động
TV
- Nghiên cứu, làm rõ vai trò của công tác tổ chức và hoạt động đối với sự nghiệp phát triển Trường ĐHCN GTVT nói chung và sự nghiệp phát triển thư viện Trường ĐHCN GTVT nói riêng
- Trình bày và phân tích thực trạng của công tác tổ chức và hoạt động tại TV Trường ĐHCN GTVT
- Nêu bật các ưu điểm và chỉ ra các hạn chế cần khắc phục của công tác tổ chức và hoạt động của thư viện
- Đánh giá chính xác và đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục hạn chế để hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện
4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết đặt ra như sau: “Công tác tổ chức và hoạt động của Thư
viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải chưa thật sự phát huy hết hiệu quả hoạt động, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin của người dùng tin, khả năng bắt nhịp với xu hướng phát triển chung của các cơ quan thông tin-thư viện trong nước và trên thế giới còn hạn chế Chính vì vậy, Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động, khắc phục những hạn chế để hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao
Trang 215.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải hiện tại có 3 cơ sở tại 3 khu vực khác nhau: cơ sở 1 tại TP Hà Nội, cơ sở 2 tại Tỉnh Vĩnh Phúc, cơ sở 3 tại Tỉnh Thái Nguyên Phạm vi nghiên cứu của tôi thuộc Thư viện trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận Tải, khu vực Hà Nội (địa chỉ: số 54-Phố Triều Khúc-Quận Thanh Xuân-Hà Nội)
+ Phạm vi thời gian: từ năm 2009 đến nay, từ khi Thư viện bắt đầu mang tên Thư viện Trường Cao đẳng Giao thông Vận tải cho đến khi mang tên Thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (hiện nay)
6.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Đề tài luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về việc phát triển sự nghiệp thông tin-thư viện và nâng cao công tác
tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện nước ta đáp ứng nhu cầu xã hội Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Bằng những kiến thức thu thập được khi ngồi trên ghế nhà trường cùng với những kinh nghiêm thực tiễn qua những buổi khảo sát thực tế, tôi xin đưa
ra các phương pháp nghiên cứu trong phạm vi luận văn của tôi bao gồm 5 phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: phương pháp này được thực hiện dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến lĩnh vực tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện
- Phương pháp quan sát: quan sát cơ cấu, cơ sở vật chất hạ tầng thư viện, quá
Trang 22vụ, công tác phục vụ NDT của cán bộ thư viện, sự tương tác giữa cán bộ thư viện – người dùng tin,
- Phương pháp thống kê : thống kê các số liệu liên quan: đến người dùng tin, tài liệu TV, các sản phẩm và dịch vụ TV, số lượng bạn đọc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng cơ sở của cơ quan thư viện,
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn ngẫu nhiên cán bộ thư viện và người dùng tin để lấy ý kiến đánh giá chất lượng công tác tổ chức và hoạt động của thư viện, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục hạn chế
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: thu thập ý kiến đánh giá của người dùng tin
về chất lượng hoạt động thư viện và ý kiến của cán bộ thư viện đối với công tác tổ chức thư viện dựa trên việc khảo sát lấy ý kiến qua phiếu điều tra, bảng hỏi
7 Ý nghĩa khoa học và khả năng ứng dụng
Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Đề tài luận văn trình bày rõ thực trạng công tác tổ chức và hoạt động của Thư viện ĐHCN GTVT, đánh giá các mặt mạnh và đề xuất giải pháp hoàn thiện những hạn chế trong tổ chức và hoạt động TT-TV của Thư viện trường ĐHCN GTVT Đề tài góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về vấn đề tổ chức và hoạt động thông tin-thư viện
Khả năng ứng dụng của đề tài:
Đề tài luận văn đưa ra các phương pháp cụ thể và khả thi nhằm đổi mới toàn diện công tác tổ chức và hoạt động của Thư viện Trường ĐHCN GTVT,
từ đó nâng cao chất lượng phục vụ NDT của Thư viện, tiến tới xây dựng và hoàn thiện một hệ thống tổ chức và hoạt động TT-TV đầy đủ và có chất lượng, góp phần vào sự nghiệp phát triển hệ thống thư viện nước ta và đóng góp vào công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước
Trang 238.Dự kiến kết quả nghiên cứu
Dung lượng Luận văn:
Dự kiến Luận văn sẽ được trình bày với dung lượng khoảng 150 trang chính văn trên khổ giấy A4 (không kể mục lục, bảng, biểu đồ, hình minh hoạ
và các phần khác ngoài chính văn)
Kết quả nghiên cứu Luận văn:
- Luận văn trình bày khái niệm về tổ chức; hoạt động và các khái niệm xoay quanh lĩnh vực tổ chức và hoạt động được đề cập tới trong công trình
- Luận văn chỉ rõ vai trò của tổ chức và hoạt động đối với sự nghiệp phát triển giáo dục của Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải nói chung và sự nghiệp phát triển thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải nói riêng
- Luận văn trình bày và phân tích thực trạng của tổ chức và hoạt động tại thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
- Luận văn nêu bật ưu điểm, đưa ra các hạn chế cần khắc phục và làm rõ nguyên nhân củahạn chế trong tổ chức và hoạt động của thư viện
- Đánh giá chính xác và đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế
để hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện TrườngĐại học Công nghệ Giao thông Vận tải
9 Bố cục nội dung luận văn
Ngoài các phần: lời cảm ơn, mục lục, các danh mục, phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương chính: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động thư viện của Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Trang 24NỘI DUNG Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
GIAO THÔNG VẬN TẢI 1.1 Khái niệm về tổ chức và hoạt động thư viện
1.1.1 Khái niệm về tổ chức thư viện
Khái niệm “tổ chức” ra đời cùng với sự phát triển của các hoạt động xã hội và sự ra đời của các thiết chế xã hội
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2005, “Tổ chức là hình
thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục đích chung”
Hoặc : “Tổ chức là một tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì
những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung, có kỷ luật chặt chẽ trong quan hệ với các thành viên của nó”.[12, tr.23]
Cụ thể hơn, trong giáo trình Các hệ thống thông tin quản lý, PGS.TS
Đoàn Phan Tân cho rằng: “Tổ chức là một tổ hợp các thành phần có quan hệ
chặt chẽ với nhau, cùng hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung Tổ chức bao giờ cũng hoạt động trong một môi trường nhất định và chịu tác động của môi trường đó Tổ chức được tạo thành bởi một số yếu tố sau: Con người làm việc ở đó; Các phương thức và chất liệu mà họ sử dụng; Các thiết bị mà họ vận hành; Ngân sách cần thiết để chi phí cho các hoạt động”.[15]
Với các khái niệm trên, chúng ta thấy một tổ chức có ba đặc điểm chung: Thứ nhất, một tổ chức được hình thành và tồn tại vì một mục đích chung nào đó Chính sự khác biệt về mục đích tồn tại của các tổ chức dẫn đến sự ra đời của nhiều tổ chức khác nhau
Thứ hai, tổ chức là tập hợp của nhiều thành viên
Trang 25Thứ ba, tất cả tổ chức đều được xây dựng theo một trật tự, một hệ thống nhất định
Tổ chức đóng vào trò vô cùng quan trọng trong mọi chế độ xã hội, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề Nhờ tổ chức tốt đã mang lại hiệu quả lao động cao Chính vì vậy, tổ chức trở thành yếu tố then chốt làm nên thành công trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hoá, đối ngoại, giáo dục, thương mại, v v
Tổ chức liên quan đến việc xem xét kỹ tất cả các nhiệm vụ cần phải được thực hiện, quyết định cách thức thực hiện và người thực hiện những nhiệm vụ đó Từ lâu, tổ chức được xem là trung tâm của nghiên cứu quản lý Các nhà quản lý học kinh điển quan niệm cấu trúc tổ chức là một chỉnh thể bền vững, ổn định Tất cả đều được sắp xếp theo kiểu cấp bậc, quyền lực theo thứ tự cá nhân ở vị trí trên cao của cấp bậc xuống vị trí thấp của cấp bậc ấy
Để đạt được hiệu quả cao, tổ chức phải thay đổi cấu trúc của nó từ kiểu cấu trúc truyền thống (cấu trúc chức năng, cấu trúc sản phẩm) sang kiểu cấu trúc hiện đại (cấu trúc ma trận, cấu trúc mạng, cấu trúc theo nhóm, .) Kiểu tổ chức mới linh hoạt hơn và dễ thích nghi với môi trường bên ngoài
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng đánh giá rất cao vai trò của tổ
chức Người nói: “Tổ chức, quản lý là công việc khó khăn, phức tạp nhưng
rất cần thiết, muốn quản lý tốt thì ngoài những kiến thức chuyên môn, ngoài trình độ khoa học ra còn đòi hỏi cán bộ, công nhân phải thông suốt tư tưởng, phải có thái độ làm chủ Nhà nước, làm chủ xí nghiệp Muốn quản lý tốt phải nâng cao tinh thần trách nhiệm làm đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, phải thực hiện cán bộ tham gia lao động, công nhân tham gia quản lý”.[22,
tr.8]
Thư viện là một thiết chế văn hóa có nhiệm vụ bảo quản và phổ biến các tài liệu lưu trữ tri thức của nhân loại Tổ chức thư viện được hiểu là bố trí nhân sự, sắp xếp các bộ phận trong dây chuyền thông tin tư liệu, động viên
Trang 26các nguồn lực (nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị, ) để đưa thư viện vào hoạt động có hiệu quả
Theo tác giả Âu Thị Cẩm Linh, trong cuốn Tổ chức và quản lý công tác
thư viện, thì “Tổ chức thông tin thư viện là thiết lập một cơ cấu tổ chức thích
hợp cho thư viện hoặc trung tâm thông tin đó tồn tại và phát triển, là bố trí, sắp xếp nguồn lực gồm: tài liệu, máy móc, trang thiết bị, con người, của thư viện hoặc trung tâm thông tin một cách hợp lý nhất để thư viện và trung tâm thông tin hoạt động có hiệu quả cao nhất.” [39, tr.34]
Như vậy, có thể nói tổ chức của thư viện bao gồm các nội dung sau:
- Cơ cấu tổ chức của thư viện
- Đội ngũ cán bộ của thư viện
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật của thư viện
Ngoài ra, tổ chức, quản lý cơ quan thông tin – thư viện còn đề cập đến công tác thống kê, lập kế hoạch, lập báo cáo, kiểm tra, dự toán ngân sách, đào tạo cán bộ và hướng dẫn nghiệp vụ
Thông tin được xem là cốt lõi của tổ chức, thông tin là mạch gắn những
bộ phận phụ thuộc của tổ chức lại với nhau Tổ chức là một hệ thống ổn định của các hoạt động nơi con người cùng làm việc với nhau để đạt tới những mục tiêu chung thông qua thứ bậc của các vai trò và việc phân công lao động
1.1.2 Khái niệm về hoạt động thư viện
Hoạt động: là toàn bộ những việc làm của một tổ chức, cá nhân có liên quan với nhau để đạt được mục đích chung, thường là trong lĩnh vực xã hội
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” [tr.827]: “Hoạt động là làm những việc
khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội”
Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” [tr.34]: “Hoạt động của con
người là một chuỗi các hoạt động tác động vào một đối tượng nhất định nhằm vào mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội”
Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần
Trang 27thoã mãn những nhu cầu của mình Ví dụ: hoạt động chơi thể thao, hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá,
Về phương diện triết học và tâm lý học quan niệm: hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới khách quan
Từ những quan niệm trên, chúng ta rút ra được 3 đặc điểm chính về hoạt động:
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể Hoạt động bao giờ cũng có mục đích Như vậy, chủ thể thông qua hoạt động tác động vào đối tượng để đạt được mục đích cuối cùng của mình
Ví dụ: Hoạt động sản xuất thực phẩm, hàng tiêu dùng: Nhà sản xuất tác động vào nguyên/nhiên liệu để tạo ra thực phẩm, hàng tiêu dùng phục vụ kinh doanh, thương mại,
Hoạt động thông tin: “là quá trình sáng tạo, thu thập, xử lý, cải biến, lưu
trữ và phổ biến thông tin cho con người” [34, tr.3]
Hoạt động thư viện: “là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài
liệu cho người đọc” [34, tr.5]
Hoạt động thông tin – thư viện:
Qua nghiên cứu, khảo sát, hiện nay chưa có tài liệu hoặc tác giả nào đưa
ra một định nghĩa cụ thể về khái niệm hoạt động TT-TV Trong phạm vi luận văn, hoạt động TT-TV được hiểu là: tất cả các hoạt động nhằm thu thập, xử
lý, lưu trữ, tổ chức, bảo quản và phổ biến thông tin cho người dùng tin
Nội dung của tổ chức hoạt động trong cơ quan TT-TV gồm các công đoạn sau:
- Hoạt động phát triển nguồn tin
- Hoạt động xử lý tài liệu
- Hoạt động lưu trữ thông tin
- Hoạt động tổ chức kho và bảo quản tài liệu
Trang 28- Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
- Các hoạt động khác có liên quan như: hoạt động marketing; hoạt động phối hợp, chia sẻ thông tin; hoạt động đào tạo người dùng tin
Thông tin muốn đến được người dùng tin trước hết phải trải qua một loạt các công đoạn từ thu thập, xử lý, tổ chức, bảo quản, cuối cùng là phục vụ người dùng tin Các công đoạn này gắn kết mật thiết với nhau trong mối quan
hệ tương hỗ, thúc đẩy nhau cùng phát triển Các hoạt động của cơ quan
TT-TV đạt hiệu quả tốt sẽ thu hút người dùng tin đến với cơ quan đó ngày một đông đảo hơn
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của hoạt động TT-TV Động lực để hoạt
động TT-TV phát triển chính là xuất phát từ nhu cầu tin của người dùng tin
“Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và
sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người” [34, tr.16]
Như vậy, để thực hiện hoàn chỉnh, thoả mãn một nhu cầu tin, cần có một chu trình với hàng loạt công đoạn quan trọng, đồng thời có sự trao đổi, điều chỉnh qua lại giữa người dùng tin và cơ quan thông tin – thư viện
Chính vì những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển của cơ quan thông tin, hoạt động thông tin – thư viện có ý nghĩa vô cùng lớn, trở thành nhân tố then chốt quyết định đến sự tồn tại, phát triển và chất lượng, hiệu quả của bất kỳ cơ quan thông tin – thư viện nào hiện nay
1.2 Vai trò của tổ chức và hoạt động thư viện
1.2.1 Vai trò của tổ chức thư viện
Nghị quyết hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về “Một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt” đã chỉ rõ:
“Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ”
“Cơ quan thông tin – thư viện là một thiết chế của văn hoá giáo dục và thông
Trang 29cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất Vì vậy việc tổ chức cơ quan TT-TV chính nhằm thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp cho thư viện đó tồn tại và phát triển”[12, tr.27]
Cụ thể, vai trò của tổ chức TV là xây dựng một hệ thống các phòng ban, quy định nhiệm vụ, chức năng của từng phòng ban, đồng thời tiến hành tuyển chọn, xếp đặt cán bộ đúng khả năng chuyên môn Mua sắm các trang thiết bị thích hợp với kinh tế nhất Ngoài ra, tổ chức TV còn đề cập đến công tác thống kê, lập kế hoạch, báo cáo, kiểm tra, đào tạo cán bộ và hướng dẫn nghiệp vụ Muốn tổ chức tốt một cơ quan TV đòi hỏi cán bộ được giao nhiệm
vụ tổ chức cần có chuyên môn sâu về lĩnh vực TT-TV và phải có năng lực về
tổ chức, quản lý [12, tr.23]
Tổ chức TV là hạt nhân khởi đầu để dẫn tới việc hình thành một cơ quan TT-TV, bao trùm lên mọi hoạt động của thư viện, cơ quan thông tin Tổ chức giúp sắp xếp có hệ thống, khoa học các phòng ban chức năng, các cơ sở
hạ tầng trang thiết bị, phần cứng, phần mềm của cơ quan TT-TV, đồng thời tổ chức giúp sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ TV vào các vị trí phù hợp với năng lực của họ Tổ chức góp phần hoàn thiện hệ thống TV, tạo điều kiện cho việc quản lý TV ngày càng tốt hơn
Tổ chức TV không chỉ là công việc hạt nhân khởi đầu mà còn là công việc song song tồn tại và phát triển cùng với cơ quan TT-TV đó, quyết định hoạt động của cơ quan TT-TV hoạt động tốt hay yếu, kém
Tổ chức TV là công việc thường được giao cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
và các chuyên gia Đòi hỏi đối với cán bộ được giao nhiệm vụ tổ chức phải là người có chuyên môn sâu về lĩnh vực mình được giao nhiệm vụ, có nhiều kinh nghiệm trong khâu tổ chức và phải nỗ lực hết sức làm tốt công việc để góp phần xây dựng một cơ quan thông tin hoạt động có hiệu quả
Tổ chức TV có vai trò quan trọng quyết định sự thành công trong quản lý
cơ quan Những sai lầm, khuyết điểm trong công tác tổ chức là nguyên nhân
Trang 30ngay từ đầu, người cán bộ nhận nhiệm vụ tổ chức cơ quan TT-TV cần phải nhận thức được vai trò quan trọng của mình và tổ chức cơ quan TT-TV phù hợp với khả năng của cơ quan và nhu cầu của thực tiễn xã hội
1.2.2 Vai trò của hoạt động thư viện
Trong bối cảnh nguồn thông tin gia tăng mạnh mẽ như hiện nay, hoạt động thư viện có vai trò vô cùng quan trọng Hoạt động TV không những phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin của mọi đối tượng NDT mà còn làm nhiệm
vụ thu thập, lưu trữ, tổ chức, bảo tồn và quảng bá các giá trị văn hoá của dân tộc và thế giới cho người dùng tin Như vậy, hoạt động thư viện đã, đang và
sẽ tác động thiết thực tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội hiện nay
* Trong lĩnh vực khoa học:
Lĩnh vực thông tin-thư viện có vai trò quan trọng trong sự phát triển của khoa học, được thể hiện ngay trong quy luật phát triển nội tại của khoa học Một trong những quy luật phát triển nội tại của khoa học là tính kế thừa và tính quốc tế của nó Tính quốc tế là sự tác động mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trên thế giới đã tạo điều kiện tối đa cho sự hợp tác quốc tế của ngành TT-TV với các ngành khoa học khác một cách nhanh chóng , tạp mọi cơ hội hợp tác với quốc tế nhằm mục tiêu phát triển khoa học, mang lại những thành tựu, những sản phẩm trí tuệ khoa học có giá trị thiết thực cho các quốc gia trên thế giới Tính kế thừa là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, thế hệ sau chọn lọc, hệ thống hoá thành quả của thế hệ trước, phát hiện những thông tin mới, sáng tạo ra sản phẩm thông tin của riêng mình, làm nên một sản phẩm khoa học mới bổ sung vào kho tàng tri thức Như vậy,
có thể thấy hoạt động nghiên cứu khoa học là một hoạt động đặc thù của con người nhằm thu được những thông tin khoa học mới trên cơ sở thông tin mà
xã hội loài người đã tích luỹ, được lưu trữ trong các cơ quan TT-TV
* Trong lĩnh vực giáo dục:
Giáo dục là hoạt động xã hội nhằm thực hiện chức năng chuyển giao
Trang 31xã hội Các hoạt động giảng dạy, học tập, tự đào tạo trong các hoạt động giáo dục luôn luôn cần đến tài liệu và các sản phẩm, dịch vụ tại cơ quan TT-TV Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, phương tiện thông tin đại chúng ngày càng có vai trò to lớn trong quá trình chuyển giao tri thức Các phương tiện chuyển giao tri thức đó gồm: sách, báo-tạp chí, internet, tivi, radio, vi phim, băng từ, CD-ROM, Nhờ việc mở rộng phương tiện chuyển giao tri thức cho cán bộ giảng dạy, tri thức được truyền cho các thế hệ nhờ có hệ thống giáo dục Thông qua việc bổ sung tri thức, sinh viên dần trở thành những nhà nghiên cứu khoa học, góp phần hình thành xã hội hoá giáo dục, tạo ra một lực lượng lao động khoa học mới, có khả năng giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra
* Trong xã hội:
Hoạt động TV trong thời kỳ hiện đại có tác dụng thiết yếu trong đời sống sinh hoạt của con người Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu thông tin của con người ngày càng gia tăng và việc sử dụng thông tin để lựa chọn sản phẩm và dịch vụ trong cuộc sống cũng đang dần trở nên phổ biến Các thông tin chính trị, văn hoá, kinh tế, khoa học, du lịch, thương mại, giúp con người có kiến thức phong phú, giúp con người định hướng đúng hành vi, làm chủ đời sống của mình, đồng thời thực hiện đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm của người công dân
Ngoài ra, các cơ quan TT-TV đang trong quá trình phát triển sẽ gia tăng
cơ hội tiếp cận của quần chúng tới các cơ sở văn hoá và giáo dục, các trung tâm thông tin – thư viện nhằm nâng cao kiến thức phục vụ bản thân và phục
vụ trong các hoạt động xã hội
Xuất phát từ vai trò quan trọng của hoạt động thư viện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ta thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức và hoạt động của cơ quan TT-TV Nếu phát huy tối đa hiệu quả tổ chức và hoạt động của cơ quan TT-TV thì sẽ tận dụng được mọi nguồn lực của cơ quan để phục
Trang 321.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động thư viện
1.3.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của cơ quan thông tin-thư viện chính là đội ngũ cán bộ thư viện Hầu hết đó là những người được đào tạo nghiệp vụ thông tin-thư viện và phục vụ cho sự nghiệp phát triển của thư viện Việc lựa chọn, tuyển dụng, quản lý, khai thác tốt nguồn nhân lực phục vụ công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan thông tin là vấn đề quan trọng trong tổ chức quản lý, phát triển thư viện hiện đại
Cán bộ thư viện được xem như“chiếc cầu nối” đưa NDT tới kho tàng kiến thức nhân loại Yêu cầu đối với người cán bộ thư viện là phải nắm vững được vốn tài liệu có trong thư viện của mình, có kỹ năng nghề nghiệp thành thạo, có văn hoá giao tiếp, văn hoá ứng xử, Cũng giống như các ngành nghề khác, người cán bộ thư viện cần có đạo đức nghề nghiệp, có tâm huyết, yêu nghề và hăng say lao động, sáng tạo Ngày nay, thực tế đòi hỏi ở họ không chỉ kiến thức về thư viện học mà cả kiến thức về công nghệ thông tin
và các phần mềm thư viện Để không bị tụt hậu về kiến thức, người cán bộ thư viện cần liên tục cập nhật thông tin, tìm hiểu và ứng dụng những kiến thức về công nghệ mới nhất, đặc biệt là công nghệ thông tin nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển của ngành thông tin-thư viện
Trong mọi lĩnh vực nói chung và trong hoạt động của ngành TT-TV, nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, hình thành nên một đội ngũ lao động trí tuệ và trở thành nguồn nhân lực chính trong sự phát triển của toàn thể quốc gia, nhân loại; khi công nghiệp song hành phát triển cùng hiện đại hoá thì sẽ hình thành xu hướng hiện đại hoá lực lượng sản xuất trí thức, vai trò của nguồn lao động trí thức ngày càng được khẳng định Bởi khoa học công nghệ phát triển thì đòi hỏi những nhân lực có khả năng nắm bắt những thành tựu của KHCN; máy móc cho dù hiện đại bấy nhiêu đi chăng nữa cũng không thay thế hết được vị
Trang 33lao động được định hướng bằng trí tuệ đó, đã và đang là tài sản của mổi quốc gia, mổi doanh nghiệp, mổi cơ quan TT-TV Sự thành công trong công tác tổ chức và hoạt động của các cơ quan TT-TV do nhiều yếu tố hình thành, nhưng yếu tố nhân lực đóng vai trò quyết định Trình độ người cán bộ càng cao thì việc tiếp cận và tiếp thu KHCN, kinh nghiệm của các cán bộ giỏi càng được tăng cường Do vậy mà chất lượng hoạt động của thư viện bị tác động lớn bởi trình độ người cán bộ
Bên cạnh việc lựa chọn các cán bộ thư viện có năng lực và trình độ phù hợp thì vấn đề tổ chức lao động khoa học cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của các cơ quan TT-TV Đây chính là hình thức của việc quản lý, khai thác nguồn nhân lực của các cơ quan Trình độ cán bộ thư viện ngày càng được trau dồi, nâng cao, chính vì vậy việc tổ chức quản lý nhân lực sao cho tương xứng, phù hợp với các vị trí làm việc đòi hỏi người lãnh đạo thư viện cần sáng suốt, công tâm để sắp xếp, sử dụng nhân lực đạt hiệu quả tốt nhất
1.3.2 Kinh phí hoạt động
Kinh phí là yếu tố vô cùng quan trọng đối với cơ quan thông tin-thư viện, bởi vì cơ quan TT-TV không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, song lại là cơ quan văn hoá, giáo dục và khoa học, thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và thẩm mỹ cao đẹp cho người đọc Chính vì vậy, khi bị thiếu kinh phí hoạt động và chi trả cho các mục đích phục
vụ độc giả, cơ quan thông tin sẽ không thể hoạt động tốt
Kinh phí là yếu tố cần thiết để duy trì các hoạt động của cơ quan thông tin-thư viện Kinh phí của TV được các tổ chức Nhà nước;Nhà trường; các tổ chức có liên quanđầu tư cho việc tổ chức và hoạt động thư viện gồm có:
a Kinh phí bổ sung tài liệu:
- Tài liệu in trên giấy (sách, báo-tạp chí, bản đồ, tranh ảnh, )
- Tài liệu điện tử (CD, DVD, vi phim, băng từ, CSDL, )
Trang 34- Kinh phí đầu tư cho các hoạt động của thư viện: hoạt động phát triển vốn tài liệu; hoạt động xử lý tài liệu; hoạt động bảo quản tài liệu; hoạt động tổ chức kho; các hoạt động marketing thư viện, vv
- Kinh phí cho việc mua sắm các trang thiết bị, cơ sở vật chất-hạ tầng công nghệ của thư viện như: đầu tư mua máy tính điện tử; phần mềm quản lý thư viện; bàn-ghế; tài liệu; tủ để đồ; máy photo; máy in; các giá sách;
- Kinh phí chi trả cho các hoạt động khai thác thông tin bên ngoài TV, các hoạt động khai thác có thu phí của thư viện
- Kinh phí cho các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ, kế hoạch
đã được phế duyệt nhằm bổ sung tài liệu phát triển nguồn lực thông tin, bồi dưỡng cán bộ, các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, các hoạt động tham quan, khảo sát thực tế trong và ngoài nước
c Ngoài khoản kinh phí thường xuyên chi như trên, hàng năm cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính có trách nhiệm hướng dẫn các thư viện lập kế hoạch xin vốn đầu tư xây dựng cơ bản, xin kinh phí mua sắm các tài sản thư viện hoặc tu bổ, sửa chữa cơ sở vật chất thư viện
Việc xác định kinh phí thường xuyên hàng năm như trên giúp cơ quan thư viện chủ động trong công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan mình, từ đó đạt hiệu quả cao trong công tác phục vụ bạn đọc và trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
1.3.3 Cơ sở vật chất-kỹ thuật
Cơ sở vật chất-kỹ thuật của một cơ quan thông tin-thư viện được hiểu
là diện tích toàn bộ thư viện với các trang thiết bị của thư viện Thông thường
cơ sở vật chất-kỹ thuật gồm có: văn phòng làm việc, thiết bị, máy móc, bàn ghế, và các thiết bị vật chất khác có liên quan đến thư viện Đó là các điều kiện thiết yếu về mặt cơ sở vật chất của bất kỳ một thư viện nào Một cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại sẽ là động lực giúp thư viện phát triển và sẽ thu hút đông đảo người dùng tin
Trang 35Cơ sở vật chất-kỹ thuật có vai trò hết sức to lớn: Đối với vốn tài liệu, chúng là nơi chứa đựng và bảo quản tài liệu Đối với bạn đọc, đó là nơi họ tiếp xúc và khai thác thông tin, là nơi họ học tập, sáng tạo, nghiên cứu tài liệu
để phát triển tri thức Đối với cán bộ thư viện, đây là nơi họ lao động, sáng tạo
và được xem như ngôi nhà thứ hai của họ
Cơ quan thông tin-thư viện muốn hoạt động tốt trước hết cần phải đảm bảo ổn định về mặt bằng không gian như: kho sách lưu giữ tài liệu, các phòng phục vụ bạn đọc, phòng làm việc cho cán bộ thư viện, các phòng xử lý tài liệu, Vì vậy, ngay từ đầu, việc thiết kế công trình thư viện cần được xem xét và cân nhắc kỹ trước khi đi vào xây dựng Việc xây dựng thư viện cần phù hợp với đặc thù của cơ quan đó và có khả năng mở rộng, phát triển hơn nữa trong tương lai
Cơ sở vật chất đầy đủ, thiết bị máy móc, kỹ thuật hiện đại là điều kiện cần thiết để cơ quan TT-TV ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào công tác tổ chức và hoạt động đạt kết quả cao Cơ sở vật chất giống như “bộ mặt đầu tiên” của cơ quan TT-TV Một bộ mặt thư viện khang trang, hiện đại sẽ là điều kiện đánh giá, dự báo một phần nào đó kết quả việc ứng dụng KHCN vào cơ quan TV có đạt kết quả tốt hay không Từ đó đánh giá được hiệu quả hoạt động của cơ quan thông tin-thư viện
1.3.4 Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ
Ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng giữ vai trò quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống con người, công nghệ thông tin trở thành công cụ đắc lực trong hoạt động của nhiều ngành khoa học của con người, ngành khoa học thư viện cũng chính là một trong những lĩnh vực đón nhận những thành tựu tiên tiến của KHCN
Việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào tổ chức và hoạt động thư viện có ý nghĩa tất yếu dẫn đến sự đổi mới toàn diện cơ quan thông tin-thư viện Các tiến bộ của KHCN như: máy tính điện tử, phần mềm thư
Trang 36thông tin nhanh chóng phát huy được hiệu quả làm việc, thu hẹp khoảng cách giữa nguồn tin-người dùng tin, tiết kiệm thời gian và công sức lao động
Trước đây, thư viện chỉ được hiểu là nơi tàng trữ tư liệu, việc phục vụ bạn đọc của thủ thư hoàn toàn thủ công Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ đã và đang dần thay thế các công việc thủ công đó, giúp việc tìm và tra cứu thông tin dễ dàng hơn Sự ra đời của máy tính và công nghệ viễn thông, với sự xuất hiện của Internet đã làm thay đổi toàn bộ các hoạt động xã hội, trong đó có ngành thông tin-thư viện Từ chỗ máy tính chỉ dùng
để phục vụ những công việc giản đơn đến chỗ hình thành nên một hệ thống, một mạng lưới máy tính có thể truy cập, quản lý và chia sẻ dữ liệu Nhờ ưng dụng của KHCN và máy móc hiện đại, nhiều công đoạn của công tác tổ chức
và hoạt động TT-TV đã được tự động hoá từ công tác bổ sung cho tới công tác phục vụ người dùng tin Cũng từ đó, hiệu quả phục vụ người dùng tin của
cơ quan thông tin-thư viện được phát huy rõ rệt
1.3.5 Trình độ và nhu cầu người dùng tin
Hiện nay, trước đòi hỏi của thực tiễn xã hội và của hoạt động nghiên cứu khoa học, nhu cầu về thông tin của con người ngày càng gia tăng Trong hoàn cảnh đó, các cơ quan thông tin-thư viện luôn đặt việc làm thoả mãn nhu cầu tin của người dùng tin là thước đo hàng đầu để đánh giá chất lượng trong công tác tổ chức và hoạt động của cơ quan
Người dùng tin là nhân tố quan trọng, là một trong bốn yếu tố không thể thiếu để hình thành một cơ quan thông tin-thư viện Trong dây truyền thông tin tư liệu, điểm xuất phát trong khâu đầu tiên là bổ sung tài liệu dựa vào nhu cầu của người dùng tin và người dùng tin cũng chính là nhân tố cuối cùng để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống Họ vừa là khách hàng quen thuộc của cơ quan thông tin, họ tiếp nhận thông tin và đánh giá, phản hồi về chất lượng thông tin và các công tác tổ chức và hoạt động, điều này giúp góp phần hoàn thiện cơ quan thông tin-thư viện
Trang 37Sự tương tác giữa người dùng tin và cơ quan TT thông quan nhu cầu tin của họ Nhu cầu tin của người dùng tin phụ thuộc rất lớn vào trình độ, nghề nghiệp, độ tuổi, vị trí xã hội của họ, vì vậy nhu cầu tin của người dùng tin là khác nhau, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan thông tin-thư viện Tuỳ vào đối tượng người dùng tin mà các thư viện sẽ
có các chính sách bổ sung, các hình thức xử lý tài liệu, và các chính sách phù hợp, đồng thời cũng có các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện hợp lý nhất với đối tượng người dùng tin mà cơ quan đó hướng tới
1.3.6 Các văn bản pháp quy và nhận thức về vai trò thư viện
1.3.6.1 Các văn bản pháp quy
Các văn bản pháp quy của Đảng, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước
có tác dụng chỉ đạo, định hướng cho tổ chức và hoạt động của các thư viện ở nước ta, tiêu biểu có các văn bản sau:
- Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/12/2000đã có những quy định chi tiết về: quyền
và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; những điều kiện thành lập thư viện; quyền và nhiệm vụ của thư viện; quyền và nhiệm vụ của người làm công tác thư viện; các loại hình thư viện; việc đầu tư phát triển thư viện; vấn đề quản lý nhà nước về thư viện; việc khen thưởng và xử lý vi phạm đối với tổ chức-cá nhân trong việc xây dựng và phát triển sự nghiệp thư viện
Bên cạnh Pháp lệnh Thư viện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, còn có rất nhiều văn bản pháp quy của Đảng, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước quy định chi tiết, cụ thể hơn nữa về công tác tổ chức, hoạt động của các thư viện nước ta, một số văn bản pháp quy tiêu biểu như:
- Quyết định 2345/QĐ-BVHTTDL năm 2009 về việc thành lập Tổ soạn thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quản lý thư viện trường đại học do Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thể
Trang 38- Quyết định 2347/QĐ-BVHTTDL năm 2009 về việc tổ chức Hội nghị - Hội thảo "Sơ kết 3 năm áp dụng khung phân loại DDC trong ngành thư viện’’ do
Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành 29/06/2009
- Quyết định 13/2008/QĐ-BVHTTDL về Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ban hành ngày 04/05/2007
- Hướng dẫn số 1820/HD-SGD&ĐT về hoạt động thư viện trường học năm học 2005 - 2006 do Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội ban hànhngày 27/09/2005
- Thông tư 56/2003/TT-BVHTT hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập và thủ tục đăng ký hoạt động thư viện do Bộ Văn hoá-Thông tin ban hành ngày 16/09/2003
- Thông tư 30-VH/TT-1971 hướng dẫn thi hành Quyết định 178-CP về công tác thư viện do Bộ Văn hóa ban hành ngày 17/03/1971
Ngoài ra, còn có các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác thư viện, được cụ thể hóa qua các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc:
- “ Về văn hoá, cần tiếp tục đấu tranh chống những tàn tích lạc hậu của văn hoá cũ, có kế hoạch đẩy mạnh xây dựng nền văn hoá mới, làm cho đời sống văn hoá của miền Bắc ngày càng lành mạnh và có nội dung phong phú
Về công tác thư viện, cần mở rộng các thư viện hiện có, xây dựng thêm một số thư viện ở các khu công nhân, các thị xã và mở rộng phong trào quần chúng đọc sách báo…”
( Trích Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (tháng 9 năm 1960) Phần nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phát triển kinh tế quốc dân (1961-1965) Do đồng chí Nguyễn Duy Trinh - H Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, 1960, Tr.70)
- “ Sách báo là công cụ rất quan trọng trên mặt trận tư tưởng, góp phần đẩy
Trang 39(Trích Chỉ thị 63-CT/TW ngày 25-7-1990 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí, xuất bản // Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá văn nghệ: Từ Đại hội VI đến Đại hội VII.-H:
Sự thật, 1993.-tr.34-36)
Như vậy, có thể thấy các văn bản pháp quy của Đảng, Chính phủ và các
cơ quan Nhà nước đã có những tác động tích cực tới công tác tổ chức và hoạt động của các thư viện nước ta từ trước đến nay Nhờ có các văn bản chỉ đạo của cấp trên, các thư viện nước ta đã có những định hướng tốt cho công tác tổ chức và hoạt động thư viện, đưa công tác thư viện phát triển có phương hướng và có tổ chức, gắn bó và liên kết các thư viện thành một hệ thống trên
cả nước.Mổi chỉ thị của Đảng là một mốc son trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể nhằm hướng dẫn chỉ đạo công tác thư viện phục vụ nhiệm vụ chính chị, kinh tế, văn hóa, khoa học, …đồng thời có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp thư viện ngày càng phát triển
1.3.6.2 Nhận thức về vai trò của thư viện
Đối với vai trò của thư viện, ngày nay thư viện có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó
có lĩnh vực giáo dục và đào tạo Việc khai thác hiệu quả thông tin đã trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia Thư viện là cầu nối giữa thông tin và người sử dụng Thư viện là một yếu tố căn bản và quan trọng, là thước đo đánh giá vai trò, chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả đào tạo của đại học và không thể tách rời trường đại học với thư viện
Trong trường đại học, thư viện góp phần đào tạo nguồn nhân lực có tri thức cho đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển sản xuất và các khoa học công nghệ Thư viện cung cấp cho xã hội những thông tin khoa học mới mẻ, đặc biệt là những thành quả của các công trình nghiên cứu khoa học của cán
bộ giảng viên và sinh viên trong trường Đây là dạng thông tin mang tính đặc
Trang 40Thư viện bổ sung và cập nhật những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến làm cho việc học tập và giảng dạy thêm sinh động và hấp dẫn Thư viện mở rộng điều kiện học tập cho sinh viên cả về không gian, thời gian và các lĩnh vực tri thức hơn so với khuôn khổ qui định về nội dung, chương trình và kế hoạch đào tạo của nhà trường
Công nghệ thông tin - truyền thông đang đưa đến một cuộc cách mạng giáo dục - sư phạm thật sự, làm thay đổi nhiều khái niệm cơ bản của giáo dục, nghiên cứu khoa học Tại nhiều hội thảo bàn về vấn đề này, các ý kiến đã thống nhất hiệu quả, tiện ích của áp dụng phương tiện thông tin hiện đại và công nghệ vi tính để soạn giáo trình, dạy - học, khai thác các nguồn tư liệu trong dạy - học và nghiên cứu khoa học Tham gia quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và Internet vào giảng dạy - học tập, nghiên cứu khoa học, thư viện trở thành những trung tâm thông tin - tư liệu thực sự, góp phần đắc lực biến thông tin thành tri thức bằng cách liên kết các nguồn tài nguyên thông tin với nhau, đồng thời mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tin của mọi đối tượng qua sự hợp tác liên thông và chia sẻ nguồn lực thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm cả thời gian và vật chất cho người sử dụng
Ngày nay, xã hội đang trong quá trình phát triển theo xu hướng mở cửa hội nhập, vai trò của thư viện cũng dần được khẳng định trong sự nghiệp phát triển xã hội và trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân Nhận thức về vai trò của thư viện đối với toàn xã hội đã dần được nâng cao hơn Trong tương lai, để phát triển tương xứng với vai trò của mình, thư viện cần được đầu tư đúng mức để trở thành một trung tâm thông tin, không chỉ thu thập thông tin mà còn phải biết xử lý các dạng thông tin theo hướng tích cực, giúp độc giả tiếp cận tri thức một cách nhanh nhất, chính xác nhất, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của người tìm tin Đầu tư cho thư viện cũng chính là đầu tư cho một trong những cơ sở vật chất dùng chung có tính nền tảng, tác động tích cực đến hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập, nâng cao