1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay

17 707 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các DN này có số lượng lớn, phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, nên mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đ

Trang 1

Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay

I/ Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới

1 Khái niệm về doanh nghiệp & doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1 Khái niệm về doanh nghiệp (DN)

Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một nền sản xuất kinh doanh nào tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ để bán, cung ứng cho khách hàng và thu lợi nhuận, dù hoạt động

đó chỉ là một cá nhân, một hộ gia đình, đều có thể coi là một doanh nghiệp Cùng cách hiểu này, Viện Thống kê và viện nghiên cứu kinh tế Pháp định nghĩa DN là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ để

bán Tuy vậy, trong các văn bản pháp quy của nước ta ranh giới thật rõ ràng “doanh nghiệp” hộ gia đình và doanh nghiệp khác vẫn còn nhiều vấn đề tranh cải Luật DN

được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X thông qua tại kỳ họp thứ 5, ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2000, Chương I,

Điều 3 nêu rõ: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Tiếp theo đó, Luật cũng đã định nghĩa kinh

doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoạc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Như vậy chính trong văn bản Luật cũng đã để một khoảng trống, rằng có hoạt động kinh doanh nhưng chưa hẳn đã là doanh nghiệp Bởi

vì, muốn trở thành doanh nghiệp thì phải có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định tất yếu phải có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo quy định của Luật doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể nếu không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là doanh nghiệp, cho dù hộ này vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp

1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)

Trong một nền kinh tế , có thể tuỳ theo các chỉ tiêu khác nhau mà người ta phân ra các loại doanh nghiệp khác nhau Theo ngành kinh tế có thế chia ra DN công nghiệp, DN nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; Theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt động công ích và DN SX-KD; Theo hình thức sở hữu thì có DNNN, DNDN và

DN có vốn đầu tư nước ngoài; Theo quy mô, mà chủ yếu là quy mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNNVV là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết tất cả các nước Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNNVV Các định nghĩa này có những điểm giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm ra một định nghĩa thống nhất mặc dù ai cũng biết rằng kinh doanh nhỏ và vừa thì khối lượng công việc ít hơn, đơn giản hơn là ở các DN lớn

Trang 2

Hiện nay không có tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô DN

ở các nước Ở mỗi nước, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà

có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định

Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước

Mỹ

Dưới 3,5 triệu USD Dưới 500 lao động

Dưới 3,5 triệu USD Dưới 500 lao động

Nhật Bản

Dưới 100 triệu Yên Dưới 300 lao động

Dưới 20 lao động

10 - 30 triệu Yên Dưới 100 lao động

Dưới 5 lao động

CHLB Đức

1 đến < 100 triệu DM

10 < 500 lao động

Dưới 1 triệu DM Dưới 9 lao động

1-100 triệu DM

10 < 500 lao động

Dưới 1 triệu DM Dưới 9 lao động

Philippin

15 - 60 triệu Peso Không quy định 1đ

< 15 triệu Peso Không quy định 1đ

15 - 60 triệu Peso Không quy định 1đ

< 15 triệu Peso Không quy định 1đ

Đài Loan 1,6 triệu USD

4 -10 lao động

1,6 triệu USD

4 - 10 lao động

(Nguồn: Đỗ Đức Định-Kinh nghiệm và cẩm nang phát triển DNNVV ở một số nước trên thế giới)

Xác định tiêu chí DNNVV ở Việt Nam

Cần thiết phải xác định DNNVV vì những lý do sau:

 Phục vụ cho việc thống kê và phân tích

 Để xây dựng và áp dụng chính sách

 Thiết kế và áp dụng các dịch vụ hỗ trợ phát triển

Từ nhiều năm trước, khi chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy định DNNVV, một số cơ quan nhà nghiên cứu đã đưa ra các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNNVV Có thể kể ra cách cách phân loại tiêu biểu sau:

Trang 3

- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí lao động và vốn của các ngành để phân biệt:

+ Trong ngành công nghiệp: DNNVV là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5-10 tỷ

đồng và có số lao động 200-500 người Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng với số lao động nhỏ hơn 200 người

+ Trong ngành Thương mại-Dịch vụ: DNNVV là tổ chức có số vốn từ 5-10 tỷ

đồng và có số vốn lao động từ 50-100 người

- Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5-10 tỷ đồng và số lao động từ 500-1000 người, DN nhỏ là DN có số vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người

- Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1-10 tỷ đồng

và có từ 100-500 lao động là DN vừa

Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí vốn và lao động thường xuyên để xác

định DNNVV vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu thức này Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và khó xác định

Để thống nhất tiêu chí xác định DNNVV, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định DNNVV Theo quy định này, DNNVV là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người Quy định tạm thời này chỉ tồn tại 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, Theo quy định tại Nghị định này, “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá

10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn

và lao động hoặc 1 trong 2 tiêu chí trên” Với tiêu thức phân loại mới này DNNVV ở nước ta chiếm tỷ trọng trên 90% trong tổng số DN hiện có, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Điều này phù hợp với tinh hình kinh tế của nước ta vốn là nền kinh tế sản xuất nhỏ và vừa là chủ yếu

2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam & thế giới

Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới; đặc biệt là các nước đang phát triển

nói chung và Việt Nam nói riêng, Các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, đóng vai trò hết sức quan trọng Đối với Việt Nam và cũng như tất cả các nước khác trên thế giới DNNVV cũng đều đóng một vai trò quan trọng, vậy vai trò các DNNVV như thế nào, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này

Trang 4

2.1 DNNVV góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

Đây là một thế mạnh rõ rệt của các DNNVV, và là nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta phải đặc biệt chú trọng phát triển loại hình doanh nghiệp này Các DN này có

số lượng lớn, phân bố rộng rãi từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, nên mặc dù số lao động làm việc trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông, với số lượng rất lớn DNNVV trong nền kinh tế đã tạo ra phần lớn việc làm cho xã hội Mặt khác, các DNNVV loại này mang tính tư hữu cao, dễ dàng

đa dạng hoá sản phẩm, kể cả các mặt hàng mà các DN lớn không sản xuất ra Sự lớn mạnh của các DNNVV đã làm tăng thu nhập của công nhân và giảm tỷ lệ thất nghiệp của mỗi địa phương nói riêng và toàn lãnh thổ nói chung

Ở các nước có nền kinh tế thị trường, các DNNVV thường tạo ra từ 70-90% việc làm cho xã hội Khi nền kinh tế suy thoái, các DN lớn phải cắt giảm lao động để giảm chi phí đến mức có thể tồn tại được vì cầu của thị trường thấp hơn cung Nhưng đối với các DNNVV do đặc tính linh hoạt, dễ thích ứng với thay đổi của thị trường nên vẫn duy trì hoạt động thậm chí vẫn phát triển Do đó các DNNVV vẫn có nhu cầu

về lao động Chính vì vậy, Hội đồng DN thế giới đã cho rằng: DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh tế suy thoái

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao và không ổn định, sức ép dân số, lao động lên đất đai, việc làm ở nông thôn chính là nguyên nhân của dòng di dân từ nông thôn ra thành phố, gây ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp Khu vực DNNVV thu hút khoảng 26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, mặt khác, các DNNVV đang là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động từ các DNNN dôi ra qua việc cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phá sản DN hiện đang được triển khai

Do các DNNVV có thể phát triển ở khắp mọi nơi trong nước, nên khoảng cách giữa nhà sản xuất và thị trường được rút ngắn lại, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng Chênh lệch giàu nghèo không đáng kể, mỗi người dân có thể là một ông chủ, mỗi gia đình có thể là một doanh nghiệp Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam còn khá thấp do kinh tế chậm phát triển Phát triển DNNVV ở thành thị và nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa dạng hoá thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các cùng trong nước

2.2 Các DNNVV góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong dân cư và

sử dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương

Với ưu điểm tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào ngõ ngách và yêu cầu số vốn ban đầu không nhiều, mặt khác các DNNVV trong quá trình hoạt động, các DNNVV có thể huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thuộc Chính vì vậy, DNNVV được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các khoản vay tiền nhàn rỗi trong dân cư và biến nó thành các khoản vốn đầu tư Nguồn

Trang 5

vốn được trích từ trong dân là nguồn vốn rất quan trọng, ở Trung Quốc nguồn ngân sách quốc dân có tới 75% là vốn từ trong dân, mặt khác nguồn vốn trong dân được sử dụng tối đa tránh được việc gia tăng mức cung tiền trên thị trương, bình ổn thị trường tài chính Những đồng tiền nhàn rỗi từ trong dân được sử dụng để tạo thêm giá trị gia tăng, đem lại một giá trị to lớn cho nền kinh tế

Với quy mô vừa và nhỏ, lại được thành lập phân tán ở hầu khắp mọi nơi nên DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, về nguyên vật liệu với trữ lượng hạn chế, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất lớn, nhưng sản có ở địa phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của các DN lớn Điều này cũng rất hợp lý đối với nước ta, vốn là một nước có nền kinh tế lạc hậu, trình độ phát triển chậm, cách kinh doanh nhỏ lẽ là thích hợp nhất đối với đại đa số bộ phận người dân Mặt khác hơn 70% lao động tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp, đạc điểm của ngành nông nghiệp là tính thời vụ cho nên có một bộ phận lao động thất nghiệp tạm thời và lao động nhàn rỗi tự nhiên, khi sử dụng mô thức kinh doanh này chắc chắn sẽ tận dụng tối đa các lao động nhàn rỗi, mặt khác góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn

2.3 Các DNNVV chiếm tỷ trọng cao trong tổng số các Cơ sở SX-KD và ngày càng gia tăng mạnh

Phần lớn các nước trên thế giới, số lượng các DNNVV chiếm khoảng 90% tổng

số doanh nghiệp Tốc độ tăng số lượng các DNNVV nhanh hơn số lượng các DN lớn Các DNNVV hoạt động phổ biến trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, từ công nghiệp thủ công truyền thống đến các ngành công nghiệp kỹ thuật cao Do đặc tính của mình mà các DN này rất dẽ dàng thích nghi với điều kiện kinh doanh, vốn không lơn, mô thức kinh doanh và quản lý gọn nhẹ và đơn giản, đây là một thế mạnh mà chúng ta không thể nào phủ nhận được Một quy luật tất yếu của nền kinh tế cũng như cho toàn XH đó là sự tồn tại song song và hổ trợ lẫn nhau của các bộ phận cấu thành nên xã hội

2.4 Các DNNVV có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế

Chúng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50%GDP ở mỗi nước Riêng ở Việt Nam, mỗi năm các DNNVV đóng góp khoảng 25% GDP của cả nước Các DN này có nhiều thuận lợi trong việc khai thác những tiềm năng phong phú trong nhân dân, từ trí tuệ, tay nghề tinh xảo, vốn liếng, ngành ngề truyền thống…Chỉ cần dùng một phép tính rất đơn giản ta có thể nhận thấy rằng sự đóng góp của các DNNVV đối với không chỉ nước ta mà cả với các nước khác là không hề nhỏ, tuy nó nhỏ nhưng số lượng rất đông đảo, lại rất đa dạng về lĩnh vực ngành nghề

2.5 Các DNNVV là nhân tố quan trọng tạo sự năng động nề kinh tế trong cơ chế thị trường, đóng góp trong việc lưu thông và xuất khẩu hàng hoá

Trang 6

Với quy mô nhỏ lại năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh cùng với hình thức tổ chức kinh doanh sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hóa mềm dẻo, hoà nhịp cùng với những đòi hỏi từ nền kinh tế thị trường nên các DNNVV có vai trò

to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường DNNVV có nhiều

cơ hội đễ thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ

Khi nền kinh tế phát triển, tạo nhiều cơ hội kinh doanh mới, sức mua tăng lên nhu cầu lớn hơn, các DNNVV rất nhạy bén trong việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh thu Diều này rất khó thực hiện ở các DN lớn khi muốn đa dạng hoá mặt hàng sản xuất Đối với các DN lớn, DNNVV cũng có thể làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hoá hoặc cung cấp các vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, do đó góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu sản xuất cho DN lớn

Đây là thế mạnh rất riêng của các DN này cho nên số lượng của các DNNVVngày càng đông về số lượng và đa dạng về chủng loại, những DN này góp phần đáp ứng cho bộ phận thị trường người tiêu dùng và là nguyên liệu đầu vào cho các DN lớn

2.6 Các DNNVV có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của các DNNVV sẽ thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lam cho công nghiệp phát triển, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại dịch vụ, làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông thôn trong cơ cấu kinh tế quốc dân, đặc biệt là ở nông thôn

Với tính chất nhanh nhạy và dễ dàng bắt kịp với những thay đổi hay biến động của thị trường, các DNNVV luôn đóng vai trò đi dầu trong mọi biến động trên cả hai phương diện, thứ nhất các DNNVV sẽ là bước thử nghiệm sự thay đổi, thứ hai nó sẽ đóng vai trò là những bản thảo, tích lũy được các kinh nghiệm đương đầu với sự thay đổi cho các doanh nghiệp lớn Sau khi có bước thay đỏi thành công nó sẽ là mô hình hoàn hảo nhất cho sự thay đổi của các DN lớn, từ đó làm bước đệm thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi để phù hợp với tình hình mới và quy luật kinh tế mới

2.7 Các DNNVV góp phần dân chủ hoá nền kinh tế, duy trì sự tự do cạnh tranh và có khả năng ứng biến nhanh nhạy

DNNVV chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vài trò quan trọng trong việc tập trung lực lượng kinh tế, lực lượng lao động Sự phát triển không ngừng của các DNNVV góp phần phân phối theo chiều hướng tương đối công bằng, mặt khác huy động nguồn sức lao động lớn trong xã hội vào hoạt động sản xuất theo quy trình phân công LĐXH

Tự do kinh doanh là con đường tốt nhất phát huy tiềm lực Ở các DNNVV, tình trạng độc quyền không xảy ra, họ sẵn sàng chấp nhận tự do kinh doanh So với các xí nghiệp lớn, các DNNVV có tính tự chủ cao, không ỷ lại sự giúp đỡ của nhà nước, sẵn sàng khai thác các cơ hội để phát triển mà không ngại rủi ro

Trang 7

Với những ưu thế nhỏ gọn, năng động, dễ quản lý; các DNNVV rất linh hoạt trong việc học hỏi và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên Do đó, các DNNVV sẽ có khả năng ứng biến nhanh nhạy, thay đổi hoàn cảnh, tự điều chỉnh tổ chức sản xuất

2.8 Các DNNVV là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp

Các DNNVV góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện một đội ngũ doanh nhân, ươm mầm các tài năng kinh doanh Kinh doanh qui mô nhỏ sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà doanh nhân làm quen với môi trường kinh doanh Bắt đầu từ kinh doanh qui ô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh các doanh nghiệp sẽ trưởng thành lên thành những nhà doanh nghiệp lớn

Đây cũng là một quy luật tất yếu đối với một nhà quản lý, điểm tích lũy sẽ hình thành khi họ tham gia vào thị trường lao động, không con đường nào khác những nahf quản lý DN lớn thành đạt đều xuất thân từ việc quản lý thành công một doanh nghiệp nhỏ và vừa Mọi bước chạy của những con người thành đạt đều xuất thân từ những bước chập chững ban đầu và môi trường kinh doanh của các DNNVV sẽ là nơi thử sức và trau dồi cho những nhà quản lý ngương doanh ngiệp lớn hơn trong tương lai

Tóm lại, DNNVV có nhiều ưu thế và đóng vai trò quan trọng trong việc phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó không có tính loại trừ một quốc gia nào trong đó

cá cả Việt Nam DNNVV ngày càng thể hiện được tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng của mình đến mọi mặt, tầm ảnh hưởng của nó mang diện rộng trên toàn thế giới, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay nó thay đổi như thế nào và xu hướng chủ đạo của nó trong trương lai sẽ ra sao, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu vấn đề này ở những phần sau

II/ Những khó khăn, thách thức của DNNVV trong xu thế hội nhập hiện nay

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay thì nền kinh tế không thể tránh khỏi việc bị tác động, mức tác động được biến đổi tùy theo cường độ và sự thay đổi từng lĩnh vực và từng khía cạnh của nên kinh tế - xã hôi Các DNNVV cũng không nằm ngoài các quy luật đó

1 Tác động của hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế Việt Nam

Mọi tác động đều mang tính hai mặt, khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa nền kinh tế nước ta đứng trước thế và lực mới Những thời cơ và thách thức đem lại từ việc mở cửa sẽ góp phần thay đổi bộ mặt nền kinh tế nước nhà

1.1 Những thời cơ khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế

Hội nhập kinh tế toàn cầu là một trong những hiện tượng nổi bật nhất của cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thiên niên kỷ mới này Đặc điểm nổi bật của hội nhập kinh tế là sự gia tăng các luồng thương mại và đầu tư giữa các nước trên thế giới Trong một thế giới đang toàn cầu hoá, sự mở cửa các nền kinh tế nội địa, sự tăng cường của các thể chế kinh tế quốc tế, và quyền lực của các công ty xuyên quốc gia đã

Trang 8

đóng góp vào việc thúc đẩy cấu trúc thị trường được hội nhập trên phạm vi toàn cầu Ngày nay, hội nhập kinh tế là một xu hướng không thể tránh khỏi đối với tất cả các quốc gia trên thế giới

Việc hội nhập có hiệu quả vào hệ thống thương mại thế giới đòi hỏi mức độ tự

do hoá cao của mỗi nền kinh tế Hội nhập kinh tế toàn cầu có thể mang lại những lợi ích lớn cho các nước tham gia vào quá trình này Mở cửa thương mại, tài chính và đầu

tư quốc tế đã đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và các mục tiêu phát triển Hội nhập thương mại quốc tế cho phép các nước chuyên môn hoá sản xuất

để đạt được tính kinh tế của quy mô sản xuất Đối với các nước có lợi thế so sánh như nguồn lực tự nhiên dồi dào, lao động rẻ,… có thể thúc đẩy việc phân phối nguồn lực

có hiệu quả hơn và đẩy mạnh khả năng xuất khẩu của họ để đạt được lợi ích kinh tế tối ưu

Mở cửa hội nhập sẽ giúp chúng ta tiếp cận được những cái mới trong lĩnh vực công nghệ, cả công nghệ quản lý và cả công nghệ trong sản xuất Bước chuyển biến trong việc tiếp thu công nghệ sẽ góp phần làm thay đổi hiệu suất sản xuất, tăng năng suất lao động Những bước tiến công nghệ sẽ giúp chúng ta tiến xa hơn trong sản xuất

và kinh doanh Hàm lượng công nghệ trong mỗi sản phẩm sẽ góp phần là tăng tính cạnh tranh cũng như chất lượng của từng sản phẩm Nhưng bước tiến quan trọng nhất trong việc hội nhập mở cửa và tiếp thu công nghệ đó là công nghệ quản lý, chính sự quản lý chuyên nghiệp sẽ làm thay đổi cách thức làm việc và tác phong công nghiệp trong sản xuất, thay đổi được thói quen tập tục gắn liền với nông nghiệp của Việt Nam

Mở cửa thương mại quốc tế cũng chính là một bước mở cửa thị trường, thị trường rộng mở là điều mơ ước của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thương mại Tận dụng được lợi thế trong mở cửa thị trường sẽ tận dụng được các thời cơ và

cơ hội kinh doanh lớn Khi mở cửa thị trường sẽ thúc đẩy được sự cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp phải tự thân vận động, cả nền kinh tế cũng vận động để thay đổi để phù hợp với nhu cầu của tình hình mới, cũng là phù hợp với quy luật tất yếu của sự vận động và biến đổi

Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa là thời cơ mà chúng ta nên chớp lấy

để phát triển nền kinh tế, trong đó các DNNVV cũng tự tạo được những thuận lợi được đưa tới từ việc mở cửa và hội nhập này Tuy nhiên, thời cơ lớn thì thách thức quả thực là không nhỏ, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu điều này ở phần tiếp theo

1.2 Những thách thức khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đối với nền kinh tế

Do mức độ phát triển thấp, nên những thách thức hội nhập mà Việt Nam phải đương đầu là rất lớn Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của chính sách mở cửa kinh

tế, với những điều kiện ít thuận lợi hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Ví

dụ như khi gia nhập vào WTO, Việt Nam sẽ áp dụng hệ thống các nguyên tắc MFN và

Trang 9

đối xử quốc gia đối với tất cả các thành viên của WTO và hàng hoá và dịch vụ của họ.

Vì vậy, thách thức mà Việt Nam phải đối mặt hiện nay là làm thế nào để bảo đảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của quốc gia nói chung Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam được cho là có khả năng cạnh tranh thấp so với các nước khác trong khu vực Bằng việc tự do hoá nhanh chóng thị trường của mình, kể cả các ngành công nghiệp còn non trẻ, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khắc nghiệt từ các đối thủ kinh doanh nước ngoài Việc mở cửa thị trường cho hàng hoá, đầu tư và dịch vụ nước ngoài, và những cam kết của Việt Nam để tạo ra một môi trường thuận lợi cho kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nhân nước ngoài có được sự tiếp cận rộng hơn đối với thị trường Việt Nam Một số ngành có khả năng cạnh tranh thấp như dịch vụ, sẽ bị đặt vào những tình thế bất lợi, dẫn đến những tác động xấu đối với nền kinh tế nói chung Ngoài ra, do còn nhiều yếu kém, các doanh nghiệp nội địa khó có thể đầu tư ra nước ngoài để khai thác lợi thế về đối xử ưu đãi mà Việt Nam sẽ nhận được thông qua việc hội nhập nền kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hóa Hậu quả là Việt Nam có thể trở thành một nhà máy khổng lồ của các công ty nước ngoài

Đối với ngành nông nghiệp, vòng đàm phán thương mại Doha đã đặt ra những yêu cầu khó khăn hơn đối với ngành nông nghiệp của các thành viên mới, như, xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu, thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế an toàn thực phẩm, xoá bỏ hàng rào bảo hộ và giảm thuế nhập khẩu lương thực Do vậy, ngành nông nghiệp Việt Nam

sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn khi đất nước gia nhập WTO Kết quả là sẽ

có sự sụt giảm trong thu nhập bình quân đầu người của khu vực nông nghiệp, dẫn đến

sự bất bình đẳng ngày càng tăng giữa khu vực nông thôn và thành thị khi chúng ta mở cửa thị trương quốc tế và gia nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế lớn này

Về phía người lao động, việc mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong

xu thế toàn cầu hóa sẽ gây ra một số bất lợi cho họ Những thách thức trong việc mở cửa thị trường và xoá bỏ trợ cấp nhà nước và sự bảo hộ trong một số ngành sẽ dẫn tới việc thu hẹp hoặc đóng cửa nhiều doanh nghiệp khiến cho tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Trong những trường hợp như vậy, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam không có khả năng hỗ trợ những người cần sự giúp đỡ, do Việt Nam vẫn chưa có mạng lưới bảo hiểm thất nghiệp Cho đến nay, mới chỉ có 12% lực lượng lao động được hệ thống bảo hiểm xã hội bảo vệ Người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc khu vực nông nghiệp vẫn không được bảo vệ Những khó khăn này đặt người lao động Việt Nam vào những tình thế rất dễ bị tổn thương Ngoài ra, hội nhập kinh tế thông qua WTO cũng sẽ làm cho khoảng cách về thu nhập giữa lao động có kỹ năng và không có kỹ năng, giữa nông thôn và thành thị ngày càng rộng Đặc biệt, cơ hội cho người nghèo ở nông thôn tham gia vào các hoạt động được toàn cầu hoá là rất ít do phần lớn trong số họ là những người lao động không qua đào tạo

Trang 10

Với Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung, việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế không phải là một bảo đảm rằng nền kinh tế sẽ phát triển nhanh chóng, thuận lợi Lý thuyết và thực tế cho thấy tư cách thành viên mới chỉ

là chiếc vé để tham gia vào một trò chơi Thành công đòi hỏi Việt Nam phải có những

nỗ lực vượt bậc trong nhiều lĩnh vực để nắm bắt những cơ hội và giảm thiểu những tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập này Tư cách thành viên mà Việt Nam sẽ đạt được là một cơ hội để Việt Nam phát triển nhanh nền kinh tế, đồng thời, nó cũng mang lại những thách thức lớn khi tham gia vào tổ chức WTO Nhưng đó là thách thức trong cơ hội, và thách thức cũng mang lại những cơ hội Bằng việc tái cấu trúc nền kinh tế và khung khổ thể chế, tăng khả năng cạnh tranh quốc gia,… Việt Nam có thể vượt qua được những khó khăn và gặt hái những lợi ích từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày càng tăng này

Mở cửa nền kinh tế của mình, có nghĩa là nước đó sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ những đối thủ nước ngoài Hậu quả là, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các DNNVV thiếu khả năng cạnh tranh sẽ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc đi đến phá sản Nếu không có các chiến lược phát triển thích hợp của Chính phủ

và bản thân các doanh nghiệp, nền kinh tế sẽ phải chịu nhiều tổn thất từ hội nhập kinh

tế Các DNNVV đang như con thuyền bé lênh đênh giữa đại dương rộng lớn, thị trường thế giới sẽ trở thành một chiến trường khốc liệt hơn bao giờ hết, cuộc đấu sẽ luôn tiếp diễn đòi hỏi các DNNVV phải không ngừng hoàn thiện mình và phát triển

Mở cửa tức là chấp nhận bước vào cuộc chơi mà thôi, ai yếu thế và không sẵn sàng bước vào cuộc chơi sẽ bị loại bỏ Mô hình liên doanh liên kết giữa các DNNVV sẽ trở thành một khối đoàn kết, giúp cho các DNNVV có thể vượt qua được những trở ngại trước mắt

Để thành công trong quá trình hội nhập kinh tế, các nước không nên chỉ dựa vào những lợi thế so sánh mà họ có Thực tế đã cho thấy rằng những lợi thế to lớn mà nhiều quốc gia đang phát triển có được với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động rẻ và dồi dào… đã không phải là chiếc chìa khoá vàng dẫn các nước này đến sự thịnh vượng Điều quan trọng là, các nước phải nắm bắt được lợi thế cạnh tranh thông qua tri thức, sự đổi mới và nguồn vốn con người để đạt được mục tiêu tăng trưởng bền vững

2 Những khó khăn và thách thức đặt ra với DNNVV

Tuy có được những điều kiện rất thuận lợi song các doanh nghiêp nhỏ và vừa đang đứng trước những thách thức không nhỏ Đặc biệt là trong xu thế hội nhập đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc về tất cả mọi mặt, thách thức đặt ra cho các DNNVV và phải vượt qua được các thử thách là điều tất yếu trong quy luật phát triển của DNNVV 2.1 Những khó khăn đối với DNNVV

2.1.1 Bất cập về trình độ quản lý và công nghệ

Ngày đăng: 20/10/2013, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước - Doanh nghiệp nhỏ và vừa với những khó khăn, thách thức trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay
Bảng 1 Tiêu thức phân loại DNNVV của một số nước (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w