Tại các nhà thuốc, người bán thuốc đóng vai trò cung cấp thuốc theo nhu cầu của người mua đồng thời tư vấn sử dụng thuốc, ngoài ra người bán còn lựa chọn thuốc cho người mua dựa theo tri
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI THANH BÌNH
KHẢO SÁT THỰC HÀNH BÁN THUỐC CỦA NGƯỜI BÁN TẠI NHÀ THUỐC KHÁNH
HƯNG QUẬN 8, TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ:CK 60.72.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Thời gian thực hiện: 7/2019-11/2019
HÀ NỘI 2020
Trang 3Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến các bạn làm việc tại Nhà thuốc Khánh Hưng, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc, thu thập tài liệu cho luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình các anh chị đồng nghiệp trong lớp CK 1 chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tạo điều kiện tốt nhất để tôi vượt qua khó khăn trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, Ngày tháng năm
Học viên
Bùi Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1 NHÀ THUỐC VÀ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN 2
1.1.1 Vai trò của nhà thuốc và dược sĩ nhà thuốc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam 2
1.1.2 Một số quy định liên quan đến hoạt động mua bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ tại Việt Nam 3
1.2 GIỚI THIỆU TIÊU CHUẨN GPP 4
1.2.1 Tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc 4
1.2.2 Tiêu chuẩn về nhân sự 5
1.2.3 Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị 5
1.2.4 Tiêu chuẩn về hoạt động chuyên môn 6
1.2.5 Hoạt động nghề nghiệp của người bán thuốc 8
1.3 THỰC TRẠNG HÀNH NGHỀ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC TẠI VIỆT NAM 11 1.3.1 Thực trạng hành nghề của người bán thuốc 11
1.3.2 Thực trạng kháng kháng sinh 16
1.3.3 Thực trạng bán thuốc kháng sinh tại nhà thuốc tại Việt Nam 17
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý trong cộng đồng 18
1.4 MỘT SỐ VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MẠNG LƯỚI KINH DOANH THUỐC TẠI TPHCM 19
1.4.1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của TP Hồ Chí Minh 19
1.4.2 Một số đặc điểm mạng lưới kinh doanh thuốc tại TP Hồ Chí Minh 20
1.4.3 Giới thiệu nhà thuốc Khánh Hưng 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 52.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 22
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: từ 1/2/2019 đến 31/8/2019 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Biến số nghiên cứu 22
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 25
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu: 25
2.2.4 Mẫu nghiên cứu 25
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC MẶT HÀNG ĐÃ BÁN TẠI NHÀ THUỐC KHÁNH HƯNG TRONG THỜI GIAN TỪ THÁNG 2-8/2019 28
3.1.1 Tỷ trọng doanh thu của nhà thuốc theo loại hình bán 28
3.1.2 Cơ cấu doanh thu thuốc theo phân loại thuốc kê đơn/không kê đơn 29
3.1.3 Doanh thu thuốc theo nhóm tác dụng dược lý của thuốc 30
3.1.4 Cơ cấu doanh thu theo nguồn gốc xuất xứ của thuốc và thực phẩm chức năng 34 3.1.5 Cơ cấu thuốc và TPCN bán ra theo dạng bào chế 35
3.2 PHÂN TÍCH THỰC HÀNH LỰA CHỌN THUỐC KHI BÁN ĐỐI VỚI KỂ BỆNH TRIỆU CHỨNG 36
3.2.1 Số sản phẩm trung bình đã bán tại nhà thuốc theo triệu chứng kể 36
3.2.2 Cách phối hợp các thuốc khi bán đối với kể bệnh triệu chứng thường gặp 37
3.2.3 Số ngày tư vấn sử dụng thuốc kháng sinh trung bình 40
3.2.4 Chi phí thuốc kháng sinh đối với mỗi triệu chứng có sử dụng KS 42
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 46
4.1 VỀ ĐẶC ĐIỂM CÁC MẶT HÀNG ĐÃ BÁN TẠI NHÀ THUỐC KHÁNH HƯNG TRONG THỜI GIAN TỪ THÁNG 2-8/2019 46
4.1.1 Tỷ trọng doanh thu của nhà thuốc theo loại hình bán 46
4.1.2 Cơ cấu doanh thu thuốc theo phân loại thuốc kê đơn/không kê đơn 46
4.1.3 Tỷ trọng doanh thu của mỗi nhóm thuốc theo tác dụng dược lý 48
Trang 64.1.4 Tỷ lệ doanh thu của mỗi hoạt chất trong nhóm thuốc kháng viêm corticoid 48
4.1.5 Tỷ lệ doanh thu của mỗi hoạt chất trong nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm non-steroid 49
4.1.6 Tỷ lệ doanh thu của mỗi hoạt chất trong nhóm thuốc kháng sinh 50
4.1.7 Cơ cấu doanh thu theo nguồn gốc xuất xứ của thuốc và thực phẩm chức năng 50 4.1.8 Cơ cấu thuốc và thực phẩm chức năng bán ra theo dạng bào chế 51
4.2 VỀ THỰC HÀNH LỰA CHỌN THUỐC KHI BÁN ĐỐI VỚI KỂ BỆNH TRIỆU CHỨNG 52
4.2.1 Số sản phẩm trung bình đã bán tại nhà thuốc theo triệu chứng kể 52
4.2.2 Cách phối hợp các thuốc khi bán đối với kể bệnh triệu chứng 53
4.2.3 Số ngày tƣ vấn sử dụng thuốc kháng sinh trung bình 59
4.2.4 Chi phí thuốc kháng sinh đối với mỗi triệu chứng có sử dụng kháng sinh 60
4.3 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết
3 WHO World Health
Organization Tổ chức Y tế thế giới
4 ASEAN Association of South
East Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Hệ thống phân loại quốc tế về
bệnh tật
9 INN
International Nonproprietary Names
Tên quốc tế phi thương mại
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thực hành khai thác thông tin của người bán thuốc……… 12
Bảng 1.2: Thực hành tư vấn của người bán thuốc ……… 13
Bảng 1.3: Số lượng cơ sở kinh doanh thuốc tại TPHCM năm 2014………… 20
Bảng 2.4: Các biến số cần thu thập………22
Bảng 3.5: Doanh thu bán lẻ theo yêu cầu và theo kể bệnh triệu chứng ………28
Bảng 3.6: Cơ cấu doanh thu thuốc theo phân loại thuốc kê đơn ……… 29
Bảng 3.7: Cơ cấu doanh thu thuốc theo nhóm tác dụng dược lý ……… 30
Bảng 3.8: Tỷ trọng doanh thu của mỗi hoạt chất ……… 32
Bảng 3.9: Tỷ trọng doanh thu của mỗi hoạt chất ……… 32
Bảng 3.10: Tỷ trọng doanh thu của mỗi hoạt chất ……… 33
Bảng 3.11: Cơ cấu doanh thu thuốc và TPCN theo nguồn gốc xuất xứ ………34
Bảng 3.12: Cơ cấu thuốc và TPCN bán ra theo dạng bào chế ……… 35
Bảng 3.13: Số sản phẩm trung bình đã bán theo kể bệnh triệu chứng ………36
Bảng 3.14: Cách hướng dẫn phối hợp các thuốc theo triệu chứng bệnh thường gặp tại nhà thuốc ……… 37
Bảng 3.15: Số ngày tư vấn sử dụng chia theo nhóm kháng sinh ……… 40
Bảng 3.16: Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh so với tổng tiền thuốc đối với mỗi triệu chứng có sử dụng kháng sinh ……….42
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Các tiêu chuẩn GPP 5
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, đời sống nhân dân được nâng cao, nhận thức về tầm quan trọng của sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn Người dân trong cộng đồng lựa chọn nhà thuốc
là nơi tiếp cận ban đầu đối với các bệnh thông thường Vì vậy chất lượng hành nghề chuyên môn của người bán thuốc ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng thuốc hợp lý của người dân trong cộng đồng Thực tế nhà thuốc còn nhiều hạn chế trong thực hiện quy định thực hành chuyên môn khi tư vấn sử dụng thuốc, chưa hợp lý trong việc lựa chọn thuốc để điều trị các bệnh thông thường Tại nhà thuốc, người dược sĩ ra quyết định lựa chọn thuốc cho người bệnh sử dụng ở cộng đồng, vì vậy khảo sát thực hành chuyên môn của người bán thuốc là rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả thuốc sử dụng tại cộng đồng Trong hệ thống cung ứng thuốc của Việt Nam hiện nay, nhà thuốc tư nhân chính là một trong những yếu tố quan trọng để đưa thuốc đến tay người
sử dụng thuốc Nhà thuốc KHÁNH HƯNG ở Quận 8 TP.Hồ Chí Minh được
mở nhằm đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh của người dân tại địa phương Đảm bảo sự phát triển của nhà thuốc một cách bền vững trong tình hình cạnh tranh, kinh tế thị trường ngày càng gay gắt thì người bán thuốc tại nhà thuốc
phải thực hành tốt chuyên môn về hành nghề dược Đề tài: “Khảo sát thực
hành bán thuốc của người bán tại nhà thuốc Khánh Hưng Quận 8, TP
Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm 2 mục tiêu sau:
1- Phân tích đặc điểm các mặt hàng đã bán tại nhà thuốc Khánh Hưng trong thời gian từ tháng 2-8/2019
2- Phân tích thực hành lựa chọn thuốc khi bán tại nhà thuốc Khánh Hưng trong trường hợp kể bệnh triệu chứng từ tháng 2-8/2019
Từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm tăng cường thực hành tốt chuyên môn của người bán thuốc tại nhà thuốc Khánh Hưng trong thời gian tới
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 NHÀ THUỐC VÀ QUY ĐỊNH HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN
1.1.1 Vai trò của nhà thuốc và dược sĩ nhà thuốc trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam
Trước năm 1975, ở Miền Nam đã có nhà thuốc tây hay còn gọi là Dược Phòng (gần giống nhà thuốc bây giờ có thêm chức năng pha chế) Sau năm
1975, đất nước thống nhất, ngành Y tế thuộc về toàn dân và chịu sự quản lý của nhà nước, các nhà thuốc tây cũng chấm dứt hoạt động
Ở miền Bắc ngay từ sau năm 1954, các nhà thuốc thuộc về tư nhân cũng không còn hoạt động Do đó hình ảnh của người dược sĩ nhà thuốc vẫn còn trong trí thức nhạt nhòa đối với người cao tuổi ở thời điểm đó Mãi đến năm 1990 do nhu cầu sử dụng thuốc trong nhu cầu điều trị bệnh không ngừng tăng cao, Bộ Y tế cho phép thành lập nhà thuốc tư nhân Và đây chính là cột mốc quay lại của vai trò dược sĩ nhà thuốc
Hiện nay trên thế giới đang ngày càng đánh giá cao vai trò của người dược sĩ trong truyền thông phòng ngừa bệnh tật Dược sĩ nhà thuốc đóng vai trò là một nhân viên y tế cộng đồng, tác động đến người dân giúp họ nâng cao nhận thức về phòng ngừa bệnh tật
Ở Việt Nam, cũng nhiều nước đang phát triển, các nhà thuốc thường là nơi lựa chọn đầu tiên của người dân để tìm kiếm dịch vụ y tế cho những vấn
đề sức khỏe thông thường Các nhà thuốc đóng một vai trò quan trọng trong việc cung ứng các loại thuốc cũng như đưa ra lời khuyên và tư vấn về vấn đề sức khỏe Tại các nhà thuốc, người bán thuốc đóng vai trò cung cấp thuốc theo nhu cầu của người mua đồng thời tư vấn sử dụng thuốc, ngoài ra người bán còn lựa chọn thuốc cho người mua dựa theo triệu chứng bệnh được kể từ người bệnh đã cho thấy vai trò kép của người bán thuốc tại nhà thuốc
Trang 11Từ đó có các hình thức bán thuốc của nhà thuốc như:
- Bán thuốc theo yêu cầu: Người bệnh tới nhà thuốc yêu cầu loại thuốc muốn mua, thuốc có thể theo đơn của bác sĩ hoặc theo nhu cầu của bệnh nhân
- Bán thuốc kể bệnh triệu chứng: Người bệnh tới nhà thuốc nêu triệu chứng của mình, nhân viên nhà thuốc tư vấn lựa chọn sử dụng thuốc cho bệnh nhân để điều trị các triệu chứng mà bệnh nhân mắc phải Dược sĩ tại nhà thuốc ngoài kiến thức chuyên môn về sử dụng thuốc rất cần các kỹ năng khác như: kỹ năng giao tiếp với khách hàng, tư vấn khách hàng về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, sử dụng thuốc an toàn hợp lý, đồng thời vẫn phải đảm bảo duy trì hoạt động của nhà thuốc thông qua doanh thu
Hiện nay trên thế giới ngày càng đánh giá cao vai trò của nhà thuốc tư nhân cũng như dược sĩ nhà thuốc Ngoài những vai trò về việc ung ứng thuốc cho người bệnh, nhà thuốc tư nhân cũng đóng góp một vai trò rất lớn trong việc tuyên truyền, hướng dẫn cách phòng tránh đối với các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm nhằm tránh lây lan trong công đồng; đặc biệt là đối tượng có nguy cơ cao mắc những bệnh xã hội như: gái mại dâm, người tiêm chích ma túy và sử dụng các chất gây nghiện khác
1.1.2 Một số quy định liên quan đến hoạt động mua bán thuốc tại các cơ
sở bán lẻ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tháng 01 năm 2007, Bộ Y tế chính thức ban hành và áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” viết tắt là GPP trên cơ
sở bộ tiêu chuẩn GPP của FIP/WHO [1][2] “Thực hành tốt nhà thuốc” (Good Pharmacy Practice, viết tắt: GPP) là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn
cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại nhà thuốc của dược sĩ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu Tháng 01 năm 2018, Bộ Y tế chính thức ban hành và áp dụng Thông tư 02/2018/TT-BYT quy định về Thực
Trang 12hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc [9] Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc là bộ nguyên tắc, tiêu chuẩn trong hành nghề tại cơ sở bán lẻ thuốc nhằm đảm bảo cung ứng, bán lẻ thuốc trực tiếp đến người sử dụng thuốc và khuyến khích việc sử dụng thuốc một cách an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng
Mục đích của thực hành nhà thuốc là cung cấp thuốc, các sản phẩm y tế cũng như dịch vụ, giúp người dân và xã hội sử dụng tốt các sản phẩm và dịch
vụ đó Một dịch vụ nhà thuốc toàn diện sẽ bao gồm các hoạt động đảm bảo sức khỏe và phòng ngừa bệnh cho cộng đồng Khi điều trị, việc cần thiết là phải đảm bảo chất lượng trong quá trình sử dụng thuốc nhằm đạt hiệu quả tối
đa trong điều trị “Thực hành tốt nhà thuốc” phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:
- Đặt lợi ích của người bệnh và sức khỏe của cộng đồng lên trên hết
- Cung cấp thuốc đảm bảo chất lượng kèm theo thông tin về thuốc, tư vấn thích hợp cho người sử dụng và theo dõi việc sử dụng thuốc của họ
- Tham gia vào hoạt động tự điều trị, bao gồm cung cấp thuốc và tư vấn dùng thuốc, tự điều trị triệu chứng của các bệnh đơn giản
- Góp phần đẩy mạnh việc bán đơn phù hợp, kinh tế và việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, có hiệu quả [9]
Với nguyên tắc cơ bản đầu tiên và quan trọng nhất được đưa ra trong tiêu chuẩn GPP của Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới luôn là
“phải đặt lợi ích của người bệnh và sức khỏe cộng đồng lên trên hết” Chính
vì vậy, các quy định trong tiêu chuẩn GPP được xây dựng đều hướng tới nguyên tắc này
1.2 GIỚI THIỆU TIÊU CHUẨN GPP
1.2.1 Tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc
Yêu cầu về tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc – GPP của Việt Nam tập trung 03 khía cạnh chính như sau:
Trang 13Hình 1.1 Các tiêu chuẩn GPP 1.2.2 Tiêu chuẩn về nhân sự
- Người phụ trách chuyên môn hoặc chủ cơ sở bán lẻ phải có Chứng chỉ hành nghề dược theo quy định hiện hành
- Nhân viên phải có bằng cấp chuyên môn dược, có đủ sức khỏe và có thời gian thực hành nghề nghiệp phù hợp với công việc được giao
1.2.3 Tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị
- Xây dựng và thiết kế: Địa điểm cố định, riêng biệt; bố trí ở nơi cao ráo, thoáng mát, an toàn, cách xa nguồn ô nhiễm; Xây dựng chắc chắn, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải dễ làm vệ sinh, đủ ánh sáng nhưng không để thuốc bị tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời
- Diện tích: Diện tích phù hợp với quy mô kinh doanh nhưng tối thiểu là 10m2, bố trí được khu vực để trưng bày, khu vực để người mua thuốc tiếp xúc và trao đổi thông tin Ngoài ra, phải bố trí thêm khu vực ra lẻ, khu vực rửa tay, khu vực tư vấn… Mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dụng cụ y tế phải để khu vực riêng và không ảnh hưởng đến thuốc
- Thiết bị bảo quản: Có đủ thiết bị để bảo quản thuốc tránh được ảnh hưởng bất lợi của ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sự ô nhiễm (tủ, quầy, giá
kệ, nhiệt kế, ẩm kế, máy điều hòa, quạt thông gió…) và đảm bảo điều kiện bảo quản ở nhiệt độ phòng: nhiệt độ không vượt quá 30oC, độ ẩm không vượt quá 75%; và dụng cụ, bao bì ra lẻ thuốc phù hợp với điều
Nhân sự
Cơ sở vật chất
và trang thiết bị chuyên môn Hoạt động
Các tiêu chuẩn GPP
Trang 14kiện bảo quản của thuốc, nhãn ra lẻ thuốc Đến hết ngày 01/01/2019, các nhà thuốc phải trang bị ít nhất 01 thiết bị theo dõi nhiệt độ tự ghi với tần suất ghi 1-2 lần/1 giờ
1.2.4 Tiêu chuẩn về hoạt động chuyên môn
- Hồ sơ, sổ sách và tài liệu chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc:
+ Có các tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc, các quy chế dược hiện hành + Các hồ sơ, sổ sách liên quan đến hoạt động kinh doanh thuốc, bao gồm:
Sổ sách hoặc máy tính để quản lý thuốc tồn trữ (bảo quản), theo dõi số
lô, hạn dùng của thuốc và các vấn đề khác có liên quan Khuyến khích các cơ sở bán 5 lẻ có hệ thống máy tính và phần mềm để quản lý các hoạt động và lưu trữ các dữ liệu; Hồ sơ hoặc sổ sách lưu trữ các dữ liệu liên quan đến bệnh nhân (bệnh nhân có đơn thuốc hoặc các trường hợp đặc biệt) đặt tại nơi bảo đảm để có thể tra cứu kịp thời khi cần;
Theo quy định, các nhà thuốc bắt buộc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin kết nối mạng từ ngày 01/01/2019 Sổ sách, hồ sơ và thường xuyên ghi chép hoạt động mua thuốc, bán thuốc, bảo quản thuốc đối với thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất theo quy định, sổ pha chế thuốc trong trường hợp có tổ chức pha chế theo đơn;
+ Xây dựng và thực hiện theo các quy trình thao tác chuẩn dưới dạng văn bản: Quy trình bán thuốc theo đơn; Quy trình bán thuốc không kê đơn; Quy trình bảo quản và theo dõi chất lượng; Quy trình giải quyết đối với thuốc bị khiếu nại hoặc thu hồi; Quy trình pha chế thuốc theo đơn trong trường hợp có tổ pha chế theo đơn; các quy trình khác có liên quan
Hoạt động bán thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc
Các hoạt động chủ yếu của cơ sở bán lẻ thuốc:
+ Mua thuốc: Mua tại các cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành, còn nguyên vẹn, có đầy đủ bao gói của nhà
Trang 15sản xuất, nhãn đúng quy định, đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ Đảm bảo chất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh
+ Bán thuốc: Bán thuốc là hoạt động chuyên môn quan trọng của cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm việc cung cấp thuốc kèm theo việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, có hiệu quả cho người sử dụng… + Bảo quản thuốc: Thuốc phải được bảo quản theo yêu cầu ghi trên nhãn thuốc, nên được sắp xếp theo nhóm tác dụng dược lý, thuốc kê đơn được bảo quản và bày bán tại khu vực riêng
Theo tiêu chuẩn thực hành tốt do Bộ Y tế ban hành, bán thuốc là hoạt động chuyên môn của sơ sở bán lẻ thuốc bao gồm việc cấp phát thuốc kèm theo 6 việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng
Dược sĩ hoạt động tại cơ sở bán lẻ thuốc là người có chuyên môn trong lĩnh vực y tế mà người dân trong cộng đồng dễ dàng tiếp cận nhất Dược sĩ cộng đồng sẽ cấp phát các thuốc kê đơn theo đơn của bác sĩ và có quyền chỉ định các thuốc không kê đơn theo quy định của mỗi quốc gia Ngoài việc đảm bảo cấp phát thuốc có chất lượng, phù hợp, hoạt động chuyên môn của họ còn
là tư vấn sử dụng thuốc, thông tin thuốc cho người bệnh, đồng thời tham gia các chương trình tăng cường sức khỏe và truyền thông giúp phòng ngừa bệnh tật cho người dân trong cộng đồng
Tại Việt Nam, người bán lẻ thuốc tại nhà thuốc là dược sĩ đại học và những người được đào tạo, có chuyên môn về dược, khi thực hiện hoạt động bán thuốc cần tuân thủ những yêu cầu chung như sau:
- Có thái độ hòa nhã, lịch sự khi tiếp xúc với người mua thuốc, bệnh nhân;
- Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin và lời khuyên đúng đắn về cách dùng thuốc cho người mua hoặc bệnh nhân và có các tư vấn cần thiết nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả;
Trang 16- Giữ bí mật các thông tin của người bệnh trong quá trình hành nghề như bệnh tật, các thông tin người bệnh yêu cầu;
- Trang phục áo blu trắng, sạch sẽ, gọn gàng, có đeo biển ghi rõ tên, chức danh;
- Thực hiện đúng các quy chế dược, tự nguyện tuân thủ đạo đức hành nghề dược;
- Tham gia các lớp đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn và pháp luật
y tế;
1.2.5 Hoạt động nghề nghiệp của người bán thuốc
1.2.5.1 Yêu cầu chung đối với hoạt động bán thuốc
Quy trình bán và tư vấn sử dụng thuốc
Tất cả các nhà thuốc đều phải xây dựng và thực hiện theo quy trình thao 7 tác chuẩn (SOP) dưới dạng văn bản cho các hoạt động chuyên môn để mọi nhân viên áp dụng “Quy trình bán thuốc kê đơn” và “Quy trình bán thuốc không kê đơn” là 2 trong số 7 quy trình tối thiểu các cơ sở phải xây dựng, thực hiện Các thuốc không kê đơn được quy định tại thông tư số 07/2017/TT-BYT [10] Quy trình thao tác chuẩn SOP “bán và tư vấn sử dụng thuốc không
kê đơn” tại nhà thuốc ở Việt Nam bao gồm các bước sau:
- Tiếp đón và chào hỏi khách hàng;
- Tìm hiểu các thông tin về việc sử dụng thuốc của khách hàng:
+ Trường hợp khách hàng hỏi mua một loại thuốc cụ thể, cần tìm hiểu các thông tin sau để xác định việc sử dụng thuốc của bệnh nhân là đúng: thuốc có trong danh mục thuốc phải kê đơn hay không, thuốc được mua dùng để chữa bệnh/triệu chứng gì? Bệnh nhân là nam/nữ, tuổi, tình trạng sức khỏe, có đang mắc các bệnh mạn tính nào không? Đang dùng thuốc gì? Hiệu quả? TDKMM? Đã dùng thuốc này lần nào chưa? Hiệu quả?
Trang 17+ Trường hợp khách hàng hỏi và tư vấn điều trị một số chứng/bệnh thông thường, cần tìm hiểu các thông tin sau: giới tính, tuổi, mắc chứng/bệnh gì? Biểu hiện? Thời gian mắc chứng/bệnh? Chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt? Bệnh nhân có đang mắc bệnh mạn tính gì? Đang dùng thuốc gì? Bệnh nhân đã dùng thuốc gì để điều trị bệnh/triệu chứng này? Dùng như thế nào? Hiệu quả?
- Đưa ra những lời khuyên đối với từng bệnh nhân cụ thể:
+ Nếu việc sử dụng thuốc của BN chưa đúng hoặc chưa phù hợp: Giải thích, tư vấn, hướng dẫn KH chuyển sang loại thuốc khác đúng và phù hợp hơn Trong trường hợp cần thiết khuyên BN đi khám và mua theo đơn của bác sĩ
+ Trao đổi đưa ra lời khuyên về chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng phù hợp với từng đối tượng, từng chứng/bệnh cụ thể
+ Cung cấp các thông tin cụ thể về thuốc phù hợp với khách hàng để KH chọn 8
- Lấy thuốc: cho vào các bao, gói, ghi rõ: tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, liều dùng, cách dùng, thời gian dùng của từng thuốc;
- Hướng dẫn cách dùng: hướng dẫn, giải thích cho khách hàng về tác dụng,chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn, liều lượng, cách dùng thuốc;
- Thu tiền và giao hàng cho khách
Hoạt động tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc là hoạt động quan trọng nhất của các cơ sở bán lẻ thuốc Việc thực hiện hoạt động này càng tốt, càng sâu thì chất lượng phục vụ của nhà thuốc càng tăng và uy tín với khách hàng càng được nâng cao
Các quy định về tư vấn sử dụng thuốc
Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệu quả điều trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng;
Trang 18Khi bán thuốc, người bán lẻ tư vấn và thông báo cho người mua: cách dùng thuốc, các thông tin về thuốc, tác dụng phụ, tương tác thuốc, các cảnh báo
Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người
có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn;
Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị;
Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhân viên bán thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng bệnh;
Đối với bệnh nhân nghèo, không đủ khả năng chi trả thì người bán lẻ cần tư vấn lựa chọn loại thuốc có giá cả hợp lý, đảm bảo điều trị bệnh và giảm tới mức thấp nhất khả năng chi phí;
Không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tại nơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo thuốc; khuyến khích người mua coi thuốc là hàng hoá thông thường và khuyến khích người mua mua thuốc nhiều hơn cần thiết
1.2.5.2 Hoạt động ra lẻ thuốc
Bao bì thuốc
Thực hiện việc ra lẻ thuốc phù hợp với điều kiện bảo quản thuốc: Đối với thuốc không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc, phải bố trí phòng/khu vực ra lẻ để thực hiện việc ra lẻ thuốc bán cho người bệnh Trong danh mục kiểm tra GPP có yêu cầu đối với khu vực ra lẻ có thể xem xét chấp thuận nếu
bố trí phòng riêng hoặc hộp/ngăn riêng ra lẻ thuốc
Trường hợp ra lẻ thuốc mà không còn bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc phải dùng đồ bao gói kín khí, khuyến khích dùng các đồ bao gói cứng,
Trang 19có nút kín để trẻ nhỏ không tiếp xúc trực tiếp được với thuốc Không dùng các bao bì ra lẻ thuốc có chứa nội dung quảng cáo các thuốc khác để làm túi đựng thuốc;
Ghi nhãn thuốc
Đối với trường hợp thuốc bán lẻ không đựng trong bao bì ngoài của thuốc thì phải ghi rõ: tên thuốc; dạng bào chế; nồng độ, hàm lượng thuốc; với trường hợp không có đơn thuốc đi kèm phải ghi thêm liều dùng, số lần dùng
và cách dùng Như vậy, theo quy định hiện nay nếu thuốc bán lẻ ở dạng nguyên vỉ, gói (không đựng trong bao bì ngoài), trong trường hợp không có đơn thuốc đi kèm, khi trên vỉ đã có nội dung thông tin tối thiểu bắt buộc theo quy định gồm tên thuốc, hàm lượng thì người bán thuốc chỉ cần ghi và đính kèm các thông tin:dạng bào chế, cách dùng, liều dùng, số lần dùng
Đối với thuốc không còn bao bì trực tiếp tiếp xúc với thuốc, thì phải ghi rõ/đính kèm: tên thuốc; dạng bào chế; nồng độ, hàm lượng thuốc; trường hợp không có đơn thuốc phải ghi liều dùng, số lần dùng và cách dùng
Nội dung về cách dùng, liều dùng, số lần dùng theo quy định của Thông tư 06/2016/TT-BYT ban hành hướng dẫn ghi nhãn thuốc: Liều dùng,
số lần dùng, cách dùng: ghi rõ lượng thuốc cho một lần đưa vào cơ thể hay lượng thuốc dùng trong một ngày; ghi rõ liều dùng cho người lớn, người già, trẻ em (nếu có) Ghi rõ đường dùng, dùng khi nào (ví dụ: uống trước hoặc sau bữa ăn…), cách dùng thuốc để hiệu quả cao nhất (ví dụ: uống với nhiều nước)
1.3 THỰC TRẠNG HÀNH NGHỀ CỦA NGƯỜI BÁN THUỐC TẠI VIỆT NAM
1.3.1 Thực trạng hành nghề của người bán thuốc
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã tiến hành tại các địa phương nhằm khảo sát và đánh giá kỹ năng thực hành nghề nghiệp của người bán thuốc (NBT) Mặc dù đã có các quy trình bán thuốc theo đơn và quy trình bán
Trang 20thuốc không theo đơn, nhưng kỹ năng thực hiện NBT còn chưa được nâng cao, cụ thể:
Bảng 1.1: Thực hành khai thác thông tin của người bán thuốc
Đơn thuốc
Đi khám bác sĩ
Đối tượng dùng thuốc
Khai thác triệu chứng bệnh (%)
30
NT
3,3(1) 33,3(1) 56,7(1)
10,0(2) 13,3(2) 63,3(2)Hải
Dương
2016
[2]
Đóng vai
Trang 21Bảng 1.2: Thực hành tư vấn của người bán thuốc
Số lần dùng/ngày
Tổng số ngày dùng
Tác dụng phụ
Không hướng dẫn Thanh
Trang 22của bác sĩ chưa Bên cạnh đó tỷ lệ người bán thuốc không đưa ra câu hỏi nào trong tình huống bán thuốc vẫn ở con số khá cao [2][15][16][17]
Kỹ năng khuyên có tỷ lệ người bán thuốc thực hiện tương đối thấp ở từng nội dung Trong nhiều tình huống đóng vai hỏi mua thuốc kê đơn, việc
tư vấn người bệnh nên đi khám bác sĩ chỉ chiếm tỷ lệ không quá 11% Đối với tình huống đóng vai mua kháng sinh, việc tư vấn bệnh nhân sử dụng đủ liều chưa được chú trọng, chỉ 43,3% người bán thuốc đưa ra tư vấn này Tỷ lệ tình huống bán thuốc không có lời khuyên nào được đưa ra vẫn ở mức cao, cá biệt như tại Hải Dương trong tình huống yêu cầu thuốc không kê đơn (paracetamol) có 92,5% người bán thuốc không đưa ra bất cứ lời khuyên nào
Phần lớn NBT chú trọng tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc cho khách hàng Nội dung hướng dẫn sử dụng thuốc được NBT cung cấp thông tin nhiều nhất là liều dùng, số lần dùng trong ngày, thường trên 50% số lượt khảo sát Ngược lại, tỷ lệ NBT đưa ra thông tin về tác dụng phụ của thuốc rất thấp, chỉ dưới 10% Đáng chú ý, tỷ lệ NBT không đưa ra bất cứ hướng dẫn nào cho khách hàng vẫn ở mức cao Tỷ lệ này có thể lên tới 37% trong tình huống hỏi mua kháng sinh amoxicillin, hay trên 50% khi NBT cấp phát paracetamol tại nhà thuốc [5] Phải chăng NBT coi đây như một thuốc phổ biến mà đa số người mua đã nắm được cách sử dụng cũng như các thông tin của thuốc Các nghiên cứu tìm hiểu về kỹ năng tư vấn của NBT thường sử dụng phương pháp đóng vai người mua hàng hoặc quan sát tình huống mua thuốc thực tế của khách hàng tới nhà thuốc, quầy thuốc Trong đó phương pháp đóng vai được
áp dụng phổ biến hơn ở tại Việt Nam và trên thế giới bởi phương pháp này mang lại nhiều ưu điểm Phương pháp quan sát có thể giúp nhà nghiên cứu thu 20 thập được nhiều thông tin qua các tình huống mua thuốc thực tế và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này là sai số do ảnh hưởng đến hành vi của NBT khi có sự quan sát và chỉ giới hạn số lượng NBT được quan sát do những hạn chế về nguồn lực Phương pháp đóng vai khách hàng
Trang 23cho phép nghiên cứu thu thập trên số lượng NBT lớn hơn và nhiều thông tin
về tình huống hơn, đặc biệt là phương pháp này không ảnh hưởng tới hành vi của NBT do NBT không được biết trước về tình huống Từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, đề tài nhận thấy đối với tình huống đóng vai
kể bệnh triệu chứng thông thường tập trung một số nhóm bệnh: nhiễm trùng
hô hấp, tiêu hóa, nhiễm trùng tiết niệu…
Trong đó bệnh về hô hấp là kịch bản thường gặp nhất bởi bệnh luôn có
tỷ lệ mắc trong cộng đồng cao tại nhiều nước Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính (Acute Respiratory Infections - ARI) là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi nếu không có những biện pháp can thiệp kịp thời Nhiễm trùng đường hô hấp được chia ra hai nhóm: nhiễm trùng hô hấp trên và nhiễm trùng hô hấp dưới; nhiễm trùng hô hấp dưới có nguy cơ cao dẫn tới biến chứng nặng hơn Theo một hướng dẫn điều trị đối với các trường hợp khác nhau của ARI, với các nhiễm trùng hô hấp trên thông thường bao gồm các triệu chứng: ho, đau rát họng, sổ mũi hoặc ngạt mũi, có thể có sốt; còn các triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp dưới của trẻ gồm: ho kèm khó thở, sốt, tức ngực hoặc có kèm một số dấu hiệu nguy hiểm như nôn, không thể ăn uống, co giật… Vì vậy khả năng tư vấn của người bán thuốc tại nhà thuốc rất quan trọng để có thể phát hiện được những dấu hiệu nguy hiểm
Từ đó quyết định việc trẻ có thể điều trị tại nhà hay cần tới gặp bác sĩ Trong trường hợp các triệu chứng của trẻ chỉ được xác định là nhiễm trùng hô hấp trên, như cúm mùa, theo Hướng dẫn điều trị bệnh truyền nhiễm của Bộ Y tế khuyến cáo người bán lẻ cần tư vấn cho trẻ một số biện pháp điều trị hỗ trợ: thuốc hạ sốt, đảm bảo cân bằng điện giải, chế độ dinh dưỡng hợp lý [7] Đối với kịch bản đóng vai mua thuốc cụ thể, có thể thấy Amoxicillin là hoạt chất được lựa chọn khá nhiều cả nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 241.3.2 Thực trạng kháng kháng sinh
Bán kháng sinh không đơn là nguyên nhân dẫn đến sử dụng kháng sinh bất hợp lý, gây ra những hậu quả nghiêm trọng với người dân trên cả thế giới, bao gồm: sử dụng không phù hợp là lãng phí và có hại, gia tăng tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, gia tăng tác dụng không mong muốn của thuốc, lãng phí thuốc, và sự giảm sự tin tưởng của bệnh nhân Việc bán kháng sinh không đơn góp phần phát triển kháng thuốc Hậu quả dẫn tới các kháng sinh “thế hệ I” gần như không được lựa chọn trong nhiều trường hợp Các kháng sinh thế
hệ mới đắt tiền, thậm chí các kháng sinh được xếp loại “lựa chọn cuối cùng” cũng dần mất hiệu lực Tỷ lệ kháng kháng sinh tại nước ta ngày càng gia tăng,
và là một trong những nước có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất trong khu vực
Ở Việt Nam, hậu quả của việc bán kháng sinh không đơn là tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng với nhiều kháng sinh nhóm cephalosporin thế
hệ 3 và kháng sinh nhóm quinolon đã kháng với tỷ lệ cao Tại Đài Loan, hàng năm, hàng ngàn người phải nhập viện và khoảng 23000 người phải tử vong vì các vấn đề liên quan đến kháng kháng sinh Ở Ấn Độ, nơi 40% kháng sinh trên thế giới được sản xuất ra, ước tính có hơn 58.000 trẻ em tử vong do kháng kháng sinh trong năm 2013 Tăng tác dụng không mong muốn Thuốc kháng sinh khi bán không đơn sẽ làm gia tăng sử dụng không hợp lý, có nguy
cơ tăng tác dụng không mong muốn, gây tăng đáng kể chi phí chăm sóc
Thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh có vai trò quan trọng trong việc điều trị chữa bệnh, tuy nhiên thuốc có những tác dụng phụ, nếu sử dụng không đúng cách hoặc tự ý sử dụng sẽ gây ra những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như kéo dài thời gian điều trị, gia tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân, tăng chi phí điều trị, đặc biệt là gia tăng tình trạng kháng kháng sinh Tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị kháng sinh còn thấp Một cuộc khảo sát bệnh nhân ở 11 quốc gia trên toàn thế giới cho thấy 22,3% số bệnh nhân được dùng thuốc kháng sinh điều trị nhiễm trùng cấp tính tại cộng đồng
Trang 25thừa nhận không tuân thủ đầy đủ liệu trình Nhiều bệnh nhân dùng liều thấp hơn hoặc chỉ dùng trong thời gian ngắn 3 ngày thay vì 5 ngày Một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng bán thuốc kê đơn mà không có đơn tràn lan là do chủ sở hữu nhà thuốc muốn tối đa hóa doanh thu,
áp lực từ phía khách hàng liên quan đến thói quen khám bệnh, dùng thuốc, sự phiền hà và tốn kém để có được đơn thuốc cũng là nguyên nhân khiến người dân muốn mua thuốc tại nhà thuốc, nhận thức của người dân còn hạn chế, hậu kiểm trong quản lý còn rất yếu và chưa có sự quan tâm về vấn đề này tại nhà thuốc
1.3.3 Thực trạng bán thuốc kháng sinh tại nhà thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc bán thuốc kê đơn mà không có đơn còn phổ biến Hiện nay đã có nhiều các văn bản quy định về bán thuốc kê đơn được ban hành và phổ biến, thậm chí hành vi bán lẻ thuốc mà không có đơn thuốc còn
là hành vi bị nghiêm cấm, nhưng việc chấp hành và thực hiện của các cơ sở bán lẻ thuốc chưa nghiêm Công tác hậu kiểm còn nhiều hạn chế, bên cạnh đó
số lượng nhà thuốc quá lớn trên địa bàn với cơ cấu nhân lực của cơ quan quản
lý còn hạn chế cũng là mộttrong những khó khăn được đưa ra Ngoài ra, chế tài xử phạt vi phạm chưa đủ sức răn đe, theo quy định đối với hành vi bán lẻ các loại thuốc phải kê đơn mà không có đơn thuốc bị xử phạt từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng; đối với hành vi kê đơn thuốc không ghi đầy đủ, rõ ràng, không chính xác trong đơn bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng Tại Việt Nam, kết quả của các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vi phạm quy chế bán thuốc kháng sinh theo đơn đang trở thành một thực trạng chung tại hầu hết các nhà thuốc Một nghiên cứu sử dụng các cuộc phỏng vấn với nhân viên nhà thuốc và khách hàng cùng với quan sát giao dịch giữa hai bên trong khoảng thời gian hai tuần tại Hà Nội, cho thấy 90% các loại thuốc được cung ứng theo yêu cầu mà không cần đơn của bác sĩ Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ
ra rằng có 70% - 80% thuốc kháng sinh được mua bởi các cơ sở bán lẻ mà
Trang 26không cần đơn thuốc và tư vấn đưa ra rất ít [8][10] Một nghiên cứu xem xét
việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi do Streptococcus tại các nhà
thuốc ở cả thành thị và nông thôn ở Việt Nam cho thấy rất nhiều nhà thuốc cả thành thị và nông thôn sử dụng kháng sinh không phù hợp với phác đồ Hiện nay, thực tế cho thấy việc NBT bán KS mà không có đơn một cách không cần thiết cho các trường hợp ho, cảm cúm thông thường diễn ra phổ biến tại các nhà thuốc Hơn thế, KS Cephalosporin thế hệ 2, 3 là những KS phổ rộng được bán với tỷ lệ khá cao (26,5%) và thời gian điều trị chỉ là 2-3 ngày [9] Qua khảo sát tại một số cửa hàng thuốc, cũng cho thấy tỉ lệ kê đơn mua thuốc có kháng sinh chiếm đến 74% Trong đó có nhiều đơn phối hợp từ 2 loại kháng sinh trở lên (chiếm 32%) Thậm chí có đơn thuốc phối hợp đến 3 - 4 loại kháng sinh Do đó cần phải có những quy định chặt chẽ hơn trong việc cung ứng thuốc kháng sinh ở Việt Nam
1.3.4 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý trong cộng đồng
Theo thống kê, thuốc kháng sinh được sử dụng sai và tự sử dụng ở tất
cả các vùng Tại châu Âu, một số quốc gia đang sử dụng gấp ba lần số lượng thuốc kháng sinh trên đầu người so với các nước khác với dịch tễ bệnh tương
tự Chỉ có 70% các trường hợp viêm phổi nhận được một loại kháng sinh thích hợp, khoảng một nửa trong số các nhiễm trùng cấp tính đường hô hấp trên do virus và các trường hợp tiêu chảy do virus nhận được kháng sinh không thích hợp Ở Bangladesh, 57% bệnh nhân sử dụng kháng sinh là không hợp lý Kháng sinh cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể trong chi phí về thuốc của nhiều nước và là nhóm sản phẩm lớn nhất trong chi dùng thuốc ở các nước đang phát triển
Theo một nghiên cứu về sử dụng kháng sinh trong cộng đồng ở thành phố Mexico, khi phỏng vấn các bà mẹ ở 1659 hộ gia đình cho thấy rằng 27% người được hỏi trả lời dùng kháng sinh khi mắc các bệnh đường hô hấp, 37% dùng kháng sinh khi bị ỉa chảy Khoảng 2/3 số người được phỏng vấn trả lời
Trang 27rằng họ dùng kháng sinh dưới 5 ngày Tại Việt Nam với mô hình bệnh tật phần lớn là bệnh nhiễm khuẩn do đó kháng sinh là nhóm thuốc rất cần thiết cho nhu cầu điều trị Thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thuốc nhập khẩu cũng như sản xuất hàng năm của nước ta Ở Việt Nam, thuốc kháng sinh chiếm khoảng 30 - 40% số tiền nhập thuốc hàng năm Một nghiên cứu của Bộ Y tế trong thời gian gần đây đã chỉ ra rằng, việc tự ý sử dụng thuốc kháng sinh của người dân Việt Nam ở thành thị là 88%, trong khi ở nông thôn lên tới 91% Theo nghiên cứu tại Việt Nam hơn 70% trong số bệnh nhân được bán liều kháng sinh không phù hợp Theo khảo sát tại một số tỉnh chỉ khoảng 20% số thuốc được mua theo đơn Tiền thuốc các bệnh viện mua chỉ chiếm 1/10 doanh số bán ra của các doanh nghiệp dược Tỷ lệ này trái với các nước tiên tiến Thống kê cho thấy kháng sinh chiếm 17% tổng chi phí điều trị, chúng ta đã dùng kháng sinh thế hệ 3, 4 trong khi các nước phát triển vẫn dùng thế hệ 1 Hiện nay thuốc kháng sinh có thể mua được một cách dễ dàng, người bệnh
1.4 MỘT SỐ VỀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MẠNG LƯỚI KINH DOANH THUỐC TẠI TPHCM
1.4.1 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của TP Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị
và văn hóa lớn của cả nước Thành phố có dân số trên 1 0 triệu dân, trải rộng trên diện tích 2.095 km2, có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, với
322 phường, xã Cơ cấu dân số “vàng” 70% dân số trong độ tuổi lao động đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đô thị có nền kinh tế phát triển nhất Việt Nam Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Tính đến năm 2013, thu nhập bình quân đầu người đạt 4,513 USD/năm
Trang 281.4.2 Một số đặc điểm mạng lưới kinh doanh thuốc tại TP Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới kinh doanh thuốc dày đặc Tính đến cuối năm 2014 Thành phố có 7.141 cơ sở kinh doanh thuốc, trong đó có 5.629 cơ sở bán lẻ thuốc Mạng lưới này đã đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho người dân bảng 3 như sau:
Bảng 1.3: Số lượng cơ sở kinh doanh thuốc tại TPHCM năm 2014
Dược Cơ
sở bán lẻ thuốc
Tổng số cơ sở bán lẻ thuốc 5.629 Nhà thuốc của tư nhân 4.795 Nhà thuốc của doanh nghiệp 404 Nhà thuốc bệnh viện công lập 72 Nhà thuốc bệnh viện ngoài công lập 35 Đại lý bán thuốc của doanh nghiệp 323 DHCT Cơ sở sản xuất thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 85
Cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 240
Cơ sở bán buôn dược liệu 96 Doanh nghiệp bán buôn dược liệu, thuốc đông y,
thuốc từ dược liệu
3
Nguồn: báo cáo công tác cấp giấy chứng nhận cho cơ sở Dược năm 2014 trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh của phòng Quản lý dịch vụ y tế - Sở y tế) [29]
1.4.3 Giới thiệu nhà thuốc Khánh Hưng
Quận 8 được tạo thành bởi dải cù lao bên trái và dải đất ven huyện Bình Chánh Phía Bắc giáp Quận 5 và Quận 6 với ranh giới tự nhiên là kênh Tàu Hũ và kênh Ruột Ngựa Phía Đông giáp Quận 7 với ranh giới tự nhiên là
Trang 29rạch Ông Lớn; Đông Bắc giáp Quận 4.Phía Tây giáp Quận Bình Tân.Phía Nam giáp Huyện Bình Chánh, ranh giới Sông Ba Đồ Quận 8 có hình dài chạy dọc theo kênh Phía nửa bên trái quận là dải đất chính bị kênh rạch chia cắt thành 5 dải đất nhỏ giống như 5 cù lao Còn dải đất bên phải có đầu lớn phía Đông (khu vực đó là trung tâm của quận), sau đó dải đất ấy kéo dài về phía Nam, khu vực ở giữa rất hẹp, cuối dải đất ấy là chợ đầu mối Bình Điền
Cơ cấu dân cư đa dạng nhưng tập trung nhiều là người lao động có thu nhập trung bình
Trang 30Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Danh mục thuốc đã bán và người bán thuốc tại nhà thuốc
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Nhà thuốc Khánh Hưng
Địa chỉ: 1840 Phạm Thế Hiển, Phường 6, Quận 8, TP.Hồ Chí Minh
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: từ 1/2/2019 đến 31/8/2019
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Biến số nghiên cứu
MT1: Đặc điểm hàng hóa đã bán tại nhà thuốc
1 Hàng bán ra
theo nhóm
Hàng bán ra thuộc loại
Phân loại (thuốc/TPCN/VTYT/khác)
Tài liệu sẵn có
2 Số lượng mỗi
mặt hàng bán
ra
Là số lượng tính theo đơn vị tính của mỗi mặt hàng bán ra
Biến số (lọ, ống, viên, chiếc )
Tài liệu sẵn có
3 Đơn giá của
mỗi mặt hàng
bán ra
Là giá trị theo đơn vị đóng gói nhỏ nhất của mỗi
Biến số (VNĐ) Tài liệu
sẵn có
Trang 31TT Tên biến Định nghĩa/giải
thích
thuật thu thập
Phân loại (Nhóm kháng sinh/tim mạch/vitamin )
Tài liệu sẵn có
5 Thuốc bán ra
theo nguồn
gốc
Là nguồn gốc sản xuất của thuốc bán ra
Phân loại (trong nước/nhập khẩu)
Tài liệu sẵn có
Phân loại (thuốc tên gốc/thuốc tên thương mại)
Tài liệu sẵn có
7 Thuốc bán ra
theo dạng
bào chế
Là dạng bào chế của thuốc
Phân loại (viên nén/viên
nang/hít/đặt/kem )
Tài liệu sẵn có
8 Thuốc bán ra
theo quy định
kê đơn
Là thuốc thuộc danh mục thuốc không kê đơn (OTC)
Phân loại (thuốc OTC/thuốc kê đơn)
Tài liệu sẵn có
MT2: Tính hợp lý trong lựa chọn thuốc bán đối với một số bệnh thông thường
Trang 32TT Tên biến Định nghĩa/giải
thích
thuật thu thập
9 Triệu chứng
bệnh
Là biểu hiện của một số bệnh thông thường
Phân loại (bệnh viêm họng/cảm cúm )
Tài liệu sẵn có
Biến số (khoản) Tài liệu
Phân loại (có/không) Tài liệu
Biến số (viên/gói ) Tài liệu
Biến số (VNĐ) Tài liệu
sẵn có
Trang 332.2.2 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu:
Hồi cứu số liệu
2.2.3.1 Kỹ thuật, công cụ thu thập
- Thực hiện thu thập dữ liệu từ sổ bán hàng của quầy thuốc trong giai đoạn từ tháng 2 tới tháng 8 năm 2019 Tiến hành nhập các giá trị cần thiết vào bảng excell dữ liệu
2.2.3.2 Quá trình thu thập
Thu thập toàn bộ dữ liệu bán hàng hàng ngày được ghi chép vào sổ bán hàng bao gồm các thông tin về ngày bán, tên bệnh (theo ý kiến của người bán thuốc), thuốc đã bán (tên thuốc, số lượng thuốc, đơn giá, thành tiền) Nhập các thông tin về dữ liệu bán hàng vào phần mềm Excel và đối chiếu các thông tin thuốc dựa trên danh mục thuốc của nhà thuốc về các chỉ tiêu: nhóm hàng (thuốc/TPCN/VTYT…), nhóm tác dụng dược lý của thuốc, nguồn gốc của thuốc, tên thuốc (thuốc tên gốc/thuốc tên thương mại), dạng bào chế, thuốc kê đơn, hợp lý về liều dùng thuốc kháng sinh, hợp lý về thời gian dùng thuốc kháng sinh
2.2.4 Mẫu nghiên cứu
Thuốc được bán ra trong thời gian từ tháng 2 - 8/2019)
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
2.2.5.1 Xử lý
Trang 34- Xử lý trước nhập liệu: tiến hành đối chiếu tên thuốc đã ghi với danh mục tên thuốc tại nhà thuốc để bổ sung thông tin về nồng độ hoặc hàm lượng, tên hoạt chất, dạng bào chế, nước sản xuất nhằm đảm bảo tính chính xác của thuốc đã bán ra
- Phần mềm nhập liệu: Excel for windows 2010
- Xử lý sau khi nhập liệu
+ Tổng hợp lượt bán có sử dụng kháng sinh, tên loại kháng sinh, thời gian dùng kháng sinh
+ Thuốc thuộc loại kê đơn/ không kê đơn: dựa vào danh mục thuốc không kê đơn (thông
+ Phân loại bệnh/ triệu chứng theo phân loại quốc tế về bệnh tật (ICD10)
Trang 35- Các triệu chứng bệnh hô hấp của người bệnh
- Loại kháng sinh được sử dụng điều trị bệnh hô hấp
- Các loại thuốc trong lượt bán thuốc cho người bệnh mắc bệnh hô hấp + Số lượt bán có sử dụng thuốc có corticoid
- Phương pháp xử lý số liệu: giá trị trung bình, giá trị tỷ lệ
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC MẶT HÀNG ĐÃ BÁN TẠI NHÀ THUỐC KHÁNH HƯNG TRONG THỜI GIAN TỪ THÁNG 2-8/2019
3.1.1 Tỷ trọng doanh thu của nhà thuốc theo loại hình bán
Doanh thu bán lẻ tại nhà thuốc gồm bán theo yêu cầu và theo kể bệnh triệu chứng dựa trên báo cáo doanh thu nhà thuốc của 7 tháng từ 2-8/2019
Bảng 3.5: Doanh thu bán lẻ theo yêu cầu và theo kể bệnh triệu chứng
bán
Doanh thu (1000 đ)
Tỷ lệ Doanh thu (%)
1 Bán lẻ theo yêu cầu, trong đó: 12788 416.839 32,0
và đạt 33637 lượt bán cho bệnh nhân (trong đó tỷ trọng doanh thu từ thuốc là
Trang 3754,4% gấp gần 7,5 lần so với doanh thu từ thực phẩm chức năng) Doanh thu trung bình của nhà thuốc mỗi tháng là 186.019 nghìn đồng, giá trị bình quân doanh thu trên ngày là 6.201 nghìn đồng
Bên cạnh sản phẩm thuốc, nhà thuốc Khánh Hưng còn kinh doanh thêm các mặt hàng khác là thực phẩm chức năng và dụng cụ y tế Trong danh mục các sản phẩm bán ra của nhà thuốc Khánh Hưng trong khoảng thời gian từ tháng 2 tới tháng 8/2019, thuốc vẫn là mặt hàng được bán ra nhiều nhất với 74,8% tổng doanh thu, doanh thu của thực phẩm chức năng chiếm 9,9% và dụng cụ y tế chiếm 15,3% Kể cả bán theo hình thức bán theo yêu cầu hay kể bệnh triệu chứng đều cho thấy doanh thu thuốc chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với doanh thu từ thực phẩm chức năng
Tổng số lượt bán trong 7 tháng của nhà thuốc Khánh Hưng là 33637 lượt bán trong đó bán theo kể bệnh triệu chứng có 15890 lượt bán, bán theo yêu cầu
có 12788 lượt bán, 4,959 lượt bán dụng cụ y tế Tỷ lệ số lượt bán theo kể bệnh triệu chứng chiếm tỷ lệ 47,2 % chiếm đa số cho thấy phần nhiều người bệnh tới quầy thuốc là kể bệnh để nhân viên quầy thuốc tư vấn và bán thuốc
Tỷ lệ người bệnh tới quầy thuốc yêu cầu mua thuốc tại quầy đạt 38,0 % thường những trường hợp bệnh nhân đã mua thuốc nhiều lần, hoặc được người thân giới thiệu trực tiếp loại thuốc cần mua
3.1.2 Cơ cấu doanh thu thuốc theo phân loại thuốc kê đơn/không kê đơn
Bảng 3.6: Cơ cấu doanh thu thuốc theo phân loại thuốc kê đơn
1 Thuốc phải bán có đơn
Trang 38TT Nội dung Doanh thu (1000 đ) Tỷ lệ (%)
2 Thuốc không kê đơn 324.236 33,3
3.1.3 Doanh thu thuốc theo nhóm tác dụng dƣợc lý của thuốc
3.1.3.1 Tỷ trọng doanh thu của mỗi nhóm thuốc theo tác dụng dược lý
Bảng 3.7: Cơ cấu doanh thu thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
1 Nhóm thuốc kháng viêm corticoid 232.710 23,9
2 Nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm
3 Nhóm thuốc kháng sinh 166.500 17,1
4 Nhóm thuốc tác dụng hệ hô hấp 138.263 14,2