[1,7,8,32] Hướng đến việc bào chế các thuốc kháng khuẩn từ bạc clorid có hiệu lực cao, phổ rộng nhằm điều trị nhanh và hiệu quả nhiễm trùng, đặc biệt là ở các vết thương do bỏng, chúng t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN XUÂN TÙNG
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN CỦA THUỐC MỠ THÂN NƯỚC NANO BẠC CLORID
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
NGUYỄN XUÂN TÙNG
BÀO CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG KHÁNG KHUẨN CỦA THUỐC MỠ THÂN NƯỚC NANO BẠC CLORID KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH.2012.Y
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Thanh
Bình - Chủ nhiệm Bộ môn Hóa dược và Kiểm nghiệm thuốc, khoa Y Dược –
Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS.Nguyễn Thanh Hải –
Phó chủ nhiệm phụ trách khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã định hướng cho nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy trong bộ môn Hóa dược và Kiểm nghiệm thuốc và các anh chị trong bộ môn Bào chế và Công nghiệp Dược, khoa Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành thí nghiệm
Hà Nội, ngày 30/5/2017 Tác giả
Nguyễn Xuân Tùng
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AAS Atomic Absorption Spectrometric
(Quang phổ hấp thụ nguyên tử) AgNO3 Bạc nitrat
ATCC American type culture collection
(Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Mỹ) DĐVN Dược điển Việt Nam
MRSA Methicillin-resistant Staphylococcus aureus
(Tụ cầu kháng Methicillin) NaCl Natri clorid
PDI Poly Dispersity Index
(Chỉ số đa phân tán) PEG Polyethylen glycol
SEM Scanning Electron Microscope
(Kính hiển vi điện tử quét)
UV Ultra violet (Tia tử ngoại)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ chế kháng khuẩn của các thuốc kháng khuẩn 3
Bảng 1.2 Kích thước của một số vật liệu micro và nano 7
Bảng 3.1 Độ hấp thụ nguyên tử của các dung dịch bạc chuẩn 35
Bảng 3.2 Kết quả định lượng mẫu thuốc mỡ AgCl 0,13% 36
Bảng 3.3 Lượng ion bạc giải phóng từ thuốc mỡ bạc clorid 0,13%
so với Silvasorb® gel theo thời gian
37
Bảng 3.4 Vòng vô khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid (TM), kem bạc
sulfadiazin 1% (SS) và mẫu trắng trên 1 số vi khuẩn
Gram dương
40
Bảng 3.5 Vòng vô khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid (TM), kem bạc
sulfadiazin 1% (SS) và mẫu trắng trên 1 số vi khuẩn
Gram âm
41
Bảng 3.6 Đường kính vòng vô khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid
0,13% trên S aureus và E coli so với dạng gel bạc clorid
0,13% và Silvasorb® Gel
42
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.2 Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn 10
Hình 1.5 Ưu điểm của bạc clorid so với các dạng khác của bạc 16 Hình 2.1 Quy trình bào chế thuốc mỡ bạc clorid 0,13% 26 Hình 3.1 Kích thước tiểu phân dược chất của thuốc mỡ AgCl
Hình 3.4 Lượng ion bạc giải phóng từ thuốc mỡ bạc clorid 0,13%
so với Silvasorb® Gel theo thời gian
Hình 3.7 Hoạt tính kháng khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid (TM) so
với kem bạc sulfadiazin 1% (SS) và mẫu trắng (MT) trên
1 số vi khuẩn Gram dương
39
Hình 3.8 Hoạt tính kháng khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid (TM) so
với kem bạc sulfadiazin 1% (SS) và mẫu trắng (MT) trên
1 số vi khuẩn Gram âm
40
Hình 3.9 Tác dụng kháng khuẩn in vitro của thuốc mỡ
bạc clorid 0,13% trên S aureus và E coli so với gel bạc
clorid 0,13% và Silvasorb® Gel
41
Trang 7MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 3
1.1 Thuốc kháng khuẩn vết thương do bỏng 3
1.1.1 Giới thiệu chung về các thuốc kháng khuẩn 3
1.1.2 Các thuốc kháng khuẩn được sử dụng trong điều trị nhiễm trùng vết thương do bỏng 5
1.2 Công nghệ nano và công nghệ nano sinh y dược 6
1.2.1 Công nghệ nano 6
1.2.2 Công nghệ nano sinh y dược 8
1.3 Bạc và các thuốc kháng khuẩn từ bạc 9
1.3.1 Cơ chế kháng khuẩn của các thuốc từ bạc 9
1.3.2 Các dạng bạc được sử dụng làm thuốc kháng khuẩn 10
1.3.3 Hệ giải phóng ion bạc kéo dài – tiểu phân nano bạc clorid 15
1.4 Đại cương về thuốc mỡ 16
1.4.1 Khái niệm thuốc mỡ 16
1.4.2 Phân loại thuốc mỡ 16
1.4.3 Các đặc tính của thuốc mỡ 18
1.4.4 Các phương pháp bào chế thuốc mỡ 20
CHƯƠNG 2 - NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Nguyên vật liệu, trang thiết bị 24
2.1.1 Nguyên vật liệu 24
2.1.2 Thiết bị nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
Trang 82.2.1 Bào chế thuốc mỡ bạc clorid 0,13% 26
2.2.2 Xác định một số đặc tính của thuốc mỡ bạc clorid 27
2.2.3 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của thuốc mỡ bạc clorid 31 CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Xác định một số đặc tính của thuốc mỡ bạc clorid 0,13% 34
3.1.1 Kích thước và thế Zeta của tiểu phân dược chất 34
3.1.2 Hình dạng tiểu phân 34
3.1.3 Độ nhớt 35
3.1.4 Hàm lượng hoạt chất 35
3.1.5 Khả năng giải phóng hoạt chất 36
3.1.6 Độ bền với ánh sáng 37
3.1.7 Độ ổn định theo thời gian 38
3.2 Đánh giá tác dụng kháng khuẩn in vitro của thuốc mỡ bạc clorid 39
3.2.1 So với kem bạc sulfadiazin 1% 39
3.4.2 So với Silvasorb® Gel và gel bạc clorid 0,13% 41
3.3 Bàn luận 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa, con người đã sử dụng bạc làm các dụng cụ chứa đồ ăn, nước uống để trị bệnh Bạc được biết đến như một nguyên tố có khả năng khử trùng mạnh nhất tồn tại trong tự nhiên Đặc tính kháng khuẩn của bạc bắt nguồn từ tính chất hóa học của các ion Ag+ [14] Ion này có khả năng tiêu diệt vi sinh vật theo nhiều cơ chế [29], nên rất ít khi bị đề kháng [15] Trong lịch sử, bạc được sử dụng làm thuốc dưới nhiều dạng khác nhau [13], mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng Điển hình là dung dịch sát khuẩn bạc nitrat 0,5%, kem chữa bỏng bạc sulfadiazin 1%
Về mặt bệnh lý, bỏng là những tổn thương da có nguồn gốc từ các tác nhân không phải cơ học như hóa chất, điện, nhiệt, ánh sáng mặt trời hoặc bức
xạ hạt nhân Không giống như những loại chấn thương khác, vết thương do bỏng gây ra những biến đổi về mặt chuyển hóa cũng như các phản ứng viêm,
và do đó, đặt bệnh nhân trước nhiều biến chứng nguy hiểm Trong điều trị bỏng, nhiễm trùng là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến bệnh tật và tử vong, biến chứng này gây ra 61% tổng số các trường hợp tử vong do bỏng Nhiễm trùng vết thương do bỏng đòi hỏi phải được chăm sóc y tế ngay bởi vì nó làm chậm quá trình lành vết thương, gia tăng để lại sẹo, có thể dẫn đến nhiễm trùng máu và hội chứng bất hoạt đa cơ quan [1]
Ở bệnh nhân bỏng, tổn thương da trên diện rộng và thời gian nhập viện dài là nguyên nhân chính làm cho vết bỏng trở thành môi trường thích hợp cho sự phân chia nhanh chóng của vi sinh vật gây bệnh Nhiễm trùng vết thương do bỏng thường kéo dài hơn và có nguồn gốc từ nhiều loại vi sinh vật hơn so với các vết thương do phẫu thuật Tác nhân đầu tiên gây nhiễm trùng
vết bỏng là các vi khuẩn Gram dương như tụ cầu vàng Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA), các vi khuẩn Gram âm như Acinetobacter
baumannii-calcoaceticus complex, Pseudomonas aeruginosa và các loài Klebsiella Đáng chú ý là Klebsiella bởi sự gia tăng đề kháng với nhiều loại
kháng sinh Nhiễm trùng vi khuẩn đề kháng kháng sinh ở bệnh nhân bỏng gắn liền với thời gian nhập viện kéo dài Điều trị nhiễm trùng đa đề kháng (MDR) bằng các liệu pháp kháng sinh ban đầu không đầy đủ làm gia tăng tỷ lệ tử vong Vết thương do bỏng cũng có thể bị nhiễm nấm, trong đó, phổ biến nhất
Trang 102
là Candida albicans Sử dụng các thuốc kháng khuẩn tại chỗ thích hợp có thể
mang lại hiệu quả trong việc điều trị nhiễm trùng và kiểm soát vết thương [1]
Sự ra đời của thuốc kháng khuẩn thế hệ mới từ muối ít tan của bạc với những ưu điểm như kiểm soát tốc độ giải phóng ion bạc ở mức tối ưu, trong thời gian dài có thể góp phần giải quyết các vấn đề kể trên Theo định hướng nghiên cứu đó, khoa Y Dược – ĐHQGHN đã tổng hợp thành công và xác
định các đặc tính của tiểu phân nano bạc clorid Các thử nghiệm sinh học in
vitro đã chứng tỏ các tiểu phân này có tác dụng trên cả vi khuẩn Gram âm và
Gram dương [1,7,8,32]
Hướng đến việc bào chế các thuốc kháng khuẩn từ bạc clorid có hiệu lực cao, phổ rộng nhằm điều trị nhanh và hiệu quả nhiễm trùng, đặc biệt là ở
các vết thương do bỏng, chúng tôi tiến hành đề tài:“Bào chế và đánh giá tác
dụng kháng khuẩn của thuốc mỡ thân nước bạc clorid” với các mục tiêu cụ
Trang 113
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Thuốc kháng khuẩn vết thương do bỏng
1.1.1 Giới thiệu chung về các thuốc kháng khuẩn
- Khái niệm: Các thuốc kháng khuẩn là các thuốc diệt vi khuẩn khi
tiếp xúc, chỉ dùng ngoài Cơ chế tác dụng tùy theo từng nhóm chất, điểm chung là phổ tác dụng rộng và liên tục
- Phân loại: Theo cấu trúc hóa học, cũng phù hợp với tính chất tác
dụng, các thuốc kháng khuẩn có thể phân thành 6 nhóm:
+ Các chất oxy hóa (như các chất giải phóng ra O₂; I₂; Cl₂ …)
+ Các alcol, phenol, aldehyd và các dẫn chất của chúng
+ Hợp chất kim loại nặng
+ Các phẩm màu
+ Nitrofurazon và dẫn chất
+ Các chất hoạt diện catonic [5]
- Cơ chế hoạt động của thuốc kháng khuẩn:
Hiện nay, đã có sự tiến bộ đáng kể trong việc nghiên cứu, tìm hiểu cơ chế diệt khuẩn của các thuốc kháng khuẩn Tuy nhiên, các nghiên cứu về cơ chế hoạt động của các thuốc kháng khuẩn đối với nấm, virus và động vật nguyên sinh lại khá thưa thớt
Cơ chế tác dụng của các tác nhân hóa học được sử dụng như các thuốc kháng khuẩn được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Cơ chế kháng khuẩn của các thuốc kháng khuẩn [20]
Trang 124
Chlorhexidine
Ở nồng độ thấp ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của màng Ở nồng độ cao gây đông tụ các tế bào chất
Diamines Gây cảm ứng làm rò rỉ các amino
Formaldehyde Phá hủy liên kết ngang của
proteins, RNA và DNA
Glutaraldehyde
Phá hủy liên kết ngang của proteins ở vỏ tế bào và một số ở trong tế bào
Xen vào giữa
silver ions Phá vỡ sợi DNA
Peroxygens
Hydrogen peroxide: hoạt động do
sự hình thành các gốc tự do hydroxyl, làm oxy hóa nhóm thiol
ở trong enzymes và proteins; PAA:
sự gián đoạn của các nhóm thiol trong enzymes và proteins
Trang 13- Bạc sulfadiazin 1%
Bạc sulfadiazin là sự kết hợp của bạc với một sulfamid Nhiều phối hợp
của bạc với các sulfamid khác nhau đã được nghiên cứu thử nghiệm in vitro,
kết quả cho thấy bạc sulfadiazin cho tác dụng tốt nhất Điều này có thể được giải thích là do sự liên kết mạnh của bạc sulfadiazin với DNA của vi sinh vật Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, tiêu diệt được nhiều loại vi sinh vật như
S aureus, E coli, Klebsiella, P aeruginosa, Proteus, Enterobacteraceae và
cả C albicans Bạc sulfadiazin có thể gây giảm bạch cầu Tác dụng phụ này
gặp ở 5-15% bệnh nhân, thường xảy ra khi sử dụng trên diện tích rộng, 2-3 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc Bạc sulfadiazin được sản xuất từ năm 1960 dưới dạng kem nồng độ 1% màu trắng, không tan trong nước, ít thấm sâu vào hoại tử, khó vệ sinh vết thương, thời gian tác dụng ngắn Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô còn độc tính đối với tủy xương chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận [1]
Trang 146
- Bạc nitrat (AgNO 3)
Dung dịch AgNO3 thể hiện hoạt tính kháng khuẩn cao, có thể tiêu diệt
cả P aeruginosa, ít bị đề kháng, ngoài ra còn có tác dụng giảm viêm ở bề mặt
vết thương Dung dịch bạc nitrat 0,5% đã từng là một thuốc điển hình và phổ biến nhất để điều trị các bết bỏng ngoài da Ở nồng độ lớn hơn 1% dung dịch bạc nitrat có khả năng gây độc với tế bào và các mô; nitrat làm giảm khả năng liền vết thương, khi bị khử thành nitrit sẽ tạo ra các chất oxi hóa gây độc cho
tế bào, giảm khả năng tái tạo tế bào biểu mô Thuốc có thể gây hạ natri và clo máu, gây kiềm chuyển hoá và methemoglobin Dung dịch bạc nitrat cho nồng
độ ion Ag+ cao nhưng không ổn định Dung dịch dễ chuyển sang màu xám khi tiếp xúc với ánh sáng Đắp tốn gạc, gây đen đồ vải [1]
- Axit Boric
Axit Boric là một axit yếu, thuốc được sử dụng dưới dạng dung dịch 3% hoặc dạng bột tinh thể màu trắng Axit boric có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn mủ xanh Chỉ định để điều trị vết thương nhiễm trực khuẩn mủ xanh, trung hoà vết bỏng do vôi tôi nóng Thuốc có nguy cơ gây nhiễm toan chuyển hoá, không được dùng trên diện tích quá rộng [1]
- Mỡ Maduxin (Madhuxin)
Đây là dạng thuốc mỡ màu nâu đen được bào chế từ lá của cây sến
(Madhuca pasquieri Dubard H Sapotaceae) Maduxin có thành phần là cao
của lá sến, dầu hạt sến và vaselin Maduxin được nghiên cứu bào chế từ
1990-1995 Đây là thuốc chữa nhiễm khuẩn vết bỏng có hiệu quả Thuốc có tác
dụng với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, E.coli, Proteus, Gạc tẩm thuốc
đắp vào vết thương làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi Thuốc kích thích biểu
mô hóa ở bỏng nông và tạo mô hạt ở bỏng sâu Thuốc có tác dụng tốt với bỏng vôi Tuy nhiên, thuốc thường gây đau cho bệnh nhân và làm đen vải trải.[1]
1.2 Công nghệ nano và công nghệ nano sinh y dược
1.2.1 Công nghệ nano
Nano theo tiếng Latin có nghĩa là nhỏ, bé Công nghệ nano (nanotechnology) là công nghệ nghiên cứu phát triển và sử dụng các vật liệu siêu nhỏ ở kích cỡ nanomet (bảng 1.2) để phục vụ cho lợi ích của cuộc sống con người
Trang 15Thông thường, mắt thường chỉ có thể nhìn thấy được vật thể khoảng
50 µm (tương đương với sợi tóc) Như vậy, vật thể nano là những vật thể không thể nhìn thấy được bằng mắt thường (chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi điện tử) Do kích thước siêu nhỏ nên tiểu phân nano (nanoparticles) đã tạo ra những tính chất đặc trưng mới khác hẳn so với tiểu phân micro (như siêu dẫn, siêu bền, siêu thuận từ, siêu thấm, v.v.) Chính vì vậy, ngay sau khi ra đời, thế giới nano đã thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của giới khoa học và nhà sản xuất dẫn đến nhanh chóng hình thành lĩnh vực công nghệ nano Ngành công nghệ mới mẻ này đã tạo ra một cuộc cách mạng rộng lớn làm đảo lộn nhiều ngành khoa học, liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như vật lý, lý-sinh, sinh học phân tử, công nghệ sinh học, y-dược học, v.v
Công nghệ nano là khoa học liên ngành, ngay sau khi ra đời, đã phát triển nhanh chóng, tạo ra nhiều sản phẩm trên thị trường nhằm phục vụ đời sống con người Từ năm 2001-2005, ở Mỹ đã có trên 100 bằng phát minh được cấp cho công nghệ nano dược Năm 2006 doanh số về công nghệ nano toàn cầu đã đạt 50 tỉ USD Hiện nay, các nước phát triển như Mỹ, Nhật bản, Công đồng châu Âu đều đang đầu tư những dự án lớn cho công nghệ nano với tầm nhìn lâu dài [28]
Trang 168
Sự khác biệt về tính chất của vật liệu nano so với vật liệu khối bắt nguồn từ hai hiện tượng sau đây:
- Hiệu ứng bề mặt: Khi vật liệu có kích thước nm, các số nguyên tử
nằm trên bề mặt sẽ chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử Chính vì vậy các hiệu ứng có liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt, sẽ trở nên quan trọng làm cho tính chất của vật liệu có kích thước nanomet khác biệt so với vật liệu ở dạng khối Nhờ hiệu ứng này mà các dược chất ít tan, khi được điều chế dưới dạng tiểu phân nano thì tốc độ hòa tan và tác dụng sinh học tăng lên rất nhiều
- Hiệu ứng kích thước: Các tính chất vật lý, hóa học của các vật liệu
đều có một giới hạn về kích thước Nếu vật liệu mà nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi Người ta gọi đó là kích thước tới hạn Vật liệu nano có tính chất đặc biệt là do kích thước của nó có thể so sánh được với kích thước tới hạn của các tính chất [9]
1.2.2 Công nghệ nano sinh y dược
Công nghệ nano dược (Pharmaceutical Nanotechnology) hình thành trên cơ sở áp dụng thành tựu của công nghệ nano nói chung vào lĩnh vực nghiên cứu chế tạo các tiểu phân nano dược phẩm, các hệ mang thuốc nano hoặc các thiết bị nano dùng chẩn đoán và điều trị bệnh Y học nano (nanomedicine) là y học dùng dược chất và dạng thuốc nano hoặc thiết bị nano để chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh [2,22,25,27]
Do có nhiều tính năng độc đáo và kích thước tương đương với các phân
tử sinh học nên hiện nay, công nghệ nano đang được đầu tư nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực y sinh Các ứng dụng tiêu biểu của công nghệ nano
trong lĩnh vực này là:
- Chẩn đoán: Sử dụng các hạt nano (hạt nano vàng, nano từ, chấm
lượng tử…) để đánh dấu các phân tử sinh học, vi sinh vật, phát hiện các chuỗi gen nhờ vào cơ chế bắt cặp bổ sung của DNA hoặc cơ chế bắt cặp kháng nguyên – kháng thể
- Vận chuyển thuốc: Cung cấp thuốc cho từng tế bào cụ thể bằng cách
sử dụng các hạt nano nhằm tiết kiệm thuốc và tránh các tác dụng phụ
Trang 179
-Mô kỹ thuật: Công nghệ nano có thể giúp cơ thể tái sản xuất hoặc sửa
chữa các mô bị hư hỏng bằng cách sử dụng “giàn” dựa trên vật liệu nano và các yếu tố tăng trưởng [10,12]
1.3 Bạc và các thuốc kháng khuẩn từ bạc
1.3.1 Cơ chế kháng khuẩn của các thuốc từ bạc
Các thuốc từ bạc đều có chung một nguyên tắc là thuốc cần phải giải phóng bạc dưới dạng ion để cho tác dụng kháng khuẩn Bản thân bạc kim loại dạng khối không kháng khuẩn, nhưng khi chịu một tác động hóa học như sự oxy hóa nó sẽ tạo ra ion bạc có hoạt tính kháng khuẩn [13]
Hình 1.1 Tác động của ion bạc lên vi khuẩn
Các đặc tính kháng khuẩn của bạc bắt nguồn từ tính chất hóa học của các ion Ag+ Ion này có khả năng liên kết mạnh với peptidoglican, thành phần cấu tạo nên thành tế bào của vi khuẩn và ức chế khả năng vận chuyển oxy vào bên trong tế bào dẫn đến làm tê liệt vi khuẩn Nếu các ion bạc được lấy ra khỏi tế bào ngay sau đó, khả năng hoặt động của vi khuẩn lại có thể được phục hồi, vì vậy chúng ta không bị tổn thương khi tiếp xúc với các ion này
Có một cơ chế tác động của các ion bạc lên vi khuẩn đáng chú ý được
mô tả như sau: Sau khi Ag+ tác động lên lớp màng bảo vệ của tế bào vi khuẩn gây bệnh nó sẽ đi vào bên trong tế bào và phản ứng với nhóm mercapto – SH của phân tử enzym chuyển hóa oxy và vô hiệu hóa men này dẫn đến ức chế quá trình hô hấp của tế bào vi khuẩn [30]
Trang 1810
Hình 1.2 Ion bạc vô hiệu hóa enzym chuyển hóa oxy của vi khuẩn
Ngoài ra các ion bạc còn có khả năng liên kết với các base của DNA và trung hòa điện tích của gốc phosphat do đó ngăn chặn quá trình sao chép DNA [31]
Hình 1.3 Ion bạc liên kết với các base của DNA
Collins và cộng sự (2013) đã phát hiện ra rằng các ion bạc hòa tan tác động lên các tế bào vi khuẩn theo hai cách chính: làm tăng tính thẩm thấu của màng tế bào và cản trở quá trình trao đổi chất của tế bào dẫn đến phá hủy các
tế bào Khi sử dụng phối hợp bạc với các thuốc kháng sinh, cả hai cơ chế này của ion bạc có thể giúp các thuốc kháng sinh hiện nay có hiệu quả hơn đối với các vi khuẩn kháng thuốc [26]
1.3.2 Các dạng bạc được sử dụng làm thuốc kháng khuẩn
Nhiều dạng bạc được sử dụng để làm thuốc, điển hình là:
Trang 1911
Dung dịch keo bạc
Đây là dạng được sử dụng phổ biến nhất trước năm 1960, các tiểu phân ion bạc tinh khiết, tích điện, được phân tán trong môi trường lỏng Các ion tích điện đẩy nhau, vì thế chúng được phân tán đồng nhất trong môi trường ngay cả khi đã bôi thuốc lên vết thương [8]
Phức hợp bạc protein
Phức hợp bạc với các protein phân tử nhỏ làm tăng tính ổn định của ion bạc trong dung dịch Tuy nhiên khả năng kháng khuẩn kém ion bạc và do có một số nhược điểm nhất định nên vào những năm 1960 chúng nhanh chóng được thay thế bởi các muối bạc [11]
Bạc sulfadiazin
Bạc sulfadiazin (tên thương mại: Flammazine, Silvadene) được sử dụng nhiều trong những năm 1970 Bạc nitrat và natri sulfadiazin được phối hợp để tạo thành bạc sulfadiazin sử dụng làm thuốc Phức hợp này tác dụng lên thành
tế bào vi khuẩn Tác dụng kháng khuẩn là tác dụng hiệp đồng của cả ion bạc
và sulfadiazin Các dạng thuốc phối hợp các sulfamid khác nhau với bạc đã
được nghiên cứu thử nhiệm in vitro, kết quả cho thấy bạc sulfadiazin cho tác
dụng tốt nhất Điều này có thể được giải thích là do sự liên kết mạnh của bạc sulfadiazin với DNA của vi sinh vật Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô Độc tính đối với tủy xương của thuốc bạc sulfadiazin chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên [11]
Trang 2012
Tiểu phân nano bạc nguyên tố
Hạt nano bạc là các hạt bạc có kích thước từ 1 nm đến 100 nm Do có
diện tích bề mặt lớn nên hạt nano bạc có khả năng kháng khuẩn tốt hơn so với
các vật liệu khối do khả năng giải phóng nhiều ion Ag+ hơn
Các hạt nano bạc có hiện tượng cộng hưởng Plasmon bề mặt Hiện
tượng này tạo nên màu sắc từ vàng nhạt đến đen cho các dung dịch có chứa
hạt nano bạc với các màu sắc phụ thuộc vào nồng độ và kích thước hạt
Tiểu phân nano bạc có nhiều đặc tính sinh học đáng lưu ý như:
- Tác dụng diệt khuẩn: Ion bạc có hoạt tính mạnh, dễ dàng liên kết với
các protein tích điện âm, RNA, DNA, ion clorid Đặc tính này đóng vai trò
chính trong cơ chế kháng khuẩn của bạc nhưng cũng gây phức tạp khi chúng
có thể liên kết với protein trong vết thương Cơ chế đề kháng là làm giảm tính
thấm với bạc và/hoặc tăng cường hoạt động của hệ thống bơm đẩy bạc ra khỏi
tế bào Vì vậy, việc sử dụng bạc thiếu kiểm soát có thể dẫn tới gia tăng khả
năng đề kháng của vi khuẩn Bạc nitrat giải phóng ion bạc ở nồng độ cao
nhưng nhanh, nên phải thay miếng băng dán thường xuyên (lên đến
12 lần/ngày) Bạc sulfadiazin cung cấp đủ lượng bạc cần thiết nhưng tác dụng
duy trì yếu Tuy nhiên, so với bạc nitrat, bạc sulfadiazin đã có sự cải thiện
đáng kể (chỉ phải thay miếng băng dán 2 lần/ngày) Bạc calci phosphat và bạc
clorid giải phóng ion bạc kéo dài nhưng khó đủ nồng độ Dạng tiểu phân nano
bạc có thể coi là dạng lý tưởng nhất để chế tạo băng dán vết thương, vết bỏng
nhờ khắc phục được các hạn chế của các dạng bạc nói trên Tiểu phân nano
bạc giải phóng Ag0, dạng này khó bị bất hoạt bởi ion clorid hay chất hữu cơ
Trang 2113
so với dạng ion Khi bạc bị tiêu hao do phản ứng với các tế bào đích hoặc bị bất hoạt bởi các protein hay anion trong dịch vết thương, bạc lại được bổ
sung liên tục giúp duy trì ổn định hàm lượng bạc có hoạt tính [11,13]
Tiểu phân nano bạc thể hiện tác dụng diệt khuẩn trên một lượng lớn các loài vi khuẩn, những loài được nghiên cứu nhiều nhất là tụ cầu vàng
Staphyllococcus aureus, Escherichia coli, [16,21,23] liên cầu tan máu Streptococcus mutans, [21] và phẩy khuẩn tả Vibrio cholerae [6]
- Tác dụng chống nấm: Tiểu phân nano bạc có tác dụng chống nấm
nhanh và hiệu quả trên nhiều loài phổ biến như: Aspergillus, Candida và
Saccharomyces [18] Nano tiểu phân bạc kích thước 13,5±2,6 nm còn hiệu quả
trong diệt nấm men phân lập từ vú bò bị viêm [33]
- Tác dụng chống virut: Humberto H Lara và cộng sự (2010) cho rằng
tiểu phân nano bạc phát huy tác dụng kháng virut HIV ở giai đoạn đầu của quá trình nhân bản và giai đoạn sau xâm nhập của virut [24] Mặt khác, Elechiguerra và cộng sự (2005) cũng chỉ ra rằng tác dụng diệt virut của tiểu phân nano bạc phụ thuộc vào kích thước tiểu phân, khoảng có tác dụng là
1-10 nm [17]
- Tác dụng chống viêm: Nhiều nghiên cứu khoa học đã làm sáng tỏ cơ
chế chống viêm của tiểu phân nano bạc Trong 1 nghiên cứu lâm sàng trên 15 bệnh nhân, miếng dán tiểu phân nano bạc đẩy mạnh sự lành của các vết loét ở chân Điều này cho thấy tiểu phân nano bạc không chỉ giảm số lượng tế bào viêm ở vết thương mà còn có đáp ứng chống viêm do làm giảm sự thâm nhập
của bạch cầu trung tính [14]
- Tác dụng chữa bỏng và làm lành vết thương: Những thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên đã đánh giá khả năng làm lành vết bỏng nhanh của miếng băng dán chứa tiểu phân nano bạc so với miếng dán chứa bạc sulfadiazin Tiểu phân nano bạc giúp giảm đáng kể thời gian làm lành vết thương (trung bình còn 3,35 ngày), đẩy lùi nhiễm khuẩn ở các vết bỏng bị
nhiễm trùng và không quan sát thấy tác dụng không mong muốn nào [14]
Ngoài ra, nano bạc là vật liệu có diện tích bề mặt riêng rất lớn, có những đặc tính độc đáo sau:
Trang 22- Độ ổn định học cao, không bị biến đổi dưới tác dụng của ánh sáng và các tác nhân oxy hóa khử thông thường
- Ổn định ở nhiệt độ cao
- Chi phí cho quá trình sản xuất thấp
Mặc dù tiểu phân nano bạc nguyên tố đã được nghiên cứu nhiều, nhưng chưa phát triển được một thuốc kháng khuẩn thực sự nào, do khả năng giải phóng ion bạc từ hệ thấp [14]
Hình 1.4 Ứng dụng của bạc (bên phải) và nano bạc (bên trái) trong y học
Trang 2315
Các dạng bạc trên đây, khi sử dụng làm thuốc đều có những nhược điểm nhất định Chính vì thế trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu phát triển theo hướng bào chế thuốc từ các tiểu phân nano bạc clorid trên tinh thần kiểm soát được sự giải phóng ion bạc từ hệ một cách tối ưu nhằm cho tác dụng kháng khuẩn an toàn và kéo dài
1.3.3 Hệ giải phóng ion bạc kéo dài – tiểu phân nano bạc clorid
Các hệ kiểm soát giải phóng ion bạc kéo dài được phát triển trong những năm gần đây và được coi là một cuộc cách mạng trong việc phát triển các sản phẩm chống nhiễm khuẩn vết thương Nhiều dạng của bạc được sử dụng để nghiên cứu phát triển các thuốc dạng này: tiểu phân nano bạc; tiểu phân nano các muối bạc; hệ các ion bạc và tiểu phân nano bạc phối hợp với các polyme khác nhau…
Như đã biết, hiện nay, dưới quan điểm của khoa học và công nghệ nano, việc tạo ra các vật thể với kích thước nano (10-9 m) đã trở nên phổ biến
Ở kích thước này, các hạt vật chất thể hiện nhiều tính chất lý hóa khác thường
so với khi vật chất đó ở kích thước thô Tuy nhiên các sản phẩm từ bạc trên thị trường hiện nay đa số đi từ nguyên liệu là các tiểu phân nano bạc dưới dạng bạc nguyên tử, do đó hạn chế việc giải phóng ra các ion bạc để tạo tác dụng kháng khuẩn, nếu sử dụng các dạng muối dễ tan của bạc thì sẽ khó kiểm soát việc giải phóng ra ion bạc, dẫn đến khó kiểm soát được độc tính gây ra
Các hạt tiểu phân nano các muối ít tan của bạc, nhờ năng lượng bề mặt lớn, có khả năng giải phóng các ion bạc vào trong dung dịch cao, và như vậy cho hiệu lực khử khuẩn đáng kể, đồng thời có thể kiểm soát được việc giải phóng ion bạc thông qua việc lựa chọn muối bạc có độ tan thích hợp Thời gian giải phóng ion bạc từ các tiểu phân nano bạc còn kéo dài hơn nhiều so với dạng keo bạc [7]Các hệ tiểu phân nano của các muối ít tan của bạc được chú ý nhiều và đã được phát triển thành công thành thuốc có nhiều giá trị (Silvasorb – Thuốc điều trị nhiễm khuẩn từ tiểu phân nano bạc clorid dạng vi mạng kim loại) [14]
Trang 2416
Hình 1.5 Ưu điểm của bạc clorid so với các dạng khác của bạc [1] 1.4 Đại cương về thuốc mỡ
1.4.1 Khái niệm thuốc mỡ
Thuốc mỡ là dạng chất có thể chất mềm, dùng để bôi da hay niêm mạc, nhằm bảo vệ da hoặc đưa thuốc thấm qua da gây tác dụng tại chỗ [3]
1.4.2 Phân loại thuốc mỡ
Thuốc mỡ có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau
Theo thể chất và thành phần cấu tạo
- Thuốc mỡ mềm (Unguentum, Pomata): là dạng chủ yếu trước đây, có thể chất mềm Tá dược thường dùng thuộc nhóm thân dầu hoặc nhóm tá dược khan
- Thuốc mỡ đặc hay bột nhão bôi da (Pasta dermica): là dạng thuốc mỡ
có chứa một lượng lớn dược chất rắn ở dạng bột không tan trong tá dược (trên 40%) Tá dược có thể là thân dầu như bột nhão Lassar, có thể là tá dược thân nước, chẳng hạn bột nhão Darier
- Sáp (Cera, Unguentum cereum): là dạng thuốc mỡ có thể chất dẻo do chứa một tỷ lệ lớn các sáp, các alcol béo cao, parafin hoặc các hỗn hợp dầu
Trang 25da [3]
Theo quan điểm lý hóa
Có thể coi thuốc mỡ là những hệ phân tán đồng thể hoặc dị thể, trong
đó chất phân tán là một hoặc hỗn hợp dược chất, còn môi trường phân tán là một hoặc hỗn hợp tá dược Như vậy có thể phân chia ra:
- Thuốc mỡ thuộc hệ phân tán đồng thể (còn gọi là thuốc mỡ một pha hoặc dung dịch: Dung dịch thật hay dung dịch keo) Dược chất được hòa tan trong tá dược thân dầu hoặc thân nước Ví dụ: thuốc mỡ long não 10%, cao xoa Sao vàng, gel lindocain 3%,…
- Thuốc mỡ thuộc hệ phân tán dị thể (còn gọi là thuốc mỡ hai pha), bao gồm các thuốc mỡ có thành phần gồm dược chất và tá dược không hòa tan vào nhau Có thể chia thành 3 nhóm:
+ Thuốc mỡ kiểu hỗn dịch: dược chất rắn đã nghiền, xay mịn được phân tán đều trong tá dược, chẳng hạn: các bột nhão, thuốc mỡ mềm (mỡ kẽm oxyd 10%, mỡ acid crizpphanic 5%, mỡ tetracyclin 1%,…)
+ Thuốc mỡ kiểu nhũ tương: dược chất thể lỏng hoặc hòa tan trong một
tá dược hoặc một dung môi trung gian được nhũ hóa vào một tá dược không đồng tan Loại này chiếm tỷ lệ lớn hiện nay, cả lĩnh vực y học và mỹ phẩm
Ví dụ: thuốc mỡ thủy ngân với tá dược khan (lanolin + mỡ lợn hoặc hỗn hợp khác), thuốc mỡ Dalibour, nhiều kem thuốc: Sicorten, Flucinar, Dermoval,…
+ Thuốc mỡ thuộc nhiều hệ phân tán, còn gọi là thuốc mỡ nhiều pha Trong các thuốc mỡ này, bản thân tá dược có thể là một nhũ tương và dược chất ở dạng tiểu phân rắn, mịn được phân tán trong tá dược hoặc cũng có thể
Trang 2618
dược chất gồm nhiều loại với độ tan trong tá dược, dung môi khác nhau hoặc
do có thể xảy ra tương kỵ nếu cùng hòa tan trong dung môi Lúc đó sẽ hình thành dạng thuốc mỡ có cấu trúc phức tạp hơn, chẳng hạn: hỗn dịch – nhũ tương, dung dịch – hỗn dịch, hoặc dung dịch – hỗn dịch – nhũ tương Ví dụ: Voltaren Emugel [3]
Theo mục đích sử dụng, điều trị
- Thuốc mỡ dùng bảo vệ da và niêm mạc
- Thuốc mỡ gây tác dụng điều trị tại chỗ: sát khuẩn, giảm đau,…
- Thuốc mỡ hấp thu hoặc gây tác dụng điều trị toàn thân: thuốc có tác dụng phòng bệnh, thuốc mỡ chứa dược chất là các nội tiết tố, dược chất chống sốt rét, chống phân bào, hạ huyết áp,… [3]
1.4.3 Các đặc tính của thuốc mỡ
Nói chung thuốc mỡ cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Phải là những hỗn hợp hoàn toàn đồng nhất giữa dược chất và tá dược; dược chất phải đạt độ phân tán cao
- Phải có thể chất mềm, mịn màng, không chảy ở nhiệt độ thường và dễ bám thành lớp mỏng khi bôi lên da hoặc niêm mạc
- Không gây kích ứng, dị ứng với da và niêm mạc
- Bền vững (lý, hóa và vi sinh) trong quá trình bảo quản
- Có hiệu quả điều trị cao, đúng với yêu cầu, mục tiêu khi thiết kế Ngoài ra, tùy theo mục đích và nơi sử dụng, còn có một số yêu cầu đặc biệt riêng Chẳng hạn như:
- Đối với thuốc mỡ chỉ dùng với mục đích bảo vệ da (chống nóng, chống tia tử ngoại, chống acid, kiềm, hóa chất…) thì chỉ yêu cầu tạo ra một lớp bao bọc, che chở da hoặc niêm mạc, vì vậy không dùng tá dược và chất phụ có khả năng thấm sâu dược chất, hay dùng nhất là tá dược silicon
- Đối với thuốc mỡ hấp thu, gây tác dụng điều trị toàn thân, đòi hỏi thiết kế công thức sao cho cả dược chất, tá dược, chất phụ, dạng thuốc có khả năng thấm sâu dược chất
Trang 2719
- Đối với thuốc mỡ dùng với mong muốn tác dụng tại chỗ như giảm đau, chống nhiễm khuẩn, chống nấm, chống viêm… đòi hỏi thiết kế công thức sao cho dược chất giải phóng nhanh và có tính thấm tùy theo các yêu cầu riêng
- Đối với các hệ trị liệu, yêu cầu quan trọng nhất là thiết kế, sử dụng tá dược, chất phụ như thế nào để có thể kiểm soát chặt chẽ được mức độ và tốc
độ giải phóng thuốc cũng như mức độ và tốc độ hấp thu dược chất
- Đối với thuốc mỡ dùng bôi vết thương, vết bỏng hay dùng tra mắt, đòi hỏi phải vô khuẩn và những yêu cầu riêng về hàm lượng nước, kích thước tiểu phân phân tán … [3]
1.4.4 Các phương pháp bào chế thuốc mỡ
Điều chế thuốc mỡ bằng phương pháp hòa tan
Điều kiện áp dụng
- Dược chất: Hòa tan trong tá dược hoặc một dung môi trung gian, có thể trộn đều hoặc hòa tan với tá dược
- Tá dược: Thân dầu, thân nước và tá dược khan
Cấu trúc của chế phẩm tạo thành thường là kiểu dung dịch (đa phần ở dạng dụng dịch keo) và hệ phân tán thuộc loại hệ đồng thể
Các giai đoạn chính
- Chuẩn bị dược chất: Trong một số trường hợp, dược chất rắn có tốc
độ hòa tan chậm, có thể làm tăng tốc độ hòa tan bằng cách xay, nghiền
- Chuẩn bị tá dược:
+ Nếu là hỗn hợp tá dược, cần phải phối hợp và lọc, tiệt khuẩn nếu cần Chẳng hạn: Tá dược có thể là hỗn hợp tá dược thân dầu nhóm hydrocarbon: vaselin, dầu parafin và parafin rắn … lúc đó cần đun chảy, lọc
+ Nếu là tá dược thân nước như PEG cũng cần phối hợp, đun chảy trước
+ Nếu là tá dược gel, cần có thời gian ngâm nguyên liệu tạo gel trong môi trường phân tán để gel đồng nhất
Trang 2820
- Phối hợp dược chất với tá dược: Nói chung có thể hòa tan ở nhiệt độ thường hoặc đun nóng cho giảm thời gian thao tác Cần chú ý rằng có một số dược chất dễ bị bay hơi, thăng hoa ở nhiệt độ cao, vì vậy, dụng cụ, thiết bị hòa tan cần phải có nắp đậy kín Điển hình nhất là khi sản xuất cao xoa [3]
Điều chế thuốc mỡ bằng phương pháp trộn đều đơn giản
Điều kiện áp dụng
- Dược chất:
+ Dược chất rắn, không tan hoặc ít tan trong tá dược
+ Có thể xảy ra tương kỵ giữa các dược chất nếu trong công thức có nhiều dược chất
- Tá dược: Có thể cả 4 nhóm (thân dầu, thân nước, tá dược khan và tá dược nhũ tương)
Các giai đoạn chính
- Làm bột đơn hoặc bột kép dược chất rắn có trong công thức:
+ Để đảm bảo thuốc mỡ đồng nhất, dược chất dễ phân tán đều trong tá dược, nhất là khi nồng độ dược chất nhỏ, cần nghiền mịn dược chất
+ Trong thực tế, nhiều dược chất được làm dưới dạng bột siêu mịn hoặc siêu siêu mịn Nếu trong công thức có nhiều dược chất rắn, cần phải trộn bột kép các dược chất trước khi phối hợp với tá dược
- Chuẩn bị tá dược:
+ Nếu là hỗn hợp tá dược, cần phải phối hợp và lọc, tiệt khuẩn nếu cần Chẳng hạn: Tá dược có thể là hỗn hợp tá dược thân dầu nhóm hydrocarbon: vaselin, dầu parafin và parafin rắn … lúc đó cần đun chảy, lọc
+ Nếu là tá dược thân nước như PEG cũng cần phối hợp, đun chảy trước
+ Nếu là tá dược gel, cần có thời gian ngâm nguyên liệu tạo gel trong môi trường phân tán để gel đồng nhất
- Làm mỡ đặc: Mục đích của giai đoạn này là:
Trang 2921
+ Làm mịn thêm dược chất
+ Để phối hợp và trộn đều với lượng tá dược còn lại
Tiến hành: Cho dược chất đã mịn vào dụng cụ thích hợp (cối hoặc sứ máy) và đồng lượng tá dược đã xử lý, trộn kỹ thành mỡ đặc
- Phối hợp mỡ đặc với tá dược còn lại: Theo nguyên tắc đồng lượng, nếu điều chế với lượng nhỏ, cho vào cối, dùng chày đánh cho tới khi đồng nhất Nếu sản xuất lớn, dùng các máy làm thuốc mỡ chuyên dụng, khuấy trong thời gian xác định
- Cán hoặc làm đồng nhất: Mục đích của giai đoạn này là làm cho chế phẩm đồng nhất hơn và mịn màng Phương tiện sử dụng là máy cán 3 trục hoặc máy làm đồng nhất
- Đóng gói: Hiện nay, thuốc mỡ chủ yếu được đóng trong các tuýp kim loại hoặc các tuýp chất dẻo với các máy đóng riêng hoặc liên hoàn [3]
Điều chế thuốc mỡ bằng phương pháp nhũ hóa
Với tá dược nhũ tương có sẵn
Điều kiện áp dụng
- Dược chất:
+ Lỏng phân cực hoặc bán phân cực, không đồng tan, khó trộn đều với
tá dược, chẳng hạn: Thủy ngân kim loại, ichtiol, hắc ín thảo mộc, bôm Pêru, dầu cade, dung dịch acetat kiềm …
+ Dược chất mềm hoặc rắn dễ hòa tan trong các dung môi trơ phân cực (nước, alcol, glycerin, propylen glycol …) chẳng hạn như các cao thuốc, kháng sinh dạng muối, muối alkaloid …
+ Dược chất rắn chỉ phát huy tác dụng dược lý tốt nhất khi được dùng dưới dạng dung dịch nước như iod, bạc keo (arigon, protacgon, colacgon)
- Tá dược: Thuốc nhóm tá dược khan
- Thuốc mỡ điều chế theo phương pháp này có cấu trúc kiểu nhũ tương N/D, thuộc hệ phân tán dị thể
Trang 3022
Các giai đoạn
- Với các dược chất lỏng: Thêm dần từng lượng nhỏ tá dược khan, vừa
thêm vừa khuấy nhẹ nhàng trong dụng cụ thích hợp Sau khi đã cho hết dược chất, tiếp tục khuấy trộn mạnh cho tới khi thu được thuốc mỡ đồng nhất
- Với các cao thuốc chế từ dược liệu thể chất mềm hoặc khô: Cần hòa
tan nóng trước với glycerin hoặc hòa tan trong hỗn hợp dung môi gồm: 1 phần alcol ethylic, 3 phần glycerin và 6 phần nước tinh khiết rồi phối hợp vào
tá dược khan
- Với các chất lỏng bán phân cực, khó trộn đều: Như bôm Pêru, dầu
Cade, cần cho từ từ, khuấy trộn nhẹ nhàng với tá dược hút, sau đó phối hợp với tá dược còn lại
- Với các dược chất rắn chỉ phát huy tác dụng dưới dạng dung dịch:
Cần hòa tan trước trong một dung môi phân cực tối thiểu, sau đó phối hợp với
tá dược khan giống như với trường hợp dược chất lỏng
- Trường hợp dược chất vừa là dược chất lỏng bán phân cực, vừa là
dược chất rắn: Tùy theo tính chất của dược chất, lựa chọn tá dược và phương
- Tá dược: Các nhũ tương hoàn chỉnh
- Thuốc mỡ tạo thành được gọi là kem, có cấu trúc kiểu nhũ tương D/N hoặc N/D
Trang 3123 tạo thành là N/D hay D/N Khuấy trộn trong thiết bị thích hợp cho tới khi nguội và thu được nhũ tương đồng nhất, đóng hộp hoặc tuýp [3]
Trang 3224
CHƯƠNG 2 - NGUYÊN VẬT LIỆU, TRANG THIẾT BỊ VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguyên vật liệu, trang thiết bị
2.1.1 Nguyên vật liệu
Bào chế thuốc mỡ bạc clorid:
Thuốc mỡ bạc clorid được bao chế từ những nguyên liệu sau:
Bảng 2.1 Nguyên liệu bào chế thuốc mỡ bạc clorid
3 Polyethylen glycol 600 Đức USP 24
4 Polyethylen glycol 4000 Đức USP 24
Đánh giá tác dụng kháng khuẩn:
Đánh giá tác dụng kháng khuẩn của thuốc mỡ bạc clorid sử dụng:
- Giống VSV kiểm định: Do bộ môn Vi sinh – Sinh học, trường Đại
học Dược Hà Nội cung cấp
+ Vi khuẩn Gram (+):
Bacillus cereus ATCC 9946 (B cereus)
Staphyllococcus aureus ATCC 6538 và ATCC 1128 (S aureus)
+ Vi khuẩn Gram (-):
Escherichia coli ATCC 8739 và ATCC 25922 (E coli)
Trang 3325
- Môi trường thử nghiệm :
+ Môi trường canh thanh nuôi cấy VK kiểm định:
NaCl 0,5% ; Pepton 0,5% ; cao thịt 0,3% ; nước vừa đủ 100 ml + Môi trường thạch thường:
NaCl 0,5% ; Pepton 0,5% ; cao thịt 0,3% ; thạch 1,6% ; nước vừa
2.1.2 Thiết bị nghiên cứu
- Máy khuấy từ IKA-WERKE
- Máy ly tâm lạnh Biocen 22R
- Máy đo kích thước tiểu phân HORIBA Nano Partica SZ-100
- Máy đo độ nhớt MRC VIS-8
- Máy đo quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS Thermo iCE™ 3300
- Kính hiển vi điện tử quét phân giải cao HITACHI S-4800
Trang 3426
- Đèn soi sắc kí bản mỏng WFH – 203B
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Bào chế thuốc mỡ bạc clorid 0,13%
Thuốc mỡ thân nước bạc clorid 0,13% được bào chế theo quy trình sau: Hòa tan hoàn toàn dung dịch chứa 30 mmol natri clorid vào 100g PEG 600 Nhỏ từ từ dung dịch chứa 1,47 mmol bạc nitrat vào dung dịch trên, tốc độ nhỏ 0,5 ml/phút, vừa nhỏ vừa khuấy trộn ở tốc độ 500 vòng/phút Sau đó, thêm 40g PEG 4000 vào rồi đun nóng hỗn hợp đến 60±5oC, khuấy trộn nhẹ ở tốc
độ 360 vòng/phút cho đến khi PEG 4000 tan chảy hoàn toàn, thu được dung dịch trong suốt, đồng nhất Cách ly hỗn hợp khỏi nguồn nhiệt, tiếp tục khuấy trộn đến khi hỗn hợp nguội về nhiệt độ phòng thu được thuốc mỡ bạc clorid 0,13% màu trắng đục, thể chất mềm, mịn Đóng gói sản phẩm trong lọ nhựa kín Dán nhãn, bảo quản ở điều kiện thường, tránh ánh sáng trực tiếp
40g PEG 4000 Đun nóng (60±5oC)
Khuấy đều (360 vòng/phút)
dd AgCl/PEG 600 + PEG 4000
Để nguội về nhiệt độ phòng Khuấy đều (360 vòng/phút) Thuốc mỡ AgCl 0,13%
Hình 2.1: Quy trình bào chế thuốc mỡ bạc clorid 0,13%