Trong bài viết này chúng tôi sẽ tập trung vào 3 nội dung chính: Tự học, tự bồi dưỡng và vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phát triển năng lực dạy học của GV trẻ; Những lí do vì sao GV trẻ phải tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực dạy học; Biện pháp nâng cao kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng cho GV trẻ để phát triển năng lực dạy học.
Trang 1Educational Sciences, 2020, Volume 65, Issue 4C, pp 22-30
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TRẺ Ở TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG QUA CON ĐƯỜNG TỰ HỌC, TỰ BỒI DƯỠNG
Phạm Thị Kim Anh
Trung tâm Nghiên cứu Giáo viên, Viện Nghiên cứu Sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt Để phát triển năng lực dạy học, có nhiều con đường, cách thức khác nhau, trong
đó, tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp giáo viên trẻ chủ động và nhanh chóng tiếp cận với những tri thức, kĩ năng mới để hoàn thiện và nâng cao năng lực của bản thân, đồng thời tránh được sự tụt hậu trước sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhờ
có tự học mà nhiều giáo viên trẻ đã thành công trong sự nghiệp Cho đến nay, đã có khá nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên Tuy nhiên, những nghiên cứu về tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên trẻ để phát triển năng lực dạy học thì chưa được quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ điều đó, bài viết này tập trung vào 3 nội dung chính: (1) Tự học, tự bồi dưỡng và vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phát
triển năng lực dạy học của giáo viên trẻ; (2) Những lí do vì sao giáo viên trẻ phải tự học, tự
bồi dưỡng để nâng cao năng lực dạy học; (3) Biện pháp nâng cao kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên trẻ để phát triển năng lực dạy học
Từ khóa: giáo viên trẻ, tự học, tự bồi dưỡng, năng lực dạy học, trung học phổ thông
1 Mở đầu
Tự học, tự bồi dưỡng là con đường phát triển nội sinh để hoàn thiện và phát triển năng lực bản thân Chỉ khi nào phát huy được nội lực tự học bên trong thì kết quả thu được mới vững chắc Năng lực dạy học (NLDH) của mỗi giáo viên (GV) cũng vậy, nó không bao giờ là cái tự đến, mà là phẩm chất bên trong của mỗi cá nhân thông qua quá trình học tập và rèn luyện Do
đó ngoài việc được đào tạo, bồi dưỡng, GV trẻ cần tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức, kĩ năng
và kinh nghiệm qua con đường tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao NLDH của mình
K.Đ.Usinxki từng nói: Người GV còn sống chừng nào họ còn học, khi họ ngừng việc học thì con người GV trong họ cũng chết liền [1] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Học
phải lấy tự học làm cốt” [2; tr.312] và “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời…” [3; tr.480]
Điều đó cho thấy việc tự học, tự bồi dưỡng có ý nghĩa sống còn đối với mỗi người nói chung và phát triển năng lực chuyên môn của người GV nói riêng
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế hiện nay chúng ta thấy rất rõ rằng, ý thức tự học, tự bồi dưỡng trong phát triển NLDH của đội ngũ GV nói chung, GV trẻ ở THPT nói riêng chưa cao GV chưa nhận thức được tự học là một trong những con đường để hoàn thiện và nâng cao năng lực nghề nghiệp cũng như NLDH của bản thân Chủ nghĩa kinh nghiệm và sự tự tin thái quá đã và đang
là lực cản không nhỏ đến việc tự học, tự bồi dưỡng của GV Một số GV trẻ tuy có ý thức tự học nhưng còn thiếu kĩ năng Động lực chính thúc đẩy họ phải tự học là để vượt qua kì thi vào biên chế hoặc để đạt chuẩn nghề nghiệp theo yêu cầu, chứ chưa xuất phát từ nhu cầu tự thân Trong Ngày nhận bài: 15/3/2020 Ngày sửa bài: 26/3/2020 Ngày nhận đăng: 7/4/2020
Tác giả liên hệ: Phạm Thị Kim Anh Địa chỉ e-mail: phamkimanh279@yahoo.com.vn
Trang 223
khi đó, năng lực nghề nghiệp cũng như NLDH của họ còn có nhiều hạn chế
Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung (2016) [4], Phạm Thị Kim Anh (2018) [5], Đào Thị Oanh (2010) [6] và nhiều tác giả khác ở trong nước đều chỉ ra rằng, đa số GV trẻ mới bước vào nghề gặp không ít khó khăn, thách thức cả trong dạy học (DH), giáo dục và quản lí học sinh (HS), bởi năng lực sư phạm của họ còn non yếu Theo Nguyễn Thị Kim Dung [4] và Phạm Thị Kim Anh: “Họ không chỉ non yếu về các kĩ năng: thiết kế giáo án, phân bố thời gian giảng dạy, diễn đạt, cách đặt câu hỏi, giáo dục HS cá biệt, quản lí lớp học, phối hợp với cha
mẹ HS và cộng đồng, xử lí các tình huống sư phạm, lập kế hoạch GD, thiết lập mối quan hệ với HS… mà còn rất thiếu kĩ năng mềm (thiếu nhất là kĩ năng giao tiếp, kĩ năng kiềm chế cơn nóng giận và kĩ năng giải tỏa cảm xúc tiêu cực)” [7; tr.17] Bởi vậy, họ cần phải tự học, tự bồi dưỡng trong thực tiễn để nâng cao NLDH của mình
Ngày nay nhà trường phổ thông hiện đại đòi hỏi GV phải trở thành GV chuyên nghiệp với
bốn vai trò căn bản: (1) nhà giáo dục chuyên nghiệp (tức là nhà sư phạm); (2) nhà nghiên cứu ứng dụng (tức là nhà nghiên cứu thực hành); nhà văn hoá (tức là nhà canh tân xã hội); và là (3) người học suốt đời (tức là chuyên gia về học [8; tr.19] Với 4 vai trò đó, nếu GV trẻ không biết
tự học, tự bồi dưỡng thì không thể đáp ứng được những yêu cầu mới trong vai trò của mình Xuất phát từ những điều đó, nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đi sâu nghiên cứu về vấn
đề tự học, tự nghiên cứu, tự đào tạo của GV Tiêu biểu là Patrice Pelpel (1998) [9]; N.A .Rubakkin (1982) [10]; Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ (1997, 2001) [11-12]; Nguyễn Trí (1998 [13]; Vũ Quốc Chung, Lê Hải yến (2003) [14]; Nguyễn Thị Thọ (2016) [15], Đào Thị Oanh (2017) [16] Đặc biệt, Kỉ yếu Hội thảo khoa học của Viện nghiên cứu giáo dục, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh với chủ đề ‘Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” (2013) [17] đã tập hợp được 75 bài viết của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề tự học, tự nghiên cứu của GV phổ thông Tuy nhiên, chưa có những bài viết chuyên sâu về phát triển NLDH cho đội ngũ GV trẻ ở THPT qua con đường tự học, tự bồi dưỡng Do đó, trong bài viết này chúng tôi sẽ tập trung vào 3 nội dung chính: (1) Tự học, tự bồi
dưỡng và vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phát triển NLDH của GV trẻ; (2) Những lí do vì sao
GV trẻ phải tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao NLDH; (3) Biện pháp nâng cao kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng cho GV trẻ để phát triển NLDH
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Tự học, tự bồi dưỡng và vai trò, ý nghĩa của nó trong việc phát triển năng lực dạy học của giáo viên trẻ
2.1.1 Tự học, tự bồi dưỡng
- Tự học: Nhà Tâm lí học N.A Rubakhin quan niệm rằng, tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa
là tự học [9] Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan và thế giới quan ( như trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [12; tr.621]
Đồng tình với quan niệm đó, Lê Khánh Bằng đã định nghĩa về tự học: Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học
nhất định [18]
Một số ý kiến khác cho rằng, tự học là loại hình đào tạo miễn phí, là hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân, là hoạt động ngoài các bức tường của nhà trường (không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy) và do cá nhân tự tiến hành, không có sự trợ giúp của người dạy Người học
Trang 3hoàn toàn tự do lựa chọn môn học, phương pháp học cũng như nguồn tài liệu cho bản thân Như vậy, đặc trưng cơ bản của tự học là tính độc lập của cá nhân rất cao, động cơ học tập mang tính
“nội sinh”, phương pháp và hình thức học tập đa dạng
Tự học của mỗi GV bao gồm các hình thức: Đọc sách, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc DH; nghiên cứu khoa học theo một vấn đề xác định; tham gia vào các hoạt động chuyên môn của tổ/nhóm trong nhà trường; dự giờ để học tập kinh nghiệm của đồng nghiệp; quan sát và tìm hiểu thực tiễn để có thêm kinh nghiệm, kĩ năng giảng dạy
Về phương pháp tự học, N.A Rubakhin chỉ ra rằng: Hãy mạnh dạn tự đặt câu hỏi rồi tự tìm lấy câu trả lời , đó là phương pháp tự học [9] Ông còn nhấn mạnh: Tự học không chỉ là xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết so sánh cái khoa học với cái không khoa học Không nên sợ bất đồng với ý kiến người khác, không nghiên cứu cái chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang tranh luận, những vấn đề tất yếu của thời đại để mở rộng
tầm nhìn cho bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường khuyên cán bộ:“Học cốt thiết thực, chu đáo, hơn tham nhiều”; “Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học và hành phải kết hợp với nhau” [19, tr131];“Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng… Đối với bất kì vấn đề gì, đều phải đặt câu hỏi: Vì sao?, đều phải suy nghĩ kĩ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lí không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều” [20, tr164] Người còn căn dặn, ngoài việc
học ở trường, ở sách vở, cần học ở ngoài đời, ở cuộc sống, ở mọi người và học lẫn nhau
Điểm yếu của việc tự học là thiếu sự chỉ đạo, dẫn dắt, thiếu thông tin phản hồi cũng như tính hệ thống trong quá trình tự học
Tóm lại: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức hay kĩ năng ở một lĩnh vực chuyên môn nào đó bằng hành động và phương tiện của chính mình lựa chọn, nhằm đạt được mục đích đề ra Trong tự học, người học có thể học thường xuyên, học suốt đời và học mọi lúc, mọi nơi
-Tự bồi dưỡng: theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm nâng cao năng lực, trình độ nghề nghiệp” [tr.36]
Thực chất của việc bồi dưỡng là làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao động từ việc bồi đắp kiến thức thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới để mở mang những tri thức, kĩ năng, nghiệp vụ
Từ khái niệm này, chúng tôi quan niệm: Tự bồi dưỡng là việc GV độc lập, tự giác cập nhật,
bổ sung thêm những kiến thức, kĩ năng mới để nâng cao, hoàn thiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và thái độ nghề nghiệp nhằm thực hiện tốt những yêu cầu mới của việc DH trong nhà trường Như vậy, quan niệm về “Tự học” ở đây cũng đồng nghĩa với “Tự bồi dưỡng”
2.1.2.Vai trò, ý nghĩa của việc tự học, tự bồi dưỡng trong việc phát triển NLDH của GV trẻ
- Tự học, tự bồi dưỡng là một đòi hỏi, một yêu cầu tất yếu, khách quan đối với mỗi GV từ lúc vào nghề cho đến lúc nghỉ hưu Tự học, tự bồi dưỡng không chỉ giúp GV trẻ củng cố, nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo về DH mà còn giúp họ hiểu sâu và mở rộng vốn kiến thức về phương pháp DH, tránh được sự lạc hậu trước sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại CM 4.0
- Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất để giúp GV trẻ khắc phục nghịch lí: kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phương pháp dạy học thì vô hạn mà thời gian học tập tại trường sư phạm cũng như các khóa bồi dưỡng GV lại có hạn
- Tự học, tự bồi dưỡng là chìa khóa để nâng cao chất lượng người thày, giúp GV trẻ phát triển chuyên môn liên tục, thúc đẩy sự thành công của mỗi GV, tiến tới đạt chuẩn GV ở các mức độ cao, có đủ phẩm chất và NLDH đáp ứng với những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển GD
Trang 425
- Sự thành công trong tự học, tự bồi dưỡng của GV trẻ còn là tấm gương có sức lan tỏa mạnh mẽ đến việc học tập của HS, đến sự phát triển của cộng đồng sư phạm và sự phát triển của nhà trường, xã hội
2.2 Vì sao GV trẻ phải tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao NLDH
- Thứ nhất, trong quá trình đào tạo sư phạm, các cơ sở đào tạo giáo viên (ĐTGV) mới chỉ
trang bị và cung cấp cho sinh viên (SV) những kiến thức, kĩ năng nền tảng, thiết yếu ban đầu để làm nghề DH theo chuẩn đầu ra Sau khi tốt nghiệp đại học, bước vào thế giới công việc đa dạng và đầy phức tạp ở trường phổ thông, GV trẻ chưa đủ tự tin để bắt tay ngay vào công việc thực sự của một nhà giáo cũng như vượt qua các khó khăn, thách thức, mà họ phải đối mặt trong thực tiễn Các nghiên cứu về GV trẻ của Nguyễn Thị Kim Dung [4], Phạm Thị Kim Anh [5],
đặc biệt là nghiên cứu của cộng đồng châu Âu trong dự án The Consortium Generational Change in the Teaching Profession [21] đã chỉ rõ: những GV trẻ mới vào nghề ở các trường học
thường gặp nhiều khó khăn liên quan đến: (1) khả năng thích ứng với môi trường thực tiễn ở các trường học (sự không đầy đủ của trang thiết bị DH, việc quản lí và tổ chức công việc trong trường học, quản lí hành chính trong nhà trường,…); (2) thiếu hiểu biết về HS và khả năng xử lí các tình huống bất thường của HS; (3) vấn đề liên quan đến kĩ năng sư phạm (như cách thức thúc đẩy động lực học tập của HS, khả năng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ không đủ đáp ứng yêu cầu của bài giảng, thiếu phương pháp luận, thiếu tự tin trong giải quyết các vấn đề sư phạm,
kĩ năng quản lí kỉ luật HS, cách thức đánh giá các kết quả đầu ra và hoạt động của HS,…); (4) mối quan hệ với phụ huynh HS; và (5) trong mối quan hệ với các GV khác trong trường Do đó,
để DH được tốt và đạt chuẩn nghề nghiệp GV thì họ cần phải có quá trình rèn luyện, phấn đấu trong một thời gian dài nhất định Vì thế, GV trẻ cần phải tiếp tục rèn luyện, tự học và tự bồi
dưỡng trong môi trường phổ thông mới có thể đáp ứng với việc giảng dạy
- Thứ hai, thực tiễn quá trình DH ở trường phổ thông đòi hỏi nội dung và phương pháp
luôn phải đổi mới không ngừng để đáp ứng với yêu cầu của xã hội và thời đại Chính sự đổi mới
đó buộc GV phải tự học để theo kịp và làm chủ nội dung và phương pháp DH
- Thứ ba, đối tượng HS ngày nay phát triển về mọi mặt, nhanh nhạy với cái mới, đặc biệt là
cách tiếp cận thông tin Điều đó đặt ra cho GV những yêu cầu ngày càng mới Nếu GV không biết tự học để cập nhật và nâng cao kiến thức sẽ nhanh chóng tụt hậu và không thể có những kiến thức sâu rộng, uyên thâm để dạy học trò
- Thứ tư, công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam, đặc biệt là việc đổi mới
chương trình, sách giáo khoa (CT-SGK) sau 2020 đang đặt ra nhiều thách thức đối với đội ngũ
GV trẻ mới vào nghề Làm thế nào để họ có đủ NLDH theo chương trình mới với định hướng chuyển từ truyền thụ nội dung kiến thức sang phát triển năng lực HS, đồng thời biết DH tích hợp, phân hóa, DH trải nghiệm… đang là một bài toán cần giải quyết đối với mọi GV Nếu GV trẻ không biết tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao NLDH thi khó có thể thực hiện được những yêu cầu đổi mới
- Thứ năm, trong chương trình GD phổ thông mới, “tự chủ và tự học” là một trong những
năng lực cơ bản, cốt lõi cần hình thành và phát triển cho HS Điều này đòi hỏi GV phải có kĩ năng về tự học để từ đó rèn luyện cho HS năng lực tự học và học suốt đời Qua đó, thực hiện tốt mục tiêu của đổi mới GD là phát huy tối đa khả năng tự học của HS, giúp HS tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức Vì vậy, với vai trò tổ chức, hướng dẫn quá trình DH thì GV phải là tấm gương tự học, thành thạo trong các kĩ năng tự học
- Thứ sáu, hiện nay Chương trình và quy chế bồi dưỡng thường xuyên GV đang được xây
dựng theo định hướng phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng của GV Muốn thực hiện được điều này, mọi GV phải có kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng
- Thứ bảy, trong bối cảnh khoa học, kĩ thuật phát triển nhanh chóng, khối lượng kiến
Trang 5thức không ngừng tăng lên theo cấp số nhân, đặc biệt là cuộc CM 4.0 với công nghệ mang tính đột phá như: trí tuệ nhân tạo, Intrernet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu nhanh…đã tác động mạnh mẽ và làm thay đổi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và GD Nếu GV trẻ không biết tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao NLDH của mình thì rất dễ bị đào thải trong một xã hội hiện đại
Với tất cả lí do đó, GV trẻ phải tự trang bị cho mình kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng suốt đời để nâng cao NLDH
2.3 Biện pháp nâng cao kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên trẻ để phát triển năng lực dạy học
2.3.1 Nâng cao ý thức, trách nhiệm cho giáo viên trẻ trong tự học, tự bồi dưỡng để phát triển năng lực dạy học
Mục tiêu của biện pháp này nhằm làm cho GV trẻ có nhận thức đầy đủ về ý thức, trách nhiệm trong việc tự học, tự bồi dưỡng, từ đó có mục tiêu, động cơ học tập đúng đắn và hình thành thói quen, niềm đam mê học tập suốt đời để không ngừng nâng cao các NLDH
Chỉ khi có nhận thức đúng, GV trẻ mới trở thành chủ thể thực sự của việc học, tự giác, chủ động lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới trong thực tiễn dạy học ở nhà trường
Muốn thực hiện được biện pháp này, các cấp quản lí cần làm cho mọi GV trẻ hiểu rõ và
thấm nhuần quan điểm: “Một nghề đặt trong bối cảnh học suốt đời” để họ không ngừng nâng
cao trình độ và năng lực nghề nghiệp; phải làm cho họ thấy rõ vai trò, ý nghĩa của việc tự học,
tự bồi dưỡng trong phát triển năng lực chuyên môn; bản chất của việc tự học, tự bồi dưỡng; các hình thức, con đường và phương pháp tự học, tự bồi dưỡng Ngoài ra, cần đẩy mạnh tuyên truyền, động viên, khuyến khích GV tự học, tự bồi dưỡng bằng cơ chế, chính sách quản lí phù hợp như: đánh giá, xếp loại, đề bạt, khen thưởng, nêu gương, phê bình để GV trẻ tự tin vào bản thân mình, có hứng thú và động lực tích cực phấn đấu Bên cạnh đó, cần tạo ra những tình huống, động lực chính để thúc đẩy nhu cầu, ý thức tự học cho GV trẻ (VD: cho GV tự đánh giá
để thấy rõ khoảng trống trong vốn kiến thức, kĩ năng của mình; đưa ra một số tình huống thực
tế và yêu cầu GV trẻ phải giải quyết nhiệm vụ mà bản thân chưa thực hiện bao giờ, hoặc đề nghị
GV trẻ phải đưa ra quan điểm của mình về một nội dung, phương pháp DH đang có nhiều ý kiến khác nhau; hay chỉ ra những thiếu hụt, kém hiểu biết về một vấn đề nào đó của GV trẻ ) Đây chính là một trong những biện pháp rất hữu hiệu để nâng cao ý thức, trách nhiệm của GV trẻ trong việc tự học, tự bồi dưỡng
Trong một số trường hợp cần thiết, phải có những yêu cầu riêng hoặc có qui định rõ ràng về việc tự học, tự bồi dưỡng để buộc GV có ý thức về việc tự học của mình Khơi dậy ý thức, trách nhiệm nghề nghiệp, danh dự cá nhân, danh dự tập thể để GV trẻ cố gắng
tự học
2.3.2 Trang bị và rèn luyện những kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên trẻ
Muốn tự học, tự bồi dưỡng đạt hiệu quả, phải có kĩ năng về tự học Kĩ năng tự học chính là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm liên quan đến hoạt động đó Các nhà nghiên cứu đã phân chia những
kĩ năng tự học theo nhiều cách khác nhau Theo Nguyễn Quang Uẩn- Trần Quốc Thành (1992) [22], kĩ năng tự học được phân chia làm 4 nhóm, đó là: kĩ năng định hướng; kĩ năng thiết kế (lập
kế hoạch); kĩ năng thực hiện kế hoạch và kĩ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất nghề nghiệp và yêu cầu của thực tiễn, chúng tôi xác định những kĩ năng cơ bản sau đây cần trang bị cho GV trẻ để họ tự học suốt đời:
- Kĩ năng lập kế hoạch tự học (xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian và các công việc cần thực hiện );
- Kĩ năng xác định, lựa chọn những vấn đề cần học;
Trang 627
- Kĩ năng thu thập, xử lí và khai thác các nguồn tài liệu tham khảo từ các kênh khác nhau
(sách, tạp chí, video, tivi, Internet );
- Kĩ năng đọc, ghi chép, quan sát, phân tích các hoạt động giảng dạy của GV qua các tiết dự giờ để học tập và rút kinh nghiệm;
- Kĩ năng đặt câu hỏi, phân tích, tổng hợp, vận dụng kiến thức đã học vào công việc của mình;
- Kĩ năng giao tiếp (lắng nghe và phản hồi tích cực) với chuyên gia và đồng nghiệp;
-Kĩ năng chia sẻ thông tin với đồng nghiệp qua sinh hoạt chuyên môn hay qua Facbook, mạng xã hội
- Kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm và khai thác mạng Internet;
- Kĩ năng nghiên cứu, tìm tòi khoa học;
- Kĩ năng đánh giá kết quả tự học và rút kinh nghiệm
Mục tiêu của biện pháp này chính là để nâng cao chất lượng và hiệu quả việc tự học, tự bồi dưỡng của GV
Muốn thực hiện được biện pháp này, cần tiến hành các công việc sau:
-Thứ nhất, tổ chức các hội thảo trao đổi về phương pháp tự học, tự bồi dưỡng hoặc
khóa bồi dưỡng chuyên sâu về kĩ năng tự học cho GV trẻ do các chuyên gia trực tiếp giảng dạy.Các khóa bồi dưỡng này có thể nằm trong nội dung, kế hoạch bồi dưỡng GV thường xuyên trong hè, có thể do nhà trường tổ chức trong các buổi sinh hoạt chuyên môn chung của nhà trường
-Thứ hai, cung cấp các tài liệu hướng dẫn GV trẻ về kĩ năng tự học, tự bồi dưỡng để
GV tham khảo
-Thứ ba, đưa ra một số vấn đề, nội dung mới cần cập nhật, yêu cầu GV trẻ tự học và
viết báo cáo thu hoạch về vấn đề đó
-Thứ tư, xây dựng môi trường học tập và bầu không khí học thuật dân chủ trong nhà trường
để rèn kĩ năng tự học cho GV trẻ như: tăng cường sinh hoạt chuyên môn qua dự giờ, nghiên cứu bài học; đẩy mạnh phong trào nghiên cứu khoa học, hướng dẫn HS nghiên cứu khoa học; tổ chức tọa đàm, chia sẻ thông tin và học thuật với tinh thần dân chủ mang tính phản biện và tranh luận Ở đó, vai trò của GV trẻ là những người học tích cực, đồng thời là những người hợp tác, đồng thiết kế và là những người thực hiện, triển khai các ý tưởng mới vào trong thực tế lớp học Như vậy, GV trẻ được tham gia vào một cộng đồng học tập chuyên nghiệp, từ đó rèn được các kĩ năng học tập cần thiết
- Thứ năm, đầu tư cơ sở vật chất như: trang bị cho thư viện/ tủ sách các loại sách tham
khảo, tạp chí chuyên ngành, các băng hình; xây dựng hệ thống tài liệu mở, đa dạng và phong phú để GV dễ dàng truy cập, tự học mọi lúc, mọi nơi và trong mọi thời điểm
- Cuối cùng, đổi mới công tác quản lí chuyên môn trong nhà trường phổ thông (giảm tối đa
hồ sơ, sổ sách, những công việc hành chính và số giờ lên lớp) để tạo điều kiện về thời gian cho
GV trẻ tự học, tự bồi dưỡng
Với những cách làm thiết thực đó, GV trẻ sẽ có kĩ năng để tự học
2.3.3 Phát huy tính tự chủ, tự giác, tự lực; tính kỉ luật; sự kiên trì và say mê trong tự học,
tự bồi dưỡng ở giáo viên trẻ
Đây là những yếu tố rất quan trọng và cần thiết dẫn đến sự thành công của việc tự học Bởi nếu không có tính tự chủ, tự giác, đặc biệt là sự ham muốn và ngọn lửa đam mê, thì việc học chỉ
là sự cưỡng ép, giống như người thợ rèn đập búa trên sắt nguội mà thôi Do đó, ngoài việc trang
bị những kĩ năng tự học, GV trẻ cần phát huy những đức tính và phẩm chất tốt đẹp đó
Mục tiêu của biện pháp này nhằm giúp GV trẻ vượt qua những khó khăn, trở ngại trong tự học, tự bồi dưỡng để đi tới thành công
Trang 7Muốn vậy, GV trẻ cần:
-Tự chủ, tự giác trong việc học của mình Luôn chủ động đối phó với những trở ngại hay thất bại, biết điều chỉnh, thay đổi việc học cho phù hợp với điều kiện cụ thể
-Tự lực giải quyết vấn đề học tập một cách độc lập, tự mình đào sâu suy nghĩ, không ỉ lại, trông đợi ở sự giúp đỡ của người khác
- Đặt ra kế hoạch học tập và cố gắng thực hiện một cách tốt nhất để rèn tính kỉ luật Mọi hoạt động học tập phải tuân thủ đúng thời gian và tiến độ, không trì hoãn việc học khi gặp khó khăn -Kiên trì theo đuổi mục đích học tập đến cùng Việc học luôn tốn nhiều công sức và thời gian, đôi khi rất mệt mỏi và thất bại, nhưng hãy luôn tin tưởng vào sự cố gắng của mình, bởi ‘Có công mài sắt, có ngày nên kim” Đặc biệt, phải biết chiến thắng và vượt qua những cảm giác yếu kém, tự ti, thất bại để tiếp tục học tập
- Để có động lực học tập mạnh mẽ và duy trì việc học tập dài lâu, không thể thiếu sự say
mê Chính sự say mê tạo nên cảm xúc tích cực trong học tập Nhiều tấm gương về sự say mê trong
tự học như: Khổng Tử, Lê Hữu Trác, Hồ Chí Minh, Nguyễn cảnh Toàn đã tạo nên sự thành công trong cuộc đời và sự nghiệp Do đó, mỗi GV trẻ cần có sự say mê trong học tập để vươn lên khẳng định mình
3 Kết luận
Nhà giáo dục nổi tiếng M.I.Calinin đã từng nhắn nhủ các GV rằng, nếu GV không chịu bồi
bổ tri thức, năng lực và nghị lực của mình thì cuối cùng các bạn sẽ không còn cái gì cả [23] Tác giả Đinh Quang Báo - Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội cũng khẳng định: Một giáo viên để không bị tụt hậu và phát triển thì tất yếu phải tự học, tự bồi dưỡng kiến thức và nâng cấp bản thân mình thường xuyên, liên tục [24] Điều đó cho thấy vai trò của tự học, tự bồi dưỡng có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển NLDH của bản thân Nếu GV trẻ biết phát huy được tinh thần tự học, tự bồi dưỡng thì chuyên môn cũng như NLDH sẽ ngày càng vững chắc và tiến
bộ không ngừng Muốn vậy, GV phải có niềm đam mê trong học tập và trang bị cho mình những kĩ năng tự học Với bài viết này, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp thêm cho GV trẻ những kinh nghiệm và kĩ năng trong tự học, tự nghiên cứu để phát triển NLDH của mình
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi đề tài khoa học & công nghệ cấp trường: “Nghiên
cứu phát triển năng lực dạy học cho giáo viên trẻ ở trường trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” Mã số: SPHN 19-04 VNCSP do TS Phạm Thị Kim Anh làm chủ nhiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Minh Hạc, 1995 Tâm lí học Nxb Giáo dục
[2] Hồ Chí Minh, 2011 Toàn tập, tập 5 Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr.312
[3] Hồ Chí Minh, 1995 Toàn tập Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tập 7, tr480
[4] Nguyễn Thị Kim Dung, 2016 Thực trạng năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trẻ trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông Báo cáo Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển
đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”, tr 448
[5] Phạm Thị Kim Anh, 2018 Năng lực giáo viên trẻ mới vào nghề và việc hỗ trợ nghề nghiệp
cho giáo viên trẻ ở trường trung học phổ thông hiện nay Tạp chí Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Volume 63, Issue 2A, 2018, Tr.270-2766
Trang 829
[6] Đào Thị Oanh, 2010 Nhu cầu của giáo viên trẻ đối với nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, Kỉ yếu hội thảo khoa học: Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên
các trường Đại học sư phạm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tháng 1/2010
[7] Phạm Thị Kim Anh, 2011 Đổi mới rèn luyện nghiệp vụ sư phạm- một giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo giáo viên Tạp chí giáo dục số 9/2011, tr 17- 19
[8] Nguyễn Thị Kim Dung (chủ biên), 2015 Đào tạo nghiệp vụ sư phạm theo định hướng hình thành năng lực nghề cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm Nxb Đại học Sư
phạm, Hà Nội
[9] Patrice Pelpel (Pháp), 1998 Tự đào tạo để dạy học - Nguyễn Kỳ dịch Nxb Giáo dục,
Hà Nội
[10] N.A Rubakhin, 1982 Tự học như thế nào Nxb Thanh niên, Hà Nội
[11] Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ, 1997 Nghiên cứu và phát triển tự học - tự đào tạo, Sách
tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược của giáo dục Việt Nam Nxb Giáo dục, Hà Nội
[12] Nguyễn Cảnh Toàn, 2002 Tuyển tập các tác phẩm: Tự giáo dục, tự nghiên cứu, tự học
Trung tâm Văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây
[13] Nguyễn Trí, 1998 Người giáo viên với vấn đề tự học Sách tự học, tự đào tạo – Tư tưởng
phát triển giáo dục Việt Nam, trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học Nxb Giáo dục,
Hà Nội
[14] Vũ Quốc Chung - Lê Hải Yến, 2003 Để tự học đạt hiệu quả Nxb Đại học sư phạm,
Hà Nội
[15] Nguyễn Thị Thọ, 2016 Tự học, tự nghiên cứu - Yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ giáo viên phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, Kỉ yếu Hội thảo khoa học
quốc tế “Phát triển đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thống” Nxb Đại học Sư phạm, tr 602-606
[16] Đào Thị Oanh, Trịnh Phương Anh, 2017 Thực trạng tự học của sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội Tạp chí Tạp chí Khoa học –Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Volume
62, ISSue 1A, 2017, tr161
[17] Kỉ yếu Hội thảo khoa học, 2013 Nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho GV phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, Viện nghiên cứu giáo dục, Trường Đại học Sư
phạm TP.Hồ Chí Minh
[18] Lê Khánh Bằng, 1998 Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội Nxb Giáo dục, Hà Nội
[19] Hồ Chí Minh, 1995 Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, 1995, tập 11, tr.131
[20] Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục Nxb Giáo dục 1990, tr.164
[21] The Generational Change in the Teaching Profession Consortium (2AgePro Consortium),
2009 Methods and practises utilized to support teachers’ professional development: Current state description (2009), http://www.2agepro.psy.lmu.de/download/teachers _prof_devel.pdf truy cập ngày 22/8/2017
[22] Nguyễn Quang Uẩn-Trần Quốc Thành, 1992 Vấn đề kĩ năng và kĩ năng học tập Nxb Đại
học sư phạm, Hà Nội
[23] I.A-I Li na, 1973 Giáo dục học Nxb Giáo dục
[24] Tự bồi dưỡng: Chìa khóa nâng chất của người thầy, http://etep.moet.gov.vn/tintuc
/chitiet?Id=168 25/12/2017
Trang 9ABSTRACT Develop the teaching competencies for beginning teachers in high school
through the path of self-study, self-training
Pham Thi Kim Anh
Centre for Teacher Research, Institute for Education Research
Hanoi National University of Education
Among many manners to develop teaching competencies, the study, and self-training are the best ways to help beginning teachers to be proactive and quickly access new knowledge and skills to improve their own abilities, as well as avoid the lagging behind the development of science and technology Thanks to self-study, many beginning teachers have succeeded in their careers So far, there have been many domestic and foreign authors studying the issue of study and training of teachers However, studies on study and self-training of beginning teachers to develop teaching competencies have not been paid attention to research Originating from that point, this article focuses on three main contents: (1) The concept of self-study, self-training and their role and significance in developing teaching competencies for beginning teachers; (2) The reasons for beginning teachers to study, self-foster to improve teaching competencies; (3) Measures to improve self-study, self-self-fostering skills for beginning teachers to develop teaching competencies
Keywords: beginning teachers, self-study, self-training, teaching competencies, high school