Đề tài nghiên cứu “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, trên cơ sở nhâ ̣n diê ̣n h oạt động xây
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa
Hà Nội - 2014
Trang 2XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN:
Luận văn của học viên: Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Phát triển nguồn
lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội” đã hoàn thành
chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng chấm luận văn
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……….…
………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các quý Thầy,
Cô giáo giảng dạy tại Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn đã dạy dỗ, chỉ bảo và tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại Trường
Tác giả cũng trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ thư viện đang công tác tại Thư viện Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội đã giúp đỡ tác giả nhiệt tình trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn - Tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tác giả
có thể thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Với sự cố gắng cao nhất và trong khả năng cho phép, tác giả đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, tuy nhiên, do trình độ và thời gian hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …/…/………
NGƯỜI VIẾT
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐTNCKH : Đề tài nghiên cứu khoa học
HĐ KH&ĐT : Hội đồng Khoa học và Đào tạo
TT – TV : Thông tin - Thƣ viện
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 6
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 6
2 Tình hình nghiên cứu……… 9
3 Mục đích nghiên cứu……… 14
4 Giả thuyết nghiên cứu……… 15
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 15
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……… 16
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của Đề tài……… 16
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu……… 16
9 Kết cấu của luận văn……… 17
NỘI DUNG……… 18
CHƯƠNG 1: NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI………… 18
1.1 Cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin và phát triển nguồn lực thông tin……… …… 18
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin……… 18
1.1.2 Phát triển nguồn lực thông tin……… 21
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nguồn lực thông tin………… 23
1.2 Vai trò của nguồn lực thông tin đối với hoạt động giáo dục, đào tạo tại Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội……… 30
1.2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội……… 30
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển……… 30
1.2.1.2 Hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội ……… 33
1.2.2 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội………… 36
1.2.2.1 Chức năng và nhiệm vụ……… 36
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức……… 37
Trang 61.2.2.3 Ngươ ̀ i dùng tin và nhu cầu tin của người dùng tin ……… 38
1.2.3 Nguồn lực thông tin hỗ trợ cho hoạt động giáo dục, học tập và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường ĐHXDHN……… 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI……… 47
2.1 Thực trạng nguồn lực thông tin của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội……… 47
2.1.1 Cơ cấu loại hình tài liệu……… 47
2.1.2 Thành phần tài liệu theo môn loại khoa học……… 57
2.1.3 Thành phần tài liệu theo ngôn ngữ ……… … 63
2.1.4 Nhận xét về nguồn lực thông tin của Thư viện Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội……… 67
2.2 Công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội……… 68
2.2.1 Chính sách bổ sung tài liệu……… 68
2.2.2 Kinh phí bổ sung tài liệu……… 71
2.2.2.1 Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước……….……… 72
2.2.2.2 Nguồn kinh phí khác……… 73
2.2.3 Quy trình bổ sung tài liệu vào Thư viện……….…… 74
2.2.4 Các nguồn bổ sung tài liệu vào Thư viện……….………… 76
2.2.4.1 Nguồn mua……….……… 77
2.2.4.2 Nguồn biếu tặng……….……… 80
2.2.4.3 Nguồn lưu chiểu……….……… 82
2.2.5 Thanh lọc tài liệu……….……… ………… … 84
2.2.6 Bảo quản nguồn lực thông tin……… ………… 86
2.2.7 Phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin……… 94
2.3 Nhận xét về công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư
viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội……….… 97
Trang 7CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN
TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI………… 101
3.1 Định hướng công tác phát triển nguồn lực thông tin của Thư viện Đại học Xây dựng Hà Nội……… 101
3.2 Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin……… 102
3.3 Đảm bảo kinh phí cho phát triển nguồn lực thông tin ……….… 107
3.4 Tăng cường bổ sung tài liệu ngoại văn và tài liệu điện tử……… 119
3.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin……… 112
3.5.1 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin……… …… 112
3.5.2 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn lực thông tin tại Thư viện 114
3.6 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật ………….……… 118
3.7 Phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin……….…… 120
3.8 Nâng cao trình độ của cán bộ thư viện và người dùng tin ……… 123
KẾT LUẬN……….………… 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….… 132
PHỤ LỤC……… ……….… 137
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu loại hình tài liệu phân theo mục đích sử dụng……… 51
Bảng 2.2: Cơ cấu loại hình tài liệu xám……… 54
Bảng 2.3: Cơ cấu loại hình tài liệu phân chia theo thời gian xuất bản………… 56
Bảng 2.4: Môn loại của sách……… 57
Bảng 2.5: Môn loại của báo - tạp chí……… … 59
Bảng 2.6: Chuyên ngành luận văn……… …… 60
Bảng 2.7: Chuyên ngành luận án……… 61
Bảng 2.8: Môn loại của đề tài nghiên cứu khoa học……… …… 62
Bảng 2.9: Ngôn ngữ của sách……… … …64
Bảng 2.10: Ngôn ngữ của báo - tạp chí……… ….65
Bảng 2.11: Ngôn ngữ của luận văn và luận án……… 66
Bảng 2.12: Kinh phí bổ sung tài liệu qua các năm……….….… 73
Bảng 2.13: Số lượng sách Thư viện mua qua các năm……… 78
Bảng 2.14: Số lượng báo - tạp chí Thư viện mua qua các năm……… 79
Bảng 2.15: Số lượng sách ngoại văn nhập vào Thư viện qua hình thức biếu - tặng qua các năm……… … 81
Bảng 2.16: Số lượng tài liệu Thư viện nhận được qua hình thức lưu chiểu qua các năm……… 83
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu loại hình tài liệu theo mục đích sử dụng……….… 52
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu loại hình tài liệu xám ……….……… 55
Biều đồ 2.3: Cơ cấu loại hình tài liệu phân chia theo thời gian xuất bản… 56
Biểu đồ 2.4: Môn loại của sách ……… 58
Biểu đồ 2.5: Môn loại của báo - tạp chí……… …… 60
Biểu đồ 2.6: Môn loại của đề tài nghiên cứu khoa học… ……… 63
Biểu đồ 2.7: Ngôn ngữ của sách……… 64
Biểu đồ 2.8: Ngôn ngữ của báo - tạp chí……… … 66
Biểu đồ 2.9: Kinh phí bổ sung tài liệu qua các năm……….… 74
Biểu đồ 2.10 : Số lượng sách Thư viện mua qua các năm……… 79
Biểu đồ 2.11: Số lượng báo - tạp chí Thư viện mua qua các năm……… 80
Biểu đồ 2.12: Số lượng sách ngoại văn nhập vào Thư viện qua hình thức biếu - tặng qua các năm……… …… …… 82
Biểu đồ 2.13: Số lượng tài liệu Thư viện nhận được qua hình thức lưu chiểu qua các năm……….………84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế,
xã hội của đất nước, thông tin đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, và thực sự trở thành tiềm lực và là động lực phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, việc đảm bảo nguồn thông tin trong xã hội là vấn đề mang tính chiến lược trong giai đoạn hiện nay ở bất kỳ một quốc gia nào Để tạo điều kiện thuận lợi và để định hướng cho nguồn tin trong xã hội phát triển, một số quốc gia đã xây dựng cho mình chính sách thông tin quốc gia
Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại biệt lập trong quá trình phát triển chung của nhân loại mà phải có sự hòa nhập, liên kết để cùng phát triển trong mục tiêu chung của toàn cầu Muốn thực hiện được mục tiêu đó, việc đảm bảo nguồn thông tin và chia sẻ thông tin giữa các quốc gia có ý nghĩa mang tính quyết định
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung đó Bước sang thế kỷ XXI
- thế kỷ thông tin và nền kinh tế tri thức với đặc trưng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và toàn cầu hóa, chúng ta hết sức coi trọng công tác thông tin
và đảm bảo nguồn thông tin trong xã hội Đảng và Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho công tác thông tin phát triển, thông qua những chính sách và chiến lược thông tin khoa học công nghệ trong giai đoạn mới Bởi lẽ, thông tin được xác định như là một yếu tố quyết định đến sự thành công của đất nước trên con đường phát triển đi lên, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định rõ: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại;
Trang 11bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”1
Thư viện được xem như là một thiết chế xã hội Thư viện ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò của mình trong đời sống của con người Thư viện chính là cầu nối giữa người dùng tin với nguồn thông tin Người đọc đến với thư viện để được thỏa mãn nhu cầu về thông tin cũng như gia tăng sự hiểu biết của mình để phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập, lao động - sản xuất và giải trí
Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, ngày càng khẳng định rõ vai trò của mình đối với hoạt động giáo dục - đào tạo của nhà trường và sự nghiệp phát triển chung của đất nước Cán bộ Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm và nhiệt huyết, đống góp công sức cho sự phát triển của nhà trường Trên cơ sở nhận thức rõ chức năng, nhiệm vụ của mình, Thư viện luôn đảm bảo và không ngừng phát triển nguồn thông tin để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của bạn đọc Thư viện luôn xác định rõ đây chính là mục tiêu và là động lực phát triển của mình Đặc biệt, hiện nay được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cùng với sự chỉ đạo sâu sát của Ban lãnh đạo Trường và Thư viện, hoạt động của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội ngày một khởi sắc, phát huy được vị thế của mình trong sự nghiệp đổi mới của nước nhà Trong đó, có công tác phát triển nguồn lực thông tin Công tác này đã đạt được những hiệu quả đáng kể, góp phần phục vụ đắc lực cho hoạt động nghiên cứu, giáo dục - đào tạo tại nhà trường
Hiện nay, Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đang sở hữu một nguồn lực thông tin khá phong phú Bên cạnh loại hình tài liệu truyền thống được xuất bản dưới dạng in ấn, Thư viện còn có cả loại hình tài liệu hiện đại như tài liệu trên CD-Rom, các cơ sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến Môn loại và ngôn ngữ của tài liệu cũng đa dạng với nhiều lĩnh vực tri thức và nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung,…
1
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=443515 Ngày 16/11/2011
Trang 12Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, công tác xây dựng nguồn lực thông tin của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định, cụ thể là:
Do chưa có chính sách bổ sung tài liệu hoàn chỉnh đươ ̣c ban hành chính thức nên trong công tác phát triển nguồn lực thông tin vẫn xảy ra tình trạng bổ sung thiên lệch, không hoàn toàn cân đối với nhu cầu của người dùng tin Tài liệu tại Thư viện chủ yếu là giáo trình, còn sách tham khảo chuyên ngành sâu phục vụ cho giảng viên, học viên và sinh viên tự nghiên cứu còn thiếu Tài liệu tiếng Việt chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó, tài liệu tiếng nước ngoài chiếm tỷ lệ quá nhỏ Loại hình tài liệu hiện đại - tài liệu điện tử còn nghèo nàn Vì vậy, mục tiêu hướng tới của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội là xây dựng được nguồn lực thông tin đủ mạnh
cả về số lượng và chất lượng để thỏa mãn tối đa nhu cầu tin cuả bạn đọc
Mặt khác, do tài liệu của Thư viện cũng chịu sự chi phối của các quy luật đặc trưng của tài liệu (giá cả tài liệu tăng liên tục, lỗi thời của thông tin, tập trung và phân tán thông tin, số lượng tài liệu phát triển theo hàm số mũ) nên công tác phát triển nguồn lực thông tin của Thư viện bên cạnh những thuận lợi, cũng đứng trước những khó khăn nhất định Đặc biệt là trong tình trạng nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động của Thư viện hàng năm còn khiêm tốn Với số kinh phí được cấp, Thư viện khó đảm bảo được tốt việc thu thập và cung cấp tài liệu, nhất là tài liệu chuyên ngành sâu theo đề nghị của các khoa và bộ môn trong Trường Đây chính là vấn đề đang đươ ̣c đặt ra cho Thư viê ̣n Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
và cần phải được giải quyết kịp thời để Thư viện đá p ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao của người dùng tin trong trường Chính vì những lý do trên mà tôi đã
chọn đề tài Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng
Hà Nội làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Thư viện
Đề tài nghiên cứu “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại
học Xây dựng Hà Nội” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, trên cơ sở
nhâ ̣n diê ̣n h oạt động xây dựng , phát triển nguồn lực thông tin của Thư viện , đề tài đưa ra những biện pháp tích cực để khắc phục các tồn tại trong công tác xây dựng
Trang 13nguồn lực thông tin của Thư viê ̣n và góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Thư viện trong giai đoạn đổi mới giáo du ̣c hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu theo hươ ́ ng đề tài
Trong hoạt động thông tin - thư viện (TT - TV), chất lượng phục vụ người
dùng tin chính là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi trung tâm TT -
TV Để thực hiện tốt được điều này, đòi hỏi mỗi cơ quan thông tin phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện về mọi mặt để ngày càng hoạt động hiệu quả hơn Trong đó, công tác phát triển nguồn lực thông tin phải được xem là khâu đột phá, có
ý nghĩa quyết định tới hiệu quả hoạt động của thư viện
Do công tác phát triển nguồn lực thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của mỗi cơ quan TT - TV nên đã có khá nhiều bài viết, luận văn và hội thảo khoa học đề cập đến công tác này cũng như những vấn đề liên quan tới nguồn lực thong tin, cụ thể như:
Về luận văn: Đã có một số đề tài luâ ̣n văn đề cập đến công tác phát triển nguồn lực thông tin ở các cơ quan TT - TV với những khía cạnh phản ánh khác nhau, mang tính đặc thù của từng cơ quan như:
+ Nghiên cứu về thực trạng nguồn lực thông tin và công tác xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin nói chung tại các cơ quan TT - TV trong giai đoạn hiện
nay có các đề tài: “Tăng cường công tác bổ sung vốn tư liệu khoa học tại Trung tâm
Thông tin Tư liệu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia” của
tác giả Nguyễn Thị Như Tùng, (2000) [30]; “Tăng cường nguồn lực thông tin tại
Thư viện Quốc gia Việt Nam” của tác giả Trần Mỹ Dung, (2004) [7]; “Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội” của tác giả Hà
Thị Huệ, (2005) [12]; “Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin tại Viện Xã hội
học” của tác giả Vũ Thị Hồng Quyên, (2006)[26]; “Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm TT - TV thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước” của tác giả Nghiêm Thị Như Ngọc, (2010) [20]; “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo theo phương thức tín chỉ tại
Trang 14Trung tâm Thư viện - Học liệu Trường Cao Đẳng Văn hóa - Nghệ thuật Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Tấn Đạt, (2011) [9]
+ Về khía cạnh xây dựng, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin điện tử,
thông tin số tại các cơ quan TT - TV hiện nay có các luâ ̣n văn sau : “Xây dựng và
khai thác nguồn lực thông tin điện tử tại Thư viện Quân đội” của tác giả Mạc Thùy
Dương, (2003) [8]; “Tăng cường nguồn tin điện tử tại Trung tâm Thông tin Khoa
học và Công nghệ Quốc gia” cuả tác giả Lê Thế Long, (2006) [17]; “Nghiên cứu xây dựng và quản lý nguồn tài nguyên số nội sinh tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia” của tác giả Phạm Văn Hùng, (2009)[15]; “Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn học liệu số tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong giai đoạn đổi mới giáo dục ” của tác giả Vũ Văn Thường, (2010) [36]; “Xây dựng
và phát triển nguồn lực thông tin điện tử ở Học viện Hậu Cần” của tác giả Lê Anh
Tiến, (2010)[31]; “Phát triển nguồn tài liệu số hóa toàn văn tại Thư viện Quốc gia
Việt Nam” của tác giả Lê Đức Thắng, (2010)[33]; “Phát triển nguồn lực thông tin
số tại Thư viện Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai,
(2012) [18]
Nhìn chung, các luận văn kể trên đã nghiên cứu thực trạng nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin tại một trung tâm TT - TV cụ thể
(Trung tâm Thông tin Tư liệu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Quốc gia, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,… ) Mỗi tác giả lại có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau, phụ thuộc
vào tính chất, đặc thù của từng cơ quan mà họ nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phát triển nguồn tin tại các cơ quan này
Bên cạnh các luận văn kể trên, còn có các bài viết đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực thông tin tại các cơ quan TT - TV hay những nội dung có liên quan đến hoạt động đó Cụ thể như sau:
+ Đề cập đến quan điểm về chính sách phát triển nguồn tin có các bài: “ Một
số quan niệm về chính sách về phát triển nguồn tư liệu” của tác giả Vũ Văn Sơn
được đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (1994) [28, tr 1- 4] Bài viết đã nêu
Trang 15lên một số quan niệm khác nhau về chính sách phát triển nguồn tư liệu và nhấn
mạnh sự cần thiết phải xây dựng chính sách này ở Việt Nam; “Chính sách chia sẻ
nguồn lực trong thời kỳ áp dụng công nghệ thông tin mới” của tác giả Vũ Văn Sơn
được đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (1995) [29, tr 7 - 10] Bài viết đã đề cập đến tầm quan trọng của hoạt động phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin tư liệu giữa các cơ quan TT - TV trong điều kiện áp dụng công nghệ thông tin mới, đồng thời nhấn mạnh những vấn đề cần giải quyết để hoạt động này đạt hiệu
quả cao; “Phác thảo sơ bộ chính sách Quốc gia về nguồn lực thông tin” của tác giả
Lê Văn Viết được đăng trong cuốn “Thư viện học - Những bài viết chọn lọc, (2006) [45, tr 183 - 190] Bài viết đã đi sâu phân tích các vấn đề cơ bản để phát triển nguồn lực thông tin Quốc gia như: xây dựng mạng lưới thư viện thống nhất trong cả nước, phối hợp giữa các cơ quan TT - TV trong việc thu thập và bảo quản thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân, tổ chức có thể khai thác và sử dụng nguồn tin một cách thuận lợi và dễ dang Đồng thời bài viết cũng nêu lên một số khó khăn, trở ngại khi tiến hành thu thập và khai thác nguồn tin
+ Đề cập tới vai trò của nguồn tin và hoạt động xây dựng, phát triển nguồn tin trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, các cơ quan thông tin thư viện có các bài:
“Phát triển nguồn lực thông tin trong bối cảnh công nghệ thông tin mới” của tác giả
Nguyễn Hữu Hùng được đăng trong cuốn “Thông tin: Từ lý luận đến thực tiễn”, (2005) [13, tr 206-214] Bài viết đã đề cập tới lợi ích khi áp dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan TT - TV trong việc xây dựng các cơ
sở dữ liệu, tác giả cũng g iới thiệu một số cơ sở dữ liệu trong và ngoài nước tại các
cơ quan TT - TV ở trong nước, đồng thời nêu lên kiến nghị trong việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tăng cường nguồn lực thông tin của các cơ quan TT - TV trong đó tập trung giải quyết các vấn đề thuộc về quan điểm và các biện pháp kỹ
thuật; “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Hữu Hùng được đăng trên tạp chí Thông tin và Tư liệu, (2006) [14,
tr 5 - 10] Bài viết đã trình bày khái niệm và luận chứng vai trò trung tâm của tài nguyên thông tin số trong hệ thống thông tin Quốc gia Giới thiệu ba kịch bản trong
Trang 16tạo lập tài nguyên số: số hóa toàn phần, hồi cố và song song tồn tại tài nguyên số và
tư liệu Đưa ra các điều kiện và yếu tố cần thiết để thực hiện chính sách tài nguyên
số trên quy mô hệ thống; “Vai trò của nguồn học liệu tại các trường đại học/ học
viện” của tác giả Thu Minh được đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (2007)
[19, tr 19 - 24] Bài viết giới thiệu những xu thế phát triển nguồn học liệu tại trường đại học/học viện, kinh nghiệm tạo lập và sử dụng chúng trong quá trình đào tạo và nghiên cứu tại một số trường đại học ở nước ngoài Trình bày quan điểm, chính sách và các giải pháp nhằm phát triển nguồn học liệu tại các trường đại học/học
viện như: giải pháp về chính sách và cơ chế, giải pháp về công nghệ; “Phát triển
nguồn học liệu tại các tổ chức nghiên cứu, đào tạo hiện nay” của tác giả Nguyễn
Huy Chương và Trần Mạnh Tuấn được đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu,(2008) [6, tr 10 - 13] Bài viết giới thiệu một số hệ thống quản lý giáo trình ở các nước trong xu thế phát triển các trung tâm học liệu tại các cơ sở đào tạo Mô tả một số sản phẩm công cụ trên mạng của một số cơ sở đại học của Hoa Kỳ và Trung Quốc nhằm phát triển nguồn học liệu Nêu lên nhu cầu phát triển nguồn học liệu tại
các cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước; “Thư viện trường đại học với công tác phát
triển học liệu phục vụ đào tạo tín chỉ” của tác giả Nguyễn Văn Hành được đăng trên
Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (2008) [10, tr 30 - 34] Bài viết trình bày những nét chính về tín chỉ và các điều kiện về học liệu để đào tạo đaị học theo tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển học liệu phục
vụ đào tạo đại học theo tín chỉ như: chính sách phát triển học liệu, quản lý và phục
vụ học liệu, áp dụng công nghệ thông tin vào xây dựng cơ sở dữ liệu môn học,… để thư viện trường đại học trở thành trung tâm tích hợp nguồn tài liệu dạng số, tiến tới phục vụ “mọi lúc mọi nới” cho giảng viên và sinh viên
Như vậy, hiện nay có khá nhiều các bài viết đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực thông tin hay liên quan đến lĩnh vực này Các bài viết của các tác giả, các chuyên gia đầu ngành đều mang tính khái quát và lý luận cao Mỗi tác giả lại có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau Vì vậy, khi ứng dụng vào thực tiễn
Trang 17của từng cơ quan TT - TV cụ thể phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng sao cho phù hợp với điều kiện, năng lực của mỗi cơ quan
Cùng với các đề tài nghiên cứu và các bài viết đã được đăng taỉ trên tạp chí chuyên ngành, còn có một số hội thảo, hội nghị khoa học liên quan đến công tác phát triển nguồn lực thông tin đã được tổ chức như:
Hội nghị chuyên đề: “Công tác bổ sung, luân chuyển tài liệu và đào tạo cán
bộ của hệ thống thư viện công cộng” do Thư viện Quốc gia Việt Nam và Vụ Thư
viện phối hợp tổ chức tại Hà Nội năm 2005 Các bản tham luận trình bày trong Hội nghị đã tập trung đề cập tới thực trạng công công tác bổ sung tài liệu tại các thư viện công cộng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
Hội thảo “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo và nghiên
cứu khoa học” do Trung tâm TT - TV ĐHQGHN phối hợp với Liên hiệp Thư viện
Đại học khu vực phía Bắc (ĐHKVPB) tổ chức, tại trường Đại học Đà Lạt vào 2 ngày 8 - 9/8/2007 Tại hội thảo, 18 bài tham luận đã được trình bày, nội dung chủ yếu đề cập đến công tác xây dựng và phát triển nguồn học liệu tại tổ chức giáo dục đào tạo nhằm phục vụ cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu;
Hội thảo “Xây dựng và chia sẻ nguồn lực thông tin địa phương dạng số phục
vụ bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội” diễn ra vào ngày 25/11/2011 tại Thư
viện Quốc gia Việt Nam do Vụ Thư viện đã tổ chức Hội thảo đã tập trung đề cập đến công tác số hóa vốn tài liệu địa chí của địa phương Trong Hội thảo này, những kinh nghiệm, cách thức và giải pháp nhằm đưa công tác số hóa tài liệu phát triển đúng hướng, tránh lãng phí, manh mún đã được trình bày trong các bản tham luận;
Hội thảo “Giải pháp xây dựng và chia sẻ tài nguyên số” diễn ra vào ngày
10/3/2012 tại Trung tâm Thông tin - Tư liệu Đại học Cần Thơ Hội thảo đã tập trung xoay quanh các vấn đề về xây dựng và chia sẻ nguồn tài nguyên số trên cơ sở phản ánh thực trạng của công tác này
Mặc dù đã có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến công tác phát triển nguồn tin, song cho đến nay chưa có một luận văn nào nghiên cứu về công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường ĐHXDHN
Trang 18Nghiên cứu về hoạt động thông tin ở Trường Đại học Xây dựng cũng có hai luận văn nghiên cứu về vấn đề ứng dụng phần mềm quản trị thư viện và tổ chức kho
mở tại Thư viện đã được thực hiện Cụ thể là đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả
ứng dụng phần mềm Libol 5.0 tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội” của
tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh, (2008) Đề tài này đã tập trung phản ánh thực trạng ứng dụng phần mềm Libol 5.0 tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội từ năm 2001 đến năm 2008 và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng
dụng phần mềm này tại Thư viện; Đề tài “Tổ chức và hoạt động kho mở phục vụ
đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội” của tác giả Trần Thị Hải,
(2011) Đề tài này đã tập trung phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của kho
mở tại Thư viện Trường Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của kho mở Về cơ bản hai đề taì này đã phản ánh những khía cạnh khác nhau trong hoạt động của Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội Không có đề tài nào đi sâu phân tích, phản ánh thực trạng nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin của Thư viện Trường Vì vậy,
có thể nói đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội” là đề tài hoàn toàn mới, không trùng lặp với các công trình đã
công bố trước đây Với đề tài này, tác giả tập trung khảo sát thực tế nguồn lực thông tin và thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trong thời gian từ năm 2000 tới nay Trên cơ sở nghiên cứu của mình, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đa ̣i ho ̣c Xây dựng Hà Nô ̣i , góp phần phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ nâng cao chất lươ ̣ng giáo dục và đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm trong công tác phát triển và quản trị nguồn lực thông tin tại đây đồng thời xác định
Trang 19phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin, đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin, phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập
và nghiên cứu khoa học của nhà trường
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin;
- Nghiên cứu các nhóm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội;
- Nghiên cứu công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội từ năm 2000 đến năm 2013;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
4 Giả thuyết nghiên cứu
Khi thư viện trường đại học có nguồn lực thông tin mạnh thì chắc chắn là hoạt động thông tin của thư viện sẽ đạt hiệu quả cao, đáp ứng tốt nhu cầu tin của bạn đọc, góp phần đắc lực trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục, nghiên cứu khoa học tại nhà trường
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây Dựng Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn:
Về mặt không gian là: công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội;
Về mặt thời gian là: công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2000 đến năm 2013)
Trang 206 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác sách, báo và hoạt động thông tin - thư viện
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu;
Phương pháp quan sát;
Phương pháp phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp thống kê, so sánh
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm rõ khái niệm nguồn lực thông tin; vai trò của nguồn lực thông tin đối với hoạt động giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội (Trường ĐHXDHN); đề tài cũng khảo sát, phản ánh thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin và làm rõ nhu cầu tin của người dùng tin tại Thư viện Trường, khẳng định được tầm quan trọng và giá trị thiết thực của công tác phát triển nguồn tin trong thư viện nói chung và tại Thư viện Trường ĐHXDHN nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn
Từ các kiến nghị và giải pháp cụ thể đối với công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường ĐHXDHN mà tác giả đưa ra có thể ứng dụng vào thực tiễn nhằm khắc phục những mặt còn hạn chế, nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin của Thư viện và làm thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của người dùng tin tại đây trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Đề tài p hản ánh thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội;
Trang 21- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phát triển nguồn lực thông tin làm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
9 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của Luận văn được coi là trọng tâm gồm 3 chương:
Chương 1: Nguồn lực thông tin trong hoạt động của Thư viện Trường Đaị học Xây Dựng Hà Nội
Chương 2: Thực trạng nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đaị học Xây Dựng Hà Nội
Trang 22NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI
1.1 Cơ sở lý luận về nguồn lực thông tin và phát triển nguồn lực thông
tin
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin
Để hiểu về nguồn lực thông tin, trước tiên cần phải hiểu thế nào là thông tin Thuật ngữ “thông tin” - trong tiếng Anh là Infotmation - bắt nguồn từ một từ gốc La tinh là Infomatio - nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải, là một từ thông dụng nhất, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử, có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin Điều này đã được Simon (nhà kinh tế học, đạt giải Nobel năm 1978) phát biểu như sau: “vật chất, năng lượng và thông tin là “bộ ba” khái niệm khoa học tổng quát nhất Không giống như năng lượng và vật chất là những khái niệm đã được xác định, thông tin cho đến nay, một định nghĩa với nội hàm đầy đủ về bản chất của nó thì vẫn chưa có một nhà khoa học nào đưa ra bởi còn rất nhiều ý kiến khác nhau trên diễn đàn khoa học”[25]
Thật vậy, hiện nay có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về thông tin, dưới đây là mô ̣t số đi ̣nh nghĩa tiêu biểu:
Theo Đại từ điển Oxford English Dictionary: “Thông tin là tri thức, tin tức” Trong cuốn Guide to concepts and term in data processing của Unesco:
“Thông tin là ý nghĩa mà con người muốn diễn đạt hay nhận thức ra, là sự biểu đạt các sự vật và ý tưởng bằng các phương tiện trình bày đã được quy định”
Theo Đại từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết: “Thông tin là tin tức được truyền từ người này qua người khác bằng lời nói, chữ viết hay bằng một phương tiện nào đó” [22]
Theo quan điểm triết học: “Thông tin là sự phản ánh thế giới vật chất và xã hội bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh,… hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người”
Trang 23Theo tiến sĩ Lê Văn Viết, thông tin được hiểu là các tin tức, dữ liệu, tri thức, phản ánh các hiện tượng, sự vật của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy được xem xét trong quá trình tồn tại của chúng ta trong không gian và thời gian [44] Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đồng tình với quan điểm này
Bên cạnh định nghĩa vê thông tin, còn có định nghĩa về nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong lĩnh vực TT - TV Song cũng giống thông tin, hiện nay định nghĩa về nguồn lực thông tin vẫn tồn tại nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau
Trước hết, thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
là “Information resource” Theo tiến sĩ Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ này vẫn chưa thống nhất, còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau: “Có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong các cơ quan TT - TV Người khác lại đưa ra quan điểm nguồn lực thông tin không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác như ha ̣ tầng kỹ thuâ ̣t thông tin, nhân lực thông tin”.[45,tr 163]
Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hay âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin”[45, tr.183]
Tương đồng với quan điểm trên, tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng cho rằng: “Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hay âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và
có giá trị cho người sử dụng”[13, tr 240-241]
Theo tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa nguồn lực thông tin được hiểu là “Tập hợp
có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi định dạng khác nhau của một cơ quan thông tin, thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin”[22]
Đặc biệt, hiện nay với sự phát triển của xã hội, các cơ quan TT - TV cũng phát triển mạnh mẽ Sự ra đời của các trung tâm học liệu ngày càng nhiều: Trung
Trang 24tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, Trung tâm học liệu Huế, Trung tâm học liệu Đại học Đà Nẵng, Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, Trung tâm học liệu Đại học Quảng Nam,… Sự ra đời của các trung tâm đó phản ánh trình độ phát triển trong hoạt động thông tin của các cơ quan TT - TV; đồng thời nó phản ánh NCT ngày càng cao của NDT Tại các trung tâm này, nhu cầu về nguồn tin rất phong phú Chính từ đây đã xuất hiện thuât ngữ “nguồn học liệu” Về cơ bản, nguồn học liệu cũng tương tự như nguồn tin Chỉ có điều khác là nguồn học liệu là các dạng tài liệu được sử dụng trong hoạt động nghiên cứu, học tập tại các cơ quan, tổ chức và cơ sở giáo dục và nó tạo nên nguồn lực thông tin của mỗi cơ quan giáo dục đào tạo Với cách hiểu này, nguồn học liệu bao gồm:
- Sách giáo khoa, giáo trình, đề cương bài giảng, bài giảng điện tử;
- Tài liệu, tư liệu, công cụ phục vụ học tập , mô phỏ ng thí nghiệm, thực hành ảo,…(có thể dưới dạng xuất bản phẩm công bố , tài liệu xám, tài liệu dạng in và dạng số, tệp dữ liệu, phần mềm, trang web,…) được các tổ chức nghiên cứu - đào tạo sử dụng khi tiến hành hoạt động đào tạo
- Các tài liệu tham khảo chủ yếu phục vụ việc học tập và nghiên cứu: sách, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị khoa học, kết quả khảo sát, điền dã,…(thông thường được đề xuất theo yêu cầu người dạy và tồn tại dưới dạng các xuất bản phẩm cả trong và ngoài nước);
- Luận án, luận văn, khóa luận,… là kết quả lao động trực tiếp của người học
và người dạy trong quá trình đào tạo tại các tổ chức nghiên cứu - đào tạo
Nhìn chung các quan điểm, định nghĩa về nguồn lực thông tin ở trên đều có điểm giống nhau là phán ánh nguồn lực thông tin bao gồm các dạng thông tin, taì liệu được thể hiện dưới mọi định dạng khác nhau: sách, báo, CSDL,… Chúng là kết quả, sản phẩm của hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của con người được ghi lại, lưu trữ laị trên các vật mang tin để cung cấp cho người sử dụng
Với sự trình bày ở trên, có thể thấy hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất
về nguồn lực thông tin Song trong khuôn khổ luận văn này, tác giả nhất trí với quan điểm cho rằng: “Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin đươc hiểu như là tổ
Trang 25hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn”.[45, tr.163-164]
Với cách hiểu như trên, nguồn lực thông tin trong đề tài nghiên cứu của tác giả bao gồm: sách, báo - tạp chí, CSDL,…có trong Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội được thể hiện dưới mọi hình thức khác nhau
Nguồn lực thông tin là nền tảng cho mọi hoạt động TT - TV Nó tạo nên sức mạnh của mỗi cơ quan Nó cũng là cơ sở để các cơ quan này xây dựng và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin có chất lượng phục vụ cho người dùng tin Do
đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động và thỏa mãn tối đa NCT của NDT, các cơ quan
TT - TV đều phải chú trọng phát triển nguồn lực thông tin của đơn vi mình
1.1.2 Phát triển nguồn lực thông tin
Phát triển - nguyên gốc tiếng Anh là development - là một hành động hay quá trình làm cho một cái gì đó thay đổi, tăng trưởng và tiến bộ hơn Trong tiếng Việt, phát triển có nghĩa là làm cho lớn hơn, trưởng thành hơn, mạnh hơn, tốt hơn Phát triển nguồn lực thông tin có nghĩa là làm cho nguồn lực thông tin trở nên ma ̣nh hơn, phong phú hơn, đầy đủ hơn, có chất lượng hơn
Gần đây, trên các bài viết v ề nguồn lực thông tin , nhiều tác giả còn đưa ra khái niệm quản trị nguồn lực thông tin
Quản trị - management - là hành động của chủ thể tác động vào đối tượng, để đạt được mục tiêu định trước Quản trị bao gồm một loạt quá trình liên tiếp nhau từ việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, hướng dẫn và kiểmtra Như vậy, quản trị là bước tiếp theo, nâng cao hơn của phát triển Phát triển là tiền đề của quản trị
Trong lĩnh vực thông tin thư viện, phát triển nguồn lực thông tin có nghĩa là làm cho nguồn tin lớn mạnh, phong phú, đa dạng về chủng loại, đảm bảo chất lượng nguồn tin, đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Như vâ ̣y, dường như trong công tác
Trang 26phát triển nguồn lực thông tin , mô ̣t số đô ̣ng thái quản tri ̣ nguồn lực thông tin cũng đã hình thành, chẳng ha ̣n viê ̣c xem xét la ̣i chính sách bổ sung, điều chỉnh la ̣i diê ̣n bổ sung sao cho phù hợp với nhu cầu của NDT Chỉ có điều là khi nói đến phát triển nguồn lực thông tin, hình như yếu tố hiệu quả không phải là yếu tố được nhấn mạnh hàng đầu Còn khi nói quản trị nguồn lực thông tin, hình như yếu tố hiệu quả phải là yếu tố được nhắc đến trước hết Như vâ ̣y có thể thấy , để mô tả quá trình xây dựng nguồn lực thông tin , đảm bảo cho nguồn lực thông tin ấy phát huy hiê ̣u quả trong viê ̣c đáp ứng nhu cầu của người dùng tin , khái niệm chính xác để chỉ quá trình ấy phải là “phát triển và quản trị nguồn lực thông tin”
Trong những năm gần đây, do sự tác động mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt
là công nghệ xuất bản, công nghệ thông tin và truyền thông, ngoài các phương pháp thu thập thông tin truyền thống mà các thư viện lâu nay vẫn tiến hành như xin, trao đổi hoặc mua tài liệu về thư viện, xử lý và đưa vào kho của thư viện, đã xuất hiện một phương thức mới mà các thư viện hiện đại đang tiến hành trong việc xây dựng nguồn tin Bản chất của phương thức này là các thư viện không cố tìm bằng mọi cách để nâng cao số lượng tài liệu có trong thư viện Hay nói khác đi là các thư viện không tìm mọi cách để bổ sung vào thư viện mọi nguồn thông tin mà NDT có nhu cầu, mà thay vào đó, các thư viện chú trọng làm sao thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thông tin của người dùng tin Để làm được điều này, các thư viện cố gắng tìm để biết ở đâu có nguồn tin gì, truy cập bằng phương thức nào để khi người dùng tin có nhu cầu, thư viện sẽ giúp người dùng tin với tới nguồn thông tin đó Điều đó có nghĩa là thư viện đã chuyển từ phương thức chuẩn bị sẵn một nguồn tin đầy đủ để phục vụ người dùng tin trong mọi trường hợp (just in case) sang phương thức tìm
và phục vụ người dùng tin khi có nhu cầu (just in time) Đôi khi người ta cũng còn dùng cách chơi chữ, bằng cách sử dụng hai thuật ngữ Warehouse và Wherehouse, (hai thuật ngữ này được phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa khác nhau) để chỉ hai trạng thái của thư viện, đó là thư viện đang chuyển từ trạng thái “Warehouse” - giống như một “nhà kho” lưu trữ tài liệu thành trạng thái “Wherehouse” – là nơi có thể cho ta biết ở đâu có cái gì Nói như vậy để thấy ngày nay, các thư viện đang
Trang 27chuyển dần từ khái niệm phát triển nguồn tin đơn thuần sang phát triển đồng thời với quản trị nguồn tin
Phát triển và quản trị nguồn lực thông tin có nghĩa là với mô ̣t nguồn kinh phí nhất đi ̣nh , phải làm cho nguồn lực thông tin mạnh về số lượng , đảm bảo về chất lươ ̣ng, phong phú về c hủng loại, đa da ̣ng về loa ̣i hình , có khả năng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của NDT Phát triển và quản trị nguồn lực thông tin là một hoa ̣t đô ̣ng mang tính hê ̣ thống , đồng bô ̣, bao gồm việc xây dưng kế hoạch, xây dựng diện bổ sung, tìm kiếm kinh phí, thu thập tài liệu, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn thông tin trong một thời gian dài nhằm đáp ứng mục tiêu cụ thể của thư viện [47]
Phát triển và quản trị nguồn lực thông tin cần tuân thủ 5 nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính khoa học
- Đảm bảo sự phù hợp
- Đảm bảo sự đầy đủ
- Nguyên tắc phối hợp
- Đảm bảo hiệu quả
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nguồn lực thông tin
Hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, một khối lượng thông tin vô cùng lớn đã được sản sinh và luân chuyển trong xã hội Đây là điều kiện thuận lợi đồng thời cũng là thách thức đối với công tác phát triển nguồn lực thông tin tại mỗi cơ quan TT - TV Bởi lẽ, khi nguồn thông tin dồi dào, phong phú lưu thông trên thị trường, các cơ quan này sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn, dễ dàng tiếp cận, thu thập, bổ sung được những thông tin, tài liệu có giá trị vào đơn vị mình Song ở đây cũng có một nghịch lý là, do khối lượng thông tin, tài liệu vô cùng lớn
và do có quá nhiều sự lựa chọn nên việc lựa chọn đúng nguồn tin mình cần cũng trở nên khó khăn hơn Để thu thập, bổ sung nguồn tin một cách hiệu quả, đòi hỏi phải
có sự chọn lọc kỹ càng, cẩn trọng dựa trên NCT của NDT và năng lực thực tiễn của từng cơ quan
Thực tế cho thấy, để công tác phát triển nguồn tin tại các cơ quan TT - TV đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các cơ quan này phải nắm vững những quy luật đặc trưng
Trang 28của tài liệu và phải dựa vào điều kiện thực tế của đơn vị mình Đây chính là các yếu
tố tác động trực tiếp đến công tác phát triển nguồn tin tại mỗi cơ quan
* Sự tác động của các quy luật đặc trưng của tài liệu đối với công tác phát triển nguồn tin:
Một là, quy luật gia tăng số lượng tài liệu:
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tài liệu không ngừng được gia tăng Về cơ bản, tài liệu chính là dạng vật chất ghi lại, lưu trữ lại thông tin, tri thức của con người để truyền lại cho các thế hệ sau
Từ thời cổ đại, khi các phương tiện in ấn chưa phát triển, để lưu giữ lại thông tin, tri thức con người đã tiến hành bằng cách ghi, vẽ, khắc, in,… trên các vật mang tin thời đó như: đất sét, đá, da thú, tre, gỗ, giấy papyrut, Ngay trong giai đoạn này, một lượng tài liệu đáng kể đã được sản sinh trong xã hội và được lưu trữ trong các thư viện hoàng gia tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới Chẳng hạn, người ta đã tìm thấy hơn 700.000 bản viết tay trên giấy papyrut và da cừu trong thư viện Alêch- xăng - đờ - ri (Ai Cập) vào thời gian đó
Đến giữa thế kỷ XV, khi Johanes Gutenberg (kỹ sư người Đức) phát minh ra máy in, việc lưu giữ lại thông tin, tri thức của con người đã trở nên dễ dàng và nhanh chóng Từ đó, một khối lượng tài liệu lớn đã được in ấn, xuất bản và lưu thông trong xã hội Tài liệu đã trở nên phổ biến và không thể thiếu trong đời sống
xã hội Vì nó cung cấp những thông tin , tri thức phục vụ cho các hoạt động thường ngày của con người: nghiên cứu, học tập, lao động và giải trí
Đặc biệt, tới thời điểm này với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ cùng với sự gia tăng của các nhà khoa học, một khối lượng thông tin khổng lồ
đã được sản sinh ngày một nhiều Chúng không ngừng được gia tăng cả về mặt số lượng và chất lượng Hiện tượng “bùng nổ” thông tin đã xuất hiện trong xã hội Các
số liệu thống kê cho thấy, số lượng tài liệu ngày nay được gia tăng nhanh chóng theo hàm số mũ Theo ISSN Register của Trung tâm Quốc tế về Chỉ số ISSN (ISSN International Center), thống kê tất cả các tạp chí đã được gán chỉ số ISSN
Trang 29(International Standard Serial Number), cho thấy số lượng tạp chí tăng lên qua các năm như sau:
2002: 1.072.023;
2005: 1.227.057;
2008: 1.413.942;
2010: 1.555.307 [22]
Hai là, Quy luật tập trung và phân tán thông tin:
Hiện nay, số lượng các nhà khoa học ngày một gia tăng cùng với đó là sự ra đời đáng kể các bài viết, công trình nghiên cứu của họ Các bài viết, bài nghiên cứu này phản ánh về các lĩnh vực khoa học cụ thể, được đăng tải ở nhiều ấn phẩm thông tin Qua nghiên cứu, thống kê người ta thấy rằng có sự tập trung và phân tán của những bài viết ấy Cụ thể, xảy ra trường hợp là một bài viết, bài nghiên cứu về một chủ đề, chuyên ngành nhất định lại được đăng tải ở nhiều địa chỉ khác nhau Có một
số lượng không lớn các tạp chí đăng tải một số lượng lớn các bài viết, bài nghiên cứu về một chủ đề, một lĩnh vực nào đó Các bài viết này lại được đăng lên ở các tạp chí khác, thậm chí là ở trên các tạp chí không hề có liên quan đến lĩnh vực, chuyên ngành đó Điều này gây ra tình trạng lãng phí và khó khăn cho việc tìm kiếm thông tin Hiện tượng này được giáo sư S Bradford phát hiện ra đầu tiên
Hơn thế, trong quá trình nghiên cứu của mình, Bradford còn thấy rằng luôn tồn tại một số “tạp chí hạt nhân” đối với một chuyên ngành, một lĩnh vực cụ thể Đó
là những tạp chí có uy tín, có sức ảnh hưởng lớn đối với chuyên ngành, lĩnh vực đó Nghĩa là với cùng một chủ đề, một chuyên ngành nhất định, có các bài viết được đăng tải lên ở nhiều tạp chí khác nhau Song trong số các tạp chí ấy, sẽ có một số lượng không nhiều các tạp chí chứa đựng các bài viết, bài nghiên cứu đó Khi đó, các tạp chí đấy trở thành các “tạp chí hạt nhân” (core journal) của một chuyên ngành, một lĩnh vực cụ thể
Ba là, quy luật lỗi thời của thông tin:
Thông tin được lưu trữ trên các vật mang tin, gọi chung là tài liệu Khi thông tin lưu thông trong xã hội, nó trở thành một loại sản phẩm, hàng hóa đặc biệt Do
Trang 30đó, cũng như các mặt hàng khác trên thị trường, nó cũng sẽ bị hao mòn trong quá trình sử dụng Song vì thông tin là dạng sản phẩm, hàng hóa đặc biệt nên độ hao mòn của nó không phải được xác định bởi độ lão hóa về mặt vật lý của vật mang tin
mà được xác định bởi sự “lỗi thời” của thông tin được chứa đựng trong các vật mang tin
Khi tài liệu mới ra đời, những thông tin, tri thức mà nó chứa đựng là những thông tin, tri thức mới, cập nhật và hấp dẫn đối với người sử dụng Tuy nhiên theo thời gian sử dụng, các thông tin, tri thức ấy dần trở nên lạc hậu, tính thời sự, cập nhật bị giảm xuống, thậm chí bị triệt tiêu Nguyên nhân chủ yếu là do sự phat triển của khoa học và công nghệ Thông tin, tri thức được sản sinh trong xã hội với tốc
độ chóng mặt, song chúng cũng nhanh chóng bị lạc hậu, già cỗi, không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội Điều này cũng đồng nghĩa với giá trị sử dụng của tài liệu không còn nữa, người sử dụng không còn quan tâm đến chúng nữa Tuy nhiên
sự lỗi thời của thông tin lại khác nhau đối với từng chuyên ngành, lĩnh vực Những ngành, lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh, mạnh thì kéo theo đó là tuổi thọ của thông tin, tài liệu càng bị rút ngắn nhanh chóng
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, hiện nay tuổi thọ của một số ngành khoa học như sau: Vật lý: 4, 6 năm; Hóa học: 8,1 năm, Thực vật học: 10 năm, Toán: 10,5 năm, Địa chất: 11,8 năm [22]
Bốn là, quy luật giá cả tài liệu tăng liên tục:
Giá cả tài liệu được xác định bởi giá của thông tin chứa đựng trong tài liệu
và giá của vật chất mang thông tin cùng với chi phí phân phối tài liệu dến tay người
sử dụng
Do sự phát triển của xã hội, nhu cầu về tài liệu tăng lên cả về mặt số lượng
và chất lượng Nắm bắt được nhu cầu này, các nhà xuất bản và công ty phát hành văn hóa phẩm đã tăng cường đầu tư về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng của tài liệu từ hình thức bên ngoài đến chất lượng bên trong - nguồn thông tin, tri thức chứa đựng trong đó Từ đó, có thể thu hút và làm tăng sự hứng thú, hấp dẫn đối với người
sử dụng Cụ thể ở đây là sự đầu tư, sử dụng các nguyên vật liệu hiện đại, có chất
Trang 31lượng cao, tăng chi phí tạo ra thông tin, tri thức có giá trị, phù hợp với nhu cầu của người sử dụng Do sự phát triển của kinh tế - xã hội, chi phí đầu tư cho nguyên vật liệu đầu vào để tạo ra tài liệu liên tục tăng lên Đặc biệt, do sự suy thoái của nền kinh tế, tình trạng lạm phát gia tăng nên chi phí đầu tư cho sản xuất nói chung và xuất bản ra tài liệu cũng không ngừng tăng lên theo thời gian
Như vậy, với sự trình bày nói trên, có thể thấy các quy luật đặc trưng của tài liệu là những yếu tố tác động rất lớn đến công tác phát triển nguồn tin
Quy luật gia tăng số lượng tài liệu cho thấy một khối lượng thông tin, tài liệu
vô cùng dồi dào đã được sản sinh và luân chuyển trong xã hội Muốn thu thập, bổ sung được nguồn thông tin, tài liệu có giá trị và hiệu quả, các cơ quan TT - TV phải
có sự chọn lựa kỹ càng, dựa trên những tiêu chí nhất định, phù hợp với NCT của NDT tại đơn vị Từ đó có thể thu thập được nguồn tin đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng bổ sung ồ ạt gây lãng phí, tốn kém
Với quy luật tập trung và phân tán thông tin, các cơ quan TT - TV hiểu được rằng với bất kỳ một ngành, lĩnh vực cụ thể thì đều tồn tại một số lượng không nhiều các tạp chí tiêu biểu của ngành, lĩnh vực đó Ở đó tập hợp tất cả những bài viết, bài nghiên cứu có chất lượng về chuyên ngành, lĩnh vực ấy Chúng được gọi là “tạp chí hạt nhân” Nhiệm vụ của các cơ quan này là phải xác định được “tạp chí hạt nhân” của ngành, lĩnh vực mà mình quan tâm Trên cơ sở đó tiến hành thu thập đầy đủ những tạp chí đó nhằm đáp ứng tối đa NCT của NDT tại đơn vị
Quy luật lỗi thời của thông tin giúp cho các cơ quan TT - TV thấy được tuổi thọ của thông tin, tài liệu là hữu hạn Do đó, để công tác phát triển nguồn tin đạt hiệu quả cao, đòi hỏi mỗi cơ quan phải thu thập, bổ sung được những thông tin, tài liệu mới nhất, cập nhật nhất Đặc biệt là những thông tin, tài liệu thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ và kỹ thuật Vì đây là những ngành có tốc độ phát triển nhanh Thông tin được sản sinh nhanh chóng, đồng thời nó cũng nhanh chóng rơi vào tình trạng lạc hậu, lỗi thời Bên cạnh việc thu thập những thông tin, tài liệu mới, có giá trị, các cơ quan này phải chú trọng đến công tác thanh lọc tài liệu nhằm loại bỏ khỏi
Trang 32kho tài liệu những tài liệu lỗi thời, thông tin không cập nhật và không còn được sử dụng
Với quy luật giá cả tài liệu tăng liên tục, cho thấy để công tác phát triển nguồn tin đạt kết quả cao nhất có thể, các cơ quan TT - TV nên tiến hành hợp tác, phối hợp với nhau trong quá trình thu thập, bổ sung tài liệu Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn, đặc biệt trước tình hình nguồn kinh phí cấp cho hoạt động bổ sung tài liệu hàng năm là có hạn Nếu hợp tác, phối hợp với nhau trong công tác bổ sung tài liệu, một mặt các cơ quan đó sẽ tiết kiệm được kinh phí bổ sung; Mặt khác có thể tăng cường nguồn lực thông tin cho mỗi đơn vị
Hơn thế, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và viễn thông, một khối lượng lớn nguồn tin điện tử đã được sản sinh
và lưu thông trên môi trường mạng Đây là nguồn tin hết sức phong phú, dồi dào và
có giá trị Đặc biệt là đối với các nguồn tin điện tử do các tổ chức uy tín, các nhà xuất bản chính thống phát hành và truyền tải Môi trường mạng năng động giúp cho các cơ quan TT - TV dễ dàng truy cập tới các nguồn tin này để khai thác và sử dụng Để đạt hiệu quả cao, các cơ quan này nên hợp tác, liên kết với nhau để có thể truy cập, khai thác và sử dụng được các nguồn tin đó
* Sự tác động của các yếu tố nội tại của thư viện đối với công tác
phát triển nguồn lực thông tin:
Bên cạnh những quy luật đặc trưng của tài liệu, công tác phát triển nguồn lực thông tin của các cơ quan thông tin – thư viện cũng bị chi phối bởi các yếu tố nội tại của các thư viện như chính sách phát triển nguồn tin, trình độ cán bộ, kinh phí và cơ
sở vật chất kỹ thuật,
- Chính sách phát triển nguồn tin: Có thể nói đây chính là yếu tố quyết định
đến chất lượng của công tác phát triển nguồn lực thông tin của mỗi cơ quan TT -
TV Bởi lẽ, bất kỳ một cơ quan nào khi thu thập, bổ sung tài liệu vào đơn vị mình phải dựa trên những nguyên tác nhất định Nguyên tắc đó được quy định rõ trong chính sách phát triển nguồn tin của mỗi cơ quan Về cơ bản, chính sách phát triển
Trang 33nguồn tin xác định cụ thể diện tài liệu bổ sung của từng cơ quan trên cơ sở đặc trưng về loại hình thư viện của nó và NCT của NDT
- Trình độ của cán bộ bổ sung: Để công tác phát triển nguồn lực thông tin đạt hiệu quả cao, đòi hỏi cán bộ bổ sung phải có trình độ chuyên môn nhất định bên cạnh những kinh nghiệm thực tế Hiê ̣n nay, khoa ho ̣c và công nghê ̣ đang phát triển như vũ bão theo cả chiều rô ̣ng và chiều sâu , nhiều chuyên ngành khoa ho ̣c mới ra đời, người cán bô ̣ làm công tác phát triển nguồn lực thông tin phải có trình đô ̣
chuyên môn vừa đủ rô ̣ng la ̣i vừ a đủ sâu để có thể hiểu và lựa cho ̣n đúng những tài liê ̣u mà NDT quan tâm Mă ̣t khác, như trên đã nói , do nguồn tài liê ̣u được xuất bản trên thế giới ngày càng nhiều , bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau , nhiều da ̣ng khác nhau, do vậy người làm công tác phát triển nguồn lực thông tin cũng phải có trình
đô ̣ ngoa ̣i ngữ tốt mới có thể lựa chọn, bổ sung vào thư viê ̣n những tài liệu phù hợp Điều này có ý nghĩa vô cùng lớn trước tình hình “bùng nổ” thông tin như hiện nay Khi có trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu về lĩnh vực chuyên môn nhất định, cán bộ
bổ sung có thể xác định, đánh giá được chất lượng của nguồn tin, tránh tình trạng thu thập ồ ạt, chỉ đạt về mặt số lượng mà không đảm bảo chất lượng, dẫn tới hiện trạng tài liệu “vừa thừa, vừa thiếu”, gây lãng phí và làm suy giảm sức mạnh của nguồn tin
- Kinh phí bổ sung tài liệu: Đây là yếu tố cũng rất quan trọng, quyết định đến
số lươ ̣ng và chất lượng của nguồn tin Bởi vì, với lượng kinh phí dồi dào, các cơ quan TT - TV có khả năng thu thập được đầy đủ, tối đa những tài liệu cần thiết Ngược lại, khi nguồn kinh phí được cấp ít ỏi, hạn chế, các cơ quan này sẽ không thể thu thập, bổ sung được toàn bộ, đầy đủ những tài liệu cần thiết Trong quá trình bổ sung tài liệu, họ phải chọn lọc kỹ càng làm sao để thu thập được tối thiểu những tài liệu có giá trị, phục vụ trực tiếp cho NCT của NDT, còn những tài liệu có tần suất
sử dụng thấp thì tùy vào lượng kinh phí có mà thu thập
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Để công tác phát triển nguồn tin đạt hiệu quả cao
thì việc chú trọng đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật tại mỗi cơ quan TT -
TV có ý nghĩa to lớn Vì khi có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, đảm bảo chất lượng
Trang 34(phần mềm quản tri ̣ công tác bổ sung , hê ̣ thống ma ̣ng m áy tính và thiết bị phụ trợ , giá kệ, phòng kho, ánh sáng,…) sẽ là điều kiện tốt để tăng cường nguồn lực thông tin, làm giàu có, phong phú nguồn lực thông tin của mỗi cơ quan Ngược lại, khi cơ
sở vật chất kỹ thuật yếu kém, không đảm bảo chất lượng, thì nguồn lực thông tin mạnh sẽ không trở nên không tương xứng (thiếu diện tích kho, giá kệ để sắp xếp tài liệu, các điều kiện để bảo quản tốt tài liêu,….)
Như vậy, với tất cả sự trình bày ở trên có thể thấy để công tác phát triển nguồn lực thông tin tại các cơ quan TT - TV đạt kết quả cao nhất có thể, các cơ quan này phải nắm vững những quy luật đặc trưng của tài liệu và phải dựa trên điều kiện thực tế của mình Trên cơ sở đó tiến hành thu thập, bổ sung tài liệu một cách hợp lý Có thể thu thập đầy đủ nhũng tài liệu cần thiết hay thu thập những tài liệu mang tính “hạt nhân” để đáp ứng NCT của NDT tại mỗi cơ quan Đặc biệt để thu thập, bổ sung tài liệu điện tử vào đơn vị mình, các cơ quan TT - TV nên đẩy mạnh hợp tác, liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp
1.2 Vai trò của nguồn lực thông tin đối với hoạt động giáo dục, đào tạo tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
1.2.1 Giới thiệu về Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Xây dựng được thành lập theo Quyết định số 144/CP ngày 8 tháng 8 năm 1966 của Hội đồng Chính phủ Tiền thân của trường là Khoa Xây dựng thuộc Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh, trường phải rời Thủ đô Hà Nội đi sơ tán
ở nhiều nơi trên các tỉnh Hà Bắc, Vĩnh phú Cuối năm 1983, Trường chuyển về Hà Nội nhưng vẫn còn phân tán ở 4 khu vực: Cổ Nhuế, Phúc xá, Bách Khoa và Đồng Tâm Đến năm 1991, Trường mới tập trung về đi ̣a điểm thuô ̣c phường Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Quá trình trưởng thành và phát triển của nhà trường có thể chia thành ba thời
kỳ như sau:
Trang 35Thời kỳ thứ nhất (từ năm 1956-1966): Đây là thời kỳ Khoa Xây dựng - tiền thân của trường Đại học Xây dựng ngày nay - nằm trong Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Ngày đầu mới thành lập, Khoa Xây dựng chỉ có hơn 10 cán bộ giảng viên và cán bộ công nhân viên Đến năm 1966, số lượng này tăng lên là 178 người
Giai đoạn này, Khoa Xây dựng đào tạo các ngành: Xây dựng Cầu đường, Xây dựng Đường, Xây dựng Thuỷ lợi, Xây dựng Cảng - Đường thuỷ, Xây dựng Dân dụng và công nghiệp, Xây dựng đô thị, Thông gió và cấp thoát nước
Thời kỳ thứ 2 từ năm 1966 đến năm 1983: Đây là thời kỳ Trường Đại học Xây dựng Hà Nội được chính thức thành lập và bắt đầu phát triển :
+ Giai đoạn từ năm 1966 - 1971 Giai đoạn chiến tranh chống Mỹ, Trường sơ tán trong các khu vực thuộc Quế Võ, Gia Lương (Hà Bắc)
Trong hoàn cảnh khó khăn nhà trường vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo, đóng góp nhiều cán bộ có chuyên môn tốt cho ngành xây dựng trong toàn quốc, phục vụ đăc lực cuộc kháng chiến chống Mỹ Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) diễn ra sôi nổi Nhiều đề tài nghiên cứu có tính thực tiễn cao, phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất và chiến đấu của cả nước.[41]
+ Giai đoạn từ năm 1971-1983: Trường sơ tán tập trung về Hương Canh, huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phú và ở Chèm (Vĩnh Phúc)
Đây là giai đoạn để lại nhiều dấn ấn trong lịch sử phát triển của nhà trường Vượt qua khó khăn, thiếu thốn, bằng mồ hôi và cả xương máu, sinh viên và cán bộ
đã xây dựng trường ĐHXD tại Hương Canh tuy đơn sơ chủ yếu nhà tranh mái lá nhưng đồng bộ với đủ các cơ sở lớp học, sân khấu ngoài trời, sân thể thao, bệnh xá,
ký túc xá Hoạt động đào tạo quy củ, chất lượng Hoạt động nghiên cứu khoa học tiếp tục được đẩy mạnh Nhiều đề tài có giá trị khoa học được ứng dụng vào thực tiễn đã phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà [41, tr 45]
Đội ngũ cán bộ của nhà trường cũng được tăng lên theo thời gian Năm 1970, Trường có 384 cán bộ giảng dạy, đến năm 1976 thì số lượng đã tăng lên là 500 người [41, tr 50]
Trang 36Thời kỳ thứ ba (từ năm 1983 đến nay): Đây là thời kỳ ổn định và phát triển tại mạnh mẽ của nhà trường
Vượt lên mọi khó khăn, vất vả của những năm đầu xây dựng lại cơ sở vật chất ở địa điểm mới số 55 đường Gỉai Phóng, phường Đồng Tâm, đến nay nhà trường cơ bản đã tạo dựng được cơ sở vật chất của một ngôi trường hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu mới về quy mô và chất lượng đào tạo Dịên tích đất toàn trường 4,2 ha, có Nhà làm việc 6 tầng, các nhà học 4-6 tầng, hội trường 900 chỗ, nhà Thí nghiệm 10 tầng và một số phòng Thí nghiệm với các thiết bị hiện đại
Quy mô đào tạo của nhà trường ngày càng mở rộng với nhiều hệ: cao đẳng, đại học, sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ), tại chức, đào tạo ngắn hạn, cử tuyển, văn bằng
2, liên thông Các ngành đào tạo ngày càng được tăng dần lên theo hướng đa ngành
Từ 1983 đến nay, trước nhu cầu của đất nước, nhiều khoa, ngành, bộ môn mới được thành lập Đồng thời, nhà trường còn mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nhiều trường đại học, các viện nghiên cứu của các nước trên thế giới như: Pháp, Đức, Nga, Anh, Trung Quốc, Nhật,… và các tổ chức quốc tế khác Từ đó nhà trường có thể học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và tranh thủ được nguồn viện trợ từ bên ngoài để phát triển hoạt động giáo dục - đào tạo của mình
Đội ngũ giáo viên của nhà trường cũng không ngừng được phát triển, được nâng cao trình độ ở nhiều nước tiên tiến Đến nay (1/11/2011), nhà trường có 938 viên chức, trong đó cán bộ giảng dạy là 692 người là, cán bộ công tác tại các phòng, ban, khoa, viện là 246 người Cơ cấu đội ngũ giáo viên cơ hữu gồm 3 giáo sư, 61 phó giáo sư, 98 giảng viên chính và 530 giảng viên Về học vị có 2 tiến sĩ khoa học,
154 tiến sĩ, 390 thạc sĩ, 146 kỹ sư và cử nhân [41,tr 94]
Trải qua gần 50 năm đào tạo và phát triển, hiện nay Trường ĐHXDHN đã trở thành một trường đại học đa ngành, đa cấp, một trung tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ
Trang 371.2.1.2 Hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại nhà trường
Hoạt động giáo dục - đào tạo:
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, với sự nỗ lực cao của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong toàn Trường, hoạt động giáo dục - đào tạo của nhà trường không ngừng trưởng thành và đã đạt được nhiều thành tích đáng kể Trường
đã đào tạo ra đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng và có phẩm chất đạo đức tốt, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển chung của đất nước Những đóng góp của nhà trường đối với sự phát triển của nước nhà trong những năm qua đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận Trường đã vinh dự được nhận nhiều bằng khen, huân, huy chương cao quý vì sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Về quy mô đào tạo:
Quy mô đào tạo của nhà trường liên tục tăng lên trong những năm qua theo hướng đào tạo đa ngành, đa cấp, đa hệ
Do quy mô đào tạo của Trường ngày càng mở rộng nên số lượng sinh viên, học viên tăng lên liên tục Nếu ở giai đoạn mới hình thành (năm 1956 - 1971) quy
mô đào tạo của nhà trường chỉ vào khoảng 1.000 - 1.200 sinh viên Giai đoạn
2001-2006 quy mô đào tạo khoảng 12.000 sinh viên, tuyển sinh bình quân 2.400 sinh viên/năm Đến năm 2012 quy mô đào tạo của Trường là hơn 36.000 sinh viên Trong đó, hệ đại học chính quy là khoảng 19.000 sinh viên, vừa học vừa làm là hơn 12.000 sinh viên, sau đại học là hơn 3.000 người, hệ cử tuyển với hơn 600 sinh viên, hệ cao đẳng là hơn 200 sinh viên và đào tạo liên thông là trên 300 sinh viên
+ Xây dựng Cơ sở hạ tầng giao thông (Kỹ sư chất lượng cao);
+ Xây dựng Công trình Thủy (Kỹ sư chất lượng cao);
+ Kỹ thuật Đô thị (Kỹ sư chất lượng cao);
Trang 38+ Xây dựng Công trình;
+ Xây dựng Cảng - Đường thuỷ;
+ Xây dựng công trình thuỷ lợi;
+ Xây dựng Công trình biển - Dầu khí;
+ Xây dựng công trình ngoài khơi và ven bờ;
+ Vật liệu và cấu kiện xây dựng ;
+ Cấp thoát nước;
+ Hệ thống Kỹ thuật trong công trình;
+ Môi trường đô thị và khu công nghiệp;
+ Xây dựng công trình ven biển
Về phương thức đào tạo:
Những năm trước, Trường ĐHXDHN đào tạo theo phương thức truyền thống (theo niên chế) Song, để phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực trong giai đoạn mới của xã hội, đó là đào tạo nhằm mục đích taọ ra một đội ngũ người lao động có kiến thức rộng, trình độ chuyên môn vững vàng cũng như khả năng thích nghi tốt với thị trường lao động luôn biến động, nhà trường đã có sự đổi mới về mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo của các ngành trong Trường Cụ thể là việc modun hóa các kiến thức học tập theo đơn vị học trình và học phần Đây chính là cơ sở cho việc thiết kế lại mô hình đào tạo, loại bỏ việc tách riêng các ngành hẹp của năm thứ nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên thông giữa các ngành trong và ngoài trường Từ
Trang 39tháng 2/1995, dựa trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường bắt đầu áp dụng thí điểm phương thức đào tạo theo tín chỉ Với phương thức đào tạo mới này, sinh viên có thể tự chọn lựa chương trình học, môn học phù hợp với khả năng và điều kiện của mình Hình thức đào tạo này đã tạo nên những biến đổi mới
mẻ trong cách thức dạy và học của thầy và trò trong Trường Nó làm tăng tính chủ động và tự lập hơn cho cả người dạy và người học
Đặc biệt, hiện nay dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo (Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ trên phạm vi toàn quốc, được ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/8/2007 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo), hoạt động giáo dục - đào tạo theo hình thức tín chỉ của Trường ĐHXDHN ngày càng được kiện toàn và củng cố
Hoạt động nghiên cứu khoa học:
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và giảng dạy của mình, đội ngũ cán bộ, giảng viên trong Trường đã tích cực tham gia chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp: Nhà nước, bộ, ngành và Trường
Các đề tài nghiên cứu thường tập trung vào các vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội và mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn như: nghiên cứu về vật liệu xây dựng mới, xây dựng các dự án bảo vệ môi trường, xây dựng công trình ven biển,…
Từ năm 2006 - 2011, cán bộ, giảng viên của Trường đã thực hiện 538 đề tài cấp Trường, 89 đề tài cấp Bộ (trong đó có 14 đề tài trọng điểm) Đây là những đề tài mang tính ứng dụng cao, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khoa hoc công nghệ của đất nước.[41, tr.102]
Bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong Trường, hoạt động này cũng được đẩy mạnh và phát triển trong đội ngũ sinh viên Với tinh thần sáng tạo, ưa tìm tòi, khám phá, sinh viên trong Trường luôn hào hứng tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học Hàng năm có trên 100 đề tài nghiên cứu của sinh viên đăng ký và bảo vệ thành công
Trang 401.2.2 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
1.2.2.1 Chức năng và nhiệm vụ
Chức năng:
Thư viện Trường Đại học Xây dựng Hà Nội có chức năng thông tin - thư viê ̣n, phục vụ các công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và quản lý công nghệ của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
Thư viê ̣n có các nhiê ̣m vu ̣ sau:
- Tham mưu cho lãnh đạo về phương hướng tổ chức và hoạt động thông tin,
tư liệu, thư viện nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập trong Trường ĐHXDHN
- Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và chiến lược phát triển; tổ chức và điều phối
hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong Trường ĐHXDHN
- Thu thập, bổ sung - trao đổi, phân tích - xử lí tài liệu và tin Tổ chức sắp xếp, lưu trữ, bảo quản kho tư liệu Trường ĐHXDHN bao gồm tất cả các loại hình
ấn phẩm
- Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin; thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm kiếm thông tin tự động hoá; tổ chức cho toàn thể bạn đọc trong và ngoài trường khai thác, sử dụng thuận lợi và có hiệu quả kho tin và tài liệu của Thư viện và các nguồn tin bên ngoài
- Thu nhận lưu chiểu những xuất bản phẩm của ĐHXDHN và các nhà xuất bản, các đồ án sinh viên xuất sắc, luận án tiến sĩ, thạc sĩ bảo vệ tại Trường ĐHXDHN hoặc người viết là cán bộ, sinh viên Trường ĐHXDHN; Những báo cáo tổng kết của các đề tài nghiên cứu cấp trường, cấp bộ và cấp Nhà nước đã được nghiệm thu đánh giá do các đơn vị thuộc Trường ĐHXDHN chủ trì hoặc do cán
bộ Trường ĐHXDHN thực hiện Xây dựng các cơ sở dữ liệu đặc thù của Trường ĐHXDHN, xuất bản các ấn phẩm thông tin tóm tắt, thông tin chuyên đề phục vụ công tác quản lí, nghiên cứu khoa học và đào tạo