Hiện nay, các thuốc an thần kinh vẫn là liệu pháp được ưu tiên và lựa chọn sử dụng chính trong điều trị bệnh [12].. Các thuốc ATK không điển hình có hiệu lực điều trị tương đương với các
Trang 1KHỎE THẦN KINH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN DƢỢC SỸ CHUYÊN KHOA I
HÀ NỘI 2020
Trang 2KHỎE TÂM THẦN QUẢNG NINH
LUẬN VĂN DƯỢC S CHU N KHO CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ –DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: CK 60 72 04 05
Người hướng dẫn khoa học: Gs.Ts Hoàng Thị Kim Huyền
Nơi thực hiện: Trường ĐH Dược Hà Nội Thời gian thực hiện: Từ 01/01/2019 đến 31/05/2019
HÀ NỘI 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại học Dược Hà Nội, Phòng Sau đại học – Trường Đại học Dược Hà Nội, Tập thể cán bộ, giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng – Trường Đại học Dược Hà Nội, Ban Giám đốc, lãnh đạo một số phòng, ban cùng tập thể y, bác sĩ Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần Quảng Ninh đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Bác sỹ CK I Bùi Tiến Dũng - Phó Giám đốc Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần Quảng Ninh,
GS Tiến sỹ Hoàng Thị Kim Huyền – Nguyên Trưởng Bộ môn Dược lâm sàng Đại học Dược Hà Nội là hai người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
D NH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
D NH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 2
D NH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 3
ĐẶT VẤN ĐỀ 4
Chương 1 TỔNG QU N 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ ĐIỀU TRỊ 6
1.1.1 Bệnh tâm thần phân liệt 6
1.1.2 Điều trị TTPL 14
1.2 PHỐI HỢP THUỐC 20
1.2.1 Tổng quan về phối hợp thuốc 20
1.2.2 Tương tác thuốc 20
1.2.3 Mối liên quan giữa phối hợp thuốc và tương tác thuốc – thuốc 23
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 24
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.2.2 Quy trình nghiên cứu 25
2.3 CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 26
2.3.1 Phân tích thực trạng sử dụng thuốc ATK trên bệnh nhân TTPL tại bệnh viện Bảo vệ sức khỏe thần kinh Quảng Ninh 26
2.3.2 Phân tích các phối hợp thuốc trong điều trị TTPL 26
Trang 52.4 CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
27
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHI N CỨU 29
3.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC ATK TRÊN BỆNH NHÂN TTPL TẠI BỆNH VIỆN BẢO VỆ SỨC KHỎE THẦN KINH QUẢNG NINH 29
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 29
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu 30
3.1.3 Thực trạng sử dụng thuốc ATK trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu 32 3.1.4 Đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc 39
3.2 PHÂN TÍCH CÁC PHỐI HỢP THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TTPL 40
3.2.1 Phân tích các phối hợp thuốc trong mẫu nghiên cứu 40
Chương 4 BÀN LUẬN 43
4.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC ATK TRÊN BỆNH NHÂN TTPL TẠI BỆNH VIỆN BẢO VỆ SỨC KHỎE THẦN KINH QUẢNG NINH 43
4.1.1 Đặc điểm chung 43
4.1.2 Đặc điểm lâm sàng 44
4.1.3 Thực trạng sử dụng thuốc ATK trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu 45 4.1.4 Đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc 47
4.2 CÁC PHỐI HỢP THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ TTPL 48
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 KẾT LUẬN 49
Trang 65.1.2 Tình hình sử dụng thuốc ATK trên bệnh nhân TTPL tại Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe thần kinh Quảng Ninh 495.1.3 Phân tích các phối hợp thuốc trong điều trị TTPL 505.2 KIẾN NGHỊ 51
Trang 71
D NH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATK ĐH An thần kinh điển hình
ATK KĐH An thần kinh không điển hình
Trang 82
D NH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Bảng phân loại mức độ nặng tương tác theo Micromedex 2.0 22 Bảng 1.2 Bảng phân loại mức độ y văn ghi nhận trong Micromedex 2.0
22
Bảng 2.1 Ttiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn thuốc khởi đầu 27
Bảng 2.2 Ttiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn các phối hợp thuốc 28
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá phối hợp thuốc 28
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 29
Bảng 3.2 Các thuốc ATK được sử dụng trong điều trị 32
Bảng 3.3 Tỉ lệ các thuốc ATK đơn trị liệu 33
Bảng 3.4 Tỉ lệ các phối hợp thuốc ATK trong điều trị 35
Bảng 3.5 Các phác đồ điều trị TTPL bằng thuốc ATK 36
Bảng 3.6 Thay đổi thuốc nhưng giữ nguyên phác đồ trong điều trị 38
Bảng 3.8 Tỉ lệ phù hợp trong lựa chọn thuốc ban đầu 39
Bảng 3.7 Thời điểm thay đổi thuốc trong mẫu nghiên cứu 38
Bảng 3.9 Các phối hợp thuốc có lợi 40
Bảng 3.10 Các phối hợp thuốc bất lợi 41
Trang 93
D NH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Phân nhóm bệnh nhân theo ICD 10 30
Hình 3.2 Tiền sử điều trị của bệnh nhân nghiên cứu 31
Hình 3.3 Thời gian điều trị của bệnh nhân 32
Hình 3.4 Sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị 37
Hình 3.5 Tỉ lệ phù hợp trong lựa chọn phối hợp thuốc 40
Trang 104
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tâm thần phân liệt là một trong những bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ và có khuynh hướng mạn tính, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tinh thần và nhân cách người bệnh Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi từ 16 –
40 tuổi [3] và có thể kéo dài suốt cuộc đời Nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt hiện vẫn chưa được xác định rõ ràng, có thể do di truyền, sử dụng các chất ma túy, môi trường những năm đầu đời, tâm lý hay diễn biến xã hội…
Ở những người mắc bệnh, thời kỳ khởi phát, người bệnh thường có biểu hiện mất ngủ, cảm thấy khác lạ trong cơ thể, ít nói, xa lánh, ngại tiếp xúc, đôi lúc tự nói một mình không rõ nội dung, ít quan tâm đến gia đình, người thân, sao nhãng khiến hiệu quả học tập, lao động bị giảm sút Đến thời
kỳ toàn phát, bệnh tiến triển rầm rộ với các hoang tưởng, ảo giác, thường gặp
là những hoang tưởng kỳ quái, ảo thanh, cảm xúc trái ngược, hành vi tác phong kỳ dị…[3], dẫn đến những rối loạn về hành vi, có khả năng gây nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội
Do khoa học thần kinh vẫn còn nhiều hạn chế nên bệnh tâm thần phân liệt vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn Hiện nay, các thuốc an thần kinh vẫn là liệu pháp được ưu tiên và lựa chọn sử dụng chính trong điều trị bệnh [12] Tại Việt Nam, việc điều trị mà đặc biệt là phối hợp thuốc chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm và các tài liệu y văn đơn lẻ Để nâng cao hiệu quả điều trị tại bệnh viện Bảo vệ sức khỏe Tâm thần Quảng Ninh - bệnh viện chuyên khoa tâm thần hạng III, Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện đã chủ động lựa chọn Hướng dẫn điều trị tâm thần phân liệt của Singapore để cập nhật cho các bác
sĩ điều trị tham khảo, áp dụng [19]
Xuất phát từ thực tế trên, để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc an thần kinh
Trang 126
Chương 1 TỔNG QU N 1.1 TỔNG QU N VỀ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT VÀ ĐIỀU TRỊ 1.1.1 Bệnh tâm thần phân liệt
1.1.1.1 Định nghĩa
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL) -Schizophrenia, nhưng tựu chung, TTPL là một trong những bệnh rối loạn tâm thần nặng, tiến triển từ từ và có khuynh hướng mạn tính, ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, cảm giác và hành vi của người bệnh [3] Người mắc bệnh TTPL có xu hướng tách biệt với cuộc sống bên ngoài, dần xa lánh người thân, thu vào thế giới bên trong Tình cảm trở nên khô lạnh, hay trầm tư, lo âu, sợ hãi hoặc giận dữ, dẫn đến những ý nghĩ, hành vi thiếu kiểm soát, mất dần khả năng lao động, sinh hoạt, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội
TTPL là bệnh khá phổ biến trên thế giới Bệnh thường khởi phát ở lứa tuổi từ khoảng 18- 40 tuổi [3] và có thể kéo dài suốt cuộc đời Tỷ lệ mặc TTPL ở nam giới cao hơn gấp 1,4 lần so với nữ giới [14,15] Nhóm tuổi có tỷ
lệ khởi phát cao nhất ở nam giới là 20- 28 tuổi và nữ giới là 26- 32 tuổi [20] Bệnh hiếm khi khởi phát trước 10 tuổi và sau 60 tuổi Đây được coi là căn bệnh nguy hiểm và cần được quan tâm, chữa trị kịp thời
1.1.1.2 Cơ chế bệnh sinh
Giống như định nghĩa về bệnh TTPL, các quan niệm về bệnh sinh TTPL cũng rất khác nhau và chưa có một giả thuyết nào có thể giải thích được cách khởi phát cũng như các triệu chứng lâm sàng của bệnh Quan niệm hiện nay cho rằng, nguyên nhân gây bệnh TTPL có thể là do di truyền, các yếu tố sinh học, tâm lý hay văn hóa, xã hội… [6]
Giả thuyết về di truyền:
Vấn đề di truyền trong TTPL là rõ ràng, một số nghiên cứu về gia đình cho thấy, nếu trong gia đình có một người bị TTPL thì những thành viên khác
Trang 13 Giả thuyết về sinh học:
Sau nhiều năm nghiên cứu, các nhà khoa học khẳng định có sự bất thường trong cấu trúc của nhiều vùng não khác nhau ở bệnh nhân TTPL Các cấu trúc bất thường trong não có thể biểu hiện như giãn rộng các não thất bên, giảm kích thước vùng đồi thị, bất thường kích thước vùng đồi hải mã, bất thường trong cấu trúc tế bào ở vùng trước trán [21]
Một số giả thuyết khác cho rằng rối loạn chuyển hóa dopamin hay những bất thường của hệ thống dẫn truyền glutamate có thể là nguyên nhân bệnh sinh của TTPL [22]
Giả thuyết về tâm lý, xã hội, văn hóa:
Test tâm lý cho thấy có sự bất thường rõ rệt ở người bệnh TTPL và cả
ở một số người họ hàng chưa có biểu hiện lâm sàng của TTPL Tuy nhiên, giả thuyết tác động qua lại trong gia đình là yếu tố bệnh sinh quan trọng của bệnh TTPL đã bị phủ nhận do việc tăng nhanh các dữ liệu sinh học của TTPL Một giả thuyết khác được đưa ra đó là yếu tố kinh tế cũng có liên quan đến bệnh TTPL do có ảnh hưởng đến các yếu tố về: dinh dưỡng, vệ sinh và chăm sóc sức khỏe tâm thần [6]
1.1.1.3 Triệu chứng [3,6]
Theo quan điểm cổ điển, biểu hiện lâm sàng bệnh TTPL bao gồm các triệu chứng âm tính và dương tính
Các triệu chứng âm tính:
Trang 148
Triệu chứng âm tính của TTPL rất hay gặp và là nền tảng của bệnh Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, các triệu chứng này rất kín đáo, khó phát hiện Sau một vài năm mắc bệnh, các triệu chứng này ngày càng rõ ràng và đến giai đoạn di chứng, bệnh nhân chỉ còn các triệu chứng âm tính
Có 3 triệu chứng trong tâm thần phân liệt, đó là:
- Tính thiếu hoà hợp: thể hiện ở thiếu hòa hợp trong tư duy như rối loạn quá trình liên tưởng, lý luận xa rời thực tế, sáng tạo ra những khái niệm, ngôn ngữ mới; thiếu hòa hợp trong cảm xúc như thay đổi tình cảm với người thân, cảm xúc trái ngược, lạ lùng và thiếu hòa hợp trong hành vi, tác phong, thường
có những hành động bột phát, khó hiểu, lố lăng
- Tính tự kỷ: Có liên quan chặt chẽ với tính thiếu hòa hợp, hậu quả của tính thiếu hòa hợp Một số triệu chứng vừa mang tính thiếu hòa hợp vừa mang tính tự kỷ, khó tách rời hai tính chất ấy ra Thiếu hòa hợp đến một mức độ cao thì mang tính chất tự kỷ Tính thiếu hòa hợp và tính tự kỷ chỉ là hai mặt của một quá trình phân liệt
- Thế năng tâm thần giảm sút: Thế năng tâm thần là năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động tâm thần, biểu hiện bằng lòng nhiệt tình, tính năng động, tính linh hoạt và sáng tạo Thế năng tâm thần bị giảm sút thể hiện bằng cảm xúc hàng ngày khô lạnh, bệnh nhân trở lên bàng quan, vô cảm xúc; tư duy nghèo nàn cứng nhắc, bệnh nhân học tập ngày càng sút kém, thói quen nghề nghiệp cũ tan biến dần Ý chí ngày càng suy đồi, bệnh nhân không thiết làm gì thậm chí cả vệ sinh cơ thể
Các triệu chứng dương tính:
Các triệu chứng dương tính thể hiện những biến đổi bệnh lý phong phú Các triệu chứng này có thể xuất hiện riêng lẻ nhưng cũng có thể kết hợp với nhau thành những hội chứng như hội chứng về cảm xúc, hội chứng paranoia, hội chứng paranoid, hội chứng căng trương lực…
- Rối loạn hình thức tư duy:
Trang 15- Rối loạn nội dung tư duy:
+ Hoang tưởng là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân TTPL Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, phong phú Hoang tưởng hay gặp là hoang tưởng bị chi phối Đây là hoang tưởng đặc trưng của TTPL; các loại khác như hoang tưởng bị hại, hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng phát minh, hoang tưởng được yêu, hoang tưởng kỳ quái cũng thường gặp
- Các rối loạn tri giác: chủ yếu là các ảo giác bao gồm:
+ Ảo thanh: người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các bộ phận trên
cơ thể Ảo thanh độc thoại như bệnh nhân nghe thấy giọng nói của chính mình trò chuyện trong đầu, ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân Đây là những ảo thanh khá điển hình trong bệnh TTPL
+ Ảo thị: cũng thường gặp và hay kết hợp với ảo thanh, bệnh nhân nhìn thấy người, súc vật, ma quỷ, phong cảnh
+ Ảo giác vị giác và ảo giác xúc giác hiếm gặp
- Các rối loạn về cảm xúc: ngoài các triệu chứng âm tính về cảm xúc như cảm
xúc cùn mòn, khô lạnh bệnh nhân còn có thể biểu hiện trầm cảm, hưng cảm không điển hình; cảm xúc không ổn định, hằn học, lo sợ, giận dữ vô cớ
- Các rối loạn hoạt động :
+ Rối loạn hoạt động ở bệnh nhân TTPL rất đa dạng và phong phú Có thể có những hành vi thô bạo, hung hãn, đi lại không mục đích , các rối loạn này có thể là do hoang tưởng, ảo giác chi phối
+ Kích động: là những động tác si dại, lố bịch, vô nghĩa, thiếu tự nhiên như đùa cợt thô bạo, nhảy nhót, gào thét, đập phá, đánh người
Trang 1610
+ Kích động căng trương lực: với những động tác dị thường, vô nghĩa như rung đùi, lắc người nhịp nhàng, mắt nhìn trừng trừng, định hình, giữ nguyên dáng, có khi là những xung động bất thường xen lẫn bất động
1.1.1.4 Tiến triển và Tiên lượng:
Tiến triển:
- Tiến triển theo giai đoạn có triệu chứng di chứng giữa các giai đoạn: Bệnh nhân có các giai đoạn với đầy đủ các triệu chứng của tâm thần phân liệt; giữa các giai đoạn, bệnh nhân có các triệu chứng di chứng rõ ràng Kiểu tiến triển này có tiên lượng không tốt khi được điều trị
- Tiến triển theo giai đoạn không có triệu chứng di chứng giữa các giai đoạn: Bệnh nhân có các giai đoạn với đầy đủ triệu chứng của tâm thần phân liệt; giữa các giai đoạn, bệnh nhân không có các triệu chứng di chứng rõ ràng Đây là kiểu tiến triển cho tiên lượng tốt Sau điều trị, bệnh nhân phục hồi gần như hoàn toàn
- Tiến triển liên tục: Các triệu chứng của tâm thần phân liệt có liên tục; các triệu chứng âm tính ngày càng rõ ràng trong suốt thời gian của bệnh Kiểu tiến triển này có tiên lượng xấu, kháng điều trị
- Tiến triển 1 giai đoạn, lui bệnh hoàn toàn: Bệnh nhân chỉ có 1 giai đoạn duy nhất có đủ triệu chứng của tâm thần phân liệt; sau đó, họ khỏi bệnh hoàn toàn và không để lại di chứng Đây là kiểu tiến triển cho tiên lượng tốt nhất
Tiên lượng:
- Các yếu tố tiên lượng tốt:
+ Khởi phát muộn, cấp tính;
+ Không có biểu hiện bất thường trên điện não, CT- Scan não;
+ Có triệu chứng rối loạn cảm xúc;
+ Nhiều triệu chứng dương tính;
+ Đáp ứng điều trị tốt;
Trang 1711
+ Thừa nhận bệnh và tự giác điều trị
- Các yếu tố tiên lượng xấu là:
+ Khởi phát sớm, từ từ;
+ Không có yếu tố thuận lợi cho khởi phát;
+ Có biểu hiện bất thường trên điện não đồ, CT-Scan não;
+ Nhiều triệu chứng âm tính;
+ Đáp ứng điều trị kém;
+ Phủ định bệnh và từ chối điều trị
Tái phát của bệnh tâm thần phân liệt:
Tâm thần phân liệt là một bệnh mạn tính, thường hay tái phát Nếu không được điều trị củng cố, tỷ lệ tái phát của bệnh tâm thần phân liệt là 10%
số bệnh nhân/tháng Sau 1 năm kể từ ngày ngừng thuốc, phần lớn các bệnh nhân đều tái phát bệnh
1.1.1.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán [1]
Hiện nay, tại nhiều nước trên thế giới và Việt Nam, hầu hết các bác sỹ đều chẩn đoán TTPL theo hệ thống phân loại là ICD-10 năm 1992 của Tổ chức Y tế thế giới [3] Trong ICD-10, mặc dù không xác định được các triệu chứng đặc trưng của bệnh một cách chặt chẽ, nhưng nhằm mục đích thực tiễn người ta chia các triệu chứng bệnh TTPL thành từng nhóm có tầm quan trọng đặc biệt đối với chẩn đoán, đó là:
a Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy
bị phát thanh
b Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan
rõ rệt với vận động thân thể, với những ý nghĩ hay cảm giác đặc biệt; Tri giác hoang tưởng
c Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất phát từ một
bộ phận nào đó khác của cơ thể
Trang 1812
d Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hóa
và hoàn toàn không thể có được tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhiên như: khả năng điều khiển thời tiết hoặc đang tiếp xúc với người ở thế giới khác
e Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ rệt hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng
f Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan, lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt
g Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định và không nói hoặc sững sờ
h Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, đáp ứng cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp thường dẫn đến cách li xã hội hoặc giảm sút hiệu xuất lao động và các triệu chứng trên phải rõ ràng là không do trầm cảm hay thuốc an thần gây ra
i Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân với biểu hiện như: mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái
độ mải mê suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội
Yêu cầu chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10 là phải có ít nhất một triệu chứng rõ ràng hoặc phải có tối thiểu 2 triệu chứng nếu các triệu chứng đó ít rõ ràng thuộc các nhóm từ (a) đến (d) ở trên Nếu là nhóm (e) đến (i) thì phải có
ít nhất là 2 nhóm triệu chứng Thời gian của các triệu chứng phải tồn tại rõ ràng ít nhất là 1 tháng
Yêu cầu không được chẩn đoán TTPL nếu có triệu chứng trầm cảm hoặc hưng cảm mở rộng xuất hiện trước các triệu chứng nói trên; không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân đang ở trong trạng
Trang 19b Thể thanh xuân (F20.1): Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL phải được thỏa mãn Thông thường thể thanh xuân được chẩn đoán lần đầu ở thanh thiếu niên hay người thanh niên trẻ Các biến đổi cảm xúc nổi bật như cảm xúc không thích hợp, cười khúc khích, cười một mình hoặc cau có, điệu bộ
Tư duy lộn xộn, lời nói dông dài, rời rạc làm cho người nghe khó hiểu Hành
vi tác phong thiếu mục đích, vô trách nhiệm và không lường trước Nhân cách tiền bệnh lý thường có đặc tính là hơi nhút nhát và cô độc
c Thể căng trương lực (F20.2): Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL phải được thỏa mãn và một hay nhiều tác phong sau đây phải chiếm ưu thế trong bệnh cảnh: Trạng thái sững sờ; tính phủ định, sự cứng đờ; uốn dẻo như sáp, các triệu chứng khác như: vâng lời tự động, nói lắp lại các từ hay các câu
d Thể không biệt định (F20.3): Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL phải được thỏa mãn Không thỏa mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán của các thể paranoid, thanh xuân hay căng trương lực Không thỏa mãn các tiêu chuẩn của TTPL thể di chứng hay thể trầm cảm sau phân liệt
e Thể trầm cảm sau phân liệt (F20.4): Bệnh nhân có một giai đoạn bệnh đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL trong vòng 12 tháng qua Một
số triệu chứng TTPL vẫn còn tồn tại Các triệu chứng trầm cảm nổi bật lên, đáp ứng các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm và tồn tại ít nhất 2 tuần
Trang 20g Thể đơn thuần (F20.6): TTPL thể đơn thuần là một chẩn đoán khó vì
sự tiến triển chậm các triệu chứng âm tính đặc trưng cho TTPL Không có trong bệnh sử các ảo giác, hoang tưởng hoặc các biểu hiện khác của một giai đoạn loạn thần xuất hiện sớm hơn Có những biến đổi có ý nghĩa trong tác phong cá nhân, sự tiếp xúc xã hội ngày càng nghèo nàn, bệnh nhân lười biếng
1.1.2.2 Các phương pháp điều trị [3,9]
Liệu pháp hóa dược
Trang 21 Liệu pháp sốc điện
Liệu pháp sốc điện là liệu pháp điều trị tấn công cho TTPL hiệu quả và
an toàn nhất Liệu pháp này cho kết quả đặc biệt tốt với TTPL thể căng trương lực Sốc điện có kết quả ngay cả với trường hợp TTPL kháng thuốc
Số lần làm sốc điện thường là 8- 12 lần, cá biệt có trường hợp đến 15 lần Có thể làm mỗi ngày 1 lần hoặc cách ngày Nếu bệnh nhân có lú lẫn nhiều nên làm cách ngày Tuy nhiên, sốc điện có nhược điểm là gây cơn co giật kiểu động kinh, làm cho bệnh nhân sợ hãi và có thể có các biến chứng như sai khớp, đau cơ, rối loạn trí nhớ, do đó, chống chỉ định với bệnh nhân có bệnh tim mạch, hô hấp, chấn thương sọ não hay động kinh…
Liệu pháp tâm lý
Sử dụng liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm lớn có kết quả giúp bệnh nhân điều chỉnh hành vi của mình, thích nghi với các căng thẳng tâm lý có trong môi trường sống Liệu pháp tâm lý tuy không thay thế được thuốc an thần nhưng chúng làm cho bệnh nhân phục hồi tốt hơn
Trang 2216
các chức năng xã hội – nghề nghiệp Liệu pháp xã hội cần phải được tiến hành sớm ngay khi BN còn nằm viện và tiếp tục tại nhà sau khi ra viện
1.1.1.3 Một số hướng dẫn thực hành lâm sàng điều trị TTPL
Hiện nay, trên thế giới có nhiều hướng dẫn thực hành lâm sàng trong điều trị TTPL Song tại Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn điều trị TTPL của
Bộ Y tế Các bác sĩ chuyên khoa điều trị thường dựa vào kinh nghiệm và tham khảo các tài liệu y văn đơn lẻ
Tại Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe thần kinh Quảng Ninh, hiện nay, các bác sĩ đã chủ động lựa chọn Hướng dẫn điều trị tâm thần phân liệt của Singapore để áp dụng điều trị Lý do lựa chọn là do hướng dẫn này được xây dựng bài bản, trên cơ sở tham khảo nhiều tài liệu hướng dẫn điều trị của các nền y học tiên tiên Bên cạnh đó, Singapore là quốc gia có hệ thống y tế rất phát triển, được Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng thứ 6 về tổng thể trong Báo cáo Y tế thế giới 2000
Dưới đây là lưu đồ Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore [19]
Trang 23 Phân loại
Trang 2418
Theo Hiệp hội tâm thần kinh Mỹ - APA, các thuốc ATK bao gồm nhóm thuốc ATK thế hệ I hay ATK điển hình và ATK thế thệ II hay ATK không điểm hình
- Nhóm ATK điển hình gồm các thuốc haloperidol, clopromazin, thioridazin, levomepromazin… Được chia thành 2 nhóm theo hiệu lực điều trị: nhóm có hiệu lực điều trị cao (Haloperidol, fluphenazin) và nhóm có hiệu lực thấp (clopromazin, thioridazin) Các thuốc ATK điển hình có tác dụng điều trị tương đương tác dụng ngoại tháp của chúng, do tác dụng đối kháng thụ thể dopamin 2 (D2) Nhóm này có hiệu lực làm giảm hầu hết các triệu chứng của TTPL, các triệu chứng dương tính như hoang tưởng, ảo giác; ít tác dụng với các triệu chứng âm tính như: cảm xúc cùn mòn, tự kỷ
- Nhóm ATK không điển hình bao gồm các thuốc clozapin, risperidol, olanzapin, amisulpirid, quetiapin, sertindol, aripiprazol, remoxiprid, ziprasidon và zotepin Các thuốc ATK không điển hình với liều điều trị TTPL
ít gây hội chứng ngoại tháp, do cơ chế đối kháng cả thụ thể serotonin và dopamin, nhưng liên kết yếu với thụ thể dopamin Các thuốc ATK không điển hình có hiệu lực trên cả triệu chứng dương tính và âm tính, có tác dụng tốt hơn trong ngăn ngừa tái phát so với ATK I Các thuốc ATK không điển hình
có hiệu lực điều trị tương đương với các thuốc ATK điển hình, trong đó, clozapin có tác dụng tốt hơn trên bệnh nhân tâm thần kháng thuốc
Tác dụng không mong muốn
Các tác dụng không mong muốn của thuốc ATK nghiêm trọng như dị ứng thuốc, nhiễm độc thuốc, hội chứng ATK ác tính, viêm gan, giảm bạch cầu hạt…, có thể đe dọa đến sự sống của người bệnh, gây tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan nội tạng và để lại nhiều di chứng nặng nề, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh [22] Ngoài ra, còn một số tác dụng không mong muốn khác như hội chứng parkinson do thuốc, rối loạn thần kinh thực vật, tăng
Trang 25- Hội chứng bất động: chậm chạp vận động, cảm xúc thờ ơ, ngủ gà nhưng không ngủ thực sự, nét mặt ít biểu cảm, nhìn cố định, lời nói đơn điệu
- Hội chứng parkinson do thuốc ATK: chậm chạp vận động, tăng trương lực cơ, uốn sáp, mất vận động tự động, giữ nguyên dáng, run khi nghỉ
và run tư thế, nhịp chậm, run tăng lên khi xúc động, bị lạnh, mệt mỏi, tăng tiết nước bọt [13]
- Hội chứng tăng vận động: bồn chồn, bất an, đứng ngồi không yên, bứt rứt chân tay Các triệu chứng có thể phối hợp với tăng trương lực hoặc xuất hiện đơn độc [24]
- Rối loạn loạn động muộn: Là biến chứng nghiêm trọng khi điều trị ATK kéo dài, hay xuất hiện vào lúc giảm hay ngừng điều trị Gặp nhiều ở người bệnh trên 50 tuổi và ở nữ giới nhiều hơn nam giới Rối loạn đầu tiên xuất hiện ở vùng miệng lưỡi bằng các cử động nhai, cơ môi, làm méo mặt, giật cơ Triệu chứng có thể lan tới các trục tay và chân như lắc mình, núng nính, giậm chân Có thể có những cử động bất thường ở tay như múa giật, múa vờn Có thể phải dừng điều trị hoặc cho ATK liều thấp [14]
Các biểu hiện về thần kinh thực vật
- Tác dụng không mong muốn trên tim mạch:
+ Nhịp xoang nhanh: 90-110 lần/phút
Trang 2620
+ Hạ huyết áp khi thay đổi tư thế, thường gặp khi sử dụng các ATK
êm dịu như levomepromazin, clopromazin
- Tác dụng phó giao cảm: khô miệng, táo bón, bí đái, tăng nhãn áp
- Tác dụng trên điều hòa thân nhiệt: giảm hoặc tăng thân nhiệt
- Hội chứng ATK ác tính
- Ngoài các tác dụng không mông muốn trên, còn có một số tác dụng không mong muốn khác như rối loạn nội tiết như tăng tiết sữa cả nam lẫn nữ, tăng cân, bất lực tình dục ở nam, mất kinh ở nữ và các rối loạn tâm thần thứ phát như buồn ngủ, lú lẫn, giảm cảm xúc, trầm cảm [9]
1.2 PHỐI HỢP THUỐC
1.2.1 Tổng quan về phối hợp thuốc
Phối hợp thuốc (Polypharmacy) là việc sử dụng đồng thời nhiều thuốc cho bệnh nhân [26] Hiện nay, phối hợp thuốc đang được áp dụng trong rất nhiều lĩnh vực điều trị và đóng một vai trò rất quan trọng nhằm mục tiêu chữa nhiều bệnh cùng một lúc Tuy nhiên, việc phối hợp thuốc cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như làm gia tăng nguy cơ kê đơn không phù hợp, tăng nguy cơ xảy ra tương tác thuốc, tăng biến cố bất lợi trong thời gian điều trị…
1.2.2 Tương tác thuốc
Tương tác thuốc là hiện tượng thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của một thuốc khi có sự hiện diện của một thuốc khác, dược thảo, thức ăn, đồ uống hay các tác nhân hóa học trong môi trường [2]
Có nhiều dạng tương tác thuốc khác nhau nhưng trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến tương tác thuốc – thuốc Theo đó, tương tác thuốc – thuốc được hiểu là tương tác giữa hai hay nhiều thuốc, tương tác thuốc thức
ăn, tương tác thuốc- dược liệu, tương tác thuốc –tình trạng bệnh lý, tương tác thuốc-xét nghiệm
Tùy theo các tài liệu khác nhau sẽ có sự phân chia khác nhau Trong đề tài, học viên lựa chọn cách phân loại tương tác thuốc theo Micromedex 2.0
Trang 2721
[29], do đây là cơ sở dữ liệu tra cứu tương tác thuốc có uy tín, được cập nhật thường xuyên, được nhiều nghiên cứu đánh giá có độ chính xác cao, được áp dụng phổ biến trong thực hành thông tin thuốc tại nhiều bệnh viện Cơ sở dữ liệu này cung cấp thông tin về tất cả các dạng tương tác, trong đó, có tương tác thuốc – thuốc Tương tác thuốc trong Micromedex 2.0 gồm các mức độ: chống chỉ định, nghiêm trọng, trung bình, nhẹ, không rõ
Dưới đây là bảng phân loại mức độ nặng tương tác theo Micromedex 2.0:
Trang 28Trung bình Tương tác dẫn đến hậu quả làm nặng thêm tình trạng của
bệnh nhân và/hoặc cần thay đổi thuốc điều trị
Nhẹ
Tương tác ít có ý nghĩa trên lâm sàng Tương tác có thể làm tăng tần suất hoặc mức độ nặng của phản ứng có hại nhưng thường không cần thay đổi thuốc điều trị
Không rõ Không rõ
Bảng 1.2 Bảng phân loại mức độ y văn ghi nhận trong Micromedex 2.0
Mức độ Ý nghĩa
Rất tốt Các nghiên cứu có kiểm soát tốt đã chứng minh rõ ràng
sự tồn tại của tương tác
Tốt Các tài liệu tin cậy cho thấy có tồn tại tương tác nhưng
vẫn còn thiếu các nghiên cứu có kiểm soát tốt
Khá
Dữ liệu hiện có nghèo nàn nhưng dựa vào đặc tính dược
lý, các chuyên gia lâm sàng nghi ngờ tương tác có tồn tại hoặc có bằng chứng tốt về dược lý đối với một loại thuốc tương tự
Trang 2923
Không rõ Không rõ
1.2.3 Mối liên quan giữa phối hợp thuốc và tương tác thuốc – thuốc
Phối hợp thuốc có mối liên quan chặt chẽ với tương tác thuốc Phối hợp thuốc là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất dẫn tới tương tác thuốc – thuốc [27] Xác suất tương tác giữa thuốc và thuốc tăng lên theo với số lượng thuốc phối hợp trong điều trị Do đó, để hạn chế các phối hợp thuốc bất lợi cần lựa chọn thuốc và phác đồ phù hợp; không phối hợp các thuốc có cùng tác dụng phụ hoặc độc tính lên một cơ quan hoặc tổ chức Cần đặc biệt lưu ý với những thuốc có độc tính cao, khoảng điều trị hẹp cũng như lưu ý đến chức năng gan thận ở bệnh nhân
Trang 3024
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHI N CỨU
Mục tiêu 1:Phân tích thực trạng sử dụng thuốc ATK trên bệnh nhân
TTPL tại Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe thần kinh Quảng Ninh
Đối tượng nghiên cứu là hồ sơ bệnh án được chẩn đoán lúc ra viện là TTPL, có ngày vào viện từ 01/1/2019 đến 31/5/2019, thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ sau:
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án
- Bệnh án của bệnh nhân có mã chẩn đoán xác định là TTPL (F20) theo tiêu chuẩn của ICD-10
- Bệnh án có sử dụng ít nhất một thuốc ATK
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh án có sự thay đổi mã chẩn đoán khác trong quá trình điều trị
- Bệnh án có ghi là bệnh nhân từ bỏ điều trị
- Bệnh án của bệnh nhân đã lấy 1 lần (bệnh nhân vào viện nhiều lần trong năm thì lấy bệnh án lần đầu)
- Bệnh án của bệnh nhân nghiện, bệnh nhân mang thai, bệnh nhân người nước ngoài
Mục tiêu 2:Phân tích các phối hợp thuốc, đánh giá mức độ hiệu quả,
từ đó, đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả thuốc ATK trong điều trị TTPL
- Các đơn thuốc sử dụng điều trị cho bệnh nhân ở Mục tiêu 1
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Mục tiêu 1:
- Cỡ mẫu nghiên cứu: Lấy mẫu toàn bộ các bệnh án của bệnh nhân
được chẩn đoán xác định là TTPL, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu
chuẩn loại trừ như trên
- Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3125
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang, mô tả, không can thiệp dựa trên bệnh án nội trú
- Công cụ nghiên cứu:
Phiếu thu thập thông tin trong quá trình điều trị của BN
Mục tiêu 2:
- Cỡ mẫu nghiên cứu:
Lấy mẫu toàn bộ các đơn thuốc có sử dụng phác đồ phối hợp thuốc ATK được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của Mục tiêu 1
- Phương pháp nghiên cứu:
-Hồi cứu các bệnh án thu thập được từ mục tiêu 1
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phân tích số liệu kết hợp phân tích định tính và định lượng: thu thập thông tin qua khảo sát dựa trên bộ câu hỏi tự điền kết hợp phỏng vấn trực tiếp
- Công cụ nghiên cứu:
Tài liệu xác định nguy cơ tương tác thuốc:Micromedex 2.0
2.2.2 Quy trình nghiên cứu
- Rà soát bệnh án nội trú được lưu trữ tại kho lưu trữ bệnh án để lựa chọn các bệnh án đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ
- Tiến hành thu thập thông tin BN và thông tin về sử dụng thuốc vào Phiếu thu thập thông tin BN
- Các đối tượng nghiên cứu được đảm bảo bí mật thông tin
- Xác định và phân loại các phối hợp thuốc, với quy trình như sau:
1 Tra cứu tương tác thuốc
2 Ghi nhận kết quả tra cứu các cặp tương tác
3 Tra cứu Hướng dẫn điều trị TTPL để xác định phối hợp nào được khuyến cáo trong hướng dẫn…
4 Đánh giá và phân loại những phối hợp thuốc trong mẫu nghiên cứu
Trang 3226
2.3 CHỈ TI U NGHI N CỨU
2.3.1 Phân tích thực trạng sử dụng thuốc TK trên bệnh nhân TTPL tại bệnh viện Bảo vệ sức khỏe thần kinh Quảng Ninh
- Khảo sát đặc điểm nhân khẩu học: giới tính, tuổi, nơi cư trú, nghề
nghiệp, yếu tố gia đình
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng:
+ Phân nhóm bệnh theo ICD 10
+ Tiền sử điều trị
+ Thời gian mắc bệnh trước khi nhập viện
+ Các bệnh lý mắc kèm
+ Thời gian nằm viện của BN
- Phân tích thực trạng sử dụng thuốc ATK trên các BN nghiên cứu:
+ Tiền sử sử dụng các thuốc ATK của bệnh nhân
+ Các thuốc ATK được sử dụng và các thuốc được điều trị phối hợp cùng các thuốc ATK
+ Tỉ lệ các thuốc ATK trong đơn trị liệu
+ Tỉ lệ các phối hợp thuốc ATK trong điều trị TTPL
+ Các phác đồ điều trị TTPL bằng thuốc ATK
+ Sự thay đổi thuốc trong quá trình điều trị
- Đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc:
+ Đánh giá tính phù hợp trong lựa chọn thuốc ban đầu
+ Đánh giá tính phù hợp của các phối hợp thuốc ATK
2.3.2 Phân tích các phối hợp thuốc trong điều trị TTPL
- Phân tích các phối hợp thuốc trong mẫu nghiên cứu
+ Các phối hợp thuốc có lợi
+ Các phối hợp thuốc bất lợi
Trang 3327
2.4 CÁC TI U CHUẨN ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG TRONG NGHI N CỨU
Trong điều kiện thực tế tại bệnh viện Chăm sóc sức khỏe Tâm thần Quảng Ninh, học viên áp dụng Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore để đánh giá:
- Lựa chọn thuốc khởi đầu;
- Lựa chọn các phối hợp thuốc;
- Phối hợp thuốc trong điều trị TTPL
Dưới đây là các bảng tiêu chuẩn đánh giá:
Bảng2.1 Ttiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn thuốc khởi đầu
Đánh giá Tiêu chuẩn
Phù hợp
- Lựa chọn đơn trị liệu ATK đối với bệnh nhân mới hoặc bệnh nhân tái phát nhưng chưa từng được sử dụng phối hợp ATK trước đây
- Lựa chọn phối hợp 2 thuốc ATK đối với bệnh nhân tái phát đã từng sử dụng phối hợp ATK trước đây và không phối hợp thuốc ATK điển hình + ATK điển hình
Không
phù hợp
- Lựa chọn phối hợp thuốc ATK đối với bệnh nhân mới hoặc bệnh nhân tái phát nhưng chưa từng được sử dụng phối hợp ATK trước đây
- Lựa chọn phối hợp thuốc ATK điển hình + ATK điển hình đối với bệnh nhân tái phát đã từng sử dụng phối hợp ATK trước đây
Trang 3428
Bảng2.2 Ttiêu chuẩn đánh giá việc lựa chọn các phối hợp thuốc
Đánh giá Tiêu chuẩn
Phù hợp
- Được khuyến cáo trong Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore, bao gồm: ATK điển hình + ATK không điển hình, ATK không điển hình + ATK không điển hình
Không
phù hợp
- Không được khuyến cáo trong Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore, bao gồm: ATK điển hình + ATK điển hình, phối hợp từ 3 ATK trở lên
Bảng2.3 Tiêu chuẩn đánh giá phối hợp thuốc
Đánh giá Tiêu chuẩn
Phối hợp thuốc
có lợi
- Được khuyến cáo trong Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore (hoặc trong tờ thông tin sản phẩm) và không có tương tác thuốc ở mức độ chống chỉ định
Phối hợp thuốc
bất lợi
- Không được khuyến cáo trong Hướng dẫn điều trị TTPL của Singapore (hoặc trong tờ thông tin sản phẩm) hoặc có tương tác thuốc ở mức độ chống chỉ định
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
Các thông tin thu thập được mã hóa và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và SPSS 20 với các thuật toán thống kê mô tả trung bình, độ lệch chuẩn, min, max
Trang 3529
Chương 3 KẾT QUẢ NGHI N CỨU 3.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TK TR N BỆNH NHÂN TTPL TẠI BỆNH VIỆN BẢO VỆ SỨC KHỎE THẦN KINH QUẢNG NINH
Học viên lựa chọn được 130 bệnh nhân nội trú đáp ứng tiêu chuẩn để đưa vào phân tích
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (N=130) được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu
Trang 3665 tuổi, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 15 tuổi
Về độ tuổi khởi phát, tỷ lệ khởi phát bệnh ở 2 nhóm tuổi từ 15-30 và 31-55 là tương đối tương đồng và chiếm tỷ lệ cao nhất Không có bệnh nhân khởi phát sớm dưới tuổi 15 Bệnh nhân khởi phát muộn >55 tuổi chiếm tỉ lệ rất thấp
Về nghề nghiệp, bệnh nhân làm nghề tự do chiếm tỉ lệ cao nhất 59,2%, tiếp đó là nhóm nghề học sinh- sinh viên 23,1%, nhóm viên nghề chức 9,3%
và cuối cùng là nông dân chiếm 8,4%
3.1.2 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu
Phân nhóm bệnh theo ICD 10
Các thể bệnh trong bệnh án nghiên cứu của bệnh nhân được chẩn đoán TTPL theo mã ICD 10 được thể hiện trong biểu đồsau:
Hình 3.1 Phân nhóm bệnh nhân theo ICD 10
Nhận xét:
Trang 3731
Số bệnh nhân được chẩn đoán TTPL thể không biệt định chiếm tỉ lệ cao nhất 60.77%, tiếp đó là TTPL thể paranoid 36,92%, TTPL thể di chứng và thanh xuân chiếm tỉ lệ rất thấp, lần lượt là 1,54% và 0,77%
Tiền sử điều trị
Tiền sử điều trị của bệnh nhân được thể hiện trong hình dưới đây:
Hình 3.2 Tiền sử điều trị của bệnh nhân nghiên cứu
Nhận xét:
Có 71 bệnh nhân điều trị lần đầu chiếm tỷ lệ 54,62%, còn lại là 59 bệnh nhân cũ tái phát, tỷ lệ 45,38%
Thời gian điều trị của BN
Thời gian điều trị của bệnh nhân được thể hiện trong hình dưới đây :