Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU Thân tử cung: ở tuổi thai 4 - 5 tháng cơ tử cung dày nhất khoảng 25 mm,tử cung có hình không đối xứng, tuổi thai này ngôi chưa ổn định..
Trang 1Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: KHỔNG THỊ HOA
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐÌNH CHỈ THAI NGHÉN CỦA PHÁC ĐỒ MIFEPRISTON PHỐI HỢP MISOPROSTOL TỪ TUẦN 13 ĐẾN TUẦN 20 TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP (NGÀNH Y ĐA KHOA)
Trang 3Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập nghiên cứu để hoàn thành khóa luận, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Ban chủ nhiêm, thầy/cô bộ môn Phụ Sản, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ban giám đốc bệnh viện, phòng kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ trong hội đồng khoa học thông qua đề cương, hội đồng khoa học bảo vệ khóa luận đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong quá trình nghiên cứu, hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành y đa khoa
Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
PGS.TS Vũ Văn Du, người thầy kính yêu đã tận tâm dìu dắt, giúp đỡ hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
ThS BS Nông Minh Hoàng, thầy đã luôn quan tâm, hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo ân cần trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ với em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Khổng Thị Hoa
Trang 4Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
LỜI CAM ĐOAN
Em là Khổng Thị Hoa, sinh viên khoá QH.2013.Y, ngành y đa khoa, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân em trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Du và ThS BS Nông Minh Hoàng
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực
và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Người cam đoan
Khổng Thị Hoa
Trang 5Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
TDKMM : tác dụng không mong muốn
WHO : World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 6Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về sinh lý tử cung 3
1.1.1 Giải phẫu và mô học tử cung khi chưa có thai 3
1.1.2 Những thay đổi của cổ tử cung và tử cung khi có thai 3
1.1.3 Đặc điểm tử cung khi có thai 3 tháng giữa 4
1.2 Nguyên nhân của chuyển dạ 5
1.2.1 Vai trò của Prostaglandin 5
1.2.2 Sự chín muồi cổ tử cung 6
1.2.3 Vai trò của Estrogen và progesteron 6
1.2.4 Vai trò của Oxytoxin 6
1.2.5 Các yếu tố khác 6
1.3 Các phương pháp đình chỉ thai nghén cho thai từ 13 đến 20 tuần tuổi 6
1.3.1 Phương pháp ngoại khoa 6
1.3.2 Phương pháp ĐCTN nội khoa- gây sẩy thai 7
1.4 Misoprostol và Mifepristone 9
1.4.1 Prostaglandin 9
1.4.2 Misoprostol 10
1.4.3 Mifepristone 13
1.5 Các nghiên cứu về phác đồ MFP phối hợp MSP để ĐCTN giai đoạn ba tháng giữa 15
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới 15
1.5.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20
Trang 7Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 21
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 21
2.5.1 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 21
2.5.2 Biến số và các chỉ số nghiên cứu 21
2.5.3 Kỹ thuật phân tích số liệu 22
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm chung của phụ nữ trong nghiên cứu 23
3.2 Hiệu quả của phương pháp 26
3.3 Tác dụng không mong muốn 30
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 32
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
4.1.1 Tuổi của thai phụ 32
4.1.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và trình độ học vấn 32
4.1.3 Tình trạng hôn nhân, tiền sử ĐCTN và tiền sử sinh đẻ 33
4.1.4 Lý do ĐCTN 34
4.1.5 Tuổi thai trong nghiên cứu 34
4.2 Bàn luận về hiệu quả của phương pháp 35
4.2.1 Bàn luận về tỷ lệ thành công của phương pháp 35
4.2.2 Bàn luận về thời gian sẩy thai 36
4.2.3 Lượng MSP cần thiết cho sẩy thai 37
4.2.4 Bàn luận về sổ rau 38
4.2.5 Về thời gian nằm viện 39
4.2.6 Tác dụng không mong muốn 39
KẾT LUẬN 41
KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 8Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Đặc điểm nhân trắc học của đối tương 23 Bảng 3.2 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân và tiền sử sản khoa của
đối tượng
24
Bảng 3.3 Tuổi thai của đối tượng nghiên cứu 25 Bảng 3.4 Tỷ lệ thành công của phương pháp 26 Bảng 3.5 Tỷ lệ sẩy thai phân bố theo thời gian 26 Bảng 3.6 Thời gian sẩy trung bình trong các nhóm tuổi mẹ, tiền sử
sản khoa
27
Bảng 3.7 Thời gian sẩy thai và lượng MSP trung bình gây sẩy thai
theo tuổi thai
38
Bảng 3.8 Thời gian sổ rau trung bình và lượng MSP bổ sung để sổ
rau trung bình theo tuổi thai
39 Bảng 3.9 Thời gian nằm viện trung bình theo tuổi thai 30 Bảng 3.10 Tác dụng không mong muốn 30
Trang 9Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1 Lý do đình chỉ thai nghén 25 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ sổ rau phân bố theo thời gian 29
Trang 10Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1.1 Sơ đồ tử cung cắt đứng ngang 3 Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của misoprostol 11 Hình 1.3 Phân bố nồng độ MSP trong huyết tương 11 Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của mifepriston 13
Trang 11Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
số này có thể còn cao hơn
Tại Việt Nam, theo Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của Bộ Y tế, phá thai to là những trường hợp phá thai từ 13 đến
22 tuần [5] Khó khăn đầu tiên của phá thai to là làm mềm và mở cổ tử cung (CTC) Phương pháp nong và nạo gắp trước đây có nhiều tai biến đang dần được thay thế bằng thuốc làm mềm và chín muồi CTC bằng Misoprostol (MSP), một một hoạt chất tương tự prostaglandin nhằm hạn chế nhược điểm của pháp thai to bằng phương pháp cổ điển như nong, nạo
Việc sử dụng các thuốc như misoprostol (MSP), mifepriston (MFP) gây sẩy thai đã có từ những năm 1980 Nhiều phác đồ có MFP đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới với kết quả cho thấy đây là phương pháp an toàn, hiệu quả và tiện lợi Tại Việt Nam đã có nhiều bệnh viện và trung tâm lớn nghiên cứu các phác đồ phá thai theo phương pháp này
Tuy nhiên tại Việt Nam, các nghiên cứu hiện tại đa phần báo cáo về tác dụng gây sẩy thai của MSP trên thai nghén quý I ( 3 tháng đầu) [2, 17, 59] Trong khi đó, do nhiều lý do khác nhau vẫn không ít phụ nữ có nhu cầu phá thai khi thai đã bước sang quý II ( 3 tháng giữa) Đối với những đối tượng này, phá thai bằng thuốc là những lựa chọn được cân nhắc hàng đầu Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, MSP được sử dụng cho thai quý II từ năm 1999 Có nhiều phác đồ kết hợp Mifepristone và Misoprostol với liều lượng, khoảng cách dùng, đường dùng thuốc khác nhau đưa đến hiệu quả ĐCTN khác nhau Phác đồ:
uống 200 mg MFP sau 24 giờ thì đặt âm đạo 800 mcg MSP, tiếp theo mỗi
Trang 12Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
3 giờ lại ngậm dưới lưỡi 400 mcg MSP, tổng cộng 5 liều để ĐCTN chưa có
trong Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản [5]
Chúng tôi thực hiện đề tài: “ Nhận xét kết quả đình chỉ thai nghén
của phác đồ Mifepristone phối hợp với Misoprostol từ tuần 13 đến tuần 20 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm của các bệnh nhân thai từ tuần 13 đến tuần 20 đến đình
chỉ thai nghén tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 8/2015 đến tháng 10/2016
2 Đánh giá kết quả đình chỉ thai nghén của các đối tượng trên.
Trang 13Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về sinh lý tử cung
1.1.1 Giải phẫu và mô học tử cung khi chưa có thai
Tử cung là một tạng rỗng của cơ quan sinh dục, nằm trong tiểu khung, sau phúc mạc, giữa bàng quang ở phía trước và trực tràng ở phía sau Tử cung
có hình nón dẹt, chia làm 3 phần: thân, eo, cổ
Hình 1.1 Sơ đồ tử cung cắt đứng ngang [1]
Thân tử cung: hình thang, rộng ở trên gọi là đáy tử cung, hai sừng ở hai
góc bên, dài khoảng 4-5 cm, rộng 4 cm
Eo tử cung: thắt nhỏ, dài khoảng 0,5 cm
Cổ tử cung: là phần thấp nhất của tử cung, dài 2-3 cm, rộng 2 cm, tròn,
1.1.2 Những thay đổi của cổ tử cung và tử cung khi có thai
1.1.2.1 Thay đổi ở tử cung
Trong nửa đầu của thời kỳ thai nghén tổ chức tử cung phát triển mạnh và trọng lượng tăng chủ yếu vào giai đoạn này Tháng thứ 04 - 05 thời kỳ thai nghén, thành tử cung dầy nhất khoảng 25 mm, trong khi không có thai chỉ dầy
10 mm Đến cuối thời kỳ thai nghén, chiều dầy thân tử cung giảm xuống còn
05 – 10 mm
Trang 14Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Sự phát triển quan trọng này của tử cung là do ba yếu tố: bản thân các sợi cơ tử cung đã tăng sinh; các mạch máu kể cả động mạch, tĩnh mạch, mao mạch đều tăng lên và xung huyết; cuối cùng, cũng như toàn bộ cơ thể và các
cơ quan khác thuộc bộ phận sinh dục khi có thai tử cung giữ nước nhiều [8, 12]
1.1.2.2 Thay đổi của cổ tử cung khi có thai
Khi mang thai CTC mềm ra là do mô liên kết ở CTC tăng sinh và giữ nước mềm từ trung tâm đến ngoại vi, CTC người con rạ mềm hơn của người con so CTC thay đổi dài dần theo tuổi thai Ở thời điểm 20 - 25 tuần CTC có chiều dài lớn nhất Màng ối dính tương đối sát vào mặt trong buồng tử cung (BTC) và lỗ trong CTC Nguy cơ đẻ non cũng hay được phát hiện sớm ở thời điểm này Theo Nguyễn Mạnh Trí, độ dài CTC dài nhất ở thời điểm 24 tuần, vào khoảng 46,07 ± 4,36 mm Chiều dài CTC giảm dần và rõ rệt sau 32 tuần, nhưng không ngắn hơn so với độ dài thời điểm thai 14 - 19 tuần [19]
1.1.2.3 Thay đổi ở eo cổ tử cung (đoạn dưới cổ tử cung)
Trước khi có thai, eo tử cung chỉ là một vòng nhỏ, chỉ khoảng 05 – 10 mm nằm giữa CTC và thân tử cung Khi có thai những tháng cuối eo tử cung giãn rộng, dài ra và mỏng dần biến thành đoạn dưới tử cung Cho tới khi chuyển dạ, đoạn dưới tử cung dài tới 10 cm
Về cấu trúc đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ: lớp cơ ngoài và lớp cơ trong, không
có lớp cơ đan ở giữa Vì vậy, ngoại sản mạc hình thành ở đoạn dưới cũng không dầy bằng đoạn thân Cũng do vậy đoạn dưới tử cung là phần dễ vỡ nhất trong cuộc chuyển dạ và sẩy thai, dễ chảy máu nhất khi có rau bám thấp [4]
1.1.3 Đặc điểm tử cung khi có thai 3 tháng giữa
Khi có thai, cơ thể người mẹ có nhiều thay đổi, hai hormon ảnh hưởng trực tiếp đến giai đoạn này là estrogen và progesteron Những thay đổi nội tiết
là nguyên nhân chính dẫn tới những thay đổi về cấu trúc và chức năng của thân,
eo ,CTC [59]
Mật độ: khi có thai tử cung mềm Dưới tác dụng của progesteron, cơ tử
cung giảm trương lực, các mạch máu tăng sinh, các sợi cơ phì đại và ngấm
nước
Trang 15Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Thân tử cung: ở tuổi thai 4 - 5 tháng cơ tử cung dày nhất khoảng 25
mm,tử cung có hình không đối xứng, tuổi thai này ngôi chưa ổn định Chiều cao tử cung trên vệ 8-12 cm Vào thời điểm thai 16-20 tuần đáy tử cung tiếp
xúc với thành bụng trước
Eo tử cung: giãn mỏng dần và dài ra Đoạn dưới tử cung được thành lập
trong suốt thai kỳ và rõ rệt khi có chuyển dạ
Cổ tử cung: mềm hơn khi chưa có thai CTC người con dạ mềm hơn con
so Màng ối dính vào mặt trong buồng tử cung và lỗ trong CTC Chiều dài CTC thay đổi theo hai gia đoạn thai kỳ Giai đoạn đầu, CTC dài dần ra, giai đoạn sau rút ngắn lại Thời điểm CTC dài nhất là ở tuần 24, khoảng 46,07 4,36mm [19]
Do TC ít co bóp, đồng thời CTC dài nên trong 3 tháng giữ ít xảy ra hiện tượng sẩy thai, đây được coi là thời kỳ sống bình yên giữ mẹ và thai Tuy nhiên, đây cũng chính là khó khăn nếu phải gây sẩy thai vào thời kỳ này Có sự cân bằng về nội tiết trong máu mẹ làm cơ tử cung kém đáp ứng với kích thích cơ học Chưa có sự tăng prostaglandin (PG) để giúp làm mềm CTC [8, 12]
1.2 Nguyên nhân của chuyển dạ
Động lực chính của cuộc chuyển dạ là cơn co tử cung (CCTC) Người ta
đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải thích những nguyên nhân phát sinh những cơn co gây chuyển dạ, có một số giả thuyết được chấp nhận trong đó có vai trò khởi phát của Prostaglandin (PG)
1.2.1 Vai trò của Prostaglandin
Các PG là những chất có thể làm thay đổi hoạt tính co bóp của cơ tử cung Sự sản xuất PGF2 và PGE2 tăng dần trong quá trình thai nghén và đạt tới giá trị cao trong nước ối, màng rụng và trong cơ tử cung vào lúc bắt đầu cuộc chuyển dạ đẻ Giảm oxy trong quá trình chuyển dạ làm tăng quá trình tổng hợp PG
Prostaglandin được tổng hợp từ màng rụng và màng ối Các yếu tố: bấm
ối, nhiễm trùng ối, tách ối có thể gây tăng tổng hợp đột ngột PG vào cuối thai
kỳ [63, 75] Người ta có thể gây chuyển dạ bằng cách tiêm PG dù ở bất kỳ tuổi thai nào
Trang 16Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1.2.2 Sự chín muồi cổ tử cung
Cấu trúc CTC gồm: mô liên kết, nguyên bào sợi, tuyến nhầy, mạch máu
và chỉ có khoảng 30% là sợi cơ Các phân tử collagen tập hợp thành chuỗi tạo nên các sợi fibrin hình sọc Khi gần đủ tháng số các liên kết collagen nội phân
tử theo dạng ngang giảm đi và trở nên dễ hòa tan
Năm 1983, Uldberg là người đầu tiên cho rằng PG tác động vào quá trình
ly giải collagen ở mô CTC, làm CTC chín muồi và mềm ra
Một cách giải thích mang tính cơ học cho mối liên quan giữa CTC và chuyển dạ đó là sự căng của CTC, CTC bị căng ra hay bị kích thích là yếu tố quan trọng gây cơn co tử cung [52]
1.2.3 Vai trò của Estrogen và progesteron
Trong quá trình thai nghén các chất estrogen tăng nhiều lần, làm tăng tính kích thích các sợi cơ trơn của tử cung và tốc độ lan truyền của hoạt động điện, cơ tử cung trở nên mẫn cảm hơn với các tác nhân gây CCTC, đặc biệt là oxytocin Estrogen làm tăng sự phát triển của lớp cơ tử cung và thuận lợi cho việc tổng hợp các PG từ màng rụng và màng ối
Progesteron có tác dụng ức chế cơn co tử cung Nồng độ progesteron giảm ở cuối thời kỳ thai nghén làm tăng tỷ lệ estrogen/ progesteron là tác nhân gây chuyển dạ [25]
1.2.4 Vai trò của Oxytoxin
Người ta đã xác định có sự tăng tiết oxytocin ở thuỳ sau tuyến yên của người mẹ trong chuyển dạ đẻ Tuy vậy oxytocin không đóng vai trò để gây chuyển dạ đẻ mà chủ yếu làm tăng nhanh quá trình chuyển dạ đang diễn ra [28]
1.2.5 Các yếu tố khác
Yếu tố thai nhi: thai vô sọ hoặc thiểu năng thượng thận thì thai nghén thường kéo dài, ngược lại nếu cường thượng thận sẽ gây đẻ non
1.3 Các phương pháp đình chỉ thai nghén cho thai từ 13 đến 20 tuần tuổi
1.3.1 Phương pháp ngoại khoa
1.3.1.1 Phương pháp nong và gắp đơn thuần
Tiến hành nong rộng CTC bằng cách sử dụng nong bằng kim loại, sau
đó dùng kẹp gắp thai và rau, nạo lại BTC bằng dụng cụ Phương pháp này chỉ
áp dụng với những thai ở giai đoạn đầu của ba tháng giữa
Trang 17Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Phương pháp này có nhiều nhược điểm như nong rộng CTC khó khăn, gây đau, thường gặp tai biến như rách CTC, thủng tử cung, tổn thương các tạng lân cận, nhiễm khuẩn, dính BTC… dẫn đến vô sinh sau này Hiện nay không còn sử dụng
1.3.1.2 Phương pháp nong và gắp có chuẩn bị CTC
Nong và gắp có chuẩn bị CTC là phương pháp chấm dứt thai nghén bằng cách sử dụng thuốc để chuẩn bị CTC, sau đó nong CTC và dùng bơm hút chân không kết hợp với kẹp gắp thai để lấy thai ra, thường áp dụng cho tuổi thai từ 13 đến 18 tuần [5, 9] Làm mềm và mở rộng CTC bằng ngậm cạnh má hoặc ngậm dưới lưỡi hoặc đặt âm đạo MSP 200 - 400 mcg [5, 42] Ngoài ra có thể chuẩn bị CTC bằng que nong Laminaria và Dilapan, hay tác động lên CTC để tăng giải phóng PG giúp CTC mềm và giãn ra [33, 34]
Ưu điểm là nong CTC dễ dàng và ít sang chấn, ít gây đau, tuy nhiên nó có một số tác dụng không mong muốn (TDKMM) như khó thở, buồn nôn, tụt huyết áp, đặc biệt là nguy cơ nhiễm khuẩn
Tai biến của phương pháp có thể gặp là choáng, thủng tử cung, rách CTC, chảy máu, nhiễm khuẩn…
1.3.1.3 Phương pháp mổ lấy thai hoặc cắt tử cung cả khối
Mổ lấy thai chỉ định cho những trường hợp có chống chỉ định với ĐCTN đường dưới, hoặc ĐCTN đường dưới thất bại hay có tai biến Tuy nhiên, khi
mổ gặp nhiều khó khăn do đoạn dưới tử cung chưa thành lập và cơ tử cung rất dầy nên thường phải rạch dọc đoạn dưới tử cung để lấy thai vì vậy làm tăng nguy cơ chảy máu và vỡ tử cung ở lần có thai sau
Phương pháp cắt tử cung cả khối là cắt bỏ tử cung hoàn toàn hoặc cắt tử cung bán phần mà không cần lấy thai ra trước Áp dụng cho các trường hợp có chống chỉ định với ĐCTN đường dưới và bệnh nhân có bệnh lý kèm theo nếu
để tử cung thì không có lợi cho bệnh nhân [5]
1.3.2 Phương pháp ĐCTN nội khoa- gây sẩy thai
Gây sẩy thai là phương pháp kích thích để tạo cơn co TC giống như chuyển dạ để đưa bào thai ra ngoài Phương pháp được ứng dụng rộng rãi nhất là gây sẩy thai bằng thuốc, dựa trên nguyên lý gây cơn co tử cung bằng
Trang 18Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
thuốc (dùng toàn thân hoặc tại chỗ) Oxytoxin và misoprostol là hai thuốc được sử dụng chủ yếu
1.3.2.1 Gây sẩy thai bằng truyền oxytoxin đường tĩnh mạch
Oxytocin được tổng hợp vào năm 1953 bởi Du Vigneaud nhà hóa học người Mỹ và đưa vào sử dụng Kể từ đó oxytocin được áp dụng rộng rãi trong sản phụ khoa [32].Ở giai đoạn ba tháng giữa thai kỳ, cơ tử cung có ít thụ thể (receptor) với oxytocin, đoạn dưới tử cung chưa thành lập và CTC dài nên oxytocin cần phải có nồng độ, liều lượng cao hơn để gây sẩy thai so với tác dụng gây chuyển dạ ở thai đủ tháng Nhược điểm là tỷ lệ thành công không cao
và thời gian thường kéo dài Hiện nay, thường chỉ định trong các trường hợp
có sẹo mổ cũ ở tử cung và một số trường hợp không dùng được các thuốc gây sẩy thai khác
1.3.22 Gây sẩy thai bằng Misoprostol
Các PG được biết đến như là một chất làm mềm mở CTC và gây sẩy thai, gây chuyển dạ từ đầu những năm 1970 Các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu, phát hiện ra các dạng PG với ít tác dụng phụ hơn
❖ Gây sẩy thai bằng MSP đơn thuần
Năm 1980, nhiều chất tương tự của PG đã được báo cáo là có hiệu quả cho ĐCTN như sulprostone, gemeprost Tuy nhiên, các thuốc này có nhiều TDKMM và chi phí cao nên không thích hợp cho ĐCTN [61] Năm 1989, báo cáo đầu tiên về hiệu quả của MSP cho ĐCTN ba tháng giữa được công bố Từ
đó đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra phác đồ sử dụng MSP với liều lượng, đường dùng, khoảng cách giữa các liều
để mang lại hiệu quả và độ an toàn cao nhất trong ĐCTN [39, 49, 54] Tại Việt Nam hiện nay MSP đơn thuần gây sẩy thai cho tuổi thai từ 13-22 tuần vẫn được khuyến cáo theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thai nghén [5] và vẫn được sử dụng trong ĐCTN tại cơ sở y tế tuyến tỉnh vì chi phí thấp
❖ Gây sẩy thai bằng cách sử dụng MFP kết hợp với MSP
Năm 1985, Philibert D và cộng sự đã báo cáo về sự kết hợp với chất đồng vận PG (phổ biến là MSP) làm tăng hiệu quả gây sẩy thai của MFP [45] Đến năm
Trang 19Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
1988, Cộng hòa Pháp là quốc gia đầu tiên cấp phép dùng MFP kết hợp cùng một chất đồng vận với PG trong sẩy thai sớm
Đối với phá thai tháng ba giữa, phương pháp kết hợp MFP và MSP cũng
đã dần trở nên được ưa chuộng Vai trò chủ yếu của MFP trong phá thai thuộc giai đoạn này là chuẩn bị CTC và giúp làm TC có phản ứng nhạy hơn với tác dụng của
PG, do đó giúp bước tiếp theo (sử dụng MSP) đạt hiệu quả cao hơn [56, 57]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu được công bố về sự phối hợp giữa MFP và MSP trong ĐCTN ba tháng giữa cho thấy hiệu quả vượt trội so với phác đồ dùng MSP đơn thuần [13, 22] Phương pháp phối hợp MFP và MSP để ĐCTN thai từ 13 đến 22 tuần đã có trong hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2009, phác đồ này được thay đổi theo hướng tăng liều lượng MSP và giảm khoảng cách giữa các liều MSP trong Hướng dẫn quốc gia
về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2016 [5]
Nghiên cứu đã xác định liều 200 mg MFP cho hiệu quả rất cao từ 92% - 98% và đã trở thành liều thông dụng khi kết hợp với MSP trong ĐCTN
1.4 Misoprostol và Mifepristone
1.4.1 Prostaglandin
Năm 1930, Kurzrok và Lieb (Mỹ) thấy tinh dịch người gây co thắt cơ tử cung Sau đó, Goldblatt (Anh, 1933) và Von Euler (Thụy Điển, 1935) phân lập được PG từ tinh dịch và cho rằng PG là do tuyến tiền liệt tiết ra nên đặt tên là prostaglandin Sau này người ta nhận thấy PG còn được sinh tổng hợp từ nhiều loại tế bào của cơ thể như: tử cung, mống mắt, tuyến ức, tụy, thận và khẳng định PG là hormon tại chỗ hay còn gọi là hormon của mô [61]
Prostaglandin được hình thành từ acid arachidonic dưới tác động của hydroxyprostaglandin dehydrogenase
15-Cấu trúc hóa học :
PG có cấu trúc cơ bản là một phân tử acid béo chưa no, có 20 nguyên tử carbon gồm một vòng năm cạnh và hai chuỗi nhánh
Hiện nay, đã biết được 09 nhóm PG được đặt tên từ nhóm A đến I phụ
thuộc và cấu trúc vòng carbon (trừ hai nhóm phát hiện đầu tiên là A và E) [18]
Sinh tổng hợp:
Trang 20Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Prostaglandin được sinh tổng hợp ở màng tế bào, dưới tác dụng của phospholipase A2 màng tế bào sẽ giải phóng ra acid béo bão hòa chứa 20 phân
tử C là acid arachidonic, là cơ chất của nhiều enzym để tạo ra các chất chuyển hóa khác nahu trong đó có PG [18]
Ở phụ nữ có thai, PG được tổng hợp ở màng rụng, màng ối Sự tổng hợp
PG chịu tác dụng của hormon sinh dục
Chuyển hóa và thải trừ:
Các PG nội sinh hay ngoại sinh đều nhanh chóng bị mạng lưới mạch máu của phổi, gan, thận làm mất tác dụng Con đường giáng hóa chủ yếu của PG là oxy hóa tại C15, tạo thành 15-ceto Prostaglandin không có hoạt tính sinh học 90% các sản phẩm chuyển hóa của PG thải qua nước tiểu Thời gian bán hủy của PG trong máu là 8 phút [18]
Tác dụng dược lý:
Cũng như các Steroid, PG là nhóm chất có cấu trúc tương tự nhau, nhưng tác dụng dược lý của các PG rất khác nhau tùy theo loại, liều lượng, loài và giới Các tác dụng dược lý của PG bao gồm: gây co hoặc giãn cơ tùy thuộc vào receptor, thay đổi tổ chức của CTC, ức chế bài tiết dịch dạ dày, thay đổi sự tập trung tiểu cầu, tăng tính thấm thành mạch, điều hòa thân nhiệt, giảm hormon steroid ở hệ sinh dục, ức chế hormon phân giải lipid, giải phóng chất dẫn truyền thần kinh [18] Về tác dụng trên TC, PGF2 gây co bóp tử cung Truyền tĩnh mạch PGF2 và PGE2 cho phụ nữ có thai làm tăng cơn co TC, tác dụng phụ thuộc vào liều
1.4.2 Misoprostol
Phát hiện từ năm 1973, là chất tổng hợp tương tự PGE1
Tên và công thức hoá học
Tên hoá học của MSP (cytotec) là: 15 deoxy-16 hydroxy-16 methy PGE1 Công thức hoá học: C22H38O5
Trọng lượng phân tử: 382,5 Dalton (glmol)
Trang 21Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Hình 1.2 Cấu trúc hóa học của misoprostol [77]
Dạng trình bày: viên nén 200 mcg
Biệt dược: Cytotec (Hoa Kỳ), Alsoben (Hàn Quốc), Misoprostol (Việt Nam)
Dược động học của misoprostol
Misoprostol hấp thu rất nhanh sau khi uống, tỷ lệ hấp thu trung bình là 88%, sau đó bị khử ester hoá rất nhanh tạo thành dạng acid tự do MSP dạng acid là dạng có hoạt tính chủ yếu của thuốc Nồng độ cao nhất trong huyết tương là 30 phút sau khi uống hoặc 01 - 02 giờ sau khi đặt âm đạo Thuốc thải trừ chủ yếu qua thận, hầu hết sau 24 giờ Thời gian bán huỷ là 20 - 40 phút
Hình 1.3 Phân bố nồng độ MSP trong huyết tương [51]
Sau khi dùng MSP tác dụng trên cơ TC duy trì được 4 giờ, do đó muốn duy trì tác dụng này phải tiếp tục sử dụng MSP Dùng thuốc đường âm đạo thì
Trang 22Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
nồng độ đỉnh và nồng độ trung bình trong huyết tương thấp hơn đường uống nhưng tác dụng kéo dài hơn [18, 58, 69]
Tác dụng trong sản khoa
- Tác dụng chín muồi và mở CTC trước khi nong, nạo, soi BTC Nó làm giảm nguy cơ tổn thương ở CTC và BTC, đồng thời khiến thủ thuật dễ tiến
hành và thời gian rút ngắn
- Tác dụng gây sẩy thai: MSP là chất có tác dụng gây sẩy thai ở bất kỳ
tuổi thai nào Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào tuổi thai và cách dùng
- Tác dụng điều trị sảy thai không hoàn toàn: MSP được coi như một
cách điều trị hay hỗ trợ điều trị sót rau sau sẩy
- Tác dụng điều trị thai lưu: MSP có tác dụng làm chín CTC và gây chuyển dạ ở mọi thời điểm khác nhau, đáp ứng của TC với thai chết lưu nhanh
hơn thai sống
- Tác dụng làm chín muồi CTC và gây chuyển dạ trong trường hợp thai
quá ngày sinh, thai bệnh lý, thiểu ối, ối vỡ non
- Tác dụng phòng và điều trị chảy máu sau đẻ [65, 66, 71]
Chống chỉ định
- Các nguyên nhân sản khoa: bất xứng thai và khung chậu, ngôi thai bất thường, suy thai, rau tiền đạo
- Tiền sử nhạy cảm với PG, rối loạn chức năng gan thận
- Các bệnh hen phế quản, giãn phế quản, Glaucome, Basedow
Các tác dụng phụ
Gây sốt, rét run, tiêu chảy, đau bụng, khó tiêu, táo bón, buồn nôn, tác dụng phụ thuộc vào liều lượng và đường sử dụng (đặt âm đạo ít tác dụng phụ hơn đường uống), các tác dụng này thường nhẹ và tự khỏi MSP ít có tác dụng lên hệ tim mạch, hô hấp so với các PG khác nên có thể dùng cho bệnh nhân cao
huyết áp, hen Các tác dụng phụ mất sau khi dùng thuốc 3-5 giờ [71]
Trang 23Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
thai [35, 68]
Liều lượng và khoảng cách dùng thuốc cũng có nhiều phác đồ khác nhau tùy mục đích sử dụng Có nhiều đường dùng MSP khác nhau: uống, đặt âm đạo, ngậm dưới lưỡi, ngậm cạnh má, đặt trực tràng
Tên hoá học: (11 - [4-(Dimethylanimo) Phenyl]-17-Hydroxgyl -17
[1- Propynyl] - (11ß, 17ß) - Estra - 4,9 - dien - 3 One)
Công thức hoá học là: C29H35N1O2
Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của Mifepristone [47]
Dạng trình bày, tên thương mại
Viên nén, bao thiếc hàm lượng 200 mg
Tên thương mại: mifepriston, mifeprex, mifestad, mifegyne…
Trang 24Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
trên cơ tử cung và nội mạc tử cung Progesteron rất cần thiết cho sự hình thành và phát triển thai nghén Chính cơ chế này của MFP có thể gây sẩy thai
Dược động học của mifepristol
MFP được dùng theo đường uống, sinh khả dụng của MFP khoảng 70% sau khi uống Nồng độ của MFP trong huyết tương đạt đỉnh vào thời điểm 1 giờ sau khi uống và kéo dài nồng độ trong 24 giờ Liều dùng của MFP từ 50
mg đến 800 mg Sau khi uống MFP được hấp thu vào máu, chuyển hoá tại hệ tuần hoàn Trên người, để ĐCTN dùng đường đặt âm đạo ít hiệu quả Khi dùng MFP để ĐCTN thì cần phải lựa chọn liều nhỏ nhất có tác dụng và đặc biệt lưu
ý trên những người suy gan suy thận vì độ thanh thải thấp (30 l/ngày) MFP không gắn kết với globulin cortisol và steroid sinh dục
Đường đào thải chủ yếu của MFP là qua phân, qua nước tiểu (< 10%) [64],[48]
Chỉ định dùng MFP
- Trong ĐCTN
Ứng dụng lâm sàng của MFP phần lớn là để ĐCTN Khi sử dụng đơn thuần trong giai đoạn đầu thai nghén MFP gây sẩy thai từ 60 - 80% [37, 74] Hiệu quả ĐCTN đạt đến trên 95% nếu dùng phối hợp PG sau 48 giờ
MFP được sử dụng để chuẩn bị cho ĐCTN ba tháng đầu cũng như ĐCTN
ba tháng giữa do có khả năng làm giãn nở và mềm CTC [46]
- Trong tránh thai
MFP được chứng minh là có hiệu quả tránh thai cao được dùng như một biện pháp tránh thai khẩn cấp sau giao hợp MFP có tác dụng tránh thai thông qua cơ chế làm hỏng niêm mạc tử cung ở liều thấp, mà ở liều này không làm thay đổi hormon khác trong kỳ kinh
- Trong điều trị bệnh lý phụ khoa
MFP cũng được thử nghiệm về các ứng dụng khác trong sản phụ khoa như điều trị lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung…
Chống chỉ định
- Suy tuyến thượng thận mạn tính
- Dị ứng với MFP
- Rối loạn chuyển hóa porphyrin
- Đang điều trị corticoid kéo dài
Trang 25Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
- Nghi ngờ chửa ngoài tử cung
- Bệnh nhân đang điều trị các bệnh lý về tim mạch
- Phụ nữ trên 35 tuổi và hút thuốc lá trên 10 điếu/ ngày
- Bệnh lý rối loạn đông máu, hoặc đang điều trị thuốc chống đông máu…
Tác dụng không mong muốn
TDKMM rất ít xảy ra sau khi uống MFP, có thể gặp là: nôn, buồn nôn, đau bụng Những TDKMM này thường nhẹ và không cần điều trị Hiếm khi
có ra máu âm đạo, nếu có ra máu âm đạo chỉ gặp với lượng rất ít
Liều lượng, cách dùng
Đường uống, liều duy nhất từ 200 mg đến 600 mg để ĐCTN Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, hiệu quả trong ĐCTN của thuốc không có sự khác biệt khi sử dụng liều 200 mg hay 600 mg vì vậy dùng liều thấp 200 mg sẽ giảm nhẹ
TDKMM của thuốc
1.5 Các nghiên cứu về phác đồ MFP phối hợp MSP để ĐCTN giai đoạn
ba tháng giữa
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Theo nghiên cứu của Webster D (1996) [53], Von Hertzen (2000) [55]và Lakshmi N (2015) [70] trong ĐCTN, liều đường uống 200 mg MFP có tác dụng tương đương liều 600 mg Theo nghiên cứu của Cheng L (1999) so sánh các liều 150 mg, 200 mg MFP đường uống sau đó dùng MSP để ĐCTN thì cho kết quả liều uống 200 mg MFP là tối ưu nhất [76]
Ashok và cs (2004) nghiên cứu đánh giá hiệu quả, độ an toàn và những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ĐCTN bằng thuốc ở tuổi thai 13 - 21 tuần trên
1002 phụ nữ, sử dụng 200 mg MFP, sau 36 - 48 giờ đặt âm đạo 800 mcg MSP sau đó tiếp tục dùng 400 mcg MSP đường uống hoặc đặt âm đạo 03 giờ/lần, kết quả có 02 người sẩy thai trước khi sử dụng MSP và 97,1% phụ nữ sẩy thai hoàn toàn sau 5 liều MSP, can thiệp ngoại khoa chiếm 8,1% [26]
Tang O S và cs (2005) nghiên cứu 120 phụ nữ có nguyện vọng ĐCTN với tuổi thai 12 - 20 tuần được chọn ngẫu nhiên để uống 200 mg MFP,sau 36 -
48 giờ ngậm dưới lưỡi hoặc uống MSP 400 mcg,lặp lại mỗi 03 giờ, tối đa 05 liều ĐCTN thành công ở nhóm ngậm dưới lưỡi MSP là 91,4% so với ở nhóm uống là 85,0%.Triệu chứng sốt gặp nhiều hơn ở nhóm ngậm dưới lưỡi còn các
Trang 26Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
TDKMM khác thì tương tự nhau [50]
Goh S E và cs (2006) nghiên cứu hồi cứu 386 phụ nữ ĐCTN tuổi thai
từ 12 đến 20 tuần Phác đồ 200 mg MFP đường uống, sau 36 - 48 giờ đặt âm đạo 800 mcg MSP sau đó đặt âm đạo liều 400 mcg lặp lại 3 giờ/lần, tối đa thêm
04 liều trong 24 giờ Nếu chưa sẩy thai, 03 giờ sau liều MSP cuối cùng lại uống
200 mg MFP, sau 12 giờ sử dụng MSP như đợt điều trị trước đó Kết quả 97,9
- 99,5% phụ nữ sẩy thai trong vòng 24 đến 36 giờ Có 01 trường hợp không sẩy thai sau 48 giờ và can thiệp ngoại khoa vì sót rau là 5% [35]
Nilas L và cs (2007) nghiên cứu hồi cứu 127 phụ nữ ĐCTN tuổi thai từ
13 đến 24 tuần nhằm so sánh hiệu quả giữa uống 200 mg MFP, sau đó 01 ngày hoặc 02 ngày dùng 400 mcg MSP đặt âm đạo và lặp lại 03 giờ/lần Kết quả thời gian để ĐCTN trong nhóm 01 ngày dài hơn so với nhóm 02 ngày (9,8 giờ so với 7,5 giờ, p < 0,01), tỷ lệ thành công 98% trong vòng 24 giờ ở cả hai nhóm [44]
Chai J và cs (2009) nghiên cứu 142 phụ nữ có tuổi thai từ 12 đến 20 tuần
có nguyện vọng ĐCTN, được phân ngẫu nhiên để uống 200 mg MFP đồng thời đặt âm đạo 600 mcg MSP hoặc 36-38 giờ sau đó đặt âm đạo 600 mcg MSP, sau
đó cả hai nhóm được đặt âm đạo 400 mcg MSP mỗi 03 giờ, tối đa 04 liều Tỷ
lệ thành công ở 24 giờ khác biệt đáng kể giữa hai nhóm (nhóm cách 36 - 38 giờ
là 100%, nhóm đồng thời là 91,5%) Thời gian ĐCTN trung bình cũng khác nhau, ở nhóm cách 36 - 38 giờ là 4,9 giờ ngắn hơn so với nhóm dùng đồng thời
là 10 giờ Triệu chứng sốt và rét run cũng gặp nhiều hơn ở nhóm dùng đồng thời [30]
Shuping Hou và cs (2010) nghiên cứu trên 100 phụ nữ ĐCTN thai từ 13 đến 16 tuần tuổi Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên, uống 200 mg MFP, sau 01 ngày hoặc 02 ngày được đặt âm đạo 600 mcg MSP Sau đó, cả 2 nhóm được uống 400 mcg MSP mỗi 06 giờ, tối đa 02 lần Kết quả tỷ lệ ĐCTN thành công
ở 24 giờ sau khi dùng MSP không có sự khác biệt giữa hai nhóm (94% so với 100%, p = 0,241) [38]
Tripti Nagariavà cs (2011) nghiên cứu trên 200 trường hợp ĐCTN ba tháng giữa được chia đều làm hai nhóm Nhóm nghiên cứu được uống 200 mg MFP, sau 12 giờ đặt âm đạo 600 mcg MSP, tiếp theo 400 mcg lặp lại 03 giờ/lần, đến khi ĐCTN xẩy ra hoặc tối đa 05 liều Nhóm chứng chỉ dùng MSP theo liều
Trang 27Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
tương tự Tỷ lệ thành công trong cả hai nhóm là 100% Nhóm kết hợp MFP có thời gian ĐCTN sau dùng liều MSP đầu tiên là ngắn hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng MSP đơn độc (6,72 ± 2,26 giờ so với 12,93 ± 3,4 giờ, p < 0,001) Các TDKMM ở cả hai nhóm đều tương tự như buồn nôn, sốt, đau bụng [43]
Mentula và cs (2011) nghiên cứu trên 227 phụ nữ ĐCTN thai từ 13 - 24 tuần, dùng MSP (400 mcg mỗi 03 giờ), 1 hoặc 2 ngày sau khi sử dụng MFP Thời gian sẩy thai trung bình của nhóm 1 ngày dài hơn so với nhóm 2 ngày (8,5 giờ so với 7,2 giờ, p = 0,038) Tỷ lệ sẩy thai trong 24 giờ ở hai nhóm tương ứng
là 95% và 94% Thời gian tính đến lúc sẩy thai trung bình của nhóm 1 ngày dài hơn nhóm 2 ngày khoảng 03 giờ đối với tuổi thai trên 16 tuần ở những phụ nữ chưa sinh bằng đường âm đạo Tỷ lệ phải nạo BTC vì sót rau ở nhóm 2 ngày cao lại hơn nhóm 1 ngày (25,2% so với 36,6%) nhưng không có ý nghĩa thống
kê Tỷ lệ chảy máu và nhiễm trùng không có sự khác biệt giữa hai nhóm [41]
Agarwal N và cs (2014) nghiên cứu trên 40 phụ nữ ĐCTN 13 - 20 tuần Phác đồ uống 200 mg MFP, sau 36 - 48 giờ đặt âm đạo 800 mcg MSP, sau đó đặt âm đạo 400 mcg MSP mỗi 03 giờ, tối đa thêm 04 liều (tối đa 2400 mcg) Kết quả thấy tỷ lệ sẩy thai hoàn toàn trong vòng 24 giờ là 95%, thời gian sẩy thai trung bình là 06 giờ, 10% phụ nữ đau nhiều cần thuốc giảm đau và triệu chứng sốt chiếm 25% [60]
Theo Dickinson J E và cs (2014) nghiên cứu ngẫu nhiên trên 302 phụ
nữ ĐCTN ở tuổi thai 14 đến 24 tuần Tất cả phụ nữ được uống 200 mg MFP, sau 24 - 48 giờ đặt âm đạo 800 mcg MSP Sau 03 giờ, được chia ngẫu nhiên để dùng 400 mcg MSP đường uống (100 người), đặt âm đạo (100 người), hoặc ngậm dưới lưỡi (102 người), lặp lại mỗi 03 giờ Thời gian ĐCTN kéo dài hơn
ở phụ nữ dùng MSP đường uống (9,5 giờ) so với âm đạo (7,4 giờ) và dưới lưỡi (7,8 giờ) Có 01 trường hợp vỡ tử cung ở nhóm đặt âm đạo là có sẹo mổ cũ ở
tử cung và tỷ lệ phải truyền máu là 1,7% [31]
Maninder Kaur và cs (2015) nghiên cứu tiến cứu trên 68 phụ nữ ĐCTN tuổi thai từ 13 đến 20 tuần Phác đồ uống 200 mg MFP, sau 48 giờ đặt âm đạo
400 mcg MSP và lặp lại liều 100 – 200 mcg MSP/4 - 6 giờ tuy tình trạng CTC, tiền sử phẫu thuật ở tử cung… tổng liều không quá 2400 mcg MSP Kết quả trong 48 trường hợp đạt tiêu chuẩn nghiên cứu thì sẩy thai hoàn toàn 36 (chiếm 75%), và có 12 (chiếm 25%) trường hợp sẩy thai không hoàn toàn, trong đó 8,3%
Trang 28Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
trường hợp cần can thiệp ngoại khoa, có 07 trường hợp với có sẹo mổ cũ thì sẩy thai hoàn toàn [68]
Akkenapally và cs (2016) nghiên cứu trên 100 phụ nữ ĐCTN thai14 đến
20 tuần Những phụ nữ này uống 200 mg MFP, sau 24 giờ đặt âm đạo 600 mcg MSP, sau đó ngậm dưới lưỡi 400 mcg MSP mỗi 03 giờ cho đến khi sẩy thai, hoặc tối đa là 05 liều Tỷ lệ thành công là 96% Thời gian ĐCTN trung bình 6,19 ± 2,70 giờ Lượng trung bình của MSP là 1046 ± 392,71 mcg [24]
1.5.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nguyễn Thị Như Ngọc và cs (2011) nghiên cứu trên 260 phụ nữ thai 14 -
21 tuần Những phụ nữ trong nghiên cứu được uống 200 mg MFP hoặc giả dược Sau 1 ngày, được ngậm cạnh má 400 mcg MSP, mỗi 03 giờ, đến 05 liều, hoặc cho đến khi sẩy cả thai nhi và rau thai Kết quả sẩy thai hoàn toàn trong vòng 15 giờ của nhóm có dùng MFP và nhóm giả dược là (79,8% so với 36,9%) Thời gian ĐCTN trung bình của nhóm được uống MFP và dùng MSP ngắn hơn đáng kể so với nhóm dùng MSP đơn thuần (8,1 giờ so với 10,6 giờ, p < 0,001) Các TDKMM không khác biệt đáng kể và tính chấp nhận của các phương pháp điều trị rất cao [22]
Nguyễn Thị Lan Hương (2012) nghiên cứu ĐCTN ở tuổi thai từ 13 - 22 tuần bằng thuốc với phác đồ: uống 200 mg MFP, sau 24 giờ ngậm cạnh má 400 mcg MSP, lặp lại sau mỗi 03 giờ, tối đa 05 liều trong đề tài đa trung tâm của Gynuity Kết quả tỷ lệ sẩy thai là 92,3%, tuy nhiên cần can thiệp vào BTC là 16,15% và thời gian sẩy thai trung bình 8,32 ± 3,72 giờ TDKMM gặp nhiều nhất là sốt chiếm 46,15% Biến chứng nhiễm khuẩn chiếm 0,77% và sót rau 0,38% 93,46% phụ nữ rất hài lòng và hài lòng với phương pháp điều trị [13]
Abaas D F, Nguyễn Thị Như Ngọc và cs (2016) nghiên cứu trên 509 phụ
nữ ĐCTN ba tháng giữa để so sánh sự kết hợp đồng thời của MFP và MSP so với khoảng thời gian 24 giờ Các phụ nữ được chia ngẫu nhiên để dùng 200 mg MFP đồng thời với MSP hoặc 24 giờ trước khi dùng MSP Những người tham gia được ngậm cạnh má 400 mcg MSP mỗi 03 giờ, đến 48 giờ hoặc cho đến khi sẩy thai Kết quả tỷ lệ sẩy thai trong vòng 24 giờ của nhóm đồng thời và nhóm sau 24 giờ tương ứng là 85,0% so với 94,4% Thời gian sẩy thai trung
Trang 29Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
bình nhóm cách 24 giờ ngắn hơn so với nhóm đồng thời (7,7 giờ so với 13 giờ,
p < 0,001) và liều MSP trung bình cần thiết lần lượt (03 so với 05, p < 0,001)
Cả hai phác đồ tương tự như nhau về TDKMM, điểm số đau và đều có tỷ lệ chấp nhận cao [23]
Trang 30Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn tất cả các bệnh án của sản phụ được điều trị tại BVPSTW từ 8/2015 đến tháng 10/2016 phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
- Một thai
- Các thai phụ có thuổi thai 13-20 tuần (tính theo ngày đầu kỳ kinh cuối hoặc siêu âm)
- Thai phụ không mắc các bệnh lý toàn thân
- Hồ sơ bệnh án ghi đầy đủ các thông tin cần thiết theo yêu cầu của nghiên cứu
- Được điều trị theo phác đồ: uống 200 mg MFP sau 24 giờ thì đặt âm
đạo 800 mcg MSP, tiếp theo mỗi 3 giờ lại ngậm dưới lưỡi 400 mcg MSP, tổng cộng 5 liều để ĐCTN
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Đa thai
- Tuổi thai ˂13 tuần hoặc ˃20 tuần
- Tử cung có sẹo mổ, TC dị dạng
- Thai phụ không mắc các bệnh lý toàn thân
- Hồ sơ bệnh án ghi đầy đủ các thông tin cần thiết theo yêu cầu của nghiên cứu
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
- Thời gian: từ tháng 01/2019 đến tháng 05/2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu