1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích tình hình sử dụng surfactant trong điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại trung tâm chăm sóc điều trị sơ sinh, bệnh viện phụ sản trung ương

104 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH TÍNH PHÙ HỢP VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH – BỆNH VIỆN PHỤSẢNTRUNGƯƠNG ...

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ LAN ANH

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG

SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ

HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP

Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM

CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH,

BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ LAN ANH

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ

HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP

Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH, BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến hai người

thầy của tôi là PGS TS Nguyễn Thành Hải – giảng viên Bộ môn Dược Lâm Sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội và TS Lê Minh Trác – Giám đốc Trung tâm

Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương – những người thầy

đã nhiệt tình chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô của hai bộ môn thuộc chuyên ngành Dược lý - Dược Lâm Sàng cùng toàn thể các thầy cô Trường Đại học Dược Hà Nội,

là những người thầy đã chia sẻ kiến thức và giúp tôi có được những hành trang quý báu trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc và Lãnh đạo khoa Dược -

Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, đặc biệt là DSCKII Trần Thị Thanh Hà –

Trưởng khoa Dược – là người đã luôn chỉ bảo và động viên tôi rất nhiều trong thời gian tôi thực hiện luận văn cao học Tôi cũng xin được cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp làm việc tại khoa Dược, Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh, Phòng Lưu trữ hồ sơ & Khai thác bệnh án của bệnh viện đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành đề tài này

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn bè của tôi và Dược sĩ

Lê Quốc Huy, Dược sĩ Điều Thị Ngọc Châu - là những người đã luôn tạo động lực, giúp đỡ tôi rất nhiều từ khi luận văn bắt đầu được tiến hành cho đến khi hoàn thành

Cuối cùng, lời cảm ơn đặc biệt và ý nghĩa nhất tôi muốn gửi đến gia đình của tôi, nơi đã sinh ra tôi, nuôi dưỡng tôi lớn lên và luôn bên cạnh che chở động viên tôi suốt chặng đường qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2020

Học viên

Lê Thị Lan Anh

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ ……… ……… 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1.TỔNGQUANVỀHỘICHỨNGSUYHÔHẤPỞTRẺSƠSINH 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ 3

1.1.3 Chẩn đoán 4

1.1.4 Điều trị 5

1.1.5 Phòng bệnh 7

1.2 TỔNG QUAN VỀ SURFACTANTTRONG ĐIỀU TRỊ HỘICHỨNG SUY HÔHẤPỞTRẺSƠSINH 7

1.2.1 Định nghĩa và phân loại về surfactant 7

1.2.2 Một số lưu ý về cách dùng và liều dùng của surfactant 9

1.2.3 Hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu về liệu pháp surfactant trong kiểm soát hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh 10

1.2.4 Các surfactant được sử dụng trong nghiên cứu 12

1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG KIỂM SOÁT HỘICHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺSƠSINH 15

1.3.1 Trên thế giới 15

1.3.2 Tại Việt Nam 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1.ĐỐITƯỢNGNGHIÊNCỨU 23

2.2.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 23

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

Trang 5

2.2.3 Phương pháp tiến hành nghiên cứu 24

2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 25

2.2.5 Một số quy ước trong nghiên cứu 26

2.2.6 Phân tích và xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1.KHẢOSÁTTHỰCTRẠNGSỬDỤNGSURFACTANTTRONGĐIỀUTRỊ HỘICHỨNG SUYHÔHẤPỞ TRẺSƠSINHTẠITRUNG TÂMCHĂM SÓC &ĐIỀUTRỊSƠSINH–BỆNHVIỆNPHỤSẢNTRUNGƯƠNG 29

3.1.1 Đặc điểm của BN trong mẫu nghiên cứu 29

3.1.2 Đặc điểm sử dụng thuốc trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 34

3.2 PHÂN TÍCH TÍNH PHÙ HỢP VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH – BỆNH VIỆN PHỤSẢNTRUNGƯƠNG 39

3.2.1 Phân tích tính phù hợp của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 39

3.2.2 Phân tích hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS 41

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 50

4.1.BÀNLUẬNVỀTHỰCTRẠNGSỬDỤNGSURFACTANTTRONGĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤPỞ TRẺ SƠSINH TẠI TRUNG TÂMCHĂM SÓC&ĐIỀUTRỊSƠSINH–BỆNHVIỆNPHỤSẢNTRUNGƯƠNG 50

4.1.1 Bàn luận về đặc điểm của mẫu nghiên cứu 50

4.1.2 Bàn luận về đặc điểm sử dụng thuốc trên BN 55

4.2 BÀN LUẬN VỀ TÍNH PHÙ HỢP VÀ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH – BỆNH VIỆN PHỤSẢNTRUNGƯƠNG 59

4.2.1 Bàn luận về tính phù hợp của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 59

4.2.2 Bàn luận về hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS 63

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

KẾTLUẬN 69

Về thực trạng sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 69

Về tính phù hợp và hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 69

KIẾNNGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin bệnh án

Phụ lục 2: Phiếu theo dõi trẻ sơ sinh trước và sau bơm surfactant liều đầu

Phụ lục 3: Xây dựng mô hình tối ưu BMA

Phụ lục 4: Phân tích hồi quy Cox

Phụ lục 5: Các khuyến nghị trong hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu về sử dụng

liệu pháp surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh cập nhật từ năm 2007 đến năm

2019

Phụ lục 6: Danh sách bệnh án nghiên cứu

Trang 7

MAP Mean arterial pressure (Áp lực đường thở trung bình)

MIST Minimally invasive surfactant therapy (Kĩ thuật bơm surfactant xâm lấn

tối thiểu)

NIPPV Nasal intermittent positive pressure ventilation (Thông khí áp lực

dương không liên tục qua mũi)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của RDS [2], [3] 3

Bảng 1.2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của RDS [2], [3] 4

Bảng 1.3 Điều trị một số bệnh lý thường gặp gây RDS ở trẻ sơ sinh 6

Bảng 1.4 Các sản phẩm surfactant [43], [46] 8

Bảng 1.5 Hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu năm 2019 về sử dụng liệu pháp surfactant trong kiểm soát RDS sơ sinh 10

Bảng 1.6 Tóm tắt các nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh các surfactant 17

Bảng 1.7 Tóm tắt kết quả của một số nghiên cứu trong nước đánh giá hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh 20

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá tính phù hợp về liều dùng surfactant 27

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tính phù hợp về thời điểm chỉ định surfactant 27

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhân khẩu học của BN 29

Bảng 3.2 Đặc điểm bệnh mắc kèm của trẻ 31

Bảng 3.3 Tình trạng của trẻ khi nhập khoa sơ sinh 31

Bảng 3.4 Đặc điểm bệnh lý của người mẹ 33

Bảng 3.5 Dự phòng corticoid ở người mẹ 33

Bảng 3.6 Loại surfactant được sử dụng 34

Bảng 3.7 Liều dùng của surfactant 34

Bảng 3.8 Tỉ lệ BN được sử dụng surfactant liều lặp lại 35

Bảng 3.9 Đặc điểm chế độ liều surfactant và thời điểm bơm thuốc 35

Bảng 3.10 Đường dùng và tư thế bơm surfactant 36

Bảng 3.11 Các nhóm thuốc dùng kèm được sử dụng cho BN 37

Bảng 3.12 Các biến cố bất lợi trong quá trình điều trị 38

Bảng 3.13 Tính phù hợp trong chỉ định surfactant 39

Bảng 3.14 Tính phù hợp về liều dùng ban đầu của surfactant 40

Bảng 3.15 Tính phù hợp về liều lặp lại của surfactant 40

Bảng 3.16 Tính phù hợp về thời điểm chỉ định surfactant 41

Bảng 3.17 Các chỉ số hô hấp – tuần hoàn của trẻ trước và sau bơm surfactant 42

Bảng 3.18 Các chỉ số về kết quả điều trị RDS 44

Trang 9

Bảng 3.19 Chi phí điều trị cho BN 45 Bảng 3.20 Các mô hình tối ưu bằng phương pháp BMA 46 Bảng 3.21 Kết quả phân tích các yếu tố nguy cơ bằng mô hình Cox 49

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 25

Hình 3.1 Chẩn đoán bệnh chính của BN khi vào viện 30

Hình 3.2 Sự thay đổi nhịp tim và nhịp thở trước và sau bơm surfactant 43

Hình 3.3 Sự thay đổi các chỉ số FiO2 và SpO2 trước và sau bơm surfactant 43

Hình 3.4 Đồ thị Kaplan-Meier mô tả xác suất tử vong tích lũy theo thời gian 45

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh là tình trạng suy chức năng của

cơ quan hô hấp, có thể bắt đầu ngay lúc mới sinh hoặc một thời gian ngắn sau sinh Nếu không điều trị, có thể xảy ra suy hô hấp (SHH) tiến triển và tử vong do thiếu oxy [43]

Tại Hoa Kỳ, RDS được báo cáo khoảng 1% trường hợp sơ sinh và ảnh hưởng đến 20.000 đến 30.000 trẻ sơ sinh mỗi năm [51] Chi phí điều trị RDS ở trẻ, đặc biệt với trẻ non tháng là rất lớn và gánh nặng kinh tế trong điều trị phản ánh mức độ yêu cầu chăm sóc cao bởi một Đơn vị Chăm sóc Sơ sinh Chuyên sâu (NICU) [35], [36] Năm 2011, chi phí điều trị trung bình cho trẻ có RDS là 55.000

đô la với thời gian nằm viện trung bình là 31,3 ngày; so với 3.200 đô la và 3,4 ngày nằm viện đối với dân số trẻ sơ sinh nói chung [27] Thời gian lưu trú và chi phí điều trị cho trẻ mắc RDS được ghi nhận là cao hơn gần gấp đôi so với ở các trẻ chỉ có sinh non và nhẹ cân Đối với những trẻ sơ sinh tử vong trong thời gian nằm viện (bao gồm cả trẻ sinh non, nhẹ cân và trẻ mắc RDS), thời gian lưu trú trung bình là 7,4 ngày, với chi phí trung bình là 28.600 đô la [27]

Liệu pháp điều trị bằng các thuốc surfactant là một phần quan trọng của chiến lược kiểm soát RDS [47] Sử dụng các surfactant sau sinh đã làm giảm mức

độ nặng của bệnh, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và chi phí liên quan đến điều trị RDS

ở trẻ non tháng [37] Thiết lập tốt cho việc sử dụng các surfactant đã được coi như

là một phương pháp điều trị hiệu quả RDS ở trẻ sơ sinh Nhiều thử nghiệm lâm sàng lớn và các phân tích gộp đã được tiến hành nhằm so sánh hiệu quả của các loại surfactant khác nhau cũng như các chế độ liều dùng, thời điểm và phương pháp đưa thuốc [30], [38], [39] Tuy nhiên, hiệu quả điều trị còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố (tuổi thai, cân nặng khi sinh, mẹ bị đái tháo đường, v.v…) [23], [49] Các hướng dẫn đồng thuận quốc tế cũng đã liên tục đưa ra những cập nhật mới nhất trong chiến lược kiểm soát RDS ở trẻ sơ sinh, trong đó bao gồm cả liệu pháp surfactant, song vẫn còn những điểm chưa sáng tỏ cũng như chưa có những khuyến cáo rõ ràng để

có thể áp dụng một cách thuận tiện trên lâm sàng

Trang 12

Bệnh viện Phụ sản Trung ương là một bệnh viện chuyên khoa hạng 1 về Sản – Phụ khoa – Sơ sinh, trực thuộc Bộ Y tế Hàng năm chi phí cho tiền thuốc tại bệnh viện khoảng hơn 100 tỷ đồng trong đó nhóm surfactant luôn chiếm giá trị tiêu thụ rất cao Theo báo cáo phân tích ABC hàng năm của bệnh viện, nhóm thuốc surfactant luôn thuộc nhóm A trong nhiều năm liền và là nhóm có giá trị tích lũy tiền thuốc lớn Bên cạnh đó, Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh của Bệnh viện

là một trung tâm chăm sóc tích cực (NICU) tiếp nhận một lượng lớn bệnh nhân (BN) sơ sinh với các bệnh lý đa dạng, phức tạp, trong đó có khoảng 5000 trẻ sơ sinh non tháng mỗi năm và trẻ có SHH chiếm tỉ lệ rất cao (khoảng 20% trẻ non tháng) Việc sử dụng các thuốc surfactant tại đây là rất cần thiết để kiểm soát và điều trị hiệu quả RDS Tuy nhiên hiện nay chưa có nghiên cứu nào được tiến hành để phân tích thực trạng sử dụng nhóm thuốc surfactant tại đây Được sự quan tâm của Lãnh đạo Bệnh viện, cũng như Giám đốc Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh về việc phân tích tình hình sử dụng surfactant tại Bệnh viện, do đó nhóm nghiên cứu chúng

tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng surfactant trong điều

trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh – Bệnh viện Phụ sản Trung ương” với hai mục tiêu:

1 Khảo sát thực trạng sử dụng surfactant trong điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh – Bệnh viện Phụ sản Trung ương

2 Phân tích tính phù hợp và hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh tại Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh – Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Từ đó phát hiện ra các vấn đề còn chưa phù hợp trong việc sử dụng surfactant tại bệnh viện nhằm đưa ra các kiến nghị giúp Hội đồng thuốc và Điều trị, Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh có các giải pháp can thiệp giúp nâng cao tính hợp lý trong sử dụng surfactant tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương nói chung và tại Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh nói riêng trong thời gian sắp tới

Trang 13

RDS sơ sinh là hội chứng thường gặp nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây

tử vong sơ sinh, đòi hỏi phải cấp cứu nhanh chóng và xử trí đúng [2]

1.1.2 Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Bảng 1.1 Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của RDS [2], [3]

- Tại cơ quan hô hấp: bệnh nhu mô phổi (bệnh

màng trong (BMT), cơn khó thở nhanh thoáng

qua, hít nước ối phân su), màng phổi (tràn khí

màng phổi, tràn dịch màng phổi, tràn dịch dưỡng

chấp), thanh quản (màng chắn thanh quản, u nhú

thanh quản, mềm sụn thanh quản, liệt dây thanh

âm), khí quản (mềm khí quản, hẹp khí quản),

u/kén phổi bẩm sinh, bất thường xương sườn,

lồng ngực

- Tim mạch: bệnh tim bẩm sinh, cao áp phổi

nguyên phát, thiếu máu hay đa hồng cầu

- Thần kinh: ngạt chu sinh (ngưng thở, xuất huyết

não, phù não), mẹ dùng thuốc (thuốc mê, an

thần), tổn thương thần kinh hoành, bệnh lý thần

kinh cơ

- Nhiễm trùng: viêm phổi, nhiễm trùng huyết

- Sinh non: nguy cơ BMT, cơn ngưng thở Sinh già tháng: hít nước ối phân su

- Sinh mổ: chậm hấp thu dịch phế nang Sinh ngạt: nguy cơ hít

- Da nhuộm phân su: viêm phổi hít phân su

- Mẹ vỡ ối sớm, sốt trước hay trong lúc sinh, nước ối xấu hay

có mùi hôi: viêm phổi

- Mẹ tiểu đường: ảnh hưởng tổng hợp surfactant gây BMT

Trang 14

- Chuyển hóa: toan chuyển hóa, hạ đường huyết,

hạ thân nhiệt

- Bệnh lý ngoại khoa: hẹp mũi sau, teo thực quản,

thoát vị hoành, hội chứng Pierre Robin

- Trẻ bị lạnh, stress, bệnh

lý khác: tăng tiêu thụ oxy

1.1.3 Chẩn đoán

1.1.3.1 Lâm sàng và cận lâm sàng

Bảng 1.2 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của RDS [2], [3]

+ Tím khi thở khí trời: tím quanh môi, đầu chi hoặc

toàn thân, đo SpO2 < 90%

- Ngoài ra còn có những triệu chứng đáng chú ý khác:

nhịp tim nhanh hay chậm, thay đổi tri giác, giảm

phản xạ

- Mức độ SHH được đánh giá bằng chỉ số Silverman,

dựa vào 5 tiêu chí lâm sàng sau: di động ngực bụng,

co kéo liên sườn, lõm hõm ức, cánh mũi phập phồng,

tiếng rên Đánh giá dựa trên tổng số điểm: < 3 điểm

(không SHH), 4-6 điểm (SHH nhẹ), > 7-10 điểm

(SHH nặng)

- Công thức máu, CRP, cấy máu nếu nghi ngờ có nhiễm trùng huyết

- X-quang phổi: phát hiện nguyên nhân gây SHH (như tràn khí, tràn dịch màng phổi, thoát vị cơ hoành, BMT v.v…)

và các bệnh lý đi kèm

- Khí máu động mạch, mao mạch

- Đường, canxi

1.1.3.2 Chẩn đoán xác định

Lâm sàng: thay đổi nhịp thở, khó thở, thở gắng sức

PaO2 < 50 - 60 mmHg và/hoặc PaCO2 > 60mmHg, pH < 7,25 [3]

Trang 15

1.1.3.3 Chẩn đoán phân biệt [3]

Chẩn đoán phân biệt các bệnh lý trong RDS sơ sinh bao gồm: BMT, hít phân

su, ngạt, viêm phổi hít (ối, máu), viêm phổi, tràn khí màng phổi, thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh, cơn ngưng thở ở trẻ non tháng, thoát vị hoành, teo thực quản, tim bẩm sinh

Cách chẩn đoán phân biệt dựa vào tuổi thai, dấu hiệu lâm sàng, tiền sử sản khoa và hình ảnh X-quang

1.1.4 Điều trị

1.1.4.1 Nguyên tắc điều trị [2], [8]

Chống SHH, chống toan máu, chống nhiễm khuẩn, chống kiệt sức

Điều trị theo nguyên nhân

- Dẫn lưu dạ dày làm giảm chướng bụng

- Cung cấp oxy ngay: tùy mức độ SHH mà sử dụng các phương pháp khác nhau

từ thở oxy qua sonde (0,5 lít/phút) hoặc qua lều (8-10 lít/phút) hay phải thông khí áp lực dương qua mặt nạ, qua nội khí quản (NKQ) hay cho trẻ thở máy hỗ trợ Theo dõi bão hòa oxy qua da của trẻ (90-95%) để điều chỉnh nồng độ oxy khí thở vào

 Chống toan máu:

- Bù kiềm dựa vào kết quả khí máu là lý tưởng nhất, khi trẻ đã được thông khí tốt: + Số mEq (Natribicarbonat) = BE x P x 0,3 (P: cân nặng trẻ tính bằng kg)

+ Trường hợp toan hô hấp (PaCO2> 70 mmHg) → thải CO2 bằng máy thở

- Khi không làm được khí máu thì bù mò theo công thức 2mEq/kg

- Cải thiện lưu lượng máu đến phổi:

+ Choáng nghi do giảm thể tích: dung dịch Natriclorua 0,9% 10-20 ml/kg/15 phút

Trang 16

+ Xét nghiệm Hematocrit < 35% → truyền hồng cầu 10 ml/kg

+ Xét nghiệm Hematocrit > 65% (máu tĩnh mạch) → thay máu một phần

 Chống nhiễm khuẩn:

- Đảm bảo vệ sinh trong chăm sóc trẻ đặc biệt các trường hợp trẻ cần đặt NKQ

- Chọn loại kháng sinh phổ rộng khi SHH kèm ối vỡ sớm, nước ối hôi, mẹ sốt trước đẻ hoặc khi khó phân biệt giữa viêm phổi và các nguyên nhân khác

- Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ là tốt nhất

 Điều trị nguyên nhân:

Các bệnh lý cần can thiệp ngoại khoa: thoát vị hoành, teo thực quản, teo tịt lỗ mũi sau… Các bệnh lý nội khoa có xử trí đặc hiệu

Bảng 1.3 Điều trị một số bệnh lý thường gặp gây RDS ở trẻ sơ sinh

Viêm phổi trong

tử cung Kháng sinh phổ rộng, hô hấp hỗ trợ, cân nhắc bơm surfactant

Chảy máu phổi Đặt NKQ, cho trẻ thở máy PEEP 7-8 cm H2O, truyền máu

tươi, chống rối loạn đông máu, cân nhắc dùng surfactant Bệnh màng trong Hỗ trợ hô hấp bằng máy CPAP hoặc máy thở, dùng

surfactant 100 - 200 mg/kg/ liều Dùng liều nhắc lại sau 6-8

Trang 17

giờ nếu trẻ vẫn có các dấu hiệu SHH nặng và không giảm được nhu cầu FiO2, hoặc X-Quang phổi vẫn mờ và độ giãn

1.2 TỔNG QUAN VỀ SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH

Surfactant là một cuộc cách mạng trong việc chăm sóc hô hấp ở trẻ sơ sinh trong những thập niên vừa qua Hầu hết các khía cạnh sử dụng của nó đều đã được thử nghiệm trong những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng và trong số này có nhiều thử nghiệm đã được đưa vào nghiên cứu phân tích gộp (meta-analysis) Có nhiều bằng chứng chứng minh việc sử dụng surfactant cho trẻ đang bị hay có nguy cơ bị RDS đều làm giảm được nguy cơ tràn khí màng phổi và tử vong

sơ sinh [43] Thay thế chất hoạt động bề mặt cũng đã cho thấy không có ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc các vấn đề về thần kinh, phát triển, hành vi, y tế hoặc giáo dục ở trẻ sinh non [33]

1.2.1 Định nghĩa và phân loại về surfactant

Surfactant (chất hoạt động bề mặt phổi) là một hỗn hợp phức tạp của phospholipid và các protein, có vai trò làm giảm sức căng bề mặt phế nang, duy trì

sự ổn định của phế nang Thiếu hoặc rối loạn chức năng trong sản xuất surfactant phổi gây RDS [32]

Trang 18

Hiện nay có hai loại surfactant có nguồn gốc khác nhau là surfactant tự nhiên (từ động vật) và surfactant tổng hợp (không chứa protein) Cả hai chất tự nhiên và tổng hợp đều có tác dụng hoạt động bề mặt hiệu quả trong điều trị và phòng ngừa RDS Chúng làm giảm nguy cơ tràn khí màng phổi, loạn sản phổi và tử vong sơ sinh [40] Các chất hoạt động bề mặt có nguồn gốc từ động vật thường hỗ trợ hô hấp nhanh hơn, thời gian thông khí xâm lấn ngắn hơn và giảm tỷ lệ tử vong khi so sánh với thế hệ tổng hợp đầu tiên hoặc thứ hai [42], nhưng một số chất hoạt động bề mặt tổng hợp thế hệ thứ hai ít nhất cũng không thua kém các chất hoạt động bề mặt

có nguồn gốc từ động vật Các chất hoạt động bề mặt tổng hợp có thể có nồng độ phù hợp hơn và có thể biết trước được các thành phần khác nhau trong đó và do đó

có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng từ động vật sang người [19] Theo đồng thuận của Châu Âu, surfactant tự nhiên nên được dùng hơn là surfactant tổng hợp vì nó

làm giảm tràn khí màng phổi và giảm tử vong (mức độ A) Đối với các surfactant tự

nhiên, các sản phẩm từ bò (beractant và calfactant) có hiệu quả như nhau nhưng sản phẩm từ lợn (poractant alfa) với liều 200 mg/kg khi điều trị cấp cứu cải thiện tỉ lệ

sống tốt hơn beractant liều 100 mg/kg (mức độ B) [43], [47]

Ngoài ra, CHF 5633 là chất hoạt động bề mặt tổng hợp thế hệ thứ ba mới đã được thử nghiệm ở người Bên cạnh đó, các kỹ thuật không xâm lấn như khí dung hoặc phun chất hoạt động bề mặt có thể đóng một vai trò lớn hơn trong tương lai [31]

Bảng 1.4 Các sản phẩm surfactant [43], [46]

gốc

Nhà sản

Trang 19

4 Poractant

100-200 mg/kg/liều (1,25-2,5 ml/kg)

5 Colfosceril Exosurf Tổng hợp Mỹ 64 mg/kg/liều

* Sản phẩm được cấp phép ở châu Âu năm 2018

** Tên biệt dược ở Việt Nam là Alvofact

1.2.2 Một số lưu ý về cách dùng và liều dùng của surfactant

Hầu hết các thử nghiệm lâm sàng đã dùng cách thức bơm nhanh (bolus) hoặc bơm khá nhanh trong vòng một phút và cả hai cách này đều cho thấy hiệu quả tốt trong sự phân bố surfactant Bơm thuốc qua ống NKQ có đường dây để bơm thuốc bên cạnh, không cần ngắt máy thở khi bơm thuốc cũng rất hiệu quả vì giảm được những tác dụng phụ, trước mắt là giảm oxy máu và tăng nhịp tim [48] Nhiều phương pháp bơm thuốc đã được nghiên cứu để xem xét hiệu quả cũng như tính an toàn của nó, đặc biệt trong việc làm giảm nguy cơ xâm lấn ở trẻ sơ sinh Các kĩ thuật mới ra đời như INSURE (đặt NKQ – bơm surfactant – rút NKQ) hay LISA (kĩ thuật bơm thuốc ít xâm lấn) đã cho thấy cải thiện nhiều kết cục lâm sàng ở trẻ [46]

Trong việc sử dụng surfactant, sau khi dùng một thời gian, có thể cần phải sử dụng tiếp một liều nữa Trong các thử nghiệm ngẫu nhiên, có vẻ như dùng hai liều thì tốt hơn một liều đơn [41] Có hai cách cho liều lặp lại, cách thứ nhất tỏ ra cứng nhắc với liều lặp lại được cho sau một khoảng thời gian đã định trước, và cách thứ

Trang 20

hai mềm dẻo hơn là liều lặp lại sẽ tùy theo quyết định của bác sĩ Cách thứ hai được dùng nhiều hơn Như vậy, liều thứ hai, đôi khi thứ ba nên dùng nếu RDS tiếp tục tiến triển như nhu cầu cần oxy cao liên tục, cần thở máy hoặc phải cần FiO2 > 50% với CPAP dùng PEEP = 6cm nước, giúp làm giảm tràn khí màng phổi và có thể giảm tử vong [43]

1.2.3 Hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu về liệu pháp surfactant trong kiểm soát hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh

Từ năm 2006, một nhóm các bác sĩ sơ sinh từ nhiều quốc gia châu Âu đã họp

để xem xét các tài liệu gần nhất và đưa ra các khuyến nghị đồng thuận nhằm tối ưu việc quản lý trẻ sinh non có hoặc có nguy cơ mắc RDS Hướng dẫn đồng thuận xử trí RDS được xuất bản lần đầu tiên năm 2007, được cập nhật năm 2010, 2013, 2016

và 2019; được chứng thực bởi Hiệp hội Nghiên cứu Nhi khoa Châu Âu Hướng dẫn đồng thuận còn được dịch ra nhiều thứ tiếng, và mặc dù dự định dùng cho Châu Âu, nhưng các khuyến nghị cũng có thể được sử dụng ở bất cứ nơi nào mà các bác sĩ lâm sàng có khả năng truy cập các tài nguyên và kinh nghiệm cần thiết để cung cấp dịch vụ chăm sóc đặc biệt cho trẻ sơ sinh Các khuyến nghị mới nhất được đưa ra trong hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu năm 2019 về sử dụng liệu pháp surfactant trong kiểm soát và điều trị RDS bao gồm [47]:

Bảng 1.5 Hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu năm 2019 về sử dụng liệu pháp

surfactant trong kiểm soát RDS sơ sinh

1 Surfactant điều trị cấp cứu sớm nên được coi là tiêu chuẩn (A1), nhưng có những trường hợp nên sử dụng surfactant ngay lập tức tại phòng sinh, chẳng hạn như khi phải đặt NKQ để ổn định (A1)

2 Trẻ sơ sinh bị RDS nên được điều trị cấp cứu sớm bằng surfactant Một đề xuất được đưa ra là điều trị cho những trẻ đang có tình trạng hô hấp xấu đi khi FiO2 > 0,30 với CPAP áp suất ít nhất 6 cm nước (B2)

3 Nên sử dụng liều thứ hai và đôi khi là liều thứ ba nếu có bằng chứng liên tục

về RDS như nhu cầu oxy cao kéo dài và các vấn đề khác đã được loại trừ (A1)

Trang 21

4 Trẻ sơ sinh mắc RDS nên được điều trị bằng surfactant có nguồn gốc động vật (A1) Poractant alfa với liều ban đầu 200 mg/kg tốt hơn 100 mg/kg poractant alfa hoặc 100 mg/kg beractant cho liệu pháp điều trị cấp cứu (A1)

5 LISA là phương pháp đưa surfactant ít xâm lấn được ưa thích đối với trẻ sơ sinh thở tự nhiên trên CPAP, với điều kiện là các chuyên gia có kinh nghiệm với kỹ thuật này (B2)

Các hướng dẫn đồng thuận này đã có sự cập nhật qua các năm, trong đó có một số nội dung và khuyến nghị đổi mới so với các bản trước đó để phù hợp hơn với chứng cứ lâm sàng và thực hành hiện nay (Phụ lục 5) Các thay đổi nổi bật có thể kể đến bao gồm:

- Năm 2007, lần đầu tiên vai trò của surfactant được đề cập đến trong đồng thuận của Châu Âu, được khuyến cáo sử dụng trên các trẻ mắc hoặc có nguy cơ mắc RDS để làm giảm tử vong và tràn khí màng phổi [43]

- Trước năm 2013, surfactant dự phòng được khuyên dùng cho những em bé nhỏ nhất vì nó giúp cải thiện khả năng sống sót trong các thử nghiệm lâm sàng với giai đoạn trước thở CPAP [44] Sau năm 2013, với việc sử dụng steroid trước sinh ngày càng tăng và bắt đầu điều trị CPAP sớm, sẽ tốt nhất nếu surfactant được dành cho trẻ sơ sinh có dấu hiệu lâm sàng của RDS, và đối với trẻ bé nhất bắt đầu CPAP có thể tránh được tác động có hại của việc đặt NKQ và thở máy trong giai đoạn chuyển tiếp Mục đích tổng thể là tránh thở máy xâm lấn nếu có thể trong khi nỗ lực cung cấp surfactant càng sớm càng tốt một khi thấy cần thiết Do đó, surfactant điều trị cấp cứu sớm nên được coi là tiêu chuẩn (A1), nhưng có những trường hợp nên sử dụng surfactant ngay lập tức tại phòng sinh, chẳng hạn như khi phải đặt NKQ để ổn định (A1), vì mục đích chính của việc tránh điều trị dự phòng surfactant là để tránh đặt NKQ [45], [46], [47]

- Hướng dẫn năm 2013 đề xuất rằng surfactant nên được sử dụng khi FiO2 > 0,30 đối với trẻ rất non nớt và > 0,40 đối với trẻ sơ sinh trưởng thành hơn dựa trên ngưỡng được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng sớm [45] Các nghiên cứu quan sát đã xác nhận rằng FiO2 vượt quá 0,30 trong những giờ đầu tiên sau khi

Trang 22

sinh ở trẻ sơ sinh thở CPAP là một thử nghiệm hợp lý để xác định trước việc thất bại CPAP sau đó [20] Do đó, hướng dẫn năm 2019 khuyến cáo rằng ngưỡng FiO2 > 0,30 nên được sử dụng cho tất cả các em bé được chẩn đoán lâm sàng mắc RDS, đặc biệt là trong giai đoạn sớm khi tình trạng bệnh đang xấu đi (B2) [47]

- Kể từ Hướng dẫn năm 2016, đã có thêm các thử nghiệm ngẫu nhiên và phân tích tổng hợp meta so sánh các phương pháp đưa surfactant ít xâm lấn Những điều này cho thấy LISA vượt trội hơn về việc giảm nhu cầu phải thở máy và tỷ lệ tử vong hoặc loạn sản phế quản phổi [15] Một trong những lợi thế của LISA là nhu cầu tiếp tục thở máy được loại bỏ Do đó, LISA là phương pháp đưa surfactant ít xâm lấn được ưa thích đối với trẻ sơ sinh thở tự nhiên trên CPAP, với điều kiện là các chuyên gia có kinh nghiệm với kỹ thuật này (B2) do đây là

kĩ thuật khá mới và tương đối khó [47]

1.2.4 Các surfactant được sử dụng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3 surfactant được sử dụng trong điều trị

và dự phòng RDS ở trẻ sơ sinh, gồm: poractant alfa, beractant và bovactant

+ Điều trị RDS hoặc BMT ở trẻ mới sinh

+ Dự phòng nguy cơ RDS ở trẻ đẻ non

Trang 23

+ Dự phòng: liều đơn 100 – 200 mg/kg (1,25 – 2,5 ml/kg) dùng càng sớm càng tốt sau khi sinh (trong vòng 15 phút) Các liều bổ sung 100 mg/kg có thể dùng 6-12 giờ sau khi dùng liều đầu tiên, sau đó dùng cách quãng 12 giờ trong trường hợp hội chứng RDS cần phải thở máy (tổng liều tối đa là 300 – 400 mg/kg thể trọng)

+ Sử dụng kĩ thuật đặt NKQ – bơm chất diện hoạt phổi – rút NKQ (kĩ thuật INSURE)

- Lưu ý trong sử dụng dự phòng: tuân theo các khuyến cáo sau:

+ Nên dự phòng (trong vòng 15 phút sau khi sinh) cho hầu hết các trẻ sinh non dưới

27 tuần tuổi thai

+ Nên cân nhắc khi dự phòng cho trẻ trên 26 tuần nhưng dưới 30 tuần tuổi thai nếu phải đặt NKQ ngay trong phòng sinh nở hoặc nếu mẹ chưa được dùng corticoid trước khi sinh; khi đã sử dụng các corticoid trước sinh thì chỉ nên sử dụng chất diện hoạt phổi khi đã xuất hiện RDS

+ Dự phòng khi có các yếu tố nguy cơ khác cũng nên được cân nhắc ở các trẻ sinh non khi có bất cứ tình trạng nào sau đây: ngạt chu sinh, tiểu đường trong thời gian mang thai, đa thai, giới tính nam, tiểu sử gia đình có RDS và phải sinh mổ

- Đối với tất cả các trẻ sơ sinh đẻ non khác, khuyến cáo dùng chất diện hoạt sớm ngay từ khi có những dấu hiệu RDS đầu tiên xuất hiện

- Chưa có thông tin về hiệu quả của việc dùng liều khởi đầu khác liều 100 hoặc

200 mg/kg, việc dùng thuốc với tần suất dày hơn 12 giờ hoặc bắt đầu dùng muộn hơn 15 giờ kể từ khi chẩn đoán là RDS

1.2.4.2 Beractant [13]

- Biệt dược: Survanta Số đăng kí: QLSP-940-16

- Dạng bào chế:

Trang 24

Hỗn dịch vô khuẩn để bơm vào ống NKQ Lọ 100 mg/4 ml phospholipid chiết từ phổi bò

- Chỉ định: phòng ngừa và điều trị RDS ở trẻ sinh non

+ Phòng ngừa: ở những trẻ sinh non cân nặng chưa đến 1250 g hoặc có bằng chứng

về thiếu hụt chất diện hoạt, dùng beractant càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng

15 phút sau khi sinh

+ Điều trị: để điều trị bệnh nhi mắc RDS sau khi được xác định bằng X-quang và yêu cầu sử dụng thông khí nhân tạo, dùng beractant càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng 8 giờ sau khi sinh

- Liều dùng: mỗi liều là 100 mg/kg cân nặng khi sinh (4 ml/kg) Có thể sử dụng 4

liều beractant trong vòng 48 giờ sau khi sinh Khoảng cách giữa các liều không nên ít hơn 6 tiếng một lần

- Cách dùng: để đảm bảo sự phân bố đồng nhất của beractant trong phổi, mỗi liều

có thể chia thành những phân đoạn liều nhỏ hơn (2 đến 4 phân liều) Mỗi phân liều được đưa vào cơ thể ở các tư thế khác nhau

+ Khi chia thành 2 phân liều, khuyến cáo nên đưa vào cơ thể ở các tư thế sau:

Đầu và người quay khoảng 450 về bên phải

Đầu và người quay khoảng 450 về bên trái

+ Khi chia thành 4 phân liều, khuyến cáo nên đưa vào cơ thể ở các tư thế sau:

Đầu và người nghiêng xuống 5-100, đầu quay về bên phải

Đầu và người nghiêng xuống 5-100, đầu quay về bên trái

Đầu và người nghiêng lên 5-100, đầu quay về bên phải

Đầu và người nghiêng lên 5-100, đầu quay về bên trái

1.2.4.3 Bovactant [1]

- Biệt dược: Alvofact Số đăng kí: VN-16475-13

- Dạng bào chế:

Bột và dung môi để pha hỗn dịch Lọ 50 mg bột phospholipid chiết từ phổi

bò sẽ được pha với 1,2 ml dung môi khi sử dụng

- Chỉ định: dự phòng ở trẻ đẻ non có nguy cơ cao mắc RDS

- Liều lượng và cách dùng:

Trang 25

+ Khuyến cáo dùng liều đơn 1,2 ml/kg thể trọng tương đương với 50 mg phospholipids toàn phần /kg thể trọng, dùng trong giờ đầu sau khi sinh

+ Tùy thuộc vào nhu cầu hô hấp (nhu cầu oxy để thông khí bình thường vượt quá mức 40%), sau lần dùng đầu tiên có thể dùng 3 liều tương tự tiếp theo cách nhau 12 đến 24 giờ Nếu đáp ứng với liều ban đầu không đầy đủ, khuyến cáo dùng liều nhắc lại thứ hai 1,2 ml/kg 30-60 phút sau liều ban đầu Tổng liều không nên vượt quá 4 liều 1,2 ml/kg (tương đương 200 mg/kg) trong vòng 5 ngày đầu tiên sau sinh

+ Chỉ dùng bằng cách nhỏ giọt qua đường NKQ – phổi

1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM VỀ SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG KIỂM SOÁT HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH

1.3.1 Trên thế giới

Thay thế chất hoạt động bề mặt được thiết lập như một liệu pháp hiệu quả và

an toàn cho sự thiếu hụt bề mặt liên quan đến trẻ sinh non vào đầu những năm 1990 [33] Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành ở các trung tâm sơ sinh khác nhau để chứng minh về hiệu quả sử dụng của các surfactant thay thế Các chỉ tiêu nghiên cứu được quan tâm bao gồm tỉ lệ bị RDS, tỉ lệ tử vong do RDS, sự cải thiện các chỉ số hô hấp – tuần hoàn và các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong

Các nghiên cứu cũng tiến hành so sánh hiệu quả của các surfactant so với nhau và ở các chế độ liều khác nhau, cho thấy những khác biệt trong lựa chọn điều trị Tuy vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng surfactant

tự nhiên nên được dùng hơn là surfactant tổng hợp vì nó làm giảm tràn khí màng phổi và giảm tử vong Đối với các surfactant tự nhiên, các sản phẩm từ bò – beractant và calfactant – có hiệu quả như nhau nhưng poractant alfa với liều ban đầu

200 mg/kg khi điều trị cấp cứu cải thiện dấu hiệu sinh tồn và tỉ lệ sống còn tốt hơn beractant và poractant alfa liều 100 mg/kg [46], [47]

Một thử nghiệm ngẫu nhiên, có kiểm soát của nhóm tác giả Baroutis G và cộng sự trên đối tượng BN là trẻ sinh non có cân nặng < 2000 g; < 32 tuần với RDS được xác định trong vòng 24 giờ đầu sau sinh; thông khí với phân lượng oxy hít vào

Trang 26

(FiO2) > 0,30; chất hoạt động bề mặt được dùng trong vòng 4 giờ sau sinh; sử dụng Alveofact 100 mg/kg (27 BN) hoặc Poractant 100 mg/kg (26 BN) hoặc Beractant

100 mg/kg (27 BN) cho kết quả về tỉ lệ tử vong trước khi xuất viện cao nhất ở nhóm Alveofact (25,9%) và thấp nhất ở nhóm Poractant (18,5%) Số ngày đặt NKQ trung bình thấp nhất ở nhóm Poractant (5,7 ± 1,5 ngày) và cao nhất ở nhóm Beractant (11,5 ± 2,3 ngày) [16]

Ramanathan và cộng sự trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, có kiểm soát, đa trung tâm khác nghiên cứu trên trẻ nặng 750 – 1750 g; < 35 tuần; lâm sàng hoặc X quang có bằng chứng về RDS; thông khí với FiO2 > 0,30; chất hoạt động bề mặt được dùng trong 6 giờ sau sinh; được sử dụng Poractant 100 mg/kg (96 BN) hoặc Poractant 200 mg/kg (99 BN) hoặc Beractant 100 mg/kg (98 BN) Các kết quả ngắn hạn về FiO2 trung bình dưới đường cong trong 6 giờ sau liều chất hoạt động bề mặt đầu tiên có sự khác biệt giữa các nhóm: nhóm Poractant 100 mg/kg so với Beractant

có p < 0,001 và nhóm Poractant 200 mg/kg so với Beractant có p < 0,005 Các kết quả lâu dài bao gồm: tử vong sau 28 ngày và tử vong ở 36 tuần tuổi sau sinh cho trẻ

sơ sinh < 32 tuần thai đều thấp nhất ở nhóm Poractant 200 mg/kg (3%) [34]

Thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở, có kiểm soát của Fujii AM và cộng sự trên trẻ 24 0/7 tới 29 6/7 tuần, RDS yêu cầu thông khí cơ học; chất hoạt động bề mặt và thông khí < 6 giờ sau khi sinh; được sử dụng Poractant 200 mg/kg (25 BN) hoặc Beractant 100 mg/kg (27 BN) cho kết quả về mức độ hỗ trợ hô hấp trong 72 giờ đầu đời với chỉ số MAP (cm H2O) là p = 0,003 và trên chỉ số FiO2 là p = 0,762 (nhóm Poractant so với Beractant) [24]

Một thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở, có kiểm soát khác của tác giả Dizdar

EA và cộng sự năm 2012 trên trẻ có tuổi thai < 37 tuần; lâm sàng hoặc X-quang có bằng chứng của RDS trong vòng 6 giờ sau sinh; thông khí với FiO2 > 0,30; được sử dụng Poractant 200 mg/kg (61 BN) hoặc Beractant 100 mg/kg (65 BN), cho kết quả

về phần trăm yêu cầu FiO2 trung bình lúc 24 giờ sau khi sinh của nhóm Poractant là 67,4 và nhóm Beractant là 60,5 (nhóm Poractant so với Beractant: p = 0,031) [22]

Năm 2010, Gharehbaghi MM và cộng sự đã tiến hành một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đơn trung tâm trên trẻ sinh non bị RDS được điều trị bằng chất

Trang 27

hoạt động bề mặt ngoại sinh: Poractant 200mg/kg (79 BN) hoặc Beractant 100 mg/kg (71 BN) Thời gian trung bình đặt NKQ với nhóm Poractant là 3,13 ± 1,80 ngày và nhóm Beractant là 4,06 ± 2,7 ngày (nhóm Poractant so với Beractant: p = 0,05) [25]

Bảng 1.6 Tóm tắt các nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh các surfactant

Số ngày đặt NKQ trung bình

Nhóm Alveofact: 6,6 ± 2,1 ngày Nhóm Poractant: 5,7 ± 1,5 ngày Nhóm Beractant: 11,5 ± 2,3 ngày Nhóm Poractant so với Beractant: p = 0,043 Ramanathan

và cộng sự

[34]

Ngắn hạn:

FiO2 trung bình dưới đường cong trong 6 giờ sau liều chất hoạt động bề

mặt đầu tiên

Nhóm Poractant 100 mg/kg: 1,956 giờ (0,33)

Nhóm Poractant 200 mg/kg: 1,989 giờ (0,33)

Nhóm Beractant: 2,237 giờ (0,37) Nhóm Poractant 100 mg/kg so với Beractant: p < 0,001

Nhóm Poractant 200 mg/kg so với Beractant: p < 0,005

Lâu dài:

- Tử vong sau 28 ngày

Nhóm Poractant 100 mg/kg: 6 BN (6%) Nhóm Poractant 200 mg/kg: 3 BN (3%) Nhóm Beractant: 8 BN (8%)

Nhóm Poractant 100 mg/kg so với Beractant: OR = 0,75; CI 95% = 0,25-2,25

Trang 28

- Tử vong ở 36 tuần tuổi sau sinh cho trẻ

sơ sinh < 32 tuần

thai

Nhóm Poractant 200 mg/kg so với Beractant: OR = 0,35; CI 95% = 0,09-1,37 Nhóm Poractant 100 mg/kg: 9 BN (11%) Nhóm Poractant 200 mg/kg: 3 BN (3%) Nhóm Beractant: 10 BN (11%)

Nhóm Poractant 100 mg/kg so với Beractant: OR = 0,95; CI 95% = 0,36-2,46 Nhóm Poractant 200 mg/kg so với Beractant: OR = 0,26; CI 95%= 0,07-0,98 Fujii AM và

1.3.2 Tại Việt Nam

Cho đến nay, việc sử dụng surfactant trong điều trị và dự phòng RDS ở trẻ sơ sinh tại các trung tâm chăm sóc sơ sinh của Việt Nam đã rất phổ biến Có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành tại các bệnh viện có trung tâm chăm sóc sơ sinh chuyên biệt, nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của liệu pháp surfactant cũng như các

kỹ thuật sử dụng surfactant trên đối tượng trẻ sơ sinh

Một nghiên cứu tiến cứu của tác giả Trần Thị Bích Phượng và cộng sự năm

2012, mô tả hàng loạt ca với các tiêu chí thu nhận BN như sau:

Trang 29

 Tiêu chí chọn mẫu: Trẻ sinh non từ 27 tuần đến < 37 tuần tuổi thai Trẻ đang có

biểu hiện SHH trên lâm sàng, thở CPAP (P ≥ 5cm nước) để SpO2 > 90% (PaO2

> 50 mmHg) cần FiO2 ≥ 40%, hoặc có chỉ định thở máy: MAP ≥ 7-8 cm nước; FiO2 ≥ 30% Cân nặng lúc sinh ≥ 1000 g X-quang có hình ảnh BMT giai đoạn

2, 3, 4 Tuổi BN khi bơm surfactant < 24 giờ

 Tiêu chí loại mẫu: Dị tật bẩm sinh nặng Thời gian vỡ ối ≥ 24 giờ Ngạt nặng lúc

sinh (dựa vào chỉ số Apgar) Xuất huyết não độ 3-4

Kết quả nghiên cứu cho thấy sau điều trị, chỉ số Silverman, MAP, OI (Oxygen index – Chỉ số oxy hóa) thay đổi; SHH nặng giảm và chỉ số FiO2 giảm dần sau điều trị, p < 0,05 Thời gian thở máy và thở CPAP sau bơm surfactant trung bình lần lượt là 7,57 ± 3,91 và 9,53 ± 7,22 ngày Tỉ lệ sống sót chiếm 85,7%; tử vong chiếm 14,3% [12]

Nghiên cứu của Trần Diệu Linh và cộng sự tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương là một nghiên cứu mô tả hồi cứu trên những trẻ sau đẻ có dấu hiệu SHH dựa vào thang điểm theo bảng Silverman > 3 điểm từ 1/1/2006 đến 31/12/2006, đánh giá các chỉ số tỉ lệ tử vong theo giới, tuổi thai, cân nặng và nguyên nhân tử vong sau dùng surfactant cho thấy số ca thành công là 91/116, chiếm tỉ lệ 78,4%; số ca tử vong sau dùng thuốc là 25 ca chiếm 21,6% 75% tử vong trẻ có cân nặng < 1000 g

và 46% trẻ tử vong có tuổi thai < 30 tuần Nguyên nhân tử vong chủ yếu do xuất huyết não màng não, nhiễm khuẩn và 12% do BMT [7]

Nghiên cứu can thiệp trên các BN là trẻ sơ sinh mắc RDS của nhóm tác giả Nguyễn Viết Đồng và cộng sự năm 2018 với các tiêu chuẩn chọn BN như sau:

 Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ đẻ non nhập viện trước 24 giờ được chẩn đoán BMT,

X-quang lồng ngực thẳng BMT độ II-IV, có hồ sơ bệnh án ghi chép rõ ràng và đầy đủ

 Tiêu chuẩn loại trừ: BN đẻ non chẩn đoán BMT nhưng trong tình trạng rất nặng

không có chỉ định bơm surfactant

Nghiên cứu chia thành 2 nhóm: điều trị sớm ≤ 6 giờ và muộn > 6 giờ, với các chỉ tiêu về giới, tuổi thai, cân nặng sau sinh, thông tin về cuộc đẻ; tình trạng hô hấp lúc nhập viện; số ngày điều trị; kết quả điều trị và chi phí điều trị Kết quả thu được

Trang 30

cho thấy cải thiện tình trạng SHH (giảm FiO2, MAP, thời gian thở máy, CPAP, thở oxy) (p < 0,05), giảm tỷ lệ tử vong (63,5% xuống 33,8%), giảm chi phí điều và thời gian điều trị (p < 0,05) [5]

Nghiên cứu tiến cứu khác của tác giả Nguyễn Phạm Ý Nhi năm 2015 trên các BN được chẩn đoán hội chứng màng trong với tuổi thai < 35 tuần, tuổi đời < 12 giờ tuổi, sau đẻ thường xuất hiện SHH (thở nhanh > 60 lần/phút, tím tái, rên, co kéo

cơ hô hấp, nghe thông khí phổi kém); đánh giá SHH theo chỉ số Silverman; theo dõi SpO2 bằng monitor; thở máy khi FiO2 > 30% mới duy trì được SpO2 > 88%-95%; tiến hành bơm surfactant qua ống NKQ; hô hấp hỗ trợ bằng máy SIMV (Synchronized Intermittent Mandatory Ventilation - Thông khí bắt buộc ngắt quãng đồng bộ) sau bơm surfactant để đạt được SpO2 > 88% - 95%, pH > 7,2; PaCO2: 45 – 55 mmHg; PaO2: 50 – 60 mmHg

Kết quả của nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống chiếm 84% Cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm thời gian thông khí hỗ trợ, giảm toan máu, giảm thán khí (PaCO2), tăng thể tích phổi, cải thiện triệu chứng X-quang phổi, giảm các biến chứng ở trẻ đẻ non Xác định được một số nguyên nhân tử vong như: chảy máu phổi, nhiễm trùng

do viêm phổi, nhiễm trùng huyết và xuất huyết não Xác định được một số yếu tố khác làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị surfactant cho trẻ đẻ non SHH cấp như tuổi thai dưới 30 tuần; cân nặng < 1200 g, trẻ bị nhiễm trùng, albumin máu giảm [9]

Bảng 1.7 Tóm tắt kết quả của một số nghiên cứu trong nước đánh giá hiệu quả

của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh

(arterial - alveolar oxygen ratio, tỉ lệ oxy động mạch – phế

- Sau điều trị, chỉ số Silverman thay đổi, SHH nặng giảm và chỉ số FiO2 giảm dần sau điều trị, p < 0,05

- Chỉ số MAP giảm nhẹ sau bơm surfactant

1 giờ, 24 giờ, 2 ngày, sau đó tăng lại vào ngày 3 và giảm thêm ít vào ngày 4, 5 Chỉ

số OI giảm nhanh sau bơm 1 giờ, giảm

Trang 31

nang) trước và sau khi sử dụng surfactant

- Xác định giá trị trung

bình của MAP, OI, trước và sau khi sử dụng surfactant

- Xác định thời gian

trung bình của thở máy, thở CPAP, thở Oxy

- Xác định tỉ lệ tử

vong và các bệnh lý mắc phải trong quá trình điều trị

thêm ít sau bơm 24 giờ, 2 ngày, sau đó tăng nhẹ vào ngày 3 và giảm thêm vào ngày 4, 5

- Thời gian thở máy sau bơm surfactant ngắn nhất là 2 ngày, dài nhất là 13 ngày, trung bình là 7,57 ± 3,91 ngày Thời gian thở CPAP sau bơm surfactant ngắn nhất

là 3 ngày, dài nhất là 30 ngày, trung bình

- Số ca thành công 91/116, chiếm tỉ lệ 78,4%; số ca tử vong sau dùng thuốc là

25 ca chiếm 21,6% 75% tử vong trẻ có cân nặng < 1000g và 46% trẻ tử vong có tuổi thai < 30 tuần

- Nguyên nhân tử vong chủ yếu do xuất huyết não màng não, nhiễm khuẩn và 12% do BMT

giờ và muộn > 6 giờ:

- Giới, tuổi thai, cân

nặng sau sinh, thông tin về cuộc đẻ

- Tình trạng hô hấp lúc

- SHH vừa và nặng 100%; X-quang phổi hình ảnh BMT từ độ II-IV (độ III-IV: 73,1%)

- Cải thiện tình trạng SHH ở trẻ sơ sinh đẻ non bị BMT (Giảm FiO2, MAP, thời gian thở máy, CPAP, thở oxy) (p <0,05)

Trang 32

- Tìm hiểu một số yếu

tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị SHH cấp tính ở trẻ đẻ non bằng surfactant cũng như sự phát triển tinh thần và vận động ở các trẻ này

- Xây dựng quy trình

tác nghiệp trong chẩn đoán và điều trị SHH cấp tính ở trẻ đẻ non theo phương pháp INSURE

- Kết quả điều trị surfactant có tỷ lệ sống cao chiếm 84%, cải thiện triệu chứng lâm sàng, giảm thời gian thông khí hỗ trợ, giảm toan máu, giảm thán khí (PaCO2), tăng thể tích phổi, cải thiện triệu chứng X-quang phổi, giảm các biến chứng ở trẻ

đẻ non như bệnh lý võng mạc (ROP - Retinopathy of Prematurity)

- Xác định được một số nguyên nhân tử vong cho 7/45 trẻ đẻ non SHH điều trị bằng surfactant như: chảy máu phổi, nhiễm trùng do viêm phổi, nhiễm trùng huyết và xuất huyết não

- Xác định được một số yếu tố khác làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị surfactant cho trẻ đẻ non SHH cấp như tuổi thai dưới 30 tuần; cân nặng < 1200 g, trẻ bị nhiễm trùng, albumin máu giảm

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là bệnh án và BN sơ sinh có sử dụng surfactant thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong khoảng thời gian từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019, như sau:

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Được chỉ định ít nhất một loại surfactant để điều trị RDS ở trẻ sơ sinh

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Có dị tật bẩm sinh gây thiểu sản phổi

+ Tràn khí màng phổi, xuất huyết phổi tại thời điểm nhập khoa sơ sinh

+ Chuyển viện do bệnh lý nặng lên mà không theo dõi được kết quả điều trị cuối cùng

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thuần tập mô tả dựa trên thu thập các dữ liệu từ bệnh án hồi cứu

và tiến cứu tại Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh có thời gian nhập viện và ra viện từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo phương pháp hồi cứu lấy mẫu toàn bộ: từ phần mềm quản lý

hồ sơ bệnh án lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp, tiến hành lọc ra các bệnh án sơ sinh

có thời gian nhập viện và ra viện từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019 thỏa mãn tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu

Trang 34

Đồng thời, theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thông qua hoạt động duyệt thuốc và đi lâm sàng hàng ngày, tiến hành theo dõi và thu thập các chỉ số hô hấp – tuần hoàn liên tục theo thời gian của một số BN nằm tại Trung tâm Chăm sóc

& Điều trị Sơ sinh được sử dụng surfactant trong thời gian từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019, sàng lọc các bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu

2.2.3 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Chọn toàn bộ các bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu được lưu tại phòng hồ sơ của bệnh viện, thu thập tất cả các thông tin về đặc điểm bệnh nhân (nhân khẩu học, tình trạng ban đầu), các thuốc sử dụng, các xét nghiệm và kết quả điều trị vào “Phiếu thu thập thông tin bệnh án” (Phụ lục 1)

Đồng thời với việc thu thập dữ liệu từ các bệnh án lưu tại phòng hồ sơ, hàng ngày, thông qua hoạt động duyệt thuốc và đi lâm sàng, tiến hành theo dõi và thu thập dữ liệu về sự thay đổi liên tục của các chỉ số hô hấp – tuần hoàn theo thời gian vào “Phiếu theo dõi trẻ sơ sinh trước và sau bơm surfactant liều đầu” (Phụ lục 2) trên một số BN sử dụng surfactant thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu có thời gian nhập viện từ 01/10/2019 đến hết 31/12/2019 một cách thuận tiện Đến hết 31/12/2019, dữ liệu thu thập được trên những BN đã ra viện được chuyển ghép vào

“Phiếu thu thập thông tin bệnh án” (Phụ lục 1) theo đúng mã BN đã ghi chép

Sơ đồ thể hiện phương pháp tiến hành nghiên cứu được trình bày ở Hình 2.1 dưới đây

Trang 35

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.4.1 Mục tiêu 1: Khảo sát thực trạng sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh

- Đặc điểm của mẫu nghiên cứu:

+ Tỉ lệ BN theo tuổi thai, giới tính, cân nặng lúc sinh, cách sinh (sinh mổ/sinh thường), chẩn đoán bệnh lý, tình trạng khi nhập khoa sơ sinh (màu sắc da, nhịp thở, nhịp tim, FiO2, SpO2, PEEP, mức độ SHH), bệnh mắc kèm

+ Tỉ lệ BN theo bệnh lý của mẹ, dự phòng corticoid trước sinh ở người mẹ

- Đặc điểm sử dụng thuốc:

+ Tỉ lệ các loại surfactant được sử dụng

+ Tỉ lệ BN được sử dụng liều surfactant lặp lại

Hồi cứu bệnh án

Tiến cứu theo dõi BN

Tiêu chuẩn lựa

Tiêu chuẩn loại trừ

Loại trừ:

- Tiêu chuẩn loại trừ

- Ra viện sau 31/12/2019

Thu thập dữ liệu

Chuyển ghép dữ liệu (các chỉ

số hô hấp – tuần hoàn trước và sau bơm surfactant liều đầu

Trang 36

+ Liều dùng surfactant: liều đầu trung bình, liều trung bình chung, liều thấp nhất – liều cao nhất, trung vị, tổng liều trung bình chung

+ Liều dùng ban đầu và lặp lại trung bình của surfactant ở các chế độ liều

+ Trung vị các thời điểm bơm thuốc ở mỗi nhóm surfactant trong các chế độ liều + Tỉ lệ đường dùng và các tư thế bơm surfactant

+ Tỉ lệ các thuốc/nhóm thuốc dùng kèm được sử dụng

+ Tần suất xuất hiện của các biến cố bất lợi ghi nhận được

2.2.4.2 Mục tiêu 2: Phân tích tính phù hợp và hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ sinh

- Phân tích tính phù hợp của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS ở trẻ sơ

sinh:

+ Tỉ lệ bệnh án có sự phù hợp về chỉ định của surfactant

+ Tỉ lệ bệnh án có sự phù hợp về liều dùng ban đầu và liều lặp lại của surfactant + Tỉ lệ bệnh án có sự phù hợp về thời điểm chỉ định surfactant so với thời điểm sinh và thời điểm chỉ định surfactant lặp lại so với liều surfactant trước đó

- Phân tích hiệu quả của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS:

+ So sánh các chỉ số hô hấp – tuần hoàn (nhịp thở, nhịp tim, FiO2, PEEP, SpO2) trước và sau bơm surfactant 1 – 6 giờ, 24 – 36 giờ và 48 - 60 giờ

+ Tổng số ngày đặt NKQ trung bình

+ Tổng thời gian điều trị trung bình tại khoa sơ sinh

+ Tỉ lệ trẻ xuất hiện biến cố bất lợi trong quá trình điều trị

+ Tỉ lệ tử vong (1 tuần, 28 ngày, chung), tỉ lệ xuất viện

+ Xác suất tử vong tích lũy theo thời gian

+ Chi phí điều trị trung bình của các nhóm điều trị trong nghiên cứu

+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ không đạt hiệu quả điều trị

2.2.5 Một số quy ước trong nghiên cứu

2.2.5.1 Về phân tích tính phù hợp của việc sử dụng surfactant trong điều trị RDS

ở trẻ sơ sinh

- Tính phù hợp về chỉ định: đánh giá theo một trong hai tiêu chuẩn sau:

Trang 37

+ Tiêu chuẩn 1: dựa vào hồ sơ bệnh án được chẩn đoán RDS được ghi rõ trong bệnh án và trong bệnh án được hội chẩn sử dụng surfactant có sự đồng ý của Lãnh đạo Trung tâm Chăm sóc & Điều trị Sơ sinh hoặc Lãnh đạo Bệnh viện theo phân công

+ Tiêu chuẩn 2: dựa vào hướng dẫn đồng thuận của Châu Âu năm 2019 [47]: trẻ được chẩn đoán RDS có FiO2 trước bơm > 0,30 với CPAP đặt mức PEEP trước bơm ≥ 6 cm nước

- Tính phù hợp về liều dùng: liều dùng tính theo cân nặng của trẻ, sử dụng thông

tin trong tờ hướng dẫn sử dụng (SPC) và đồng thuận của Châu Âu năm 2019 để đánh giá cho từng loại surfactant Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho phép sai

Ngưỡng sai

số liều dùng cho phép

Liều được khuyến cáo

Ngưỡng sai

số liều dùng cho phép

Poractant alfa 100 – 200 95 – 210 100 95 – 105

- Tính phù hợp về thời điểm chỉ định surfactant so với thời điểm sinh và thời điểm

chỉ định surfactant lặp lại kể từ liều surfactant trước đó: sử dụng thông tin trong

tờ hướng dẫn sử dụng (SPC) để đánh giá cho liều surfactant đầu tiên và các liều surfactant lặp lại được sử dụng [1], [4], [13]

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tính phù hợp về thời điểm chỉ định surfactant

Trang 38

2.2.5.2 Về hiệu quả điều trị RDS ở trẻ sơ sinh

- Nhóm không đạt hiệu quả điều trị được định nghĩa là những BN tử vong trong vòng 1 tuần tính từ thời điểm sinh

- Nhóm đạt hiệu quả điều trị với surfactant được định nghĩa là những BN được xuất viện hoặc tử vong không liên quan đến điều trị surfactant (tử vong sau 1 tuần tính từ thời điểm sinh)

2.2.6 Phân tích và xử lý số liệu

Phần mềm phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là SPSS và R Đặc điểm BN nghiên cứu và đặc điểm sử dụng surfactant được thống kê mô

tả bằng phần mềm SPSS Statistic 20 Các biến liên tục có phân phối chuẩn được mô

tả bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Các biến liên tục có phân phối không chuẩn được mô tả bằng trung vị, khoảng tứ phân vị Các biến định tính được mô tả theo tần suất và tỉ lệ %

Phân tích các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ không đạt hiệu quả điều trị được tiến hành theo mô hình Cox (Cox propotional hazard model) đa biến bằng phần mềm R, mô hình tối ưu được lựa chọn dựa trên phương pháp BMA (Bayesian Model Average) Phân tích được tiến hành như sau:

- Lựa chọn biến: Các biến được đưa vào phân tích là các yếu tố nguy cơ được xác định có liên quan đến tỉ lệ không đạt hiệu quả điều trị của trẻ sơ sinh được sử dụng surfactant trong RDS theo các nghiên cứu trước đó

- Lựa chọn mô hình: Chọn mô hình tối ưu dựa trên BMA, mô hình được lựa chọn

là mô hình có xác suất hậu định lớn nhất (post prob lớn nhất)

- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình tới tỉ lệ không đạt hiệu quả điều trị bằng hồi quy Cox: Các biến trong mô hình “tối ưu” được đưa vào phân tích hồi quy Cox theo thời gian để xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố nguy

cơ đến tỉ lệ không đạt hiệu quả điều trị Mức độ ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ

xi được thể hiện bằng tỷ số nguy cơ HR (hazard ration) = Exp (βi), khoảng tin cậy 95% CI Kết quả được coi là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Trang 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SURFACTANT TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP Ở TRẺ SƠ SINH TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC & ĐIỀU TRỊ SƠ SINH – BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Từ 01/10/2019 đến 31/12/2019, chúng tôi đã thu được 182 bệnh án sơ sinh thỏa mãn tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu Kết quả được trình bày dưới đây:

3.1.1 Đặc điểm của BN trong mẫu nghiên cứu

3.1.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của BN

Đặc điểm về độ tuổi, giới tính, cân nặng và cách sinh của BN trong nghiên cứu được trình bày trong Bảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhân khẩu học của BN

Tuổi

thai

Sinh non trung bình: từ 32 – 33 tuần 6 ngày 36 19,8 Sinh non muộn: từ 34 – 36 tuần 6 ngày 27 14,8

Trang 40

Nhận xét: Tuổi thai trung bình của mẫu nghiên cứu là 31,2 ± 3,4 tuần Tỉ lệ

trẻ thuộc nhóm sinh rất non (từ 28 đến dưới 32 tuần) là cao nhất (42,3%) Phân loại theo giới tính, tỉ lệ trẻ nam cao gấp hơn 2 lần so với tỉ lệ trẻ nữ Phần lớn trẻ sơ sinh trong nghiên cứu có cân nặng từ 1000 g đến dưới 2500 g, chiếm tỉ lệ 74,7% tổng số trẻ Gần 2/3 số BN trong nghiên cứu là được sinh mổ (65,9%)

3.1.1.2 Đặc điểm về bệnh lý của BN

Phân loại BN theo chẩn đoán bệnh chính khi vào viện được trình bày trong Hình 3.1

Hình 3.1 Chẩn đoán bệnh chính của BN khi vào viện

Nhận xét: Phần lớn BN được chẩn đoán bệnh chính khi nhập viện là SHH

không ghi nhận nguyên nhân (chiếm tỉ lệ 79,1%) Gần 1/5 số BN khi nhập viện được chẩn đoán là SHH do BMT (18,7%) Các chẩn đoán SHH do các nguyên nhân khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ

Đặc điểm về tỉ lệ BN nhập viện có bệnh mắc kèm và tần suất của các bệnh mắc kèm hay gặp được trình bày trong Bảng 3.2

Ngày đăng: 24/09/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w