Ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, trong số các đơn vị kiểm nghiệm Nhà nước mới chỉ có Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh và một số ít
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HUỲNH MINH TRIẾT
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI
VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HUỲNH MINH TRIẾT
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI
VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tính trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và được lưu giữ tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự thu thập, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Viện kiểm nghiệm Các kết quả chưa từng được công
bố trong các nghiên cứu nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành tới
thầy hướng dẫn trực tiếp: PGS.TS Trần Việt Hùng, sự đồng hành của thầy là
động lực to lớn cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo bộ môn Tổ chức Quản lý Dược, trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu về chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Sau đại học trường Đại học Dược Hà Nội
đã quan tâm giúp đỡ trong suốt quá trình học và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, tài liệu để tôi được tiếp cận, thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị em đồng nghiệp và Ban lãnh đạo tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh đã luôn đồng hành, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu học tập
Cuối cùng cho phép bày tỏ lòng biết ơn tới người thân trong gia đình, bạn
bè, các anh chị em cùng khóa chuyên khoa đã luôn quan tâm và giúp đỡ tôi
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2020
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Các loại chất thải y tế 3
1.1.2.1 Phân loại theo thành phần và tính chất nguy hại 3
1.1.2.2 Phân loại theo dạng tồn tại của chất thải 5
1.1.3 Đối tượng chịu ảnh hưởng của chất thải y tế 5
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế 6
1.1.4.1 Ảnh hưởng của CTYT tới sức khỏe 6
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường 8
1.2 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 9
1.2.1 Xử lý chất thải rắn 9
1.2.2 Xử lý chất thải lỏng 10
1.2.3 Xử lý chất thải khí 10
1.3 QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI 11
1.3.1 Một số quy định quản lý chất thải 11
1.3.2 Tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh 13
1.3.2.1 Một vài nét về Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh ………13
Trang 61.3.2.2 Thực trạng chất thải từ Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ
Chí Minh 13
1.2.1.3 Thực trạng quản lý chất thải 18
1.3.3 Quản lý chất thải y tế tại Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương 20
1.3.4 Trên thế giới 23
1.3.5 Tại Việt Nam 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
2.2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 28
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 28
2.3.2 Các chỉ số, biến số nghiên cứu 30
2.3.2.1 Biến số nghiên cứu thực trạng xử lý chất thải tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh 30
2.3.2.2 Các biến số về thông tin, kiến thức, thực hành của đối tượng phỏng vấn 33
2.3.2.3 Biến số đề xuất giải pháp xử lý chất thải rắn tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh 40
2.3.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 41
2.3.4 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu 42
2.3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.3.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 44
2.4 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
Trang 73.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
46
3.1.1 Phân loại chất thải y tế 46
3.1.1.1 Phân loại chất thải y tế theo tính chất nguy hại 46
3.1.1.2 Phân loại chất thải y tế theo dạng tồn tại 48
3.1.2 Chi phí xử lý chất thải y tế 49
3.1.2.1 Chi phí xử lý chất thải y tế theo dạng tồn tại 49
3.1.2.2 Chi phí xử lý chất thải theo tính chất nguy hại 50
3.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế 51
3.1.4 Cách phân loại chất thải rắn y tế 52
3.1.5 Cách thu gom chất thải rắn y tế 53
3.1.6 Vận chuyển chất thải rắn y tế 54
3.1.7 Lưu giữ chất thải rắn 54
3.1.8 Thực trạng kiến thức và thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn 55
3.1.8.1 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 55
3.1.8.2 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế 58
3.1.8.3 Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế 59
3.1.8.4 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế 60
3.1.8.5 Thực hành về phân loại chất thải rắn y tế 61
3.1.8.6 Thực hành về thu gom chất thải rắn y tế 62
3.1.8.7 Thực hành về vận chuyển chất thải rắn y tế 63
3.1.8.8 Thực hành lưu giữ chất thải rắn y tế 63
3.2 XÂY DỰNG GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 64
Trang 83.2.1 Tổng chi phí xử lý chất thải rắn y tế tại Viện kiểm nghiệm thuốc
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018 64
3.2.2 Phương pháp xử lý chất thải y tế 66
3.2.3 Xây dựng giải pháp xử lý chất thải tại Viện kiểm nghiệm 67
3.3.3.1 Chi phí duy trì hoạt động của lò đốt VHI-18B 69
3.3.3.2 So sánh chi phí giữa thuê xử lý chất thải và chi phí đầu tư lò đốt xử lý chất thải rắn 72
Chương 4 BÀN LUẬN 74
4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 74
4.2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 77
4.3 XÂY DỰNG GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆN KIỂM NGHIỆM THUỐC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9GMP Good manufacturing practice Thực hành sản xuất tốt
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số hóa chất, nguyên liệu sử dụng trong kiểm nghiệm thuốc 15
Bảng 1.2 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 23
Bảng 1.3 Chất thải y tế tại một số thành phố, quốc gia trên thế giới 24
Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu của mục tiêu 1 30
Bảng 2.5 Biến số về thông tin, kiến thức, thực hành của đối tượng phỏng vấn 34 Bảng 2.6 Các biến số nghiên cứu của mục tiêu 2 40
Bảng 2.7 Đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát bằng bộ câu hỏi 43
Bảng 2.8 Cách tính các chỉ số nghiên cứu 45
Bảng 3.9 Phân loại chất thải y tế theo tính chất nguy hại 46
Bảng 3.10 Phân loại chất thải y tế theo dạng tồn tại 48
Bảng 3.11 Chi phí xử lý chất thải y tế theo dạng tồn tại 49
Bảng 3.12 Chi phí xử lý chất thải theo tính chất nguy hại 50
Bảng 3.13 Dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế 51
Bảng 3.14 Phân loại chất thải rắn y tế 52
Bảng 3.15 Thu gom chất thải rắn y tế 54
Bảng 3.16 Vận chuyển chất thải rắn y tế 54
Bảng 3.17 Lưu giữ chất thải rắn 55
Bảng 3.18 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 55
Bảng 3.19 Phân loại chất thải y tế thông thường 57
Bảng 3.20 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế 58
Bảng 3.21 Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế 59
Bảng 3.22 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế 60
Bảng 3.23 Thực hành phân loại chất thải rắn y tế 61
Bảng 3.24 Thực hành về thu gom chất thải rắn y tế 62
Bảng 3.25 Thực hành về vận chuyển chất thải rắn y tế 63
Trang 11Bảng 3.26 Thực hành về lưu giữ chất thải rắn y tế 63
Bảng 3.27 Tổng chi phí xử lý chất thải rắn năm 2018 65
Bảng 3.28 Phương pháp xử lý chất thải 66
Bảng 3.29 Chi phí mua lò đốt 69
Bảng 3.30 Chi phí duy trì hoạt động của lò đốt VHI-18B 70
Bảng 3.31 Chi phí xây dựng khu vực lắp đặt lò đốt 71
Bảng 3.32 So sánh chi phí giữa thuê xử lý chất thải và chi phí đầu tư lò đốt xử lý chất thải rắn 72
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ Hình 1.1 Phân loại chất thải tại các cơ sở y tế 4
Hình 1.2 Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh 13
Hình 1.3 Một số hệ thống xử lý khí thải y tế 11
Hình 2.4 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 29
Hình 3.5 Phân loại chất thải y tế theo dạng tồn tại (tỷ lệ %) ở Viện 47
Hình 3.6 Tỷ lệ về dụng cụ, bao bì thu gom, vận chuyển chất thải rắn 52
Hình 3.7 Tỷ lệ về thực trạng phân loại chất thải rắn y tế 53
Hình 3.8 Tỷ lệ đạt kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 56
Hình 3.9 Tỷ lệ về kiến thức thu gom chất thải rắn 59
Hình 3.10 Tỷ lệ về kiến thức vận chuyển chất thải 60
Hình 3.11 Tỷ lệ thực hành phân loại chất thải 62
Hình 3.12 Sơ đồ xử lý chất thải của VHI-18B 68
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở
y tế Theo Tổ chức y tế thế giới, 75-90% chất thải được tạo ra bởi các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, có thể so sánh với chất thải sinh hoạt được coi là chất thải không nguy hại hay chất thải chăm sóc sức khoẻ nói chung Còn 10-25% chất thải y tế được coi là nguy hiểm và có thể gây ra nhiều rủi ro về môi trường và sức khoẻ Do đó, chất thải y tế nếu không được phân loại, thu gom, quản lý và xử lý đúng sẽ là nguồn lây lan bệnh tật, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khoẻ [31]
Xử lý chất thải y tế đang là một vấn đề mà nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam phải đối mặt Các cơ sở trong hệ thống y tế từ bệnh viện đến các trung tâm
và Viện kiểm nghiệm đều phải thực hiện các hoạt động liên quan đến phân loại, thu gom, xử lý chất thải y tế và số lượng chất thải này ngày càng tăng Tính riêng năm 2015, tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các bệnh viện trong cả nước là 600 tấn/ngày Tỷ lệ gia tăng chất thải y tế phụ thuộc vào tăng giường bệnh, phát triển các dịch vụ kỹ thuật và sự tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân Các phương pháp mà một số cơ sở đang áp dụng để xử lý chất thải rắn y tế hiện nay là bằng lò đốt tại chỗ hoặc thuê công ty môi trường đô thị đốt tập trung [5]
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, trong số các đơn vị kiểm nghiệm Nhà nước mới chỉ có Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh và một số ít các Trung tâm kiểm nghiệm Tỉnh/Thành phố có hệ thống xử lý chất thải phòng thí nghiệm còn đa phần là thải trực tiếp ra môi trường Đối với các đơn vị sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP, chất thải của nhiều Phòng kiểm tra chất lượng được xử lý chung với
hệ thống xử lý chất thải của bộ phận sản xuất chứ chưa có hệ thống xử lý riêng nên cũng còn có hạn chế nhất định cần được đánh giá cụ thể Đặc biệt, hiện trạng
Trang 132
môi trường ở các cơ sở sản xuất thuốc chưa đạt tiêu chuẩn GMP còn ô nhiễm khá trầm trọng, hiện tượng chất thải từ phòng kiểm tra chất lượng chưa qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường vẫn còn khá phổ biến Tính đến thời điểm này, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu, khảo sát nào đánh giá cụ thể về chất thải rắn y tế và công tác quản lý chất thải trong các đơn vị kiểm nghiệm thuốc
Viện kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai cơ quan đầu ngành kiểm nghiệm, trực thuộc Bộ Y tế, có chức năng kiểm nghiệm, giám sát chất lượng thuốc, mỹ phẩm và các đối tượng khác có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Trong quá trình hoạt động gây phát sinh nhiều chất thải rắn
y tế Tại Viện kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay công tác quản lý chất thải y tế đã và đang hoàn thiện, công tác xử lý chất thải rắn y tế chủ yếu là thuê đơn vị chức năng thu gom và xử lý, nước thải y tế được xử lý tại chỗ, khí thải chưa có biện pháp xử lý cụ thể, hồ sơ quản lý môi trường về chất thải chưa đầy đủ chưa có quy trình cụ thể trong việc phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại Viện Do đó chưa được đánh giá cụ thể và mức
độ ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của con người Để làm căn cứ tiến
hành nghiên cứu "Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý chất thải y
tế tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018" tiến hành
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ
1.1.1 Khái niệm
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa "chất thải y tế (CTYT) là tất cả các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm cả các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, và các hoạt động y tế tại nhà" [25] Còn theo định nghĩa của
Bộ Y tế Việt Nam trong quy chế quản lý chất thải y tế, "chất thải y tế được định nghĩa là tất cả vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải thông thường và chất thải y tế nguy hại" [4] Định nghĩa do
Bộ Y tế Việt Nam đưa ra cũng tương tự như định nghĩa của WHO tuy nhiên mới chỉ khu trú tại các cơ sở y tế
Chất thải y tế có thể phát sinh từ các cơ sở y tế [5]:
- Khám chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, y dược cổ truyền
- Y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản
- Kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, sản xuất thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trang thiết bị y tế
- Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo
- Nhà hộ sinh, trạm y tế
1.1.2 Các loại chất thải y tế
1.1.2.1 Phân loại theo thành phần và tính chất nguy hại
Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới chất thải có thể phân loại thành chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường [31]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe
con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ
Trang 154
nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn Chất thải y tế nguy hại chiếm từ 10-25% tổng luợng chất thải y tế [31]
Chất thải y tế thông thường là chất thải y tế không gây ra những vấn đề
nguy hiểm đặc biệt cho sức khoẻ con người và môi trường Chất thải thông thường được coi là tương đương với chất thải sinh hoạt và thường phát sinh ở các khu hành chính từ các hoạt động lau dọn, vệ sinh hàng ngày của các bệnh viện Chất thải y tế thông thuờng chiếm từ 75-90% tổng lượng chất thải y tế [31]
Hình 1.1 Phân loại chất thải tại các cơ sở y tế
Dựa theo khuyến cáo của WHO các quốc gia có thể những cách phân chia chất thải chi tiết khác nhau Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [24]
Tại Việt Nam, theo hướng dẫn về quy định quản lý chất thải y tế thì chất thải cũng được chia thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại [4]
5%
10%
85%
Hoá chất (Rác thải y tế độc hại)
Nhiễm vi khuẩn (Rác thải y tế độc hại)
Rác thải y tế chung (Rác thải y tế không độc hại)
Trang 165
1.1.2.2 Phân loại theo dạng tồn tại của chất thải
Ngoài cách phân loại theo tích chất thì chất thải còn được phân chia theo dạng tồn tại thành 3 loại: chất thải rắn y tế, nước thải y tế, chất thải khí y tế [4], [5]
Chất thải rắn y tế: Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các
hoạt động chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan, bao gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại Chất thải rắn y tế sau khi phát sinh tại các nguồn được phân loại, thu gom, sau đó được vận chuyển nội bộ đến nơi lưu giữ tại các cơ sở y tế Tiếp theo, tuỳ vào tính chất độc hại, chất thải sẽ được xử lý tại chỗ hoặc vận chuyển đến các cơ sở có khả năng xử lý an toàn và cuối cùng sẽ được tiêu huỷ [4], [5]
Nước thải y tế: Nước thải y tế là nước thải phát sinh từ các hoạt động chăm
sóc và sinh hoạt tại các cơ sở y tế Nước thải y tế bao gồm nước thải sinh hoạt và khám chữa bệnh của bệnh viện được dẫn theo các đường cống riêng vào bể thu gom rồi bơm vào trạm xử lý nước thải Sau đó, tuỳ theo tính chất của từng loại, nước thải sẽ được xử lý loại bỏ rác, cát, chất lơ lửng, các chất hữu cơ và một phần chất dinh dưỡng; khử trùng, tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh, đảm bảo các tiêu chuẩn qui định truớc khi xả thải ra môi trường bên ngoài [4], [5]
Chất thải khí y tế: Chất thải khí y tế là khí phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, kho hoá chất, dược phẩm, các thiết bị sử dụng khí hoá chất độc hại tại các cơ sở y tế và lò đốt chất thải rắn y tế Chất thải khí phát sinh phải được xử
lý, đảm bảo tiêu chuẩn qui định trước khi thải ra môi trường [4], [5]
1.1.3 Đối tượng chịu ảnh hưởng của chất thải y tế
Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguy hại
ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện, tại tất cả các công đoạn từ phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu đến sức khoẻ, nếu chất thải y tế không được quản lý đúng cách và các vấn đề về an toàn không được quan tâm đúng mức [5]
Trang 176
Các đối tượng chịu ảnh hưởng chính bao gồm: Kiểm nghiệm viên, y công, nhân viên tại các đơn vị sản xuất, kiểm nghiệm dược phẩm Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viên thực tập công nhân vận hành
các công trình xử lý chất thải,… Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong cơ
sở y tế: nhân viên công ty vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ, trung tâm khám nghiệm tử thi [5]
Các đối tượng khác bị ảnh hưởng bao gồm: Người tham gia vận chuyển,
xử lý CTYT ngoài khuôn viên bệnh viện; người liên quan đến bãi chôn lấp rác
và người nhặt rác; Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú; Người nhà bệnh nhân
và khách thăm; Học sinh, học viên học tập/thực tập tại các cơ sở y tế Cộng đồng
và môi trường xung quanh cơ sở y tế; Cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con
sông tiếp nhận các nguồn chất thải của các cơ sở y tế chưa được xử lý hoặc xử
lý chưa đạt yêu cầu [5]
1.1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế
1.1.4.1 Ảnh hưởng của CTYT tới sức khỏe
Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm
Trong thành phần của chất thải lây nhiễm có thể chứa đựng một lượng rất lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan
B, … Các tác nhân truyền nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức:
- Qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da);
- Qua các niêm mạc (màng nhầy);
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải);
- Qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)
- Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải rất nguy hiểm, gây tổn
thương kép tới sức khỏe con người: vừa gây chấn thương: vết cắt, vết đâm,
… vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV, … [5]
Trang 187
Nước thải bệnh viện nếu bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho con người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống, …[5]
Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại
Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây
ra các nhiễm độc cấp, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi, … có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận, …[5]
Các chất khử trùng, thuốc tẩy như có chứa clo, các hợp chất natri hypoclorua có tính ăn mòn cao Thủy ngân khi xâm nhập vào cơ thể có thể liên kết với những phân tử như acid nucleic, protein,… làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Nhiễm độc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó diễn đạt, giảm sút trí nhớ, … và nặng hơn nữa có thể gây liệt, nghễnh ngãng, với liều lượng cao có thể gây tử vong [5]
Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con
đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua da, qua đường tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào, tiếp xúc với các chất tiết
ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu [5]
Tuy nhiên, mức độ gây nguy hiểm của các chất thải này còn phụ thuộc nhiều vào hình thức phơi nhiễm Một số chất gây độc tế bào gây tác hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc đặc biệt là da và mắt với các triệu chứng thường gặp như chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da Đây là loại chất thải y tế cần được xử lý đặc biệt để tránh ảnh hưởng xấu của chúng tới môi trường và con người [5]
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn
Trang 19Ảnh hưởng của bình chứa áp suất
Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, ở điều kiện bình thường không gây nguy hại, nhưng khi thiêu đốt hay bị thủng dễ gây cháy, nổ [5]
1.1.4.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường
Đối với môi trường đất
Quản lý CTYT không đúng quy trình, chôn lấp CTYT không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn [5]
Đối với môi trường không khí
CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại - thu gom - vận chuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất, Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra các chất khí độc hại như dioxin, furan,… từ lò đốt và CH , NH , H2S,… từ bãi chôn lấp [5]
Đối với môi trường nước
CTYT chứa nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: chất hữu cơ, hóa chất độc hại, kim loại nặng và các vi khuẩn
Samonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng thuốc,
Trang 209
… Nếu không được xử lý trước khi xả thải sẽ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy,
lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A, …[5]
1.2 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
Chất thải y tế được chia thành nhiều loại nhưng nhìn chung, có các hướng
xử lý được phân chia dựa trên trạng thái của chất thải y tế [5]
1.2.1 Xử lý chất thải rắn
Ngày nay có nhiều cách thức xử lý chất thải rắn trong Viện Việc lựa chọn đúng cách thức xử lý rác đem lại nhiều lợi ích, giúp xử lý hiệu quả chất thải theo cách tiết kiệm nhất Các giải pháp xử lý chất thải rắn y tế có thể được khái quát thành sáu nhóm chính sau [5]:
lý chất thải y tế của những tổ chức mang tính toàn cầu như Liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới Hiện quả của từng hình thức xử lý chất thải y tế được đo lường qua những chỉ số kiểm nghiệm chất vi sinh Chỉ số này sử dụng để xác định sự tồn tại của các chất vi sinh gây hại Một hệ thống xử lý chất thải y tế tốt
Trang 21Trên thế giới cũng như Việt Nam không áp dụng một công nghệ duy nhất,
mà áp dụng nhiều giải pháp công nghệ khác nhau để xử lý an toàn và triệt để nước thải y tế cho các Cơ sở y tế đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường Hiện Việt Nam đang áp dụng một số nhóm công nghệ/phương pháp xử lý nước thải y tế như [5]:
- Bãi lọc trồng cây (dòng chảy ngang, dòng chảy đứng) kết hợp bể lọc yếm khí;
- Hồ sinh học ổn định;
- Lọc sinh học nhỏ giọt (Biophil);
- Bùn hoạt tính trong bể hiếu khí (Aerotank);
- Xử lý nước thải theo nguyên tắc AAO (yếm khí/anarobic - thiếu khí/anoxic - hiếu khí/oxic);
- Xử lý nước thải theo nguyên tắc hiếu khí - thiếu khí trong các công trình
Trang 2211
Hình 1.2 Một số hệ thống xử lý khí thải y tế 1.3 QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI
1.3.1 Một số quy định quản lý chất thải
Theo thông tư 36/2015 của BTNMT, một số quy định quản lý chất thải y tế được trình bày như sau:
Khái niệm quản lý CTYT
Quản lý CTYT là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTYT và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Quy định phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý CTRYT
- Phân loại CTYT là hoạt động phân tách chất thải thành các nhóm và đưa vào các dụng cụ chứa theo quy định Bất kỳ ai làm phát sinh chất thải đều phải thực hiện việc phân loại ngay tại nguồn Từng loại chất thải phải đựng trong các túi
và thùng có mã màu kèm biểu tượng theo đúng quy định
- Thu gom CTYT là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữu tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải Các CTYT nguy hại (CTYTNH) không được để lẫn trong chất thải thông thường Tần suất thu gom ít nhất 1 lần trong
Trang 2312
ngày và khi cần Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới nơi
xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy CTYTNH và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa, phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ
sở y tế ít nhất 1 lần một ngày và khi cần Khi vận chuyển CTYTNH ra ngoài cơ
sở y tế phải sử dụng phương tiện vận chuyển chuyên dụng để đảm bảo vệ sinh, đúng quy định
- Lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế: CTYTNH và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt Chất thải tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng
- Tái chế, tái sử dụng chất thải rắn thông thường: chất thải thông thường được tái chế phải đảm bảo không có yếu tố lây nhiễm và các chất hóa học nguy hại gây ảnh hưởng cho sức khỏe Chất thải được phép tái chế, tái sử dụng chỉ cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có giấy phép hoạt động và có chức năng tái chế chất thải
- Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
- Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường
Quy định tiêu chuẩn các dụng cụ bao bì đựng và vận chuyển CTRYT
- Màu sắc của dụng cụ chứa đựng CTYT phải theo mã màu sắc phù hợp với từng loại chất thải, gồm: màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất phóng xạ, màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ, màu trắng đựng chất thải tái chế
- Túi, hộp, thùng đựng CTYT phải đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế, chất liệu,
có mã màu sắc và biểu tượng chỉ lọai chất thải phù hợp theo quy định
Trang 2413
- Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp,
có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô
1.3.2 Tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2.1 Một vài nét về Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh
Viện kiểm nghiệm thuốc Hồ Chí Minh là một trong hai cơ quan đầu ngành kiểm nghiệm, trực thuộc Bộ Y tế, có chức năng kiểm nghiệm, giám sát chất lượng thuốc, mỹ phẩm và các đối tượng khác có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người; giúp Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật chuyên ngành kiểm nghiệm đối với hệ thống kiểm nghiệm tại các tỉnh thành phía Nam từ Đà Nẵng trở vào Viện đã được VILAS công nhận đạt tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005 trong lĩnh vực dược (2002), hiệu chuẩn đo lường (2007)
và Bộ Y tế công nhận đạt tiêu chuẩn thực hành tốt phòng thí nghiệm GLP (Good Laboratory Practice) [14]
Hình 1.3 Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2.2 Thực trạng chất thải từ Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí
Minh
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành Dược Việt Nam, để quản lý tốt chất lượng thuốc thì hàng năm hệ thống kiểm nghiệm đã phải tiến hành kiểm
Trang 2514
nghiệm hàng trăm nghìn mẫu các loại trong đó riêng hệ thống kiểm nghiệm Nhà nước bình quân đã kiểm nghiệm khoảng 40.000 mẫu/năm Tính đến nay, cả nước ta có khoảng trên 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc có phòng kiểm tra chất lượng Tất cả các phòng kiểm tra chất lượng của các doanh nghiệm này đảm nhận kiểm tra 100% nguyên liệu đầu vào và 100% sản phẩm trước khi xuất xưởng với số lượng mẫu kiểm nghiệm rất lớn
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, trong số các đơn vị kiểm nghiệm Nhà nước mới chỉ có Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh và một số ít các Trung tâm kiểm nghiệm tỉnh/thành phố có hệ thống xử lý chất thải phòng thí nghiệm còn đa phần là thải trực tiếp ra môi trường Đối với các đơn vị sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn GMP, chất thải của nhiều Phòng kiểm tra chất lượng được xử lý chung với hệ thống xử lý chất thải của bộ phận sản xuất chứ chưa có hệ thống xử lý riêng nên cũng còn có hạn chế nhất định cần được đánh giá cụ thể Đặc biệt, hiện trạng môi trường ở các cơ sở sản xuất thuốc chưa đạt tiêu chuẩn GMP còn ô nhiễm khá trầm trọng, hiện tượng chất thải từ phòng kiểm tra chất lượng chưa qua xử
lý thải trực tiếp ra môi trường vẫn còn khá phổ biến
Hoạt động kiểm nghiệm chất lượng thuốc là hoạt động đặc thù vì sử dụng nhiều dung môi bay hơi, không bay hơi, tan trong nước hoặc không tan trong nước, nhiều hóa chất, thuốc thử tan trong nước/không tan trong nước và đối tượng thử nghiệm là nguyên liệu và sản phẩm thuốc Do vậy, trong nước thải của một phòng kiểm nghiệm thuốc thường chứa các chất độc hại tan trong nước, các acid vô cơ, kiềm và không tan trong nước trong đó phải kể đến các loại dung môi, các thuốc gây độc tế bào nhự Carboplatin, Cisplatin, Doxorubicin, Etopoide, Vinblastin, Vincristin … và trong khí thải có chứa các khí tạo ra trong quá trình kiểm nghiệm như: CO, SO2, NOx,… cũng như các chất vô cơ bay hơi như: acid nitric, acid hydrocloric… và các dung môi bay hơi độc hại
Trang 26và sinh vật, một đối tượng dễ làm ô nhiễm môi trường Vì vậy, lượng chất thải
do quá trình kiểm nghiệm đã thải ra môi trường có số lượng rất lớn với thành phần đa dạng, phức tạp thậm chí rất độc hại gồm: chất thải rắn, nước thải và khí thải
Một số hóa chất, nguyên liệu sử dụng trong kiểm nghiệm thuốc:
Bảng 1.1 Một số hóa chất, nguyên liệu sử dụng trong kiểm nghiệm thuốc
1 Dung môi hữu cơ
Là dung môi phân cực hoặc không phân cực; có thể tan trong nước, trộn lẫn với nước hoặc không tan trong nước Phổ biến nhất là các dung môi như: acetonitril (C2H3N), n-hexan (C6H14), n-butanol
(C4H9OH), methanol (CH3OH), ethanol (C2H5OH),
dicloromethan (CH2Cl2), diethylether (C2H5OC2H5), aceton (CH3COCH3), toluen (C6H5CH3), ethyl acetat (C4H8O2), isopropanol (C3H8O), cyclohexan (C6H12), phenol (C6H5OH),
formandehyd (HCHO)…
2 Một số acid
Bao gồm các acid vô cơ: acid hydrochloric (HCl), acid sulfuric (H2SO4), acid nitric (HNO3)… và acid hữu cơ: acid acetic (CH3COOH), acid benzoic
Trang 27Cụ thể theo dạng tồn tại và tính chất nguy hại, chất thải tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh như:
Chất thải rắn
- Chất thải thông thường: Là các chất thải phát sinh từ các sinh hoạt của các cán bộ công nhân viên chức, chất thải từ các khu vực hành chính, các bao bì và các mẫu dược phẩm, thực phẩm dư thừa sau thử nghiệm không có tính độc hại, các chai lọ đựng hoá chất thông thường đã được cạo sạch nhãn và tráng rửa sạch bằng nước máy và nắp của chúng đã được rửa sạch, lá cây phát sinh từ khu vực ngoại cảnh
- Chất thải nguy hại: Chất thải do quá trình thí nghiệm, các hoá chất mẫu lưu hết hạn, các phế thải gồm có:
+ Chất thải hoá học: Các mẫu thuốc dư thừa sau thử nghiệm, các mẫu thuốc hết thời gian lưu giữ, các bao bì có dính thuốc, cắn lọc, các mẫu thực phẩm dư thừa sau thử nghiệm có tính độc hại, các hỗn hợp mẫu và hoá chất thể rắn, phế phẩm của các phản ứng thử nghiệm, các bao bì dính thuốc, hoá chất
+ Chất thải lây nhiễm: xác súc vật thí nghiệm, phủ tạng, máu và các chất thải có dính máu và các dịch cơ thể sau thử nghiệm
+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: là các chất thải từ phòng xét nghiệm, thử nghiệm bao gồm: Các môi trường nuôi cấy, thí nghiệm vi sinh vật và chủng
vi sinh vật loại bỏ
Trang 28+ Nước thải chứa các chất hóa học bao gồm: dung môi hữu cơ, các chất vô
cơ, acid, kiềm, ion kim loại … Đặc biệt, còn có nhiều hoá chất có độc tính cao (như asen, thủy ngân, hợp chất cyanua và thuốc gây độc tế bào )
+ Nước thải nhiễm khuẩn do vi sinh vật và thậm chí cả vi sinh vật gây bệnh xuất phát từ phòng thí nghiệm, phân tích vi sinh, dược lý và khu nhốt hoặc chăn nuôi gia xúc thí nghiệm tại các cơ sở kiểm nghiệm thuốc có chứa các vi sinh vật
như Coliforms, fecal coli và có thể có các loại vi sinh vật gây bệnh như Salmonella, Pseudomonas,… ngoài ra còn có một lượng hóa chất, môi trường
nuôi cấy vi sinh
- Nước thải sinh hoạt thông thường: Là nước thải từ các khu nhà vệ sinh, khu nhà bếp, văn phòng v.v,…đặc điểm loại nước thải này giàu chất hữu cơ, chứa vi sinh vật và thường được thu gom riêng, xử lý riêng theo tính chất nước thải sinh hoạt hoặc thải th ng ra cống thải chung của thành phố
- Khí thải thoát ra từ các thiết bị phân tích hóa lý (AAS, GC, HPLC,…) các
lò nung, tủ sấy mẫu vv…
- Hơi, khí thải thoát ra từ các kho hóa chất, tủ đựng hóa chất và chất chuẩn
- Hơi, khí thải từ các nhà nuôi động vật thí nghiệm
Trang 2918
1.2.1.3 Thực trạng quản lý chất thải
Trang thiết bị phân loại chất thải y tế
Các khoa phòng đã được trang bị các loại thùng rác màu khác nhau đặt tại những vị trí thích hợp Các thùng rác phải có nắp đậy, có chân đạp và dễ cọ rửa Các thùng được lót các túi nylon đúng màu quy định (xanh, vàng, đen) Trên túi
có vạch ghi rõ “không đựng quá vạch này” ở mức 2/3 túi Có dây buộc đi theo túi
Các khoa đã được trang bị chai, lọ để chứa đựng dung môi thải
Các khoa đều có tủ hút
Thu gom và vận chuyển chất thải
Chất thải hàng ngày từ các khoa phòng phải được thu gom và vận chuyển
về nơi tập trung chất thải của Viện
Các chất thải h a học
- Các dung dịch đậm đặc: Pha loãng rồi đổ vào họng thải tại các phòng thí nghiệm (họng thải là các miệng lavabo trong tủ hút có ghi NƠI THU NƯỚC THẢI)
- Các dung dịch loãng: Đổ vào họng thải tại các phòng thí nghiệm
Các dung dịch c chứa ion kim loại, kim loại nặng, các dung môi hữu cơ
- Dung dịch ion thủy ngân: Thu gom vào trong bình thủy tinh dày, có dán nhãn: CHẤT THẢI THỦY NGÂN có vạch báo hiệu ở mức ¾ chai với dòng chữ cảnh báo “không được đựng quá vạch này” bên ngoài chai, đặt trong tủ hút
- Các dung dịch có chứa ion kim loại nặng: Thu gom vào trong bình thủy tinh dày, có dãn nhãn: CHẤT THẢI KIM LOẠI NẶNG có vạch báo hiệu ở mức
¾ chai với dòng chữ cảnh báo “không được đựng quá vạch này” bên ngoài chai, đặt trong tủ hút
- Các dung môi hữu cơ: Thu gom vào trong bình thủy tinh, có nắp đậy kín
có dãn nhãn CHẤT THẢI DUNG MÔI HỮU CƠ có vạch báo hiệu ở mức ¾
Trang 30 Các chất thải dược và sinh học
- Chất thải dược: Các chất thải dược tại phòng thí nghiệm (dược phẩm sau thử nghiệm, các bao bì, giấy lọc,…) cho vào túi nillon màu đen đựng trong thùng chứa có dán nhãn CHẤT THẢI DƯỢC Các mẫu lưu cần thanh lý được phá hủy nguyên trạng thành phẩm, cho vào thùng màu đen có dãn nhãn CHẤT THẢI DƯỢC
- Bao bì dính thuốc hoặc dính hóa chất: Các chai lọ vào bao bì dính thuốc hoặc dính hóa chất cho vào túi nilon màu đen đựng trong thùng chứa có dãn nhãn BAO BÌ DÍNH THUỐC
- Chất thải sinh học: Môi trường nuôi cấy: Hấp tiệt trùng ở 1200C trong 30 phút, bỏ trong túi nilon màu vàng, buộc kín, bỏ vào thùng có dãn nhãn CHẤT THẢI SINH HỌC Các dụng cụ sử dụng một lần (găng tay khẩu trang, bơm tiêm, ống nghiệm,…) được cho vào túi nilon màu vàng, buộc kín, bỏ vào thùng
có dán nhãn CHẤT THẢI SINH HỌC Mẫu xác súc vật thí nghiệm, các mô và các cơ quan, dịch sinh học sau thử nghiệm,… được cho vào 2 lớp túi PE hoặc đồ đựng (Thùng, chai,…) lớp ngoài màu vàng có dãn nhãn CHẤT THẢI SINH HỌC có vạch báo hiệu ở mức ¾ bao, thùng hoặc chai với dòng chữ cảnh báo
“không được đựng quá vạch này”, đậy kín trữ trong tủ đông -200C chứa chất thải sinh học
Chất thải sắc nhọn
- Các đầu kim của bơm tiêm hoặc dây tiêm truyền, đậy nắp bảo vệ lại, bỏ vào hộp có thành và đáy cứng, màu vàng, có nhãn “chất thải sắc nhọn” và có
Trang 31Nhân viên lao công vệ sinh của Viện chịu trách nhiệm thu gom các chất thải từ nơi phát sinh tới nơi tập trung chất thải của khoa phòng Khi rác đầy ở mỗi thùng rác, nhân viên vệ sinh cột túi, mang vào một khu vực chứa rác của Viện kiểm nghiệm
Đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của Viện
Công ty MTV Dịch vụ công ích Quận 1: xử lý chất thải sinh hoạt
Công ty cổ phần môi trường Việt Úc: xử lý chất thải từ phòng thí nghiệm
1.3.3 Quản lý chất thải y tế tại Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương
Tại Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương, chất thải rắn thông thường thuê công ty vệ sinh xử lý, chất thải rắn nguy hại thuê công ty môi trường xử lý tập trung Tham khảo công nghệ xử lý nước và khí thải:
Công nghệ xử lý khí thải
Tất cả khí thải tại các tủ hút ở phòng thí nghiệm đều sẽ được thu gom trên các đường ống bằng nhựa PVC có đường kính d = 110 - 200mm (chịu hơi acid -base) riêng biệt Khí thải được xử lý bằng hệ thống xử lý khí tập trung trước khi thải ra môi trường
Nguyên tắc hoạt động của hệ thống xử lý khí thải tập trung là: Từ các đường xả của các quạt hút, thành phần khí thải thu gom vào thiết bị thu gom, giảm âm (Mỗi thiết bị thu gom, giảm âm dùng cho 4 - 5 họng xả khí thải) sử dụng dòng dung dịch hấp phụ phun dạng sương đi ngược chiều với khí thải Các chất khí có khả năng tan trong nước (hơi acid, hơi dung môi hữu cơ tan trong
Trang 3221
nước) sẽ bị giữ lại, dung dịch hấp phụ được xử lý cùng với nước thải phòng thí nghiệm Các chất khí không tan trong nước sẽ được hấp phụ bằng thiết bị lọc hấp thụ chứa than hoạt tính trước khi thải vào môi trường Do trong khí thải của các phòng chức năng thải ra rất nhiều các hơi mang tính acid cao ( HNO3, HCl, NOx , SOx NH3, …) các dung môi và hơi hữu cơ đựơc hấp phụ hoàn toàn trong bình lọc hấp phụ chứa than hoạt tính xúc tác, có kết cấu tiết diện thay đổi để giảm tối đa trở lực đường ống của hệ thống xử lý Hơi các acid và chất ăn mòn được hấp thụ bằng hỗn hợp dung dịch chứa Na2CO3 và NaOH 5% trong sự có mặt của một số phức chất nhằm loại bỏ tối đa các yếu tố độc hại trong khí thải Toàn bộ khí thải được thu gom tại hộp thu gom, giảm âm có cấu tạo rích rắc khử
âm, điều tiết lưu lượng cho quạt hút khí thải công suất 4,5KW không gây ra tiếng ồn và rung Do địa hình của đơn vị thoáng mát, chiều cao của các toà nhà đạt độ cao từ 15-20 m, trạm xử lý được đặt trên mái của các toà nhà nên chiều cao của ống khói thải không cần phải cao mà chỉ cần tính toán đủ theo hệ số phát tán của quạt hút Khí thải từ các tủ hút tại các phòng thí nghiệm được đẩy
về hộp thu gom và giảm âm của trạm xử lý khí thải thông qua quạt hút của tủ và đường ống dẫn khí thông thường bằng ống PVC (chịu được hoá chất) Khí thải ô nhiễm được xử lý nhờ quạt đẩy chuyên dùng hút khí từ hộp thu gom, giảm âm qua hệ thống đường ống dẫn công nghệ vào hai bộ phận chính của hệ thống là thiết bị lọc hấp phụ và thiết bị lọc hấp thụ (sử dụng các chất hấp phụ và dung dịch hấp thụ phù hợp) Khí sau khi ra khỏi thiết bị hấp thụ sẽ được thải th ng vào môi trường
Công nghệ xử lý nước thải
Căn cứ vào lưu lượng nước thải và tải lượng các chất gây ô nhiễm, hệ thống xử lý nước thải phòng thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp oxy hóa liên tục, kết tủa các kim loại nặng trong các thiết bị xử lý Nước thải từ các phòng thí nghiệm được thu gom qua hệ thống thu gom nước thải phòng thí nghiệm riêng biệt (ống thu gom bằng vật liệu chịu dung môi, hóa chất) về bể thu
Trang 3322
gom, lắng và điều hoà lưu lượng thải, tại đây các nguồn nước thải ở các phòng thí nghiệm khác nhau được trộn lẫn với nhau, một phần các chất độc hại được phân huỷ, các chất kết tủa tạo thành và các loại cặn không tan khác được lắng đọng lại Bơm nước thải sẽ tự động hoạt động cung cấp nước thải lên thiết bị phản ứng, đồng thời hệ thống thiết bị tạo ozon sục khí ozon vào thiết phản ứng
và bơm định lượng hóa chất cũng sẽ hoạt động tạo môi trường thuận lợi cho quá trình oxy hóa, dưới tác dụng của ozon hầu hết các chất hữu cơ và các chất độc hại bị phân huỷ về dạng không độc hoặc ít độc hơn Các kim loại nặng chuyển
về dạng hoá trị cao hơn, dễ bị kết tủa hơn trong môi trường kiềm Nước thải sau khi được ozon hoá tiếp tục chảy sang thiết bị lắng đứng lần I để loại phần lớn các chất lơ lửng trong nước thải, tại đây nước thải được cung cấp thêm các hoá chất để kết tủa hết các kim loại nặng, điều chỉnh pH, các chất keo tụ Thiết bị cung cấp hoá chất được điều khiển tự động nhờ có đatrich và hệ thống rơle tự động Phần nước trong được tiếp tục cho chảy qua hệ thống thiết bị aeroten với bùn hoạt tính để tiếp tục oxy hóa bậc 2 Nước thải sau khi qua thiết bị aeroten sẽ được bổ xung các chất đông tụ, keo tụ và lắng tại thiết bị lắng bậc II để loại bỏ phần lớn các hạt lơ lửng và đi vào thiết bị lọc hấp phụ để tách loại triệt để các cặn lơ lửng và các chất hữu cơ còn lại trước khi nhập vào hệ thống thoát nước thải sinh hoạt và thoát ra cống thoát nước thải của thành phố Phần bùn, cặn ở trong các bể lắng và bể phản ứng định kỳ được tháo ra bể lọc bùn, các chất kết tủa ở thiết bị lắng đứng và thiết bị lọc và hấp phụ được tự động bơm ra bể lọc bùn nhờ hai bơm bùn lắp đặt tại hai thiết bị trên, bùn khô tại bể thu và lọc cặn được tháo gạt vào thùng chứa rồi mang đi chôn lấp theo đúng qui định hoặc thải cùng rác thải sinh hoạt, nước lọc bùn được cho chảy vào hệ thống nước thải đã
xử lý
Trang 34Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và chất thải của bệnh nhân ở các khoa phòng [25]
Bảng 1.2 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới
Trang 3524
Tổng hợp kết quả đánh giá lƣợng chất thải phát sinh tại một số quốc gia trong một số nghiên cứu trên thế giới đƣợc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3 Chất thải y tế tại một số thành phố, quốc gia trên thế giới
Iran (thành phố Tabriz ) 3,48 Taghipour (2009) [34] Iran (thành phố Shiraz) 4,45 Askarian (2004) [34] Iran (thành phố Tehran) 4,58 Masoumbeigi (2008) [28] Iran (thành phố Tehran) 2,75 Farzadkia (2009) [22]
Trang 3625
tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [31]
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa
có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã
đi đầu trong công tác xử lí CTYT, Malayxia có phương tiện xử lý chất thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý chất thải riêng biệt cho các bệnh viện ở
xa tại Boocneo [30], [31]
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á
đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã
áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [30]
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tiến hành khảo sát để đánh giá kiến thức của nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế Theo nghiên cứu về quản lý chất thải y tế tại Ấn Độ cho thấy nha sĩ có kiến thức và nhận thức tốt nhất (mức xuất sắc tương ứng lần lượt là 30% và 20%), tiếp theo là điều dưỡng (14%; 16%) cuối cùng là kỹ thuật viên (15%; 5%) Tác giả Golrokh đã tiến hành khảo sát tại Rasht ở Iran cho thấy 83,33% được xếp hạng quản lý chất thải kém Nghiên cứu
đã chỉ ra cần phải tiến hành để cải thiện hiện trạng quản lý chất thải bệnh viện toàn thành phố [23]
Trang 3726
1.3.5 Tại Việt Nam
Một số nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải tại Việt Nam đã được tiến hành tuy nhiên mới chỉ được tiến hành tại các bệnh viện chưa có nghiên cứu nào được tiến hành tại các Trung tâm hoặc Viện kiểm nghiệm Chính vì vậy rất cần có các nghiên cứu tại Trung tâm, các Viện kiểm nghiệm vì đây là một trong các đơn vị cũng thải ra một lượng lớn chất thải y tế mỗi ngày
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trường Y tế-năm 2011, uớc tính đến năm 2015 lượng chất thải rắn y tế phát sinh sẽ là 590 tấn/ngày và đến năm
2020 là khoảng 800 tấn/ngày Về khí thải y tế nguy hại, lượng phát sinh chủ định
từ hoạt động chuyên môn của ngành y tế không nhiều, chủ yếu phát sinh từ các cơ
sở y tế có các phòng thí nghiệm phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo y dược Tuy nhiên lượng khí thải hình thành không chủ định từ hoạt động xử lý chất thải
y tế vẫn còn chưa được kiểm soát.Bên cạnh các chất thải y tế lây nhiễm, gây nguy cơ mắc các dịch bệnh truyền nhiễm, các cơ sở y tế còn phát sinh các chất thải nguy hại khác như dược phẩm quá hạn, chất thải phóng xạ, chất thải gây độc
tế bào và các hóa chất độc hại khác như chì, cadimi, thủy ngân, dioxin/furan, các dung môi chứa clo, … [2]
Cho đến nay, việc thực hiện phân loại, thu gom chất thải rắn y tế ở nhiều bệnh viện còn chưa đạt yêu cầu theo Quy chế quản lý chất thải y tế Trong đó, chất thải rắn tại các cơ sở y tế chủ yếu được xử lý bằng phương pháp đốt Tuy nhiên
do đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, nhiều lò đốt đã cũ hỏng nên
có nguy cơ làm phát sinh các chất độc hại ra môi trường, trong đó có các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ như Dioxin và Furan Hệ thống xử lý nước thải của các bệnh viện chưa đáp ứng được yêu cầu đối với tất cả các thông số trong quy chuẩn về nước thải bệnh viện, vì thế có nguy cơ xả thải nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao ra môi trường nước [2]
Trang 3827
Lượng chất thải được thải ra tại các cơ sở rất khác nhau Cụ thể tại Thanh Hoá tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại tại 15 bệnh viện tuyến tỉnh là 577,5 kg/ngày [11] Tại Quảng Nam cho thấy trung bình mỗi ngày, 23 cơ sở y tế được điều tra thải ra khoảng 3,91 tấn CTRYT trong đó có khoảng 0,48 tấn CTRYT nguy hại (chiếm 12,3%) và CTRYT nguy hại được xử lý chủ yếu bằng phương pháp đốt [9]
Tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015, các chất thải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh, tuy nhiên việc thực hiện chất thải chưa chính xác, chỉ
có 65% khoa thực hiện phân loại đạt [6]
Tại bệnh viện đa khoa Hải Dương thì công tác thu gom, vận chuyển chất thải được đảm bảo về tần suất và thời gian quy định, tuy nhiên cách thức tiến hành còn chưa đúng, tỷ lệ thu gom lẫn các chất thải còn cao (33,9%), vận chuyển chất thải bằng tay là chủ yếu Thời gian lưu giữ chất thải ở nơi tập trung dài (trên 48 giờ) trong khi điều kiện bảo quản chưa bảo đảm đúng quy định [6] Nghiên cứu của Hoàng Thị Thuỳ và cộng sự cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải tương đối cao (86,8%), tuy nhiên kiến thức của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn rất thấp (27,2% và 54,4%) Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành phân loại chất thải là 82,4%, thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,6% và lưu giữ chất thải là 100% [8]
Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện nhận được sự quan tâm của lãnh đạo nhưng cũng gặp một số khó khăn về kinh phí, công tác giám sát Một số nghiên cứu đã chỉ ra để công tác quản lý chất thải rắn y tế tốt hơn cần phải tăng cường công tác đào tạo, tập huấn kiến thức về quản lý chất thải rắn y
tế nhất là kiến thức về thu gom chất thải cho nhóm nhân viên thu gom, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các khâu trong quy trình quản lý chất thải y
tế
Trang 3928
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tại Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị quản lý chất thải gồm: dụng cụ phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ chất thải y tế
- Cán bộ y tế: nhân viên trực tiếp, tham gia chủ yếu vào hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải tại 9 khoa chuyên môn và 1 trung tâm bao gồm: Kiểm nghiệm viên, y công trực tiếp thực hiện công tác kiểm nghiệm thuốc và nghiên cứu khoa học
2.2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
Thời gian: 01/2018 – 12/2018
Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp chính là phân tích văn bản pháp lý, nghiên cứu mô tả cắt ngang
Phân tích văn bản pháp lý sẵn có đang thực hiện tại Viện kiểm nghiệm về: quản lý chất thải hiện hành, tổng hợp và đưa ra đánh giá về sự đầy đủ, điều kiện
và khả năng thực hiện các văn bản
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang: đánh giá tỷ lệ của vấn đề trong một quần thể xác định và mối liên hệ giữa các biến số và kết quả tại một thời điểm [10], [29] Áp dụng phương pháp điều tra thực địa (phỏng vấn theo phiếu
tự điền, quan sát theo phiếu thu thập số liệu) để tìm hiểu điều kiện thực hiện quản lý chất thải, thực trạng quy trình quản lý chất thải và đề xuất giải pháp
Trang 4029
Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý chất thải y tế tại Viện kiểm nghiệm
thuốc thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018
- Phân loại CTYT theo
- Phân loại CTRYT
- Thu gom CTRYT
- Vận chuyển CTRYT
- Lưu giữ CTRYT
- KT về phân loại CTRYT
- KT về thu gom CTRYT
- KT về vận chuyển CTRYT
- KT về lưu giữ CTRYT
- Thực hành phân loại CTRYT
- Thực hành thu gom CTRYT
- Thực hành vận chuyển CTRYT
- Thực hành về lưu giữ CTRYT
- Tổng chi phí xử lý chất thải 2018
- Phương pháp xử lý chất thải
- Xây dựng giải giáp xử
lý chất thải tại Viện kiểm nghiệm thuốc TP HCM
- Ước tính chi phí vận hành lò đốt
- So sánh chi phí giữa thuê xử lý chất thải và đầu tư lò đốt xử lý chất thải
Kết quả Bàn luận Kết luận và kiến nghị
Hình 2.4 Sơ đồ nội dung nghiên cứu