1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận thức của Nhật Bản về các cường quốc đại dương trong thế kỷ XIX : Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 06 01

132 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu đi tìm lời giải cho 6 câu hỏi trên, luận văn mong muốn sẽ đem đến những sự kiện, chứng cứ lịch sử, để từ đó xây dựng nên một cái nhìn tổng quát về nhận thức của Nhật Bản đối

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60 31 06 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Kim

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp cao học này được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các Thày, cô giáo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Văn Kim đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài "Nhận thức của Nhật Bản về các cường quốc đại dương trong thế kỷ XIX"

Xin chân thành cảm ơn các Thày, cô giáo, các nhà khoa học Khoa Đông phương học, Khoa Lịch sử đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành châu Á học cho bản thân tác giả trong thời gian qua

Xin cảm ơn gia đình, những người đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận văn này Cũng xin cảm ơn đồng nghiệp và các bạn học viên cao học khóa QHX 2011, chuyên ngành châu Á học vì những giúp đỡ trong suốt thời gian học tập và cả quá trình hoàn thiện bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

ii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Các đóng góp chính 9

6 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 SỰ XÂM NHẬP CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC ĐẠI DƯƠNG

VÀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA NHẬT BẢN 11

1.1 Thời kỳ trước Minh Trị Duy tân 11

1.1.1 Giao thương với phương Tây và phản ứng của người Nhật 11

1.1.2 Quá trình xâm nhập của Kitô giáo 25

1.1.3 Sức ép phương Tây và sự suy yếu của chính quyền Tokugawa 32

1.2 Thời kỳ sau Minh Trị Duy tân 40

1.2.1 Tình hình chính trị, xã hội những năm đầu thời Minh Trị 40

1.2.2 Các cải cách trọng yếu 44

Tiểu kết 47

CHƯƠNG 2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN VÀ NHẬN THỨC CỦA NHẬT BẢN VỀ SỨC MẠNH CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC ĐẠI DƯƠNG 50

2.1 Biển trong lịch sử Nhật Bản 50

2.2 Sức mạnh phương Tây trong nhận thức của người Nhật Bản 54

2.2.1 Trên phương diện chính trị 55

2.2.2 Trên phương diện kinh tế 62

2.2.3 Trên phương diện khoa học quân sự 65

2.2.4 Trên phương diện văn hóa – giáo dục 71

Tiểu kết 71

Trang 5

iii

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TẦM NHÌN, CHỦ TRƯƠNG VÀ

ĐỐI SÁCH CỦA NHẬT BẢN TRƯỚC CÁC THẾ LỰC ĐẠI DƯƠNG 84

3.1 Tầm nhìn của Nhật Bản về các thế lực đại dương 84

3.2 Chủ trương của Nhật Bản – Thoát Á nhập Âu 91

3.3 Đối sách của Nhật Bản trước các cường quốc đại dương 97

Tiểu kết 101

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Cũng như các quốc gia phương Đông khác, Nhật Bản là một nước phong kiến lâu đời Những hạn chế và tình trạng lạc hậu về kinh tế, tri thức khoa học và trang bị quân sự là yếu tố khiến Nhật Bản và các nước phương Đông khác phải đương đầu và chịu nhiều thách thức trước các quốc gia phương Tây Từ đầu thế kỷ XVI, nhu cầu mở rộng sản xuất, tìm kiếm thêm thị trường mới đã khiến các nước

tư bản phương Tây hướng về phương Đông nơi có tài nguyên phong phú Đối diện với sức mạnh to lớn của các cường quốc phương Tây, các quốc gia phương Đông thực sự cảm thấy lo sợ và đại đa số chọn giải pháp đóng cửa, không giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài Quyết định đó khiến cho sức mạnh của các quốc gia phương Đông suy kiệt Việc đóng cửa “nội bất xuất, ngoại bất nhập” khiến phương Đông không thể học hỏi được những tri thức khoa học tiên tiến của thế giới Trong khi

đó thể chế chính trị đã hạn chế sức sáng tạo của người phương Đông Đến thể kỷ

XV - XVIII, mong muốn giao thương với các thị trường phương Đông giàu có đã thúc đẩy các cường quốc phương Tây tiến sang phương Đông Hậu quả tất yếu là, các nước phương Đông đã lần lượt trở thành các quốc gia lệ thuộc Đến lúc này, phương Đông đã mất quyền đàm phán và phải lệ thuộc vào phương Tây

Đến giữa thế kỷ XIX, nhận thức được sự cần thiết phải học hỏi những tri thức từ phương Tây để có thể hòa nhập với tiến trình phát triển chung của thế giới,

Nhật Bản đặt ra khẩu hiệu “Phú quốc cường binh”, đồng thời thực hiện một loạt

cải cách theo mô hình phương Tây Nhờ đó, xã hội Nhật Bản đã có nhiều phát triển vượt trội, cơ sở kinh tế vững chắc giúp nước này sớm thoát khỏi vòng quay của xã hội nông nghiệp truyền thống châu Á để trở thành cường quốc công nghiệp đầu

tiên trong khu vực Xuất phát từ những nhận thức đó, chúng tôi chọn đề tài Nhận

thức của Nhật Bản về các cường quốc Đại Dương trong thế kỷ XIX với mục tiêu

làm sáng tỏ những vấn đề sau:

Trang 7

Thứ nhất, năm 1868 được coi là mốc lịch sử vô cùng quan trọng đánh dấu sự

chuyển mình mạnh mẽ của Nhật Bản Trong năm này, chính quyền Mạc phủ sụp

đổ, đánh dấu sự kết thúc của chế độ chính trị “song hành lưỡng chế” kéo dài hơn

1.000 năm tại Nhật Bản Chính quyền Thiên hoàng Minh Trị nắm lại quyền bính

và thực hiện một loạt các cải cách trên nhiều phương diện của đời sống văn hóa, chính trị, tạo đà cho bước nhảy vọt của Nhật Bản sau này Vậy, Nhật Bản đã nhận thức về chính mình ra sao trong thời điểm trước và sau năm 1868?

Thứ hai, nền văn minh Trung Hoa từ thời cổ đại cho tới thời cận đại luôn là

một trong hai luồng văn minh có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh nhất ở khu vực châu Á Nền văn minh phát triển rực rỡ này đã để lại những dấu ấn hết sức sâu đậm trong đời sống chính trị và văn hóa Nhật Bản Tuy nhiên, từ thế kỷ XVI, sự hiện diện của các quốc gia tư bản phương Tây đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện tại khu vực châu Á Các quốc gia phương Đông, bao gồm cả Trung Quốc, ngày càng

tỏ ra yếu thế trước sức mạnh kinh tế, quân sự của các nước tư bản phương Tây Cuộc Chiến tranh Nha Phiến (1839-1842) với chiến thắng áp đảo thuộc về các cường quốc Anh, Pháp, Nga đã khiến Trung Quốc mất đi uy lực của một quốc gia với vị trí trọng tâm của Đông Á Vậy, Nhật Bản nhận thức thế nào về khu vực và đặc biệt là vị thế của Trung Quốc trước và sau cuộc Chiến tranh Nha Phiến?

Thứ ba, Nhật Bản thời kì cận đại cũng nằm trong tình thế bị các cường quốc

phương Tây gây áp lực như các quốc gia châu Á khác Nhưng họ lại là đất nước sớm nhận thấy rằng, tất yếu phải học hỏi phương Tây và thực hiện nhiệm vụ này hết sức thành công Những dòng văn hóa tư tưởng mới đã làm nảy sinh những cơ

sở kinh tế tiên tiến mới, tạo đà để Nhật Bản tạo bước nhảy vọt, chuyển mình từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp theo xu thế chung của thế giới Vậy, nhận thức của người Nhật, mà cụ thể ở đây là chính quyền Edo và sau đó là chính quyền Minh Trị, đã chuyển biến nhận thức ra sao với quyết định mở cửa đất nước vào năm 1854?

Trang 8

Thứ tư, sau phát hiện ngẫu nhiên của một số thủy thủ Bồ Đào Nha ra vùng

đảo Tanegashima của Nhật Bản, các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh đã lần lượt đến thiết lập quan hệ giao thương với Nhật Bản Trong quá trình đó, kinh tế, văn hóa và tôn giáo của phương Tây đã tác động mạnh

mẽ đến xã hội cùng đời sống kinh tế của nước này Và để bảo vệ những lợi ich dân tộc mà trước hết là địa vị thống trị cũng đặc quyền phong kiến, sau khi thẳng tay trấn áp cuộc khởi nghĩa Shimabara năm 1638, chính quyền Tokugawa đã kiên quyết bài trừ các giáo sĩ và tín đồ Jesuits (Dòng Tên) ra khỏi Nhật Bản Cùng với các biện pháp đó, Mạc phủ Edo cũng đoạn tuyệt quan hệ với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và chỉ cho phép Hà Lan được tiếp tục duy trì quan hệ với Nhật Bản Tuy

nhiên, đến năm 1854, Nhật Bản đã ký “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” với Hoa

Kỳ, đánh dấu sự kết thúc của hơn 2 thế kỷ tỏa quốc Sự thay thế về vị thế giữa hai quốc gia phương Tây là Hoa Kỳ và Hà Lan đã diễn ra tại quốc đảo này Vậy, Nhật Bản nhận thức thế nào trong việc loại bỏ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha để lựa chọn

Hà Lan và sau đó lại từ bỏ Hà Lan để nghiêng về phía Mỹ?

Thứ năm, dù rằng là một xã hội tư bản rất thành công nhưng Nhật Bản vẫn là

một đất nước châu Á với nền văn hóa Á Đông điển hình Nhật Bản có nền văn hóa riêng của mình từ thời cổ đại và tính cách của người Nhật Bản đã hình thành trong tiến trình lịch sử trong môi trường văn hóa của cư dân quần đảo Đây gọi là di sản văn hóa Nhật Bản thì tại sao di sản văn hóa Nhật Bản kết hợp với tri thức phương Tây lại đem tới những thành công to lớn tới vậy?

Thứ sáu, Nhật Bản là quốc gia có lãnh thổ trải dài 3.800km từ Bắc xuống

Nam với đường bờ biển dài, là cửa ngõ hết sức quan trọng để thâm nhập vào Trung Quốc cũng như khu vực Bắc Thái Bình Dương Nhờ yếu tố địa lý thuận lợi đó, ngoài những nguồn lợi thủy hải sản, biển còn đóng vai trò là cầu nối giúp Nhật Bản sớm giao lưu, giao thương với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, cũng chính điều đó

đã đem lại cho dân tộc Nhật Bản những thách thức từ bên ngoài: học tập nền văn minh Trung Hoa trong nỗ lực không ngừng tiếp xúc, bổ sung cho di sản văn hóa

Trang 9

truyền thống Nhật Bản giao thương và học hỏi phương Tây với mối lo về an ninh chủ quyền lãnh thổ thời cận đại Với những thuận lợi và thách thức như vậy, câu hỏi đặt ra là Nhật Bản đã tự mình trở thành một cường quốc đại dương như thế nào

và cách thức ứng đối của Nhật Bản với các quốc gia châu Á theo phương thức phương Tây?

Với mục tiêu đi tìm lời giải cho 6 câu hỏi trên, luận văn mong muốn sẽ đem đến những sự kiện, chứng cứ lịch sử, để từ đó xây dựng nên một cái nhìn tổng quát

về nhận thức của Nhật Bản đối với các cường quốc đại dương phương Tây trong thế kỷ XIX

về chủ đề mà chúng tôi nghiên cứu, nhưng những tư liệu viết hoàn cảnh lịch sử, đời sống xã hội, hoàn cảnh lịch sử, các yếu tố văn hóa, chính trị của Nhật Bản trong thời kỳ này khá phong phú

Tài liệu tiếng Việt: Về nghiên cứu lịch sử, Nhật Bản đã thu hút được nhiều sự

quan tâm của những nhà sử học nổi tiếng trong nước và có khá nhiều tác phẩm có

giá trị đã ra đời, trong đó phải kể đến cuốn “Lịch sử Nhật Bản” của tập thể học giả

Nguyễn Quốc Hùng, Đặng Xuân Kháng, Nguyễn Văn Kim, Phan Hải Linh [14] Trong công trình này, các tác giả đã trình bày một cách hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sự Nhật Bản từ thời tiền sử, sơ sử cho tới hiện nay với những minh họa bằng hình ảnh, bản đồ rất khoa học với nguyên tắc phân kỳ lịch sử dựa trên những đặc trưng cơ bản về văn hóa, chính trị của mỗi thời kỳ Đặc biệt trong cuốn sách này,

Trang 10

lịch sử Nhật Bản từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX được các tác giả phân tích sâu sắc với những cuộc tranh đoạt quyền bính giữa nội bộ tầng lớp quý tộc phong kiến Nhật Bản cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của những thế lực tư bản phương Tây và những tác động của chúng đối với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Nhật Bản trong giai đoạn này Công trình cũng đã dựng lại toàn cảnh sụp đổ của chính quyền Edo trước sức ép trong và ngoài nước, triều đình Minh Trị tiếp quản quyền bính tạo nên bước ngoặt vĩ đại của dân tộc Nhật Bản vào giữa thế kỷ XIX Những công

trình khác có nội dung về các thời đại lịch sử của Nhật Bản như “Lịch sử văn minh

thế giới” [26] do Giáo sư Vũ Dương Ninh chủ biên, “Lịch sử thế giới trung đại”

[28], bản dịch “Lịch sử Nhật Bản” [32] của hai tác giả Richard Mason và John Caiger, bản dịch “Lược sử văn hóa Nhật Bản” [33] của tác giả Samson, tác phẩm

“Nhật Bản cận đại” [35] của nhà nghiên cứu Vĩnh Sính, chuyên đề “Lịch sử thế

giới trung đại” [36] của nhà nghiên cứu Chiêm Tế đều là những tác phẩm giá trị

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này hoặc không chuyên sâu về Nhật Bản hoặc chỉ tập trung vào một thời kỳ cụ thể nên tính bao quát chưa thể phủ được hết những sự kiện diễn ra trong tiến trình lịch sử của Nhật Bản, mà điều này cuốn

“Lịch sử Nhật Bản” [14] do tác giả Nguyễn Quốc Hùng (chủ biên) đã thể hiện rõ

Công trình nghiên cứu “Nhật Bản và châu Á - những mối liên hệ lịch sử và

chuyển biến kinh tế xã hội” [17] của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kim được coi là

một hướng đi chuyên sâu trong điều kiện nghiên cứu của ngành lịch sử thế giới nói riêng và quốc tế học nói chung Trên cơ sở một số bài nghiên cứu đã được công bố trong nhiều năm, tác giả Nguyễn Văn Kim đã bổ sung thêm một số chuyên luận khác nhằm bước đầu hoàn thiện cấu trúc được thể hiện trong hai phần của cuốn sách Qua nội dung các bài viết, tác giả luôn đặt sự phát triển của lịch sử và văn hoá Nhật Bản trong sự tương tác và gắn bó mật thiết với môi trường văn hoá khu vực Những ảnh hưởng và giao lưu văn hoá đó luôn diễn ra một cách đa chiều Văn hoá Nhật Bản vừa tiếp nhận nhiều thành tựu tiêu biểu của văn hoá khu vực vừa tạo cho mình những đặc tính riêng Trong cuốn sách, tác giả công bố 13 chuyên khảo về

Trang 11

thời Edo, một thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử Nhật Bản Tuy tập trung viết

về những chuyển biến kinh tế - xã hội của Nhật Bản thời kỳ này, nhưng mỗi bài viết có thể coi là một thể nghiệm của tác giả trong cách tiếp cận với chủ đề nghiên cứu trên các phương diện chính trị, kinh tế và xã hội

Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ Tokugawa được nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Văn Kim thể hiện rõ nét trong công trình

“Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa – Nguyên nhân và hệ quả”

[19] Qua công trình này, tác giả đã làm rõ việc các quốc gia phương Tây mưu đồ

sử dụng tôn giáo như một công cụ dọn đường cho quá trình xâm lược của mình và lòng tham vô đáy của các thương nhân phương Tây đã gây ra nhiều bất ổn cho đời sống xã hội và chính trị Nhật Bản Các nhà cầm quyền Nhật Bản quyết định áp dụng chính sách Tỏa quốc và chọn Hà Lan là đối tác phương Tây duy nhất trong quan hệ giao thương Chính sách này đáp ứng được hai mục đích quan trọng mà Nhật Bản đặt ra Đó là giảm bớt những ảnh hưởng xấu của văn hóa phương Tây đối với xã hội Nhật Bản và vẫn giữ một con đường hẹp để tiếp cận và cập nhật những

xu hướng tiến bộ đang diễn ra trên thế giới qua con đường hẹp Hà Lan Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Kim còn đóng góp vào công cuộc nghiên cứu Nhật Bản nhiều tác phẩm có giá trị, mà nhiều tác phẩm trong số đó là tài liệu tham khảo vô cùng

giá trị để hoàn thành bản luận văn này, mà tiêu biểu là hai cuốn “Nhật Bản trong

thế giới Đông Á, mấy suy nghĩ về đặc tính và con đường phát triển” [18], “Một số

chuyên đề Lịch sử Thế giới” [27] Một số công trình khác như “Về sứ mệnh của

Nhật Bản trong kỷ nguyên châu Á” [3] (Nguyễn Phú Bình), “Quan hệ của Nhật Bản với châu Âu thời kỳ trước kỷ nguyên Minh Trị: Đóng cửa nhưng không cài then” [4] (Ngô Xuân Bình), “Biến đổi của Nhật Bản trong kỷ nguyên Minh Trị”

[21] (Hoàng Minh Lợi) cũng đều là những tác phẩm có giá trị về một thời kỳ mang tính bước ngoặt của dân tộc Nhật Bản

Bản dịch tác phẩm “Tại sao Nhật Bản thành công: Công nghệ phương Tây

và tính cách người Nhật Bản” [25] của nhà nghiên cứu Nhật Bản Michio

Trang 12

Morishima cố gắng tìm lời giải thích cho những thành công và thất bại của dân tộc Nhật Bản và hơn hết là tại sao những người Nhật luôn giữ gìn những giá trị đạo

đức truyền thống hay nói cách khác là phi phương Tây lại có thể kiểm soát được

những kỹ thuật công nghiệp do phương Tây tạo ra Cuốn sách đã cho thấy quá trình học hỏi phương Tây của người Nhật không phải là quá trình sao chép y bản chính

mà họ đã kết hợp yếu tố học hỏi được với bản sắc để sáng tạo nên những giá trị mới hoàn toàn khác biệt với giá trị phương Tây gốc

Các công trình “Nhật Bản cách tân giáo dục thời Minh Trị” [10], “Khuyến học”

[11] của tác giả Fukuzawa Yukichi đã thể hiện tư tưởng và đường lối của một trí thức đại tài người Nhật trong thế kỷ XIX Fukuzawa Yukichi là người đầu tiên đưa

ra tư tưởng “Thoát Á, nhập Âu”, vốn được coi là tiếng sét ngang tai đối với một xã hội vẫn còn ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo phong kiến, đặt nền móng trên phương diện đường lối cho cuộc cải cách Minh Trị sau này Còn trong tác phẩm

“Tư tưởng thực học của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ” [24], tác giả

Nguyễn Tiến Lực đã đem so sánh những tư tưởng tân tiến, phù hợp thời đại của hai trí thức Fukuzawa Yukichi của Nhật Bản và Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam

Tài liệu tiếng nước ngoài: Không chỉ riêng các học giả Việt Nam mà các học

giả ở khắp mọi nơi trên thế giới đều hào hứng nghiên cứu Nhật Bản, thậm chí nhiều tác phẩm của họ còn ra đời từ rất sớm trong thập niên 50s, 60s hay 70s của thế kỷ trước Nhiều tác phẩm có giá trị đã được các dịch giả Việt Nam việt hóa, đem lại cái nhìn bao quát hơn về một xã hội Nhật Bản cho đọc giả Việt Nam Ngoài những tác phẩm dịch đã được giới thiệu trên, còn khá nhiều những tác phẩm đã được biên

dịch có giá trị tham khảo cao như “Bách khoa toàn thư Nhật Bản” [31] của tác giả Richard Bowring và Peter Kornicki, “Quan điểm cơ bản khi tìm hiểu về xã hội Nhật

Bản” của tác giả Akio Michio, “Nhật Bản ngày nay” của Hiệp hội Quốc tế về thông

tin Giáo dục Những tác phẩm này mang đến cho người đọc Việt Nam những góc nhìn mới trên quan điểm của những học giả xuất thân từ các nền văn hóa khác nhau, giúp cho việc tổng hợp một hình ảnh đất nước Nhật Bản trở nên khách quan hơn

Trang 13

Còn khá nhiều công trình nghiên cứu có giá trị chưa được Việt hóa như

“Fudai Daimyo and the Collapse of the Tokugawa” [38] của tác giả Conraid

Totman nói về số phận của tầng lớp lãnh chúa phổ đại (Fudai Daimyo) gồm 145

người khi chế độ Mạc phủ Tokugawa sụp đổ, “A History of Japan to 1334” [39]

của tác giả George Sansom viết về lịch sử Nhật Bản từ thời cổ đại tới năm 1334 bao gồm đặc điểm, nguồn gốc dân tộc, các nhà nước phong kiến Nhật Bản, sự phát triển của các kinh đô, ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa và chiến tranh với

Mông Cổ Tác phẩm “The Technological Transformation of Japan” [49] của hai tác

giả Tessa Morris và Suzuki viết về quá trình công nghiệp hóa đất nước của Nhật Bản từ thế kỷ XVII cho tới thế kỷ XXI Cuốn sách có thể được coi là từ điển bách khoa về “hiện tượng Nhật Bản” trong lĩnh vực công nghệ

Nhìn chung, những nghiên cứu về Nhật Bản, đặc biệt là từ thế kỷ XV cho tới đầu thế kỷ XX, của những học giả cả trong và ngoài nước đều rất phong phú và đa dạng Tất cả dựng nên một bức tranh sống động về những sự kiện, biến cố lịch sử Nhật Bản trong những thời kỳ cụ thể Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu luận giải thích cách suy nghĩ, nhìn nhận của dân tộc Nhật Bản về sức mạnh phương Tây, các quốc gia đã gây sức ép khiến xã hội Nhật Bản thay đổi nhưng cũng là thế lực khiến người Nhật thay đổi suy nghĩ để học hỏi và chuyển hướng trở thành một quốc gia công nghiệp hóa đầu tiên ở châu Á

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nhật Bản không chỉ hấp dẫn các nhà nghiên cứu hàng đầu bởi nền văn hóa đặc sắc mà còn bởi sự chuyển mình thần kì từ một đất nước nông nghiệp đặc trưng thành một cường quốc công nghiệp với nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới Số lượng các công trình nghiên cứu Nhật bản vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, các công trình tập trung nghiên cứu về nguyên nhân, điều kiện khiến Nhật Bản chuyển hướng, nhận thức, chấp nhận những ý thức hệ mới về các cường quốc đại dương, đặc biệt trong thế kỷ XIX Để hiểu được điều này, luận văn sẽ tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử Nhật Bản trong thế kỷ XIX, từ đó rút ra những nguyên

Trang 14

nhân và động cơ khiến người Nhật đưa ra những quyết định thay đổi đất nước Kết quả việc học hỏi phương Tây của người Nhật hay nói cách khác là ảnh hưởng của phương Tây trong quá trình tư bản hóa Nhật Bản sẽ là mục đích mà bài luận văn này mong muốn làm sáng tỏ

Từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, nền kinh tế, quân sự và văn hóa của các quốc gia phương Tây phát triển hết sức mạnh mẽ Các quốc gia này sở hữu những tàu biển lớn được trang bị vũ khí hiện đại khiến họ dễ dàng chinh phục khắp các mặt đại dương Chính vì vậy, trong luận văn này, các cường quốc đại dương có ý nghĩa tương đồng với các cường quốc phương Tây Và thuật ngữ biển ở đây ám chỉ tới vùng biển chung của các nước Đông Á

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử, đặt vấn

đề nghiên cứu trong bối cảnh khu vực và thế giới, trong mối quan hệ lịch đại và đồng đại Dựa vào việc phân tích các kênh thông tin, luận văn đã ứng dụng phương pháp thống kê, nghiên cứu so sánh để làm rõ các nội dung chuyên môn và mục tiêu nghiên cứu đề ra

5 Các đóng góp chính

Sau khi hoàn thành, luận văn hi vọng sẽ mang lại những đóng góp chính như sau:

Thứ nhất, Nhật Bản là một quốc gia đặc biệt, quốc gia phương Đông đầu

tiên nhận thức và cải cách đất nước theo mô hình phương Tây Sự thành công của Nhật Bản thu hút nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực tâm tâm khảo cứu Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có các công trình chuyên khảo toàn diện,

cụ thể về ý thức tự cường dân tộc và nguyên nhân khiến Nhật Bản đổi hướng, từ bỏ chế độ phong kiến để học hỏi những tri thức tiến bộ phương Tây và trở thành một cường quốc đại chúng theo mô hình phương Tây Chính vì vậy, luận văn cố gắng tập trung nêu bật hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm xã hội và nhận thức của Nhật Bản về các cường quốc phương Tây

Trang 15

Thứ hai, luận văn cũng cố gắng làm rõ quá trình học hỏi phương Tây của

Nhật Bản, để tìm hiểu nguyên nhân quốc gia này mặc dù chủ động Âu hóa toàn diện nhưng về mặt bản chất vẫn là một quốc gia Á Đông chứ không bị “đồng hóa” thành một quốc gia phương Tây Từ những phân tích này, luận văn cố gắng đưa ra những lý giải để làm bài học trong quá trình học hỏi tri thức từ thế giới bên ngoài

Thứ ba, luận văn cũng cố gắng chứng minh vai trò quan trọng của đại

Dương trong thông thương và an ninh lãnh thổ Những mối lợi khổng lồ đã thúc đẩy các quốc gia tập trung phát triển lực lượng hải quân nhằm kiểm soát mặt biển Đây là tiền đề quan trọng trong việc hình thành các cường quốc Đại Dương, những người làm chủ mặt biển trong một thời gian dài

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có cấu trúc 3 chương bao gồm:

Chương 1: Sự xâm nhập của các cường quốc đại dương và cách ứng phó của Nhật Bản

Chương 2: Tầm quan trọng của biển và nhận thức của Nhật Bản về sức mạnh của các cường quốc đại dương

Chương 3: Một số nhận xét về tầm nhìn, chủ trương và đối sách của Nhật

Bản trước các thế lực đại dương

Trang 16

kỷ XV-XIX, thời đại của những cường quốc đại dương phương Tây muốn mở rộng tầm ảnh hưởng của mình sang các nước phương Đông, nhưng cũng là thách thức khắc nghiệt đối với những nền văn minh phương Đông

Nếu suy nghĩ theo chiều hướng tích cực, sự giao thoa, xung đột giữa các nền văn minh là thời điểm để các quốc gia phương Đông tự nhìn nhận lại mình, đánh giá và phát huy sức mạnh nội tại, đồng thời học hỏi những thành tựu tiên tiến, văn hóa đặc sắc từ những nền văn hóa bên ngoài Có thể coi sự phát triển huy hoàng, rực rỡ của văn minh phương Đông thời cổ trung đại đã bị văn minh phương Tây vượt qua Ở đây, dân tộc Nhật Bản đã kiên quyết loại bỏ những suy nghĩ thiển cận, lạc hậu để tiếp cận, học hỏi những tri thức tiến bộ từ phương Tây, một con đường hoàn toàn khác biệt so với chủ trương đóng cửa, tiếp tục run sợ và cuối cùng là bị phương Tây chinh phục như các dân tộc khác ở khu vực Đông Á

1.1 Thời kỳ trước Minh Trị Duy tân

1.1.1 Giao thương với phương Tây và phản ứng của người Nhật

Thời kỳ từ thế kỷ VII-IX là thời kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của nhà nước Nhật Bản cổ đại Đây là thời kỳ Nhật Bản hướng

Trang 17

mạnh đến trung tâm văn minh Trung Hoa Thời kỳ này, văn hóa Đường (618-907) phát triển hưng thịnh và rực rỡ với nhiều thành tựu khai nở ở Trung Quốc Nhiều đoàn trí thức và tu sĩ Nhật Bản đã lên đường sang Trung Quốc lưu học để mang những tri thức học được về chấn hưng văn hóa dân tộc

Từ đầu thế kỷ XV, sau một thời gian khá dài phát triển tương đối ổn định của Mạc phủ Muromachi, lịch sử Nhật Bản lại trải qua quá trình tranh giành quyền lực

mới “Động lực căn bản của cuộc chiến tranh đó là sự thèm khát đất đai mãnh liệt

của giới quân sự địa phương, những người chịu sức ép mạnh trong việc tăng cường sở hữu của mình” [42, tr 53] Là những gia tộc lớn, các thủ lĩnh quân sự cần

nhiều đất để chia cho con cháu và cấp cho chư hầu Nhưng phần lớn đất đai, về danh nghĩa lại thuộc về quyền sở hữu của nhà nước với sự quản lý của đội ngũ quan chức địa phương Trong điều kiện chính quyền trung ương suy yếu, bằng sức mạnh quân sự, các tập đoàn võ sĩ đều ra sức lấn chiếm đất đai, biến đất công thành

sở hữu tư nhân và khẳng định vị thế của mình trong một trật tự xã hội mới

Từ cuối thế kỷ XV, nhiều lãnh chúa có thế lực đã kiểm soát được cả những cơ

sở tôn giáo và nhiều trang viên nhỏ yếu khác Chiếm được đất, họ có toàn quyền sử dụng theo mục đích của mình và không phải dâng nạp một phần thu nhập như trước nữa Đây chính là động lực để các lãnh chúa mở rộng hơn nữa thế lực của mình thông qua con đường chiến tranh và tranh đoạt quyền lực Tuy nhiên, các cuộc tấn công lấn chiếm đất đai không chỉ làm xáo trộn các mối quan hệ xã hội truyền thống mà còn phá vỡ những cơ sở kinh tế thiết yếu vốn có của trang viên Nguyên tắc cùng chịu trách nhiệm và hưởng lợi nhuận theo địa vị giờ đây đã được thay thế bằng chế độ lĩnh canh và sự phục thuộc thân phận trực tiếp của nông dân với lãnh chúa Đây cũng là quá trình tan rã của tình trạng kinh tế khép kín, tự cung

tự cấp vốn đã tồn tại lâu dài trong xã hội Nhật Bản để mở ra những khả năng phát triển, giao lưu kinh tế rộng lớn hơn

Trong khi đó trên thế giới từ thế kỷ thứ XV, chủ nghĩa tư bản bắt đầu có những phát triển mạnh mẽ ở châu Âu Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã

Trang 18

hội phát triển nhanh chóng về cả chất và lượng Năng suất lao động tăng cao, thị trường hàng hóa phát triển đến độ bão hòa Nhu cầu mở rộng thị trường, tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa mới lạ với chất lượng hảo hạng, tìm kiếm nguồn nhân lực

và nguyên liệu mới đã thúc đẩy người châu Âu lên đường tìm những miền đất mới Những chuyến đi này đã mang lại những phát kiến địa lý vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tìm ra những vùng đất mới và nối liền hoạt động thương mại giữa các châu lục, đặc biệt giữa phương Đông và phương Tây Cũng trong giai đoạn này, ở châu Âu nổi bật lên Phong trào văn hóa phục hưng, nó như một cuộc cách mạng tinh thần, hướng tới chủ nghĩa nhân đạo, cách mạng khoa học Bên cạnh đó, Phong trào cải cách tôn giáo và canh tân giáo hội, nhằm khẳng định vị trí của Kitô giáo so với Hồi giáo, và mở rộng ảnh hưởng của Kitô giáo ra bên ngoài, cũng đã có nhiều ảnh hưởng lớn

Phương Đông trong con mắt của những nhà thám hiểm, thương gia phương Tây là một vùng đất trù phú, hưng thịnh với Ấn Độ, Trung Hoa giàu có, Đông Nam Á đặc sắc với sản vật, hương liệu phong phú Trong cơn khát vàng, hương liệu, của cải đó, rất nhiều thương nhân phương Tây trên các thuyền đi biển Caraven sử dụng la bàn, bánh lái cải tiến và một hệ thống các cột buồm tìm đến Ấn

Độ, Trung Hoa, và cả vùng quần đảo Zinpangu (Nhật Bản) hết sức giàu có mà Marco Polo đã từng mô tả trong tác phẩm Travel (Viễn du) nổi tiếng Sức hấp dẫn

của các vùng hương liệu, trữ lượng và đặc tính của trầm hương, sừng tê giác, ngọc trai, ngà voi đã tạo nên một huyền thoại về “Thế giới phương Đông”, nơi mà của cải không bao giờ cạn kiệt

Đến giữa thế kỷ XVI, Nhật Bản mới bắt đầu tạm ổn định sau một thời gian dài nội chiến liên miên do sự tranh chấp giữa các lãnh chúa và các đại gia đình quý tộc, dù rằng cuộc chiến tranh giành quyền lực vẫn còn diễn ra giữa vài đại gia tộc quyền quý Như là định mệnh sắp đặt, 3 thương nhân người Bồ Đào Nha đã tình cờ tìm thấy Nhật Bản khi trên đường tới Trung Hoa bị bão thổi giạt vào Tanegashima vào ngày 23-9-1543 [17] Họ trở thành những người phương Tây đầu tiên đặt chân

Trang 19

đến Nhật Bản Chiến tranh liên miên, sản xuất đình trệ, hàng hóa thiếu thốn, hiếu

kỳ với nền văn minh tới từ phương trời xa xôi khiến người Nhật vô cùng hăm hở với những thứ hàng hóa, kiến thức, tư tưởng phương Tây mới lạ Năm 1545, chỉ 2 năm sau cuộc khám phá đầy bất ngờ, người Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập quan hệ giao thương với Nhật Bản khi nhận thấy tiềm năng giao thương vô cùng to lớn của quốc gia này Những chuyến tàu buôn phương Tây ngay khi vừa ghé vào vùng biển Nhật Bản đã được các lãnh chúa địa phương chào đón với thái độ ưu ái đặc biệt Ở vùng Kyushu, không ít lãnh chúa còn háo hức mời gọi thương nhân phương Tây đến buôn bán tại các cảng mà họ kiểm soát Nhờ có những điều kiện thuận lợi đó mà chỉ trong vòng một thập kỷ các thương nhân Bồ Đào Nha đã xác lập được vị trí của mình tại Nhật Bản Với lợi thế có tàu đi biển trọng tải lớn, tốc

độ cao và trang bị vũ khí hiện đại, thương nhân Bồ Đào Nha có khả năng cung cấp những loại hàng hóa được sản xuất từ phương Tây và một số nước châu Á xa xôi khác Những mặt hàng mà họ đem đến đã có sức hấp dẫn lớn, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, mục đích quân sự cũng như óc hiếu kỳ của người Nhật

Tuy nhiên vào thời kỳ này, do sự tác động của cuộc nội chiến trong nước nên Nhật Bản vẫn chưa thể có một chủ trương chung về phát triển quan hệ thương mại

mà hoạt động buôn bán đa phần phụ thuộc vào chính sách của các lãnh chúa Do

đó, việc giành được quyền mở cảng và đặt thương điếm ở Nagasaki là kết quả của

cả một quá trình thăm dò, thương thuyết bền bỉ của người Bồ Đào Nha với các lãnh chúa Nhật Bản Năm 1571, sau khi tập hợp được hầu hết các thương nhân ở Hirado, shimabara về Nagasaki, Omura① đã ra lệnh xây dựng 6 khu phố: Shimabara Machi, Omura Machi, Bunchi Machi, Hokaura Machi, Hirado Machi và Yokoseura Machi Từ đó Nagasaki trở thành trung tâm buôn bán với nước ngoài ở vùng Tây – Nam Nhật Bản Để tránh những cuộc tấn công của các lãnh chúa có tư tưởng chống đối, bảo vệ an toàn cho thương cảng mới được xây dựng cũng như cuộc sống của bản thân ở Nagasaki, các thương nhân Bồ Đào Nha phải nộp cho

Lãnh chúa thứ 4 của Hirado thời kỳ Edo (1600-1868)

Trang 20

lãnh chúa địa phương một khối lượng vàng lớn Thêm vào đó, hàng năm theo yêu cầu của Omura, họ còn phải giao cho các quan chức sở tại một khoản tiền trị giá

1000 ducat bạc và nhiều khoản chi phí lớn khác để hoàn thiện việc xây cảng, làm

nhà chung hay thuê cơ sở truyền đạo

Các tàu Bồ Đào Nha đến buôn bán ở Nhật Bản thường có trọng tải từ 600-700 tấn và chở theo khoảng 200 người Các tàu này thường xuất phát từ Goa tới Nagasaki và thường chở theo nhiều mặt hàng được sản xuất ở châu Âu như: lông thú, nhung, pha lê, thủy tinh, đồng hồ, ống nhòm, la bàn, thuốc lá, rượu Bồ Đào Nha và một số sản phẩm từ Trung – Nam Á như thủy tinh, vải hoa Ấn Độ Khi đến Malacca, một số lượng nhất định trong các loại hàng này được dùng để đổi lấy hương liệu và thổ sản địa phương Khi tàu tới Macao, hàng hóa lại tiếp tục được dùng để đổi lấy vàng, tơ lụa mà các thương nhân, viên chức của thương điếm Bồ Đào Nha đã chuẩn bị sẵn Tàu lập tức nhổ neo đến Nhật Bản vào khoảng tháng 7 hay tháng 8 theo gió mùa Tây – Nam Hàng hóa mà các thương nhân Bồ Đào Nha mua đem về Goa thường là những sản phẩm lạ của Nhật Bản như: đồ sơn mài,

tranh khắc gỗ, kiếm, áo kimono

Những mặt hàng đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho thương nhân Bồ Đào Nha trên đất Nhật Bản là tơ lụa Trung Hoa, vũ khí và bạc Hàng năm, lợi nhuận từ lụa

có thể lên tới gần 50.000 ducat bạc và lượng lợi nhuận khổng lồ tới từ việc nhập

vào Nhật Bản súng trường, thuốc súng, đại bác Việc mua bạc ở Nhật Bản để bán lại trên thị trường thế giới cũng cho tỉ suất lợi nhuận rất cao bởi tỉ giá chênh lệch lớn giữa Nhật Bản và các vùng khác trên thế giới [17]

Những năm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, thương nhân người Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh xuất hiện ở Nhật Bản đã phá vỡ thế độc tôn trong quan hệ buôn bán của người Bồ Đào Nha tại thị trường khu vực khiến giao thương càng trở nên sôi động Tuy nhiên, sự xuất hiện của các nước này đã làm đảo lộn những mối quan hệ buôn bán mà Bồ Đào Nha đã xác lập được trong vòng nửa thế kỷ, đồng thời cũng tác động không nhỏ đến chính sách kinh tế đối ngoại của chính quyền

Trang 21

Nhật Bản Người Nhật bị đặt trong một tình thế phải đồng thời ứng phó với những vấn đề phức tạp mà họ chưa từng trải qua Sự hiện diện của các cường quốc phương Tây trên lãnh thổ Nhật Bản càng làm tăng thêm nỗi lo sợ về nguy cơ đe dọa của các thế lực ngoại bang đối với Nhật Bản, nhưng đồng thời cũng cung cấp cho người Nhật nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về sự biến chuyển của tình hình thế giới và thực lực của từng nước phương Tây

Những thương nhân Hà Lan là những người đầy tham vọng nhưng cũng dễ hòa đồng và rất giỏi trong giao tiếp Vào thế kỷ XVI, họ đang ngày một chiếm ưu thế trong các hoạt động buôn bán ở khu vực Địa Trung Hải, Đại Tây Dương và từng bước trở thành đối thủ cạnh tranh quyết liệt với các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha trên nhiều khu vực buôn bán quốc tế Từ những thành công trong việc chiếm lĩnh thị trường châu Âu, Hà Lan đã vươn lên giành ưu thế buôn bán tại vùng biển châu Á và chiếm lĩnh một số vùng đất thuộc địa ở đây Những chuyến tàu buôn thăm dò đầy ắp hàng hóa từ Sumatra và Java trở về đã kích thích người

Hà Lan nóng lòng chuẩn bị cho các chuyến đi tiếp theo tới Viễn Đông

Năm 1588, 22 chiếc tàu Hà Lan đã nhổ neo hướng về phương Đông Một trong số đó, tàu De Liefide do Jacob Quaeckerneek làm thuyền trưởng và viên hoa tiêu người Anh William Adams điều khiển đã bị một trận bão lớn thổi dạt vào Bungo bờ biển phía Đông Kyushu vào ngày 19-4-1600 Những người sống sót trên tàu đã phải trải qua những ngày tháng đầu tiên cực kỳ khó khăn Họ còn bị những thương nhân Bồ Đào Nha và các giáo sĩ dòng Tên chống phá quyết liệt, bị coi là những tên cướp biển Nhưng tin tức về chiếc tàu lạ Hà Lan với trang bị vũ khí hiện đại đã nhanh chóng được thông báo cho Tokugawa Ieyasu Lập tức số vũ khí cùng đạn dược trên tàu được đưa vào đất liền và sau đó trở thành những ngón đòn đắc dụng của nhà Tokugawa trong những cuộc tấn công trừng phạt đối thủ Thủy thủ trên tàu được đối xử hết sức nồng hậu Bản thân W Adams còn được Ieyasu trọng dụng trong nhiều việc như thiết kế, chỉ đạo đóng các tàu đi biển lớn theo kiểu phương Tây, hướng dẫn sử dụng vũ khí, giảng giải các vấn đề hàng hải cũng như

Trang 22

báo cáo về tình hình các nước châu Âu Thậm chí, cùng với Jan Joosten, W Adams còn được mời làm cố vấn ngoại giao cho Mạc phủ Đến năm 1601, tin tức

về thủy thủ Hà Lan ở Nhật Bản đã truyền về Rotterdame Nguồn tin này đã làm dấy lên mối quan tâm của chính giới và các nhà kinh doanh Hà Lan về khả năng và lợi nhuận có thể thu được trong quan hệ với vùng đất xa xôi Nhật Bản

Ngày 26-3-1602, trên cơ sở hợp nhất một số công ty đã từng hoạt động ở

khu vực châu Á, công ty Đông Ấn Hà Lan (De Vereenigde Oost Indische

Compagnie, VOC) dưới sự bảo trợ của chính quyền Hoàng gia đã được thành lập

với một Hội đồng điều hành gồm 17 người VOC được coi là công ty có thế lực kinh tế phương Tây lớn nhất trong khu vực buôn bán phương Đông, với một đoàn tàu buôn mạnh gồm hơn 150 chiếc được trang bị vũ khí hiện đại Công ty được sự ủng hộ chính thức của quốc vương Hà Lan và chịu trách nhiệm duy nhất trong việc liên hệ với bên ngoài, có toàn quyền trong các quyết định, kể cả việc tuyên chiến, xây dựng cảng, lập thương điếm cũng như ký kết các hiệp ước khi cần thiết Mục tiêu cao nhất của VOC là phải nhanh chóng giành được độc quyền buôn bán ở bất

cứ nơi nào có thể tại phương Đông

Năm 1605, thuyền trưởng J Quaecker-neek từ Nhật Bản trở về quê hương cùng với sự chấp thuận cho quan hệ ngoại thương của Mạc phủ Tháng 12-1607,

Đô đốc Pieter Willemsz chỉ huy một hạm đội 13 tàu chở 1900 người, trang bị 377 khẩu đại bác đã rời Hà Lan tiến vào vùng biển châu Á Viên Đô đốc được lệnh phải đưa ít nhất một tàu tới Nhật Bản và chuyển bằng được quốc thư đề nghị được

mở thương điếm buôn bán lâu dài Ngày 6-7-1609, hai chiếc tàu Roode Leeuw Meet Pijlen và Grinffoen đã buông neo gần một làng đánh cá nhỏ ở Hirado Cùng năm đó, Hà Lan đã chính thức mở thương điếm ở Hirado, Nhật Bản

Sự xuất hiện của các thương nhân Hà Lan ở Nhật Bản đã thổi bùng lên ngọn lửa thù hận của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Rõ ràng họ cho rằng sự hiện diện của một quốc gia phương Tây khác ở khu vực biển Đông chắc chắn sẽ ảnh hưởng

Trang 23

xấu tới quyền lợi của họ Vì vậy, họ tìm mọi cách để ngăn chặn và làm dấy lên mối nghi ngờ của người Nhật với người Hà Lan Để đối phó, các thương nhân Hà Lan

đã sử dụng sự khéo léo và tài giao tiếp vốn có kiên nhẫn từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu Họ đã giải thích rằng đạo Tin lành – tôn giáo mà họ theo đuổi – không chịu sự chi phối của nhà thờ La Mã và chính người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha mới là những kẻ có mưu đồ chính trị với Nhật Bản Người Hà Lan tới Nhật Bản thuần túy chỉ để giao thương và rằng Hà Lan hoàn toàn có đủ sức mạnh, khả năng đáp ứng mọi nhu cầu thương mại của Nhật Bản

Thái độ nhã nhặn của các thương nhân Hà Lan, những nguồn lợi thương mại

mà họ mang đến cho Nhật Bản cũng như những thành tựu khoa học, kỹ thuật của một quốc gia tư bản phương Tây đang trên đà đi lên đã tạo ra sức hấp dẫn mạnh

mẽ, giành được sự quan tâm, thiện cảm của chính quyền Edo Khá nhiều lãnh chúa, thương nhân và đông đảo trí thức Nhật Bản đã coi sự xuất hiện của người Hà Lan

là bước chuẩn bị cho một sự thay thế đáng tin cậy trong quan hệ quốc tế Qua nhiều nguồn tin, Mạc phủ cũng đã đánh giá được tương đối chính xác sức mạnh thương mại của Hà Lan và phần nào yên tâm về khả năng cung cấp hàng hóa của

họ cho thị trường Nhật Bản Sau khi khẳng định chắc chắn vấn đề đó, giới cầm quyền Nhật Bản ngày càng ra nhiều chính sách khắc nghiệt đối với thương nhân, giáo sĩ Bồ Đào Nha Bản thân Mạc phủ cũng ngày càng có thái độ phân biệt đối xử giữa thương nhân các nước với thương nhân Bồ Đào Nha

Ngược lại, do giành được thiện cảm của giới cầm quyền Nhật Bản, nên khi quốc thư Hà Lan được trình lên, tướng quân Tokugawa ngay lập tức chấp thuận Người Hà Lan được quyền buôn bán ở bất kỳ nơi nào họ muốn, được phép xây dựng nhà cửa theo kích thước tiện lợi cho cuộc sống như ở châu Âu, được bán hàng với giá hời nhất có thể và quan trọng nhất là không bị kiểm soát chặt chẽ như người Bồ Đào Nha Được Mạc phủ ủng hộ và nhờ có ưu thế trên biển, Hà Lan đã tìm cách lấn lướt Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các đối thủ thương mại khác để rồi cuối cùng đã loại bỏ các nước này ra khỏi thị trường Nhật Bản

Trang 24

Cuộc cạnh tranh sống mái giữa người Hà Lan và Bồ Đào Nha thực chất diễn

ra quyết liệt ngay trên đại dương Trong cuộc chiến này, Hà Lan là người nắm giữ

ưu thế với lực lượng mạnh hơn, tàu có thiết kế tiên tiến và trang bị pháo hạng nặng

Từ 1629-1635, hải quân Hà Lan đã phá hủy hơn 150 chiếc tàu Bồ Đào Nha ở vùng Viễn Đông Năm 1641, Hà Lan chiếm thuộc địa chủ chốt của người Bồ Đào Nha ở Malacca và năm 1642, họ chiếm Đài Loan của Tây Ban Nha Để chống lại các cuộc tấn công của tàu Hà Lan, ban đầu phần lớn tàu buôn Bồ Đào Nha đều được trang bị thêm vũ khí hạng nặng Nhưng các tàu này vẫn bị tấn công và bắn cháy Thương nhân Bồ Đào Nha đành phải thay đổi phương cách buôn bán với Nhật Bản Thay vì cử các tàu buôn lớn như trước đây, họ đành phải chất hàng hóa lên những chiếc tàu nhỏ Các tàu này dễ gặp nguy hiểm khi biển động nhưng lại có vận tốc nhanh hơn và nếu gặp xung đột thì tổn thất sẽ nhỏ hơn Từ năm 1623, tránh đối đầu với các tàu Hà Lan, thương nhân Bồ Đào Nha phải cho tàu đi vòng qua khu vực phía Đông của Đài Loan chứ không dám cho tàu đi theo hải trình ven biển Trung Hoa như thường lệ

Khi thay thế các tàu biển lớn bằng những tàu buôn nhỏ, lợi nhuận hàng năm của các thương nhân Bồ Đào Nha đạt được qua những chuyến đi này cao hơn trước nhưng mức độ rủi ro cũng tăng lên đáng kể và càng ngày hàng hóa của họ càng bị

ép giá và càng khó bán trên thị trường Nhật Bản Để bù lại những thiệt thòi đó, họ dùng một tiểu xảo là khi tới Nhật Bản thường có 4 tàu thì 3 trong số đó chở tơ lụa

và những mặt hàng có giá trị, còn 1 tàu chỉ đem theo vật dụng đi biển, loại hàng hóa vốn ít gây sự chú ý của chính quyền Nhật Nhưng khi rời khỏi Nhật Bản thì cả

4 tàu đều chở đầy bạc

Nhận thấy điều kiện làm ăn ở Nhật Bản ngày càng khó khăn, các thương nhân Bồ Đào Nha càng ra sức vơ vét tài nguyên của Nhật Bản mà biểu hiện rõ nhất

là cuối những năm 1620, đầu những năm 1630, người Bồ Đào Nha đã đưa ra khỏi

Nhật Bản khối lượng bạc trị giá 6.697.500 florin, trong khi 9 chiếc tàu Hà Lan rời Hirado cũng chỉ chở đi lượng bạc 3.192.815 florin, tức chỉ khoảng 50% Hơn nữa,

Trang 25

để tăng cường sức mạnh trong cuộc cạnh tranh với người Hà Lan, thương nhân Bồ Đào Nha còn tìm cách tăng nguồn vốn thông qua việc vay tiền của thương nhân Nhật Bản để buôn bán và thanh toán lại bằng hàng hóa trong năm sau Các khoản vay đều phải chịu lãi suất nặng, thường từ 25-30%/năm, cá biệt có trường hợp lên tới 40%/năm Việc trả nợ gốc và lãi làm giảm nghiêm trọng lợi nhuận của thương nhân Bồ Đào Nha, nhưng để duy trì quan hệ buôn bán, họ phải tiếp tục vay thêm những khoản nợ mới và cứ như vậy cho đến những năm 1630 thì tình trạng vay nợ của các thương nhân Bồ Đào Nha đã trở nên không thể kiểm soát nổi Nhiều trường hợp không có khả năng trả nợ

Để làm giảm khả năng lũng đoạn thị trường Nhật Bản của thương nhân nước ngoài, đặc biệt là thương nhân Bồ Đào Nha, Mạc phủ Tokugawa đã từng bước đặt

ra một cơ chế kiểm soát với mức độ ngày càng nghiêm ngặt Từ những năm 1620, các thương nhân phương Tây bị hạn chế hoạt động ở vài thương cảng và bị kiểm soát nghiêm ngặt trong quan hệ, giao tiếp với người Nhật, không được đi lại quá phạm vi quy định, không được tùy tiện buôn bán các loại hàng hóa mà chưa được phép, không được có những hành vi, ăn mặc gây tổn hại đến thuần phong, mỹ tục Nhật Bản, thậm chí không được nuôi và giết động vật

Từ sau sự kiện Shimabara, trao đổi thương mại giữa Nhật Bản với các nước thu lại chỉ còn chủ yếu với thương nhân Hà Lan, Trung Quốc Hoạt động buôn bán quốc tế thời gian này thực tế chỉ còn bó hẹp trong phạm vi hai cảng Hirado và Nagasaki Chính sách hạn chế ngoại thương của chính quyền Tokugawa rõ ràng còn là nhằm để tăng cường hơn nữa việc kiểm soát đối với các lãnh chúa vùng Tây – Nam và quy định rõ trách nhiệm của những người đại diện của chính quyền Edo được giao phụ trách vấn đề kinh tế đối ngoại

Trong điều kiện đó, người Hà Lan đã khôn khéo giành được vai trò độc quyền tại thị trường Nhật Bản khi các thương gia Trung Quốc bị hạn chế từ năm

1635 Tổng giá trị buôn bán tăng lên vượt bậc so với trước khi Nhật Bản thực hiện chính sách đóng cửa Chỉ trong năm 1640, giá trị hàng hóa trao đổi đã đạt mức 4

Trang 26

triệu gulden Lợi nhuận mà thương nhân Hà Lan đạt được tại thị trường Nhật Bản

hàng năm chiếm tới hơn 50% tổng giá trị buôn bán của họ ở phương Đông Sự thành đạt kéo dài tới tận đầu thế kỷ XVIII

Có một thực tế là trong quan hệ thương mại lúc đó, Nhật Bản bị mắc hiện

tượng chảy máu bạc Chỉ trong năm 1639, các tàu buôn Hà Lan đã đem ra khỏi Nhật Bản lượng bạc trị giá 527.250 florin Từ 1615-1625, khối lượng bạc mà Nhật

Bản đổ vào ngoại thương trong những ngày cực thịnh buôn bán quốc tế thông qua các tàu buôn Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Bồ Đào Nha đã đạt tới một lượng khổng lồ, có thể lên tới 130.000-140.000 kg, tức là chiếm khoảng 30-40% tổng sản lượng bạc mà thế giới có Chính vì vậy, có thể nói tỏa quốc là biện pháp mà chính quyền Edo áp dụng nhằm ngăn chặn những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và cả tình trạng suy kiệt tài nguyên thiên nhiên trong đất nước Nhật Bản [27]

Như vậy, sau một thời gian mở rộng cửa đón nhận những đoàn tàu buôn phương Tây và thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Nhật Bản với nước ngoài, chính quyền Nhật Bản đã nhận ra sự khác biệt giữa Đông – Tây, mưu đồ chính trị

và lòng tham của giới giáo sĩ, thương nhân phương Tây đang mang lại sự bất ổn, tiêu cực cho xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ Trong việc Nhật Bản đóng cửa đất nước

để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới từ các quốc gia phương Tây này thì tôn giáo là một trong những tác nhân vô cùng quan trọng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất của chính sách này Trong chiến lược phát triển đất nước, Tokugawa Ieyasu luôn coi trọng vấn đề phát triển thương mại, coi đó là một phương cách quan trọng để tái thiết đất nước sau chiến tranh Nhưng vì sự thống nhất đất nước cũng như bảo vệ địa vị thống trị của triều đại, Mạc phủ Edo đã đặt vấn đề chủ quyền dân tộc lên trên hết

Trong thời gian đầu mở cửa, Mạc phủ Edo luôn tỏ rõ thái độ khoan dung và tạo nhiều điều kiện cho các nhà truyền giáo bởi ông hiểu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa thương mại với tôn giáo đến từ phương Tây – Kitô giáo Bản thân ông cho rằng có thể tách biệt hai vấn đề kinh tế và tôn giáo, đồng thời hạn chế được những

Trang 27

tác động tiêu cực từ ảnh hưởng phương Tây tới xã hội Nhật Bản Nhưng khi những ảnh hưởng từ các nước phương Tây trở nên lớn hơn thì việc kiểm soát lại không đơn giản như ông tưởng Hơn nữa, thông qua con đường buôn bán, giao tiếp với phương Tây, thế lực của nhiều lãnh chúa vẫn tiếp tục được tăng cường, thách thức đến sức mạnh kinh tế và chính trị của Mạc phủ Đó chính là nguy cơ nghiêm trọng

đe dọa quyền uy, sự tồn tại của triều đại Mạc phủ Vì vậy, việc ngăn chặn những

kỹ thuật quân sự mới, không để chúng làm đảo lộn trật tự quyền lực giữa họ Tokugawa và các lãnh chúa khác, trở nên vô cùng cấp thiết để giữ vững ổn định đất nước, thống nhất chính quyền Thực tế là thời kỳ Edo ổn định và duy trì suốt

265 năm từ 1603-1868 chính là nhờ một phần rất lớn vào chính sách bế quan tỏa cảng, đóng cửa Nhật Bản này

Trong quá trình mở cửa giao lưu quốc tế, người Nhật đã tiếp thu được tri thức và kinh nghiệm cần thiết để định ra con đường phát triển của riêng mình Từ chỗ thực hiện chính sách đa phương hóa trong quan hệ quốc tế, Nhật Bản đã lựa chọn để rồi đi đến đặt trọng tâm quan hệ đối ngoại với chủ yếu một số quốc gia Nhưng, những chủ trương hạn chế trong quan hệ giao bang không chỉ dùng ở đó Mặc dù thương nhân: Trung Quốc, Hà Lan, Triều Tiên và Ryukyu vẫn được phép đến giao thương với Nhật Bản nhưng hoạt động của họ ngày càng bị hạn chế Mạc phủ đã đề ra những biện pháp kiểm soát chặt chẽ từ địa điểm buôn bán đến quy định về số lượng tàu, thuyền buôn Chính sách tỏa quốc mà Mạc phủ chủ trương thực ra không hoàn toàn chỉ dẫn đến những hệ quả tiêu cực Trên thực tế, sakoku là một biện pháp nhằm đảm bảo chủ quyền dân tộc, duy trì sự thống nhất đất nước, quyền uy của Mạc phủ đồng thời khuyến khích sự phát triển của một nền kinh tế tự chủ Trong thời kỳ tỏa quốc, chính nhờ chính sách không đóng mà chỉ hạn chế này

mà Nhật Bản vẫn có thể giữ ổn định được những khoản lợi nhuận đến từ giao thương, vẫn đảm bảo được nguồn cung cấp hàng hóa đa dạng từ khắp nơi trên thế giới và quan trọng nhất là vẫn bám sát được những thành tựu tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, tư tưởng mới lạ từ phương Tây thông qua đối tác Hà Lan Bên cạnh đó,

Trang 28

sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp tập trung vào chuyên canh, thâm canh

đã khiến kinh tế nông nghiệp Nhật Bản tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa Do có sự tiêu thụ sản phẩm, một bộ phận nông dân trở nên giàu có và có khuynh hướng tách khỏi không gian xã hội nông thôn truyền thống để tham gia vào các ngành kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp Bộ phận khác không có ruộng đất phải ra thành thị để kiếm sống và chính những người chuyển cư đó đã thúc đẩy quy mô dân số ở

nhiều thành thị, trung tâm kinh tế tăng lên nhanh chóng

Trong quá trình giao thương, kinh tế, văn hóa và tôn giáo của phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội và kinh tế Nhật Bản Kitô giáo thâm nhập vào Nhật Bản năm 1549 và chỉ sau một thời gian ngắn đã thu hút tới khoảng 100.000 đến 200.000 người Nhật trở thành tín đồ Những nhà lãnh đạo Nhật Bản

từ đó đã bắt đầu tìm hiểu phương Tây, chú ý đến các cơ hội mới để phát triển kinh tế, cũng như thách thức chính trị đối với quyền lực của họ Họ cũng dần nhận ra những khác biệt giữa văn hóa Nhật Bản và văn hóa phương Tây, đặc biệt

là khoảng cách giữa văn hóa nội địa với những quốc gia theo đạo Kitô giáo Năm

1587, tướng quân Hideyoshi cho rằng Kitô giáo mà người châu Âu mang tới Nhật Bản là mối nguy hiểm về chính trị Các giáo sĩ Kitô ngày càng để lộ bộ mặt là kẻ dọn đường cho sự xâm lược của thực dân phương Tây, họ cấu kết chặt chẽ với các lãnh chúa miền Tây Nam để chống đối và làm suy yếu Mạc phủ Sự phát triển của đạo Kitô cũng gây ra mâu thuẫn với các tôn giáo khác, nhất là Phật giáo, vốn

là tôn giáo đã phát triển ở Nhật Bản trước đó Chính vì vậy, Kitô giáo gây trở ngại rất nhiều cho sự thống nhất đất nước Do đó, để bảo vệ những lợi ích dân tộc

mà trước hết là địa vị thống trị cùng đặc quyền phong kiến, chính quyền Tokugawa đã kiên quyết bài trừ các giáo sỹ và tín đồ Dòng Tên ra khỏi xã hội Nhật Bản Cùng với các biện pháp đó, năm 1639, Mạc phủ Edo cũng đoạn tuyệt quan hệ với Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và chỉ quan hệ giao thương với Hà Lan dưới sự giám sát chặt chẽ của chính quyền tại vài cảng chỉ định Đây được gọi là chính sách Tỏa quốc [19]

Trang 29

Tuy nhiên, có thể nói Nhật Bản không hoàn toàn biệt lập dưới chính sách Tỏa Quốc Đây chỉ là một hệ thống các chính sách nghiêm ngặt được Mạc phủ và một

số phiên áp đặt cho thương mại và ngoại giao Chính sách nói rõ ràng rằng thế lực phương Tây duy nhất được phép là thương điếm Hà Lan ở Deshima, thuộc Nagasaki Buôn bán với Trung Quốc cũng được thực hiện ở Nagasaki Thêm vào

đó, thương mại với nhà Triều Tiên thông qua phiên Đối Mã②

, với người Ainu qua phiên Matsumae ở Hokkaido, và với Vương quốc Ryukyu (Lưu Cầu) qua phiên Satsuma③ Ngoài việc giao thương trực tiếp ở các tỉnh vùng biên, tất các các nước này điều thường xuyên gửi các sứ đoàn mang cống phẩm đến trung tâm của Mạc phủ tại Edo Khi các sứ thần đi dọc Nhật Bản, thần dân Nhật có được chút ý niệm

về văn hóa nước ngoài

Nhật Bản lúc này buôn bán với 5 thực thể khác nhau, thông qua 4 “cửa khẩu” Qua phiên Matsumae ở Hokkaido (sau này gọi là Ezo), họ buôn bán với người Ainu Qua gia tộc đại danh So ở Đối Mã, họ có quan hệ với Triều Tiên Công ty Đông Ấn Hà Lan được cho phép buôn bán ở Nagasaki, cùng với các thương nhân Trung Quốc, những người cũng buôn bán với Vương quốc Ryukyu, một vương triều bán độc lập trong gần hết thời kỳ Edo, và bị gia tộc Shimazu của phiên Satsuma kiểm soát Tashiro Kazui đã chỉ ra rằng buôn bán giữa Nhật Bản và các thực thể này được chia làm hai loại: Nhóm A gồm Trung Quốc, Hà Lan và Nhật Bản, quan hệ giao thương dưới sự giám sát trực tiếp của Mạc phủ ở Nagasaki và nhóm B, đại diện là Vương quốc Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu, buôn bán với phiên Đối Mã (gia tộc So) và Satsuma (gia tộc Shimazu)

Hai nhóm khác nhau này phản ánh về cơ bản kiểu buôn bán nhập khẩu và xuất khẩu Xuất khẩu từ Nhật Bản đến Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu, cuối cùng được mang từ những vùng đất này đến Trung Quốc Ở quần đảo Ryukyu và Triều Tiên, các gia tộc chịu trách nhiệm buôn bán với Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu xây dựng các thương điếm ở bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản - nơi thương

Trang 30

mại thực sự diễn ra Vì người Nhật cần đi đến các thương điếm nên việc buôn bán này giống như xuất khẩu Buôn bán với thương nhân Trung Quốc và Hà Lan ở Nagasaki diễn ra trên một hòn đảo gọi là Deshima, tách biệt khỏi thành phố bởi một eo biển nhỏ; người nước ngoài không thể vào nước Nhật từ Deshima, và người Nhật cũng không vào được Deshima mà không có quyền hoặc giấy phép đặc biệt Mặc dù ngoại giao và thương mại bị giới hạn ở một số cảng nhất định nhưng buôn bán thực ra phát đạt trong thời kỳ này Trên thực tế, khi trục xuất người Bồ Đào Nha, Mạc phủ đồng thời thương thảo với các đại diện người Hà Lan và Triều Tiên để đảm bảo kim ngạch thương mại nói chung không bị ảnh hưởng

Cùng với chính sách tỏa quốc này, luật cấm đạo Kitô được triệt để áp dụng Tất cả những nhà giảng đạo ngoại quốc đều bị trục xuất khỏi nước Nhật Toàn bộ các cộng đồng giáo dân bị tiêu diệt, tất cả nhà thờ bị phá hủy Những người theo đạo Kitô đều phải lẩn trốn, nhiều người phải sống trong những nhà hầm dưới đất

để có thể tiếp tục sinh hoạt đạo Chính sách cấm đạo gắt gao, triệt để này kéo dài cho đến thập niên 1870 mới chấm dứt, và hoạt động Kitô giáo mới chính thức được phép tiến hành trở lại Có lẽ ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo cùng tinh thần võ sĩ đạo đã hậu thuẫn cho chính sách chống Kitô giáo quyết liệt, triệt để và lâu dài này của Nhật Bản Và có lẽ đó cũng là lý do khiến Kitô giáo không phát triển mạnh được ở Nhật như ở một số nước Á châu khác

1.1.2 Quá trình xâm nhập của Kitô giáo

Thế lực phương Tây đầu tiên và cũng hăng hái nhất đặt chân đến Nhật Bản

là người Bồ Đào Nha, được coi là những “chiến sĩ tiên phong” trong việc truyền bá tôn giáo, phát triển thương mại với vùng đất xa xôi này Nhờ có tàu biển lớn, những tri thức và dụng cụ đi biển hiện đại mà Bồ Đào Nha đã sớm khẳng định được ưu thế trên các đại dương và họ đã sử dụng hiệu quả sức mạnh của mình để trực tiếp thâm nhập vào các nước châu Á Do giành được thế độc quyền trong việc

vơ vét hương liệu và làm trung gian buôn bán giữa thị trường châu Á với mạng lưới thương mại quốc tế mà các thương nhân Bồ Đào Nha đã thu được những

Trang 31

khoản lợi nhuận lớn Nguồn của cải giành được ở châu Á đã kích thích khát vọng tích lũy vàng bạc của giới quý tộc phong kiến, tư sản phương Tây và đồng thời cũng là chỗ dựa tài chính cho những hoạt động của nhà thờ Kitô giáo

Trong khu vực châu Á, hai nước Trung Quốc và Nhật Bản đã sớm thu hút được sự chú ý của nhiều cường quốc phương Tây vì đây là hai thị trường buôn bán lớn, đem lại số lợi nhuận khổng lồ trong thế kỷ XVI – XVII Tiếp bước sau Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan cũng lần lượt thâm nhập và đặt quan hệ ngoại thương với Nhật Bản

Vào thời gian đó, các quốc gia phương Tây này chưa thể và chưa có đủ lực lượng cần thiết để can thiệp mạnh mẽ vào vấn đề nội bộ của Nhật Bản Do đó, Nhật Bản vẫn có thể chủ động điều tiết chính sách đối ngoại của mình Tuy nhiên, khi phải đối mặt với các thế lực phương Tây mạnh mẽ với các loại vũ khí tiên tiến hơn, Nhật Bản cũng giống như hầu hết các quốc gia khác ở khu vực châu Á, đều

có một thái độ ứng xử dè dặt và thiêu nhất quán trong chính sách đối ngoại Một mặt, chính quyền Nhật Bản muốn mở cửa quan hệ với phương Tây để mua bán, trao đổi hàng hóa, vũ khí, học tập kỹ thuật tiên tiến nhưng mặt khác, trong khi duy trì các mối quan hệ đó, họ vẫn phải lường tính đến vấn đề chủ quyền và an ninh quốc gia, vẫn lo ngại về địa vị, đặc quyền của mình với tư cách giai cấp thống trị

Hệ quả là, cùng với quá trình xâm nhập sâu rộng của người phương Tây, thái độ kỳ thị của người dân Nhật Bản đã tăng lên đáng kể

Khi mới đặt chân tới Nhật Bản, các giáo sĩ đã chú ý ngay tới những lớp người nghèo khổ dưới đáy xã hội Nhưng chỉ trong thời gian ngắn, họ đã sớm hiểu

ra rằng trong xã hội có trật tự, kỷ cương với cơ chế đẳng cấp khắt khe như xã hội Nhật Bản thì muốn công cuộc truyền giáo thu được kết quả thì phải thiết lập bằng được quan hệ mật thiết với những người thuộc đẳng cấp thống trị, đồng thời phải gắn kết chặt chẽ công việc truyền giáo với nền văn minh vật chất phương Tây Chính vì vậy, các nhà truyền giáo đã luôn tỏ ra tích cực trong việc hỗ trợ, môi giới cho những hoạt động thương mại và thu hút thiện cảm của các lãnh chúa, giới quý

Trang 32

tộc triều đình bằng các cống phẩm lạ, hấp dẫn Nhiều lãnh chúa vùng Kyushu bị tác động mạnh bởi những mối lợi trong quan hệ thương mại với người phương Tây nên đã mau chóng tiếp nhận tôn giáo mới Thậm chí, nhiều lãnh chúa còn cực đoan

ra lệnh phá bỏ đền thờ Shinto giáo, chùa chiền Phật giáo và ép buộc cư dân trong vùng họ cai quản cải đạo

Ảnh hưởng của đạo Kitô ngày càng mạnh mẽ ở Nhật Bản, đặc biệt là ở khu vực phía Tây Nam, thậm chí đã phần nào tìm được chỗ đứng trong đời sống tâm linh của một bộ phận dân cư kinh đô Kyoto, nơi Phật giáo vẫn đang có ảnh hưởng sâu đậm Nỗ lực của Gaspar Villela được đền đáp khi năm 1572, lãnh chúa Oda Nobunaga ủng hộ và cho phép các giáo đoàn xây dựng nhà thờ và tiến hành nghi lễ rửa tội cho người Nhật

Trong những mưu tính chính trị, Oda Nobunaga cũng muốn dựa vào lực lượng giáo đoàn và thương nhân ngoại quốc để tiêu diệt những đối thủ mạnh vốn vẫn dựa vào thế lực Phật giáo Đây là những cơ sở tôn giáo có quân đội riêng, sở hữu những vùng đất đai rộng lớn và nhất là đã có mối liên hệ lâu bền với dân chúng Trong cuộc chiến giành quyền lực tối thượng ở Nhật Bản, trong khoảng 10 năm từ 1571-1581, Oda Nobunaga đã cho tấn công vào nhiều trung tâm Phật giáo vốn được coi là những vùng thánh địa bất khả xâm phạm mà mọi thế lực chính trị trước đó đều e ngại Trong số đó, có cuộc tấn công và triệt hạ phái Tendai ở vùng núi Hiezan được coi là tàn bạo nhất Nobunaga đã cho lính bao vây và đốt trụi

3000 nhà cửa, tàn sát hầu hết tăng lữ, tín đồ Phật giáo trong vùng và tịch thu toàn

bộ đất đai của giáo phái Và ông còn cho xây một dinh thự dưới chân núi nhằm đặt

sự kiểm soát, ngăn không cho cơ sở tôn giáo này phục hồi

Trong bối cảnh chính trị đó, Kitô giáo gặp được những điều kiện phát triển rất thuận lợi nhất là trong khoảng thời gian lãnh chúa Oda Nobunaga năm quyền tại Nhật Bản Các giáo đoàn liên tục mở trường học, đẩy mạnh giáo dục, biên soạn giáo lý, đồng thời họ còn tổ chức cứu bần, trị bệnh miễn phí, lập cô nhi viện, dưỡng lão viện, cải thiện chế độ lao tù, đặt lệ ân xá, khuyến khích chế độ gia đình

Trang 33

một vợ một chồng, thu nhận và nuôi dưỡng trẻ vô gia cư, con ngoài giá thú bị bỏ rơi, thúc đẩy việc bãi bỏ tục mua bán nô lệ Những hành động và luồng tư tưởng này quả thực là luồng gió mới đối với xã hội Nhật Bản thời bấy giờ

Trong suốt những năm 70 của thế kỷ XVI, nhờ có sự ủng hộ của lãnh chúa lớn nhất Nhật Bản thời bấy giờ Oda Nobunaga và nhiều lãnh chúa lớn khác mà hoạt động của các giáo đoàn được đẩy mạnh, số lượng tín đồ tăng lên nhanh chóng Nếu như năm 1571, tức là 22 năm sau khi F Xavier đến Nhật Bản, số lượng tín đồ mới chỉ dừng lại ở con số khoảng 3000 người thì tới năm 1579 và 1582 số lượng tín đồ lần lượt là 130.000 và 150.000, 75 giáo sĩ và 200 nhà thờ được xây dựng Sau khi Oda Nobunaga qua đời, Kitô giáo luôn gặp phải những thách thức chính trị bất thường, nhưng số lượng tín đồ vẫn không ngừng tăng lên, tới hơn 300.000 người dưới thời của Hideyoshi, người kế tục của Oda Nobunaga

Từ cuối thế kỷ XVI, trong nhận thức của nhiều người Nhật, văn minh phương Tây được đánh đồng với văn minh Kitô giáo Họ ngưỡng mộ và cố gắng học theo cách ứng xử, hành vi, lối sống của người phương Tây đặc biệt là các giáo

sĩ Tuy nhiên, thời kỳ phát triển tự do, đầy lạc quan của Kitô giáo tại Nhật Bản kéo dài không lâu Sự băn khoăn trong tư tưởng đã khiến quan điểm của các nhà cầm quyền Nhật Bản đối với vấn đề Kitô giáo từng bước thay đổi Cuối thế kỷ XVI, nhu cầu thống nhất đất nước Nhật Bản và phát triển ổn định trở nên vô cùng bức thiết Thái độ thân thiện cũng như những điều kiện thuận lợi của những nhà cầm quyền và cả những lãnh chúa dành cho hoạt động truyền giáo không còn nữa Các giáo sĩ ngày càng gặp nhiều trở ngại trong việc truyền giáo và trong cuộc sống thường nhật Đối với Hideyoshi thì hành động đốt phá đền chùa, tàn sát người tu hành có sự tham gia của giáo sĩ, giáo dân quá khích sẽ làm tổn hại đến tôn giáo truyền thống Nhật Bản Sự suy yếu của Phật giáo, Shinto giáo chính là điều kiện để Kitô giáo phát triển nhanh chóng, vượt ra khỏi tầm kiểm soát và nhất là có thể làm đảo lộn thể chế, quan hệ, tập tục cố hữu của người Nhật Hideyoshi cũng muốn tách vấn đề Kitô giáo ra khỏi quan hệ thương mại nhưng điều kiện chính trị của Nhật Bản lúc đó không cho phép ông thực hiện ý tưởng đó

Trang 34

Đứng trước nghi ngờ về một mối liên kết giữa Kitô giáo và các thế lực xâm lược ngoại bang và sự phẫn nộ trước những hành động ngày càng bạo ngược của nhiều giáo sĩ, Hideyoshi cho rằng Kitô giáo là một tôn giáo cuồng tín và trên thực

tế chỉ là một tà giáo Ngày 25-7-1587, Hideyoshi lấy quyền quan Nhiếp chính ra lệnh cấm các giáo đoàn hoạt động, cấm tuyên truyền Kitô giáo và yêu cầu các giáo đoàn phải rời khỏi Nhật Bản Nhưng mệnh lệnh trên không được thực hiện triệt để bởi ông còn phải dành tâm trí để giải quyết những vấn đề phức tạp của cuộc nội chiến và mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản sang các nước láng giềng Vì vậy, Kitô giáo vẫn tiếp tục gây được ảnh hưởng trong dân chúng Tuy nhiên, tháng 9-1591, Hideyoshi lại ra chỉ thị thứ hai về việc cấm Kitô giáo Bản chỉ thị lần này ghi rõ rằng chính Kitô giáo đã làm đảo lộn trật tự truyền thống và nếu tình trạng đó vẫn tiếp diễn thì sự thống nhất dân tộc sẽ bị đe dọa và ông không cho phép điều đó xảy

ra nên chủ trương bài trừ Kitô giáo ngày càng quyết liệt hơn

Tuy nhiên, bất chấp những chỉ thị cấm đạo đã được ban hành của chính quyền Nhật Bản, các giáo sĩ Tây Ban Nha thuộc nhiều tổ chức khác nhau vẫn tiếp tục đến truyền giáo ở một số khu vực thuộc Tây - Nam Nhật Bản Sự hiện diện của các tổ chức này càng khiến cho sinh hoạt tôn giáo ở Nhật Bản trở nên phức tạp Năm 1596, thương thuyền San Felipe của Tây Ban Nha bị mắc cạn ngoài khơi Urato (thuộc phiên Tosa) và toàn bộ số hàng hóa trên tàu bị lãnh chúa địa phương thu giữ Để giành lại số hàng hóa nói trên, viên hoa tiêu dùng những lời lẽ trịch thượng đầy vẻ đe dọa để nói về uy quyền của vua Tây Ban Nha và chỉ rõ mục đích của Tây Ban Nha là dùng tôn giáo đi trước mở đường cho quá trình làm chủ đại dương và xâm lược lãnh thổ Thông tin trên càng khiến Hideyoshi tin rằng Kitô giáo có sự liên hệ chặt chẽ với các thế lực quân sự ngoại bang và sẽ dọn đường cho phương Tây xâm lược Nhật Bản Ngay lập tức, ông đã có những phản ứng mạnh

mẽ chống dị giáo này bằng việc hành quyết 26 người, bao gồm cả những người

đứng đầu giáo đoàn và cả tín đồ Kitô giáo là người Nhật

Trang 35

Để chấm dứt hoạt động Kitô giáo ở Nagasaki, Hideyoshi đã ra lệnh tịch thu tài sản của các giáo đoàn, toàn bộ vũ khí và phạt dân địa phương 5000 thỏi bạc Tất

cả nhà thờ, thánh giá trong thành phố bị phá hủy, đồng thời Nagasaki được đặt dưới sự cai trị trực tiếp của chính quyền do ông đứng đầu

Kể từ sau các sự kiện trên, hoạt động truyền giáo bước vào thời kỳ khó khăn Tình hình càng trở nên hỗn loạn vì luôn xảy ra mâu thuẫn và tranh giành ảnh hưởng giữa các đoàn truyền giáo Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Tính phức tạp còn tăng thêm bởi các cuộc cạnh tranh không khoan nhượng về quyền lợi trong quan

hệ thương mại Với sự hiện diện của các thương nhân Hà Lan, Anh, mâu thuẫn ngấm ngầm giữa các tập đoàn tôn giáo, thương nhân đã nhanh chóng bị đẩy lên thành những cuộc xung đột quyền lực gay gắt Thực trạng đó buộc các nhà lãnh đạo Nhật Bản phải tiến hành những bước đi thận trọng trong quan hệ đối ngoại và ngày càng đưa ra những biện pháp ứng phó kiên quyết và triệt để hơn

Dưới thời Tokugawa, sau khi tập trung giải quyết những vấn đề nội bộ, chính quyền Edo mới chuyển sang giải quyết những vấn đề đối ngoại Tháng 5-

1613, chính quyền Edo ban hành chỉ thị mới khẳng định người theo Kitô giáo

không thể tồn tại ở Nhật Bản, đồng thời ban hành Luật Teranke Seido quy định

tất cả người Nhật trưởng thành, hằng năm đều phải đến đăng ký ở một ngôi chùa tại địa phương Và những trụ trì các chùa đó phải có trách nhiệm theo dõi, lưu giữ cẩn trọng, đầy đủ danh sách các tín đồ đã đăng ký Ngày 27-1-1614, Tokugawa Ieyasu đã ban bố chỉ dụ mới vạch rõ mối nguy Kitô giáo với văn hóa và tôn giáo truyền thống

Sau khi Tokugawa Ieyasu qua đời, những người kế nhiệm ông đã tăng cường thêm các chính sách cấm đạo gắt gao Năm 1622, nhận được thông tin cho thấy khả năng sẽ có một kế hoạch xâm lược Nhật Bản, chính quyền Shogun lập tức

ra lệnh trục xuất tất cả những người Bồ Đào Nha đang sinh sống tại Nhật Bản Những giáo sĩ còn lại trên đất Nhật đều bị theo dõi và quản lý chặt chẽ Tháng 3-

Trang 36

1633, shogun thứ ba của triều đại Tokugawa là Tokugwa Iemitsu (1603-1651) đã quyết định loại bỏ Kitô giáo ra khỏi đời sống xã hội Nhật Bản bằng chỉ dụ 17 điều Chỉ dụ tuyên bố trừng phạt nặng những giáo đoàn Kitô, cấm buôn bán vũ khí, cấm buôn lậu, mọi hoạt động buôn bá phải được phép của chính quyền Mạc phủ, cấm người Nhật đi ra nước ngoài trừ những tàu buôn được phép Những người Nhật đã

ra nước ngoài trên 5 năm thì không được về nước nếu không sẽ bị tử hình Cũng trong năm đó, Iemitsu đã cho dán yết thị ở khắp nơi hứa sẽ thưởng tiền cho những

ai cung cấp thông tin về hoạt động bí mật của Kitô giáo [27]

Sự kiện thảm khốc diễn ra ở Shimabara từ năm 1637-1638 đã đẩy chính sách bài trừ đạo Kitô lên đến cực điểm Hơn 30.000 nông dân Nhật Bản mà phần lớn là những tín đồ Kitô sống trong vùng và những vùng lân cận, được sự ủng hộ của các

võ sĩ vô chủ và những phần tử bất mãn đã nổi dậy chống lại chính quyền Mặc dù nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc nổi dậy này là do tình trạng suy kiệt về kinh tế

và chính sách bóc lột hà khắc của lãnh chúa Terazawa Katataka nhưng do hầu hết những người tham gia đều là tín đồ Kitô, hơn nữa lại được các giáo sĩ, thương nhân

Bồ Đào Nha ủng hộ nên cuộc nổi dậy mang đậm tính chất chính trị - tôn giáo Mạc phủ Tokugawa đã cử đạo quân hơn 100.000 người thẳng tay đàn áp cuộc nổi dậy

Do lực lượng quá chênh lệch, những người nổi dậy buộc phải rút về cố thủ trong lâu đài Hara Sau nhiều lần tấn công nhưng không hạ được thành, Mạc phủ đã phải yêu cầu phía Hà Lan giúp đỡ Từ ngày 24-2 đến 12-3-1638, các tàu chiến Hà Lan

đã nã 426 loạt đại bác vào Hara, tạo điều kiện cho quân đội Mạc phủ mở cuộc tổng công kích tràn vào thành Toàn bộ quân khởi nghĩa và thường dân sống trong thành khoảng 37.000 người bị tàn sát hết sức thảm khốc

Ngay sau khi cuộc nổi dậy ở Shimabara kết thúc, chính quyền Nhật Bản đã chấm dứt mọi quan hệ với Bồ Đào Nha Tất cả những người Bồ Đào Nha đều bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản Bất kỳ tàu Bồ Đào Nha nào tự ý xâm phạm vùng biển Nhật Bản sẽ lập tức bị đốt cùng với hàng hóa và tất cả người đi trên tàu đều sẽ bị hành hình Năm 1639, sau hàng loạt các chính sách bài trừ đạo Kitô được ban hành

Trang 37

vào các năm 1633, 1635 và 1636, chính sách tỏa quốc cuối cùng đã được Mạc phủ Tokugawa Iemitsu thực hiện Tháng 7-1640, toàn quyền Bồ Đào Nha ở Macao đã

cử phái bộ gồm hơn 60 người trở lại Nhật Bản Nhưng Mạc phủ đã ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản, phóng hỏa đốt tàu và hành quyết gần như toàn bộ thủy thủ đoàn trừ vài người được thả về Macao báo tin như để thể hiện quyết tâm của mình

Sau sự kiện này, bất cứ người Nhật nào từ thường dân tới samurai hay thậm chí là lãnh chúa đều bị trừng phạt nghiêm khắc nếu bị phát hiện còn liên hệ với Kitô giáo Chính nhờ những chính sách khắt khe đó mà đến giữa những năm 1640, chính quyền Edo đã loại trừ được căn bản những ảnh hưởng của đạo Kitô trên đất nước Nhật Bản Mặc dù chính quyền Edo vẫn duy trì quan hệ thương mại với một

số nước nhưng tất cả những quan hệ đối ngoại đều bị đặt trong sự kiểm soát gắt gao Các lãnh chúa vùng Kyushu cũng cũng bị giám sát chặt chẽ, nhất là trong quan hệ với người nước ngoài Nhìn chung, từ năm 1635 đến 1639, Nhật Bản đã từng bước thực hiện chính sách tỏa quốc nhằm giữ vững an ninh và chủ quyền quốc gia

1.1.3 Sức ép phương Tây và sự suy yếu của chính quyền Tokugawa

Sau gần 2 thế kỷ theo đuổi chính sách toả quốc, bước sang thế kỷ XIX chế

độ phong kiến Nhật Bản Tokugawa đã rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, không đáp ứng được sự phát triển, cũng như không đủ sức chống lại sự xâm nhập của đế quốc Âu – Mỹ Cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trong nước ngày càng trở nên gay gắt, về đối ngoại chính quyền Tokugawa cũng thường xuyên phải chịu những áp lực chính trị của các nước tư bản phương Tây Tuy tham vọng về Nhật Bản có phần khác nhau nhưng các nước này đều có chung mục đích là sử dụng sức mạnh buộc Mạc phủ Tokugawa phải sớm bãi bỏ chính sách toả quốc, mở cửa giao thương quốc tế và nhượng bộ về ngoại giao

Tình hình xã hội trong nước lúc này vô cùng rối ren Về kinh tế, nền nông nghiệp dựa trên quan hệ phong kiến, quyền sở hữu đất đai thuộc về nhà nước

Trang 38

phong kiến, tình trạng cát cứ không phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất Pháp luật không công nhận nông dân Nhật có quyền chiếm hữu đất đai mặc dù họ được canh tác trên những mảnh đất cha truyền con nối Việc mua bán đất bị nghiêm cấm, nhưng trong thực tế việc gán đất đã xảy ra đến quy mô lớn Vì thiên tai, mất mùa hoặc do bệnh tật trong các gia đình nông dân, họ không đủ sức nạp nghĩa vụ

tô thuế, lao dịch nên phải gán đất cho nhà giàu ở nông thôn hay chủ buôn bán, người cho vay nặng lãi ở thành thị Về hình thức, người nông dân vẫn giữ đất của mình và tiếp tục cày cấy nhưng thực ra, họ đã trở thành tá điền, không chỉ nộp tô

thuế cho Daimyo (lãnh chúa) mà còn phải nộp tô tiền hay tô hiện vật cho chủ nợ Người phú nông chủ nợ có quyền sở hữu đất đai, thực tế được gọi là Zinushi (địa

chủ) Ở Nhật Bản lúc bấy giờ còn khuyến khích khai hoang và dành cho chủ đất nhiều quyền lợi, được miễn thuế trong một thời gian nhất định Sắc lệnh khẩn hoang năm 1721 đã tạo điều kiện cho các thương gia cho vay lãi ở thành thị xuất vốn tham gia khai khẩn đất hoang Như vậy độc quyền chiếm hữu đất đai của quý tộc bị phá vỡ ở một mức độ đáng kể Bên cạnh những lãnh chúa phong kiến truyền thống đã xuất hiện giai cấp địa chủ Zinushi gồm phú nông và các nhà buôn cho vay nặng lãi

Địa chủ bóc lột nông dân Nhật nặng nề, vượt quá quy định pháp luật, mức tô thuế trung bình 50% số thu hoạch Song nông dân, và nhất là tá điền phải trả tô cho

cả lãnh chúa lẫn địa chủ lên tới 70% thu hoạch hay cao hơn nữa

Sự phát triển của các quan hệ hàng hoá, tiền tệ, hiện tượng chiếm hữu đất đai kinh doanh và việc hình thành những quan hệ mới đã làm thay đổi các quan hệ trong nông nghiệp

Một hiện tượng mới ở nông thôn là sự xuất hiện chế độ làm thuê năm, thuê tháng và thuê công nhật Tuy ở Nhật Bản, việc nông dân ra khỏi lãnh địa đi làm thuê đều bị bắt trả về cho lãnh chúa, nhưng hiện tượng trốn khỏi lãnh địa vẫn xảy

ra không gì ngăn chặn nổi Nông dân đi kiếm việc làm ở thị trấn và những vùng thiếu lao động

Trang 39

Vào đầu thế kỷ XIX, những dấu hiệu khủng hoảng của nền kinh tế tự nhiên ngày càng lộ rõ Tình trạng mất mùa, đói kém, ôn dịch liên tiếp xảy ra Trong 50 năm từ 1790 -1840 theo tài liệu thống kê không đầy đủ, nước Nhật bị mất mùa 22 lần, nạn đói bao trùm một phần khá lớn đất nước Tuy vậy cũng trong thời gian đầu, công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ và tác động trở lại đối với xã hội Tổ chức sản xuất thủ công nghiệp truyền thống là các phường hội ở thành thị, lao động tại gia của nông dân Chính quyền đã giao cho phường hội độc quyền sản xuất kinh doanh một thứ hàng hoá và phải nộp cho nhà nước một khoản nghĩa vụ bằng tiền

Những thương đoàn lúa gạo, tơ lụa, thương nhân đông tới hàng ngàn Thương đoàn lúa gạo Osaka có tới 1351 nhà, ở Edo có tới 1706 nhà Họ được độc quyền buôn bán trong nước

Công trường thủ công phân tán, khá phổ biến đem lại hiệu quả cho nền sản xuất kinh doanh Nông dân thường nhận nguyên liệu từ những chủ kinh doanh, sản xuất tại nhà và giao hàng cho chủ theo định kỳ Sản phẩm họ làm ra đều thuộc về chủ Cũng có nhiều nơi, thực tế nông dân lĩnh lương của nhà buôn Ở miền Trung Nhật Bản trên đảo Honshu trong các ngành tơ, lụa, kéo sợi, dệt vải, công nghiệp tại gia phát triển nhanh chóng Mỗi khu vực trong nước chuyên môn sản xuất một mặt hàng nào đấy Sự tiêu thụ ngày càng tăng về vải lụa cho phép xuất hiện nhiều công trường thủ công dệt Ở miền Nam trong công quốc Satsuma ngành sản xuất tơ lụa

có nhiều xí nghiệp thuê từ 20 đến 30 công nhân

Từ nửa sau thế kỷ XVIII, công trường thủ công sản xuất lụa vải xuất hiện ở nhiều tỉnh, có đến 100 công trường do phong kiến tổ chức quản lý Ở Tokyo năm

1850 nhiều công trường có từ 10 đến 20 máy dệt Trong những năm 50 – 60 đã xuất hiện công nghiệp luyện thép và những công xưởng đóng tàu ở các công quốc phía Tây Nam

Tuy công nghiệp Nhật Bản có những bước phát triển nhưng gặp nhiều khó khăn Tính biệt lập của các công quốc làm xuất hiện hàng rào quan thuế và đủ thứ hạn chế của chính phủ, đặc biệt là việc cấm nông dân bỏ ruộng đất, chạy ra thành thị

Trang 40

Đến giữa thế kỷ XIX, số công trường thủ công lên tới hàng trăm nhưng công nghiệp chế tạo vẫn chưa ra đời Tỉ lệ sản phẩm công nghiệp Nhật so với thế giới đạt mức không đáng kể, ngành đúc đồng khoảng 6% và ngành sản xuất tơ cũng chỉ mới chiếm 10% (năm 1867)

Kinh tế kém phát triển, đời sống nhân dân khổ cực khiến niềm tin vào chính quyền Mạc phủ lung lay dữ dội Một điều không thể phủ nhận, trong thời gian cai trị của mình Mạc phủ Tokugawa đã đem đến cho Nhật Bản sự biến chuyển mạnh

mẽ về kinh tế và xã hội Một mặt Mạc phủ đóng vai trò của chính quyền trung ương buộc các lãnh chúa phải ký cam kết trung thành với tướng quân để duy trì hòa bình trong toàn Nhật Bản, mặt khác lại luôn tỏ ra tuân thủ các nguyên tắc, đạo

lý truyền thống bởi trên danh nghĩa Thiên hoàng vẫn là người có quyền uy cao nhất ở Nhật Bản Đối với người dân Nhật Bản, Hoàng gia, mà linh hồn là Thiên hoàng, luôn có ý nghĩa là trung tâm hội tụ của sức mạnh truyền thống đồng thời là biểu tượng cho sự trường tồn và thống nhất dân tộc Sự tồn tại song song của hai chính quyền trong cơ chế điều hành kép: Thiên hoàng (triều đình) và tướng quân (Mạc phủ) kéo dài gần 700 năm trong lịch sử Nhật Bản còn in đậm nét cho đến ngày nay là một đặc điểm rất đáng chú ý Nguồn gốc thiêng liêng của Nhật hoàng thấm sâu trong truyền thống và ý thức dân tộc đã khiến cho các tướng quân, dù có tham vọng đến đâu, cũng phải tính toán cẩn trọng trong các bước đi chính trị Mạc phủ Tokugawa với thiết chế chính trị của nó, vừa mang tính chất quân sự vừa có chức năng dân sự, vừa thống trị Nhật Bản với tư cách là lãnh chúa lớn nhất vừa đóng vai trò của chính phủ trung ương, thay mặt Thiên hoàng cai quản đất nước, hoạch định chính sách quốc gia Như vậy, về chính trị giới lãnh đạo Tokugawa đã giải quyết thành công mối quan hệ hết sức tinh tế với Thiên hoàng và Hoàng gia

mà vẫn bảo vệ được chủ thuyết của mình Cùng với sự đối xử cung kính, những chu cấp tương đối rộng rãi về kinh tế… chính quyền Edo không những đã tránh được sai lầm của một số tướng quân trước đây mà còn giữ được mối quan hệ đúng nghi lễ với Thiên hoàng Nhìn chung, mối quan hệ giữa hai thế lực chính trị đó đã

Ngày đăng: 23/09/2020, 23:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm