Nhóm 3: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận; WHO-Nhóm 4: Thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công bố; Nhó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN TUẤN LONG
PHÂN TÍCH VIỆC THỰC HIỆN KẾT QUẢ ĐẤU THẦU MUA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN QUÂN DÂN Y MIỀN ĐÔNG - QUÂN KHU 7 NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
PHÂN TÍCH VIỆC THỰC HIỆN
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN DÂN Y MIỀN ĐÔNG - QUÂN KHU 7 NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Chuyên ngành : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
Mã số : CK 62 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong các
công trình khác
Hà Nội, ngày…… tháng…… năm 2020
Nguyễn Tuấn Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà, người thầy đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược – Trường Đại học Dược
Hà Nội đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin cảm ơn tới Lãnh đạo Bệnh viện, các đồng nghiệp Khoa Dược Bệnh viện Quân dân Y Miền Đông đã động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên để tôi yên tâm học tập và hoàn thành đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Học viên
Nguyễn Tuấn Long
Trang 5
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1.MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ ĐẤU THẦU THUỐC 3
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu 3
1.1.2 Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu 3
1.1.3 Phân chia gói thầu, nhóm thuốc 3
1.1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 7
1.1.5 Các phương thức đấu thầu 8
1.1.6 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc 8
1.1.7 Quy trình đấu thầu mua thuốc 10
1.2.THỰC TRẠNG VỀ ĐẤU THẦU MUA THUỐC 12
1.2.1 Thực trạng đấu thầu thuốc trên thế giới 12
1.2.2 Thực trạng đấu thầu và sư dụng thuốc tại Việt Nam 13
1.3.MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN QUÂN DÂN Y MIỀN ĐÔNG 21
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu 21
1.3.2 Về khoa Dược Bệnh viện Quân dân Y Miền Đông 23
1.3.3 Những tồn tại trong công tác đấu thầu thuốc tại bệnh viên và tính cấp thiết của đề tài 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1.ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 62.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Biến số nghiên cứu 28
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.2.4 Mẫu nghiên cứu 34
2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 34
2.2.6 Đạo đức nghiên cứu 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1.SO SÁNH CƠ CẤU THUỐC TRÚNG THẦU VỚI CƠ CẤU THUỐC SỬ DỤNG THEO KẾT QUẢ TRÚNG THẦU NĂM 2018 CỦA BỆNH VIỆN QUÂN DÂN YMIỀN ĐÔNG – QUÂN KHU 7 37
3.1.1 Cơ cấu thuốc trúng thầu được sử dụng và không được sử dụng 37
3.1.2 So sánh cơ cấu thuốc sử dụng so với thuốc trúng thầu theo nguồn gốc xuất xứ 37
3.1.3 So sánh thuốc sử dụng so với thuốc trúng thầu theo gói thầu 38
3.1.4 Cơ cấu thuốc trúng thầu không được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 46
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc theo tỉ lệ sử dụng so với trúng thầu 47
3.1.6 Cơ cấu thuốc có tỷ lệ sử dụng so với kế hoạch dưới 80% 48
3.1.7 Cơ cấu thuốc có tỷ lệ sử dụng so với kế hoạch trên 120% 51
3.2.PHÂN TÍCH NHỮNG TỒN TẠI BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN KẾT QUẢ TRÚNG THẦU TẠI BỆNH VIỆN QUÂN DÂN YMIỀN ĐÔNG –QUÂN KHU 7 56
3.2.1 Phân tích những nguyên nhân thuốc trúng thầu không được sử dụng 56
3.2.2 Phân tích nguyên nhân thuốc trúng thầu được sử dụng dưới 80% 60
3.2.3 Phân tích nguyên nhân thuốc trúng thầu được sử dụng trên 120% 62 3.2.4 Cơ cấu thuốc mua bổ sung không có trong thầu chính 63
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 65
Trang 74.1.VỀ CƠ CẤU THUỐC TRÚNG THẦU VỚI CƠ CẤU THUỐC SỬ DỤNG THEO KẾT QUẢ TRÚNG THẦU NĂM 2018 CỦA BỆNH VIỆN QUÂN DÂN Y MIỀN ĐÔNG –QUÂN
KHU 7 66
4.1.1 Về thuốc trúng thầu được sử dụng và không được sử dụng 66
4.1.2 Về thuốc trúng thầu được sử dụng theo gói thầu 66
4.1.3 Về thuốc trong nước, nhập khẩu trúng thầu và được sử dụng 67
4.1.4 Về thuốc trúng thầu và sử dụng theo phân nhóm tiêu chí kỹ thuật 69
4.1.5 Về cơ cấu thuốc generic trúng thầu được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 70
4.1.6 Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh trong danh mục thuốc generic trúng thầu và sử dụng 72
4.1.7 Cơ cấu nhóm thuốc tim mạch trong danh mục thuốc generic trúng thầu và sử dụng 73
4.2.VỀ NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU THUỐC TẠI BỆNH VIỆN QUÂN DÂN Y MIỀN ĐÔNG NĂM 2018 73
4.2.1 Về sử dụng kết quả đấu thầu với tỷ lệ dưới 80% 74
4.2.2 Về thực hiện kết quả đấu thầu với tỷ lệ trên 120% 76
4.2.3 Nguyên nhân nhận định 77
4.3.ĐIỂM MẠNH VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 80
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 82
1.KẾT LUẬN 82
1.1 Về cơ cấu thuốc trúng thầu với cơ cấu thuốc sử dụng theo kết quả trúng thầu năm 2018 của bệnh viện Quân dân Y Miền Đông – Quân khu 7 năm 2018 82
1.2 Kết luận về phân tích những tồn tại trong công tác đấu thuốc 83
2.KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Các hình thức lựa chọn nhà thầu [6] 7
Bảng 1.2 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc [6] 8
Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng thuốc trong DMT trúng thầu tại một số BV 17
Bảng 1.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông năm 2018 22
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu của mục tiêu 1 28
Bảng 2.6 Các biến số nghiên cứu của mục tiêu 2 30
Bảng 2.7 Các chỉ số sử dụng trong nghiên cứu 35
Bảng 3.8 Tỷ lệ thuốc trúng thầu được sử dụng và không được sử dụng 37
Bảng 3.9 So sánh thuốc được sử dụng so với thuốc trúng thầu theo xuất xứ 38
Bảng 3.10 So sánh cơ cấu thuốc được sử dụng so với trúng thầu theo gói thầu 38 Bảng 3.11 So sánh thuốc generic được sử dụng so với thuốc trúng thầu theo phân nhóm TCKT 39
Bảng 3.12 So sánh cơ cấu thuốc generic được trúng thầu so với sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 40
Bảng 3.13 So sánh cơ cấu nhóm kháng sinh trong danh mục thuốc generic trúng thầu và sử dụng 44
Bảng 3.14 Giá trị và tỷ lệ các nhóm thuốc tim mạch trong danh mục thuốc generic trúng thầu và sử dụng 45
Bảng 3.15 Cơ cấu nhóm thuốc trúng thầu không được sử dụng 46
Bảng 3.16 Cơ cấu DMT theo tỉ lệ sử dụng so với trúng thầu 48
Bảng 3.17 Cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện < 80% theo gói thầu 49
Bảng 3.18 Cơ cấu thuốc generic có tỷ lệ sử dụng so với kế hoạch dưới 80% theo nguồn gốc xuất xứ 49
Bảng 3.19 Cơ cấu các thuốc generic có tỷ lệ sử dụng so với kế hoạch dưới 80% theo gói thầu 50
Bảng 3.20 Cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện <10% theo gói thầu 51
Bảng 3.21 Cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện > 120% theo gói thầu 52
Trang 10Bảng 3.22 Cơ cấu thuốc generic có tỷ lệ thực hiện >120% theo nguồn gốc xuất
xứ 52 Bảng 3.23 So sánh về SKM phân nhóm các thuốc generic sử dụng theo tỷ lệ > 120% 53 Bảng 3.24 So sánh về SKM và giá trị thuốc theo gói thầu được sử dụng theo tỷ
lệ >200% 54 Bảng 3.25 Cơ cấu các nhóm thuốc có tỷ lệ sử dụng > 200% 54 Bảng 3.26 Nguyên nhân thuốc generic trúng thầu không được sử dụng 56 Bảng 3.27 Nguyên nhân thuốc trúng thầu chưa được sử dụng do bệnh viện 57 Bảng 3.28 Các nguyên nhân thuốc trúng thầu chưa được sử dụng thuộc về phía nhà thầu 58 Bảng 3.29 Các nguyên nhân thuốc trúng thầu chưa được sử dụng do vướng các văn bản quy định 59 Bảng 3.30 Nguyên nhân thuốc generic trúng thầu được sử dụng dưới 80% 60 Bảng 3.31 Nhóm các nguyên nhân thuốc trúng thầu sử dụng dưới 80% từ phía bệnh viện 60 Bảng 3.32 Nhóm nguyên nhân từ nhà thầu dẫn đến thuốc sử dụng dưới 80% 61 Bảng 3.33 Nhóm các nguyên nhân thuốc sử dụng dưới 80% do vướng các văn bản quy định 62 Bảng 3.34 Nguyên nhân thuốc Generic trúng thầu được sử dụng vượt 120% 63 Bảng 3.35 Giá trị và tỷ lệ sử dụng của thuốc mua sắm bổ sung không có trong thầu chính 63
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Trình tự các bước thực hiện đấu thầu theo TT 11/2016/TT-BYT [6] 11 Hình 2.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 27
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thị trường thuốc của Việt Nam vài năm trở lại đây rất nhộn nhịp, điển hình
đã có hơn 1064 loại thuốc tân dược riêng trong phạm vi thanh toán bảo hiểm y
tế được ban hành và 229 thành phẩm, 359 vị thuốc trong danh mục thuốc y học
cổ truyền So với các nước khác trong khu vực thì số lượng này cao hơn hẳn (ví
dụ Thái Lan chỉ có 878 loại tân dược, thuốc thiết yếu của WHO là 454 loại tân dược) Như vậy, người dân Việt Nam đang được tạo điều kiện rất thuận lợi tiếp cận với phạm vi thuốc rộng hơn so với nhiều nơi khác Thách thức là làm sao để thuốc đến được người dân có chất lượng mà giá cả phải phù hợp với đại đa số có thu thập chưa cao Đó chính là lý do mà nước ta bắt buộc các địa phương, các đơn vị y tế phải thực hiện đấu thầu thuốc trong nhiều năm qua nhằm tránh cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến nhiều hệ lụy cho người sử dụng [4]
Hiện nay, đấu thầu thuốc là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu trong bệnh viện theo qui định của pháp luật Tuy nhiên thực tiễn cho thấy công tác đầu thầu và kết quả cung ứng thuốc xuất hiện nhiều vấn đề bất cập như: có những thuốc không có nhà thầu tham dự, chưa có giá kê khai hoặc kê khai không hợp lệ, vượt quá giá kê khai, thuốc không đạt chỉ tiêu kỹ thuật, thuốc của nhà thầu không hợp lệ, phụ thuộc rất nhiều từ ngoại nhập, mô hình bệnh tật từng địa phương thay đổi theo thời gian,…[6, 8, 9]
Bệnh viện Quân dân Y miền Đông là trực thuộc Quân khu 7 được thành lập
và đi vào hoạt động chính thức từ ngày 28/4/2002 Trụ sở nằm trên địa bàn quận
9 – thành phố Hồ Chí Minh, với vị trí được đánh giá là thuận lợi cho người dân đến sử dụng dịch vụ Được xếp loại là bệnh viện loại II, là đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính 100%, nên bệnh viện luôn tìm nhiều cách để tăng nguồn thu, nâng cao đời cho cán bộ nhân viên, bệnh viện đã chủ động đề nghị Bộ Y tế
và Bộ Quốc phòng cho phép làm thêm nhiệm vụ của tuyến III (tuyến quận, huyện), chính vì vậy khi 100% bệnh nhân có thẻ Bảo hiểm y tế được khám
Trang 13từ năm 2015, với mục tiêu điều trị tất cả vì người bệnh, lượng bệnh nhân đa số
từ các tỉnh thành khác đến, điều đó đặt ra yêu cầu công tác mua sắm, lựa chọn thuốc phải khoa học, thuốc phải có giá cả hợp lý, chất lượng tốt Trong quá trình triển khai, một số tồn tại đã được chỉ ra như có hiện tượng kê đơn thuốc trùng nhóm trong điều trị ngoại trú (tồn tại năm 2017), hoặc còn sử dụng thuốc rộng rãi, chưa thể hiện sự cân nhắc lựa chọn ưu tiên bệnh lý cần can thiệp ngay trên người bệnh có nhiều bệnh mạn tính, người bệnh còn phải dùng quá nhiều thuốc trong một đợt điều trị (tồn tại năm 2016),… [1, 2]
Để có một bức tranh tổng quan về công tác đấu thầu và thực hiện kết quả
đấu thầu thuốc, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích việc thực hiện kết quả đấu thầu mua thuốc tại Bệnh viện Quân dân Y Miền Đông – Quân khu 7” với
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số nội dung về đấu thầu thuốc
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế [6]
1.1.2 Căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu
Kế hoạch lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc do cơ sở y tế trực tiếp lựa chọn nhà thầu lập, trình người có thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch được lập hàng năm hoặc khi có nhu cầu tổ chức lựa chọn nhà thầu với các căn cứ sau đây:
sử dụng thuốc trong năm kế hoạch theo phân tuyến kỹ thuật của cơ sở y tế
Trường hợp cơ sở y tế đã tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng nhưng nhu cầu sử dụng vượt quá 20% số lượng trong hợp đồng đã ký (tính theo từng thuốc) thì cơ sở y tế phải xây dựng kế hoạch lựa chọn nhà thầu bổ sung để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của đơn vị mình [6]
1.1.3 Phân chia gói thầu, nhóm thuốc
Có thể phân chia thành các gói thầu cơ bản như sau [6]:
1.1.3.1 Gói thầu thuốc generic:
Gói thầu thuốc generic có thể có một hoặc nhiều thuốc generic, mỗi danh mục thuốc generic phải được phân chia thành các nhóm, mỗi thuốc generic
Trang 15Nhóm 3: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận;
WHO-Nhóm 4: Thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công bố; Nhóm 5: Thuốc không đáp ứng tiêu chí của các nhóm 1, 2, 3 và 4 ở trên Trong gói thầu thuốc generic, nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí kỹ thuật của nhóm nào thì được dự thầu vào nhóm đó Trường hợp thuốc đáp ứng tiêu chí của nhiều nhóm thì nhà thầu được dự thầu vào một hoặc nhiều nhóm mà thuốc
đó đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật và phải có giá chào thống nhất trong tất cả các nhóm mà nhà thầu dự thầu, cụ thể:
Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 1, được dự thầu vào Nhóm 1, Nhóm 2, Nhóm 5;
Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 2 được dự thầu vào Nhóm 2, Nhóm 5;
Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 3 được dự thầu vào Nhóm 3, Nhóm 5;
Nhà thầu có thuốc đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 4 được dự thầu vào Nhóm 4 hoặc nhóm khác nếu đáp ứng tiêu chí của nhóm đó;
Trang 165
Nhà thầu có thuốc không đáp ứng các tiêu chí của Nhóm 1, Nhóm 2, Nhóm
3, Nhóm 4 thì chỉ được dự thầu vào Nhóm 5
1.1.3.2 Gói thầu thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị:
Thủ trưởng cơ sở y tế được quyết định việc mua thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị khi có ý kiến đề xuất của Hội đồng Thuốc và Điều trị; Các thuốc được đưa vào gói thầu thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị gồm thuốc biệt dược gốc, thuốc có tương đương điều trị với thuốc biệt dược gốc thuộc danh mục do Bộ Y tế công bố
1.1.3.3 Gói thầu thuốc cổ truyền (trừ vị thuốc cổ truyền quy định tại Khoản 5 Điều này), thuốc dược liệu
Được phân chia thành các nhóm theo tiêu chí kỹ thuật và công nghệ được cấp phép như sau:
Nhóm 1: Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu được sản xuất tại dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn WHO-GMP cho thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận;
Nhóm 2: Thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu được sản xuất tại dây chuyền sản xuất chưa được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn WHO-GMP
Nhà thầu có thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 1 được tham dự thầu vào Nhóm 1, Nhóm 2; trường hợp tham gia cả 2 nhóm thì phải có giá chào thống nhất trong cả 2 nhóm
1.1.3.4 Gói thầu dược liệu:
Nhóm 1: Dược liệu được trồng trọt và thu hái đạt tiêu chuẩn GACP-WHO; Nhóm 2: Dược liệu không đáp ứng tiêu chí tại Điểm a Khoản 4 Điều này Nhà thầu có dược liệu đáp ứng tiêu chí tại Nhóm 1 được dự thầu vào Nhóm
1, Nhóm 2; trường hợp tham gia cả 2 nhóm thì phải có giá chào thống nhất trong
cả 2 nhóm
Trang 176
1.1.3.5 Gói thầu vị thuốc cổ truyền
a) Nhóm 1: Vị thuốc cổ truyền được chế biến bởi cơ sở đủ điều kiện chế biến dược liệu, được công bố trên Trang Thông tin điện tử của Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền;
b) Nhóm 2: Vị thuốc cổ truyền không đáp ứng tiêu chí một số tiêu chí
Thuốc nước ngoài gia công tại Việt Nam sau khi hoàn thành các thủ tục
đăng ký theo quy định được phân chia vào các nhóm tương ứng với tiêu chí kỹ thuật và tiêu chuẩn công nghệ đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận của bên đặt gia công và bên nhận gia công theo nguyên tắc xét theo tiêu chí kỹ thuật của bên thấp hơn Nếu thuốc của bên đặt gia công và bên nhận gia công đều đáp ứng tiêu chuẩn WHO-GMP thì được xếp vào Nhóm 5 Nếu các
cơ sở sản xuất thuốc nước ngoài của thuốc đặt gia công được Bộ Y tế Việt Nam
kiểm tra và cấp giấy chứng nhận thì được xếp vào Nhóm 3
Trường hợp thuốc nước ngoài đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP tại
cơ sở sản xuất thuộc nước tham gia ICH và Australia gia công tại Việt Nam sau khi hoàn thành các thủ tục đăng ký theo quy định được xếp vào các nhóm tương ứng với tiêu chí kỹ thuật và tiêu chuẩn công nghệ đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền của bên đặt gia công cấp giấy chứng nhận khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Việc gia công phải bao gồm toàn bộ hoặc một số công đoạn của quá trình sản xuất thuốc Trong hợp đồng gia công phải quy định cụ thể lộ trình để bên đặt gia công chuyển giao công nghệ toàn diện cho bên nhận gia công, tiến tới sản xuất 100% tại Việt Nam, thời gian hoàn thành việc chuyển giao toàn diện
công nghệ sản xuất thuốc gia công tối đa là 05 năm;
- Đối với các thuốc mới thực hiện việc gia công công đoạn cuối (đóng gói, dán nhãn) để tiêu thụ tại Việt Nam thì thời gian thực hiện gia công công đoạn cuối tối đa không quá 03 năm; đồng thời trong hợp đồng gia công phải quy định
cụ thể lộ trình để bên đặt gia công chuyển giao toàn diện công nghệ cho bên
Trang 184 Chào hàng
cạnh tranh
- Có thể áp dụng cho gói thầu có giá trị dưới 01 tỷ đồng
- Đối với các thuốc được phép mua ngoài thầu, đấu thầu
bổ sung do nhu cầu điều trị
5 Mua sắm trực
tiếp
- Gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một
dự án hoặc thuộc dự án mua sắm khác - Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó
- Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu trước đó trong thời hạn không quá 12 tháng
6 Đàm phán giá
Áp dụng cho gói thầu mua thuốc chỉ từ một đến hai nhà sản xuất, thuốc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù
Trang 198
1.1.5 Các phương thức đấu thầu
Theo Luật đấu thầu số 43 [17] và Nghị định số 63 [8] qui định, hiện nay
có 4 phương thức đấu thầu, đó là:
- Một giai đoạn một túi hồ sơ
- Một giai đoạn hai túi hồ sơ
- Hai giai đoạn một túi hồ sơ
- Hai giai đoạn hai túi hồ sơ
Trong giai đoạn hiện nay, đấu thầu mua thuốc được thực hiện chủ yếu theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ Nhà thầu trong cùng thời điểm trước khi đóng thầu phải nộp hai túi hồ sơ: Túi HSĐXKT và Túi HSĐXTC Chủ đầu tư/bên mời thầu đánh giá Túi HSĐXKT trước, nhà thầu nào đạt yêu cầu mới được tiếp tục đánh giá Túi HSĐXTC, quy định này giúp cho quá trình đấu thầu chặt chẽ hơn về việc tổ chức cũng như bảo mật thông tin [10]
1.1.6 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc
Thông tư số 11 quy định hai hình thức tổ chức đấu thầu mua thuốc tại các
Riêng lẻ Các CSYT tự tổ chức đấu thầu theo nhu cầu sử dụng thuốc của
đơn vị mình
Như vậy, theo quy định hiện nay việc đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y
tế sẽ thực hiện hai hình thức: đấu thầu tập trung: cấp quốc gia, cấp địa phương
và đấu thầu riêng lẻ tại các cơ sở khám chữa bệnh
Trang 209
1.1.6.1 Đấu thầu tập trung
- Hình thức đấu thầu tập trung là hình thức đấu thầu được Bộ Y tế khuyến khích, và được các tỉnh thành phố trên toàn quốc áp dụng rộng rãi, đến năm
2012 đã có khoảng 71,5% các tỉnh áp dụng hình thức này [12]
- Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Y tế tổ chức đấu thầu tập trung những loại thuốc có nhu cầu sử dụng thường xuyên, ổn định và có số lượng lớn cho tất cả các cơ sở y tế công lập thuộc địa phương
- Các cơ sở y tế công lập ở địa phương căn cứ vào kết quả đấu thầu này để
ký kết hợp đồng mua thuốc theo nhu cầu ngay trong năm
* Ưu điểm
- Thu hút nhiều nhà thầu tham gia nên có tính cạnh tranh cao và đồng thời
có nhiều khả năng lựa chọn thuốc theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định
- Huy động được đông đảo lực lượng cán bộ tham mưu chuyên môn trong ngành tham gia công tác đấu thầu, tập trung được nhân lực có kinh nghiệm
- Nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả đấu thầu, giảm bớt thời gian và chi phí phục vụ cho công tác đấu thầu
- Thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát, thanh tra kiểm tra trong đấu thầu Thủ tục đấu thầu công khai, quy trình minh bạch, đảm bảo đúng tiến độ, nhanh chóng đáp ứng kịp thời cung ứng thuốc đầy đủ, thường xuyên cho cơ sở KCB
- Thống nhất về thời gian, chủng loại, giá thuốc trúng thầu đối với tất cả
cơ sở y tế trên địa bàn, góp phần bình ổn thị trường giá trên địa bàn, quản lý nguồn quỹ KCB BHYT cũng được chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân BHYT
* Hạn chế
- Luôn có một tỷ lệ danh mục thuốc trượt thầu nhất định, do đó khó khăn cho các đơn vị trong việc mua các thuốc đã trượt thầu
Trang 2110
- Việc quản lý các đơn vị mua theo số lượng trúng thầu tương đối là khó khăn trong giai đoạn này, trong khi việc áp dụng công nghệ thông tin mới bước đầu được thực hiện
- Thói quen sử dụng thuốc ở các đơn vị khác nhau là không đồng đều, dẫn đến hiện tượng một số thuốc trúng thầu được sử dụng tại đơn vị này, song lại không được sử dụng ở đơn vị khác
- Do phải dành thời gian nhiều cho công tác đấu thầu nên ảnh hưởng đến công tác chuyên môn tại đơn vị
- Đấu thầu tại đơn vị gây nên tình trạng không thống nhất về giá, chủng loại thuốc trên địa bàn tỉnh gây khó khăn trong quản lý và thanh toán quỹ Bảo hiểm
1.1.7 Quy trình đấu thầu mua thuốc
Trình tự các bước thực hiện công tác đấu thầu thuốc theo quy định của Thông tư 11 [6] và Nghị định 63 [8] theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ
sơ được mô tả như hình 1.1 dưới đây:
Trang 2211
Hình 1.1 Trình tự các bước thực hiện đấu thầu theo TT 11/2016/TT-BYT
[6]
Chủ đầu tư/bên mời
thầu Người/cơ quan có thẩm quyền Nhà thầu
Bán HSMT
Chuẩn bị và nộp HSDT
- Hoàn thiện, ký kết hợp đồng
Thẩm định KQLCNT
Thương thảo hợp
đồng
Phê duyệt KQLCNT
Thẩm định kết quả đánh giá HSĐXKT
Phê duyệt kết quả đánh
giá HSĐXKT
Mở thầu TC, đánh giá
HSĐXTC và trình
duyệt KQLCNT
Trang 2312
Theo quy trình đấu thầu tại Nghị định số 63 sau bước đánh giá Hồ sơ dự thầu của các nhà thầu, và có kết quả sơ bộ, nhà thầu dự kiến trúng thầu được mời lên để tiến hành thương thảo hợp đồng, sau khi thống nhất các nội dung thương thảo giữa chủ đầu tư/bên mời thầu với nhà thầu thì kết quả đấu thầu mới được phê duyệt Nếu nhà thầu không thống nhất các nội dung thương thảo, chủ đầu tư/bên mời thầu có thể mời nhà thầu xếp hạng thứ hai lên thương thảo Đây là một nội dung cải tiến có chất lượng của Nghị định số 63, điều này giúp cho chủ đầu tư/bên mời thầu có thêm phương tiện để xác nhận nhà thầu có khả năng hoàn thành công việc khi trúng thầu hay không [6]
1.2 Thực trạng về đấu thầu mua thuốc
1.2.1 Thực trạng đấu thầu thuốc trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều công cụ để khai thác, quản lý việc mua sắm thuốc Tuy nhiên, các phương pháp mua sắm thuốc ở cấp bậc nào trong hệ thống
y tế cũng thường rơi vào một trong những nhóm cơ bản: gói thầu mở, gói thầu giới hạn, đàm phán cạnh tranh bao gồm mua bán trong nước và quốc tế, và mua sắm trực tiếp Trong đó, đấu thầu tập trung đã được triển khai ở nhiều nước trên khắp thế giới từ các nước có thu nhập cao, thu nhập trung bình tới các nước có thu nhập thấp đều có sự mua sắm tập trung mạnh ở khu vực công với nhiều sự khác biệt như ở Ba Lan, Nam Phi, Brazil đến Pakistan, Philipin,… [24]
Ở những quốc gia có mức thu nhập trung bình hoặc thấp thường dùng phương thức đấu thầu giá thấp nhất để mua sắm thuốc, với biện pháp tăng sử dụng các thuốc generic thay thế biệt dược gốc [30]
Tuy nhiên, thay thế các thuốc BDG bằng thuốc generic nhằm giảm chi phí với các thuốc có chỉ số điều trị hẹp như digoxin, theophyllin,… là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi do có thể thay đổi hiệu quả lâm sàng khi bệnh nhân chuyển
từ dùng thuốc BDG sang thuốc generic dẫn đến nguy cơ mất hiệu quả hoặc gia tăng độc tính Tuy vậy, các thuốc generic và tương đương sinh học có vai trò quan trọng trong kiểm soát chi phí và khả năng tiếp cận thuốc[28] Mặt khác,
Trang 2413
giá thuốc quá thấp trong đấu thầu cũng dẫn đến sự thiếu hấp dẫn đối với nhà sản xuất, họ có thể lựa chọn rút lui khỏi thị trường nhất định dẫn đến nguồn cung bị gián đoạn hoặc ngừng hoàn toàn, hoặc nguy cơ các nhà sản xuất phải sát nhập làm giảm sự cạnh tranh Kết quả là có ít lựa chọn thuốc cho người bệnh, còn chương trình mua thuốc sẽ phải chờ đợi lâu hơn từ các nhà thầu có các thuốc generic bỏ giá thầu thấp, và hệ quả cung ứng thuốc sẽ kém an toàn [27]
Đấu thầu là một trong những cách tiếp cận có thể được sử dụng để mua thuốc generic Trung bình, chi phí của thuốc generic thấp hơn từ 80 đến 85% so với thuốc biệt dược gốc do không bắt buộc phải lặp lại các thử nghiệm lâm sàng tốn kém của thuốc mới và thường không phải trả chi phí cho việc quảng cáo, tiếp thị và khuyến mại [26, 31]
Kết quả lựa chọn nhà thầu cung ứng thuốc được đánh giá thông qua cắt giảm chi phí và lợi ích việc thay thế các thuốc BDG bằng các thuốc generic Các thuốc biệt dược gốc chiếm tỷ lệ nhỏ ở các nước thu nhập thấp (22,3%), tăng dần
ở các nước thu nhập trung bình (43,7%), và trên trung bình (61,8%) [25] Một khoản tiết kiệm đáng kể có thể đạt được khi chuyển sang dùng các thuốc generic
có hiệu quả điều trị tương đương mà giá thành lại thấp hơn Năm 2014, tại Anh, tổng chi tiêu dược phẩm giảm 70% sau khi đưa vào sử dụng các thuốc generic, ở Tây Ban Nha là 52% [29]
1.2.2 Thực trạng đấu thầu và sư dụng thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam và với một số nước khác trên Thế giới, mua sắm thuốc ở các bệnh viện chủ yếu thông qua đấu thầu tập trung hoặc riêng lẻ tại các cơ sở y tế (CSYT), trong đó ưu tiên hình thức đấu thầu rộng rãi để khách quan và tránh lợi ích nhóm, tham nhũng,… ngoài ra, còn có các hình thức khác để thay thế trong những trường hợp đặc biệt như mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, chào hàng cạnh tranh rút gọn,… [6]
Hiện nay đấu thầu tập trung là hình thức được nhiều CSYT lựa chọn để thực hiện do nhiều ưu điểm hơn về mặt thời gian, tiết kiệm chi phí phục vụ cho
Trang 2514
công tác đấu thầu, đồng thời cũng thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát và thanh tra kiểm tra trong đấu thầu; thống nhất giá thuốc ở tất cả các CSYT làm bình ổn thị trường , giảm gánh nặng tâm lý để các CSYT tập trung vào công tác phục vụ người bệnh được tốt hơn ở các khâu khác
Với những ưu điểm kể trên, trong những năm gần đây cơ bản các hình thức đấu thầu đã đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc của bệnh nhân của các địa phương Tuy nhiên, đâu đó vẫn còn thuốc không trúng thầu mà nguyên nhân đến từ việc
có những thuốc không có nhà thầu tham dự do lợi nhuận không thu hút hoặc chưa có giá kê khai hoặc kê khai không hợp lệ do sai sót trong quá trình xây dựng hồ sơ, vượt quá giá kê khai do các cơ quan có thẩm quyền không cập nhật kịp thời biến động của thị trường, thuốc không đạt chỉ tiêu kỹ thuật, thuốc của nhà thầu không hợp lệ,…
50% thuốc ở nước ta vẫn phụ thuộc rất nhiều từ ngoại nhập mới đáp ứng đủ nhu cầu, chủ yếu ở thuốc thông thường và thuốc generic, một phần thói quen cả nhân viên y tế (NVYT) và người dân cũng thích sử dụng thuốc nhập khẩu làm ảnh hưởng rất nhiều đến ngành dược trong nước và tăng chi phí của chính bệnh nhân
Bên cạnh thực trạng đấu thầu và sử dụng thuốc nêu trên thì bản thân mô hình bệnh tật từng địa phương thay đổi theo thời gian cũng góp phần làm thay đổi nhu cầu thuốc của từng địa phương, đôi khi phát sinh việc thiếu hụt cục bộ hoặc thừa thuốc do mô hình bệnh nhân thay đổi
Tại Việt Nam hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến hoạt động đấu thầu thuốc Từ kết quả của những nghiên cứu này ta có thế đưa ra một số nhận xét như sau về thực trạng đấu thấu và việc thực hiện kết quả đầu thầu thuốc tại Việt Nam trong những năm gần đây như sau:
1.2.2.1 Về kết quả đấu thầu
Về kết quả của hoạt động đấu thầu, nhìn chung các cơ sở về cơ bản đều đáp ứng cho nhu cầu thuốc và điều trị tại địa phương [7] Trong những năm gần
Trang 2615
đây, ở các tỉnh áp dụng hình thức đấu thầu thuốc tập trung có đến 77,5% tỉnh đạt
tỷ lệ thuốc trúng thầu so với thuốc mời thầu từ 80% trở lên [8]
Về nguyên nhân thuốc không trúng thầu tại các sở y tế chủ yếu do không
có nhà thầu tham dự (87,81% ở SYT Hà Nội năm 2015 [19];; 42% SYT Nam Định (2015) [23]) và thuốc vượt giá kế hoạch (22,18% ở SYT Hà Nội năm 2015 [10]; 44% SYT Nam Định (2015) [23]) Ngoài ra còn gặp các nguyên nhân như: Chưa có giá kê khai hoặc kê khai không hợp lệ, vượt giá kê khai, thuốc không đạt chỉ tiêu kỹ thuật, thuốc của nhà thầu không hợp lệ [23] Có thể thấy, việc xây dựng giá kế hoạch chưa hợp lý do biến động giá thuốc tăng hoặc cơ sở dữ liệu giá trúng thầu của Cục quản lý dược chưa được cập nhật Số lượng thuốc không có nhà thầu tham dự có thể do các CSYT đã xây dựng số lượng dự kiến quá ít dẫn đến nhà thầu không tham dự vì lãi không cao hoặc những sai sót trong quá trình xây dựng danh mục thuốc kế hoạch như mời sai hàm lượng, xếp sai nhóm Do vậy, các cơ sở y tế cần nâng cao công tác xây dựng danh mục thuốc
kế hoạch hợp lý, sát với thực tế hơn [18]
Hiện nay, Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc Thuốc sản xuất trong nước mới đáp ứng được gần 50% nhu cầu sử dụng thuốc trong nước (tính theo giá trị sử dụng), chủ yếu là các thuốc điều trị các bệnh thông thường và thuốc generic Ngoài ra, tâm lý của phần lớn người dân và ngay cả cán bộ y tế cũng đều thích kê đơn và sử dụng thuốc nhập khẩu đắt tiền cho nhu cầu chăm sóc và chữa bệnh, thói quen này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp dược trong nước, làm tăng chi phí chữa bệnh của người dân [7]
BYT cũng đã ban hành Thông tư 10/2016/TT-BYT [5] kèm Danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp Danh mục này được xây dựng trên cơ sở các thuốc sản xuất tại các cơ
sở sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị của các cơ sở khám, chữa bệnh theo tiêu chí kỹ thuật của thuốc, có giá thuốc hợp lý và có khả năng đảm bảo
Trang 2716
cung cấp cho các cơ sở điều trị trên cả nước [5] Đối với thuốc thuộc DMT sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp do BYT công bố thuộc tiêu chí kỹ thuật của nhóm thuốc nào thì trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định nhà thầu không được chào thuốc nhập khẩu thuộc nhóm đó [13] Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TW năm 2015: Thuốc nhập khẩu và thuốc SX trong nước có trong danh mục Thông tư 10 không có sự khác biệt nhiều 20,26% và 17,18% (khoảng 3%), giá trị thì thuốc nhập khẩu gấp gần
2 lần thuốc SX trong nước [16]
Chính sách thuốc generic được coi là chính sách nền tảng trong sản xuất, xuất nhập khẩu, cung ứng và sử dụng thuốc, vì Việt Nam là nước đang phát triển, đời sống của một bộ phận nhân dân và người lao động còn chưa hết khó khăn Thuốc generic được ưu tiên toàn diện từ đăng ký lưu hành, sản xuất, xuất- nhập khẩu, cung ứng và sử dụng [4]
1.2.2.2 Về thực trạng sử dụng danh mục thuốc trúng thầu
Công tác xây dựng số lượng kế hoạch trong kế hoạch đấu thầu thuốc thường dựa vào nhu cầu sử dụng của năm trước, mô hình bệnh tật của bệnh viện
và dự kiến nhu cầu sử dụng trong năm Tuy vậy, nhu cầu sử dụng thuốc của bệnh viện thay đổi theo thời gian và mô hình bệnh tật nên việc đấu thầu quy định số lượng sẽ gây lúng túng, khó khăn cho quá trình cung ứng thuốc của khoa dược bệnh viện như vấn đề thuốc trúng thầu được sử dụng vượt kế hoạch, thuốc trúng thầu nhưng không hoặc ít được sử dụng dẫn đến thuốc tồn kho hoặc
bị gián đoạn trong quá trình cung ứng do hết thuốc, thuốc vi phạm chất lượng hoặc bị đình chỉ lưu hành
Ngoài ra có những thuốc không trúng thầu hoặc các thuốc khi đã được lựa chọn trúng thầu rộng rãi không hoàn toàn đảm bảo cung ứng đủ do một số mặt hàng thuốc nhập khẩu sau khi trúng thầu nhà thầu không chủ động được nguồn hàng, xét thầu theo từng mặt hàng nên có một số nhà thầu trúng số mặt hàng ít, giá trị thấp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong tiến độ cung cấp hàng hóa, thuốc
Trang 28Tỷ lệ sử dụng thuốc trong DMT trúng thầu khác nhau ở các gói thầu cũng nhƣ ở các bệnh viện khác nhau là khác nhau Thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng thuốc trong DMT trúng thầu tại một số BV
Gói thầu
Địa điểm/năm thực hiện
BV TƢQĐ 108 (2015) [22]
BVĐK tỉnh Yên Bái (2015) [21]
BV GTVT Trung Ƣơng (2015) [9]
% SKM % Giá trị % SKM % Giá trị % SKM % Giá trị
Trang 2918
Phân tích việc sử dụng kết quả trúng thầu tại bệnh viện để tìm ra các nguyên nhân bất hợp lý thông qua phân tích tỉ lệ thuốc được sử dụng từ 80-120% số lượng trúng thầu, tỉ lệ các gói thuốc trúng thầu được sử dụng, tỉ lệ thuốc trúng thầu theo nguồn gốc xuất xứ được sử dụng, tỉ lệ các nhóm thuốc theo tác dụng dược lý trúng thầu được sử dụng,…
Những năm gần đây, các bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, đứng đầu là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi mạn tính, đái tháo đường và tâm thần [7] Tuy vậy, nhóm thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng về giá trị lớn nhất tại tất cả các tuyến bệnh viện, trung bình là 32,5% cao nhất tại bệnh viện tuyến huyện với 43,1% [12] một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn khá phổ biến Tỷ lệ các thuốc nhóm tim mạch và hormon nội tiết tố cũng chiếm tỷ lệ cao ở tất cả các bệnh viện các tuyến Ngoài
ra, nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu cũng chiếm tỷ trọng cao, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến huyện
1.2.2.3 Nguyên nhân của những bất cập trong việc thực hiện kết quả đấu thầu
Trong quá trình thực hiện kết quả đấu thầu đã nảy sinh nhiều bất cập dẫn đến việc thực hiện kết quả đấu thầu đạt dưới 80%, có trường hợp cá biệt là không thực hiện Việc thực hiện kết quả đấu thầu vượt trên 130% chếm tỷ lệ rất thấp, thậm chí không có trường hợp nào được báo cáo Có thể tóm tắt trên các nhóm nguyên nhân sau [16]:
Nguyên nhân từ phía các cơ sở y tế:
Có thể kể đến các nguyên nhân sau:
- Chưa có nhu cầu sử dung
- Do dự trù sai, dự trù không chính xác
- Không có bệnh nhân
- Không bố trí được kho bảo quản
- Số lượng mua theo như cầu, dựa trên điều trị thực tế
Trang 3019
- Thay đổi phác đồ điều trị
- Vướng công nợ
Trong số các nguyên nhân chưa thực hiện được 80% kết quả trúng thầu
do CSYT, nguyên nhân dẫn đến tình trạng không cung ứng về mặt giá trị lớn nhất là các cơ sở y tế báo cáo “Cơ sở chưa có nhu cầu sử dụng” hơn 20,2 tỷ tiền thuốc (chiếm 62,6% giá trị không thực hiện trong các nguyên nhân do bệnh viện) Tiếp đến nguyên nhân “do thay đổi phác đồ điều trị” làm 4,86 tỷ tiền thuốc không được thực hiện (15,1% giá trị nguyên nhân do bệnh viện) Ngoài
ra, còn một số nguyên nhân khác bệnh viện báo cáo dẫn đến việc kết quả trúng thầu không được thực hiện hết như “số lượng bệnh nhân giảm”, “bệnh viện còn
nợ tiền các công ty nên công ty không cung ứng tiếp”, hay “bệnh viện dự trù sai thuốc” [16]
Nguyên nhân từ phía công ty: Có thể kể đến các nguyên nhân sau
- Công ty chưa cung ứng được do thuốc thay đổi hạn dùng /số đăng ký/ nhà máy sản xuất
- Công ty không đủ khả năng cung ứng tiếp, hoặc không cung ứng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Nhung tại Sở Y tế Hà Nội năm
2015 [16], nguyên nhân “Công ty không đủ khả năng cung ứng tiếp” chiếm khoảng 9,6 tỷ giá trị tiền thuốc trúng thầu không được thực hiện; tiếp theo CSYT báo cáo có 458 triệu tiền thuốc Công ty hoàn toàn không cung ứng ngay
từ ban đầu Ngoài ra còn nguyên nhân khác là do quá trình dự thầu, nhà thầu đã lập hồ sơ dự thầu thuốc sai khác với hồ sơ của thuốc được BYT phê duyệt hoặc trị giá trúng thầu dưới 500.000 đồng, không bằng phí phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng, công ty không cung ứng
Ngoài ra còn một nguyên nhân khác như: BHYT không thanh toán; Giá
trúng thầu ko đúng với giá chào thầu giá trúng thầu tập trung cao hơn giá trúng thầu mà bệnh viện đang thực hiện [16]
Trang 31Cùng với mối lo ngại về khả năng độc quyền, việc đấu thầu tập trung có thể dẫn tới sự hạn chế đối với các bệnh viện Theo đó, khi đấu thầu tập trung được triển khai trên diện rộng, bệnh viện sẽ không còn được chủ động lựa chọn loại thuốc tốt nhất với giá thành tốt nhất cho bệnh nhân Trước đây, việc nhà thầu không cung ứng đủ thuốc trong giai đoạn ngắn có thể xảy ra đối với một số loại thuốc, nhưng chỉ là do các lý do bất khả kháng (chờ cấp giấy phép nguyên liệu nhập khẩu, chờ cấp số đăng ký/giấy phép nhập khẩu mới, chính sách thay đổi về hoạt chất…), và bệnh viện vẫn có thuốc tương đương thay thế để phục vụ điều trị
Hơn thế, thực tế triển khai thực hiện cho thấy, nhiều bất cập buộc phải điều chỉnh ở cấp vĩ mô Điểm dễ thấy nhất là văn bản quy định về đấu thầu thuốc liên tục thay đổi Ngay cả Thông tư 11/2016/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành áp dụng thì hiện nay đã có dự thảo sửa đổi Công tác đấu thầu đòi hỏi huy động một lực lượng lớn nhân sự để tham gia quá trình đấu thầu thuốc từ các cơ quan liên quan, kéo dài ít nhất là sáu tháng (đối với thầu tập trung) Thế nhưng, việc tham khảo giá thuốc kế hoạch như quy định hiện nay đang gặp khó khăn khi Bộ Y tế chưa công bố giá tối đa của từng mặt hàng thuốc; cập nhật chưa kịp thời, chưa đầy đủ giá thuốc trúng thầu của 63 tỉnh, thành phố, bệnh viện tuyến
Trang 3221
Trung ương; cũng chưa quy định mức giá tối thiểu của từng mặt hàng thuốc để chống bán phá giá Dẫn đến khi công ty đã trúng thầu nhưng vẫn không cung ứng cho các cơ sở y tế mà không bị một ràng buộc pháp lý nào, vì luật chưa có chế tài để xử lý
Bên cạnh đó, đến nay, vẫn chưa có trung tâm kiểm soát độc lập giá thuốc trúng thầu cấp quốc gia, dẫn đến việc chưa có mức chuẩn để đối chiếu nhằm so sánh giá thuốc sau khi trúng thầu giữa các địa phương, gây tranh cãi giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bộ Y tế Giá thuốc biến động theo quy luật của thị trường, đặc biệt là nguồn nguyên liệu sản xuất thuốc chủ yếu là nhập từ nước ngoài, do vậy rất khó kiểm soát Chưa kể, đấu thầu hiện nay chủ yếu là đấu
về giá (70% về giá), khiến các nhà sản xuất, kinh doanh thuốc tìm mọi cách để
hạ giá thành sản phẩm, dẫn đến chất lượng thuốc có nguy cơ bị giảm khi sử dụng nguyên liệu giá thành rẻ, độ tinh khiết thấp
1.3 Một vài nét về Bệnh viện Quân dân y Miền Đông
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu
BVQDYMĐ là bệnh viện hạng 2 [3] thuộc đơn vị y tế ngành, nhiệm vụ chính trị trung tâm là khám chữa bệnh cho nhân dân, lực lượng vũ trang trên địa bàn, ngoài ra còn phối hợp với các trường đại học và cao đẳng đào tạo cán bộ y tế có trình độ cao đẳng trở xuống
Bệnh viện có tất cả 22 ban khoa, là đơn vị tự chủ về tài chính 100%, bệnh viện được quyền tự thành lập các chuyên khoa theo đúng phân tuyến điều trị
Lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tăng và thay đổi liên tục do bệnh viện khám chữa bệnh BHYT thông tuyến toàn quốc Các mặt bệnh đa dạng và có chiều hướng năm sau cao hơn năm trước, mô hình bệnh tật thoe mã ICD được thể hiện dưới đây:
Trang 331 Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng A06-A67 31.672 39,78
4 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hóa E00-E35 4.957 6,23
5 Bệnh hệ cơ xương khớp, mô liên kết M05-M99 4.023 5,05
Triệu chứng, dấu hiệu và những phát
hiện lâm sàng bất thường, không phân
Trang 3423
TT Nhóm bệnh Mã ICD Số lượt
bệnh nhân
Tỷ lệ (%)
TỔNG 79.611 100,00
1.3.2 Về khoa Dược Bệnh viện Quân dân Y Miền Đông
Khoa Dược trực thuộc quản lý, điều hành trực tiếp của Giám đốc bệnh viện, giữ vai trò chủ chốt trong công tác cung ứng thuốc của bệnh viện, với mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu nhân lực như sau:
1.3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ
Được quy định trong Thông tư 22/2011/TT-BYT và trong Quy chế hoạt động của BVQDYMĐ: Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
1.3.2.2 Cơ cấu nhân lực và sơ đồ tổ chức
Khoa dược BVQDYMĐ có 29 nhân viên trong biên chế trong đó có 07 dược sỹ đại học, 20 dược sỹ trung học và 02 Kỹ sư thiết bị y tế Khoa Dược chưa có Dược sỹ lâm sàng chuyên trách
1.3.3 Những tồn tại trong công tác đấu thầu thuốc tại bệnh viên và tính cấp thiết của đề tài
BV QDYMĐ là đơn vị y tế ngành, do đó không tham gia thầu rộng rãi do
Sở Y tế chủ trì mà bản thân phải tự tổ chức đấu thầu riêng lẻ Là đơn vị tự chủ hoàn toàn nên nhân sự trong bệnh viện đa phần kiêm nhiệm, bản thân công tác đấu thầu cũng vậy, chủ yếu do khoa dược phụ trách [1, 2]
Việc đấu thầu riêng lẻ có nhiều thuận lợi cũng như nhiều bất cập Thực trạng đấu thầu trong 2 năm trở lại đây đã có một số tồn tại nhất định, gây ảnh
Trang 3524
hưởng không nhỏ đến công tác phục vụ nhân dân, đôi khi gây gián đoạn thuốc cung ứng cục bộ, cụ thể như việc lập danh mục và kế hoạch đấu thầu 2 năm gần đây chưa sát với nhu cầu sử dụng, dẫn đến trong năm phải tổ chức thầu bổ sung
và mua sắm trực tiếp để đáp ứng nhu cầu điều trị; tổng giá trị kế hoạch mời thầu cao hơn thực tế sử dụng nhiều, nhiều sản phẩm khi hết thời hạn của kết quả thầu vẫn chưa sử dụng; Dự kiến tình hình bệnh tật chưa sát dẫn đến nhiều sản phẩm sau khi trúng thầu chỉ sử dụng 1/2 giai đoạn là hết số lượng [1, 2] Thực tế chỉ ra rằng, các tồn tại tiếp diễn qua nhiều năm ảnh hưởng rất lớn đến công tác cung ứng thuốc phục vụ nhân dân của BVQDYMĐ đã được nhận định ban đầu như sau:
- Cũng như nhiều địa phương khác, mô hình bệnh tật thay đổi khó lường ở nước ta hiện nay diễn ra với chu kỳ rút ngắn, chẳng hạn cơ cấu chuyển dịch từ bệnh lây nhiễm sang không lây nhiễm, hoặc bổng dưng bùng phát một loại bệnh dịch do sinh miễn dịch cộng đồng tích lũy làm là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc cung ứng thuốc cho năm hoạt động
- Giá thuốc quốc gia không thống nhất và không có nguồn thông tin tham khảo, do đó khi thực hiện đấu thầu khả năng loại thầu là rất cao Thực tiễn năm
2017 đã xảy ra ở một số nhà thầu đấu thầu cho một số thuốc lợi tiểu, tim mạch
- Yếu tố chủ quan: Bệnh viện chưa áp dụng các cách phân tích khác nhau như ABC, VEN,… để có cái nhìn đa chiều mà hầu hết chỉ dựa vào kinh nghiệm của Hội đồng thuốc và đấu thầu, hoặc các cách phân tích đơn giản, không hiệu quả cao
- Một số thuốc đấu mà không có nhà thầu tham gia do lợi tức mang lại cho
họ quá thấp, đặc biệt đã xảy ra trong nhóm thuốc phục vụ cấp cứu tại bệnh viện vào năm 2017
- Thời gian đấu thầu kéo dài với các quy trình khá phức tạp và khó khăn Đối với một số đơn vị còn bị chậm, không kịp cung cấp thuốc cho điều trị dẫn tới thiếu thuốc hoặc phải mua ngoài thầu
Trang 3625
- Tình trạng chậm cung hay không cung ứng đƣợc vẫn xảy ra do các nhà thầu hết thuốc hoặc các nhà thầu ở xa số lƣợng dự trù ít có khi tiền lãi không đủ tiền vận chuyển
- Hiện tƣợng phải mua thuốc ngoài danh mục kết quả lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu rộng rãi, mua bổ sung số lƣợng thuốc theo danh mục kết quả đấu thầu
Từ những thực trạng tồn tại nêu trên, đối với Lãnh đạo BVQDYMĐ, việc triển khai một nghiên cứu đánh giá thực trạng đấu thầu thuốc là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, để xác định rõ những gì đã làm đƣợc, những tồn tại và nguyên nhân, từ đó mới đƣa ra những giải pháp hợp lý cho công tác đấu thầu trong thời gian tới
Trang 3726
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- DMT trúng thầu thuốc năm 2018 của Bệnh viện Quân dân y Miền Đông thuộc Quân khu 7
- DMT mua ngoài thầu năm 2018 của Bệnh viện Quân dân y Miền Đông thuộc Quân khu 7
- DMT thuốc sử dụng theo kết quả đấu thầu năm 2018 của bệnh viện Quân dân y Miền Đông thuộc Quân khu 7
- Báo cáo công tác dược hàng quý của bệnh viện Quân dân y Miền Đông thuộc quân khu 7
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ 1/1/2018 đến 31/12/2018
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi qui mô là
toàn bộ các hoạt động về đấu thầu trong Bệnh viện Quân dân y Miền Đông – Quân khu 7
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành với thiết kế mô tả cắt ngang trên đối tượng là DMT của BVQDYMĐ năm 2018 trong các kế hoạch, báo cáo trúng thầu, mua ngoài thầu và danh mục sử dụng
Trang 3827
Hình 2.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu
Phân tích việc thực hiện kết quả đấu thầu mua thuốc tại
Bệnh viện QDYMĐ năm 2018
Mục tiêu 1
So sánh cơ cấu thuốc trúng thầu với cơ
cấu thuốc sử dụng theo kết quả trúng
thầu của bệnh viện Quân dân y Miền
Đông – Quân khu 7 năm 2018
Mục tiêu 2
Phân tích những tồn tại trong công tác đấu thầu của bệnh viện Quân dân y Miền Đông – Quân khu 7 năm 2018
- Cơ cấu thuốc theo sử dụng và khống sử
dụng
- So sánh cơ cấu thuốc sử dụng so với trúng
thầu theo gói thầu
- So sánh cơ cấu thuốc sử dụng so với trúng
thầu theo nguồn gốc xuất xứ
- So sánh cơ cấu thuốc generic sử dụng so
với trúng thầu theo phân nhóm TCKT
- So sánh cơ cấu thuốc generic sử dụng so
với trúng thầu theo nhóm TDDL
- So sánh cơ cấu thuốc KS sử dụng so với
trúng thầu theo nhóm TDDL
- So sánh cơ cấu thuốc tim mạch sử dụng so
với trúng thầu theo nhóm TDDL
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện
dưới 80% theo gói thầu
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện
dưới 80% theo nguồn gốc xuất xứ
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện
dưới 80% theo gói thầu
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện trên
120% theo gói thầu
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện trên
120% theo nguồn gốc xuất xứ
- So sánh cơ cấu thuốc có tỷ lệ thực hiện trên
120% theo gói thầu
Bàn luận, kết luận và kiến nghị
- Phân tích nguyên nhân thuốc trúng thầu không được sử dụng do phía bệnh viện, phía nhà thầu và do vướng mắc các văn bản quy định
- Phân tích nguyên nhân thuốc trúng thầu có tỷ lệ thực hiện dưới 80% do phía bệnh viện, phía nhà thầu và do vướng mắc các văn bản quy định
- Phân tích nguyên nhân thuốc trúng thầu có tỷ lệ thực hiện trên 120%
- Phân tích cơ cấu thuốc mua sắm bổ sung không có trong thầu chính theo nhóm TDDL
Trang 3928
2.2.2 Biến số nghiên cứu
Mục tiêu 1: So sánh cơ cấu thuốc trúng thầu với cơ cấu thuốc sử dụng
theo kết quả trúng thầu của bệnh viện Quân dân y Miền Đông – Quân khu 7 năm
2018
Bảng 2.5 Các biến số nghiên cứu của mục tiêu 1
TT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại
biến
Kỹ thuật thu thập dữ liệu
Hồi cứu tài liệu (DMT sử dụng + DMT trúng thầu)
Hồi cứu số liệu
1 Thuốc sản xuất tại Việt Nam
2 Thuốc nhập khẩu
Biến phân loại
Hồi cứu số liệu
Biến phân loại
Hồi cứu số liệu
từ DMTT
Trang 4029
TT Tên biến Khái niệm/Định nghĩa Phân loại
biến
Kỹ thuật thu thập dữ liệu
40/2014/TT-BYT: Mã hoá tương ứng theo số thứ tự trong thông tư gồm 27 nhóm tác dụng dược lý Nhóm
betalactam và tim mạch được mã hoá đến phân nhóm
1 Nhóm 1
2 Nhóm 2 3.Nhóm 3
4 Nhóm 4
5 Nhóm 5
Biến phân loại
Hồi cứu số liệu
từ DMTT
6 Số lượng sử
dụng
Số lượng sử dụng của mỗi thuốc trong danh mục
Biến số Hồi cứu số liệu
từ DMT sử dụng
7 Số lượng trúng
thầu
Số lượng trúng thầu của các thuốc trong danh mục
Biến số
Hồi cứu số liệu
từ DMT trúng thầu