1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến - RFID và ứng dụng : Luận văn ThS. Công nghệ thông tin: 1 01 10

91 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu đặt ra đối với đề tài là: - Dựa trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu thực tế công tác giám sát và quản lý chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện hiện nay của Tổng công ty Bưu chính Vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Ngô Quang Lựa

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ NHẬN DẠNG BẰNG TẦN SỐ VÔ TUYẾN- RFID VÀ ỨNG DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Ngô Quang Lựa

NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ NHẬN DẠNG BẰNG TẦN SỐ VÔ TUYẾN- RFID VÀ ỨNG DỤNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan : Luận văn “ Nghiên cứu công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến – RFID và ứng dụng” là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy Cô trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc Gia

Hà Nội và các thầy cô Viện Công nghệ Thông tin đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt những năm học ở trường

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Đoàn Văn Ban đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 2009

Tác giả luận văn

Ngô Quang Lựa

Trang 4

MỤC LỤC

BẢNG THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU 7

DANH MỤC HÌNH VẼ 8

MỞ ĐẦU 9

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 10

1.1 Hiện trạng công tác giám sát và quản lý chất lượng dịch vụ Bưu phẩm, Bưu kiện của Bưu chính Việt Nam và thế giới 10

1.1.1 Bưu chính Thế giới 10

1.1.2 Bưu chính Việt Nam 14

1.1.3 Chỉ tiêu về độ chính xác 16

1.1.4 Chỉ tiêu về độ an toàn 17

1.1.5 Chỉ tiêu về sự tiện lợi hay khả năng truy nhập dịch vụ 18

1.1.6 Chỉ tiêu phản ánh sự văn minh hay chất lượng phục vụ 18

1.1.7 Sự hài lòng của khách hàng 20

1.2 Thực trạng công tác giám sát, quản lý chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện của Bưu chính Việt Nam 20

1.2.1 Công tác kiểm tra đánh giá 20

1.2.2 Những vấn đề tồn tại 21

1.3 Một số biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện của Bưu chính Việt Nam 22

1.3.1 Tăng cường công tác đào tạo cho cán bộ công nhân viên 22

1.3.2 Chú trọng công tác điều tra, nghiên cứu thị trường 22

1.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý chất lượng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến ISO-9000 22

1.3.4 Tăng cường công tác thống kê, kiểm tra, đánh giá chất lượng 22

1.3.5 Nghiên cứu, triển khai công nghệ mới phục vụ cho ngành bưu chính 22

1.4 Công nghệ RFID 23

1.4.1 Các thành phần chính của hệ thống RFID 23

1.4.2 Nguyên tắc hoạt động của hệ thống 34

1.4.3 Một số chuẩn về RFID 35

1.4.4 Ưu và nhược điểm của hệ thống RFID 38

1.5 Các ứng dụng của RFID đối với ngành Bưu chính tại một số quốc gia 40

1.5.1 Ứng dụng đối với thùng thư 42

1.5.2 Ứng dụng cho từng mức bưu gửi 43

1.5.3 Một số ứng dụng khác 45

CHƯƠNG II ỨNG DỤNG RFID CHO VIỆC QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN 47

2.1 Đề xuất hướng ứng dụng RFID trong một số hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh dịch vụ Bưu chính 47

2.2 Hệ thống lưu vết, tìm dấu bưu phẩm, bưu kiện 48

2.2.1 Mô tả chức năng cơ bản của hệ thống 48

2.2.2 Tổ chức hệ thống 49

2.2.3 Các thành phần của hệ thống 50

2.2.4 Ưu điểm của hệ thống 52

2.2.5 Tính khả thi của hệ thống 52

2.3 Hệ thống thư kiểm tra (Hệ thống Test Mail) 53

2.3.1 Mô tả chức năng cơ bản của hệ thống 53

2.3.2 Ưu điểm và tính khả thi của hệ thống 54

CHƯƠNG III XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ BƯU PHẨM BƯU KIỆN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ RFID 56

3.1 Phân tích hệ thống kỹ thuật 56

3.1.1 Mô hình chung của hệ thống 56

3.1.2 Mô hình vận hành hệ thống 57

3.1.3 Mô tả chức năng hệ thống 57

3.1.4 Kiến trúc chung của hệ thống Test Mail 58

Trang 5

3.1.5 Hệ thống Test Mail Client 59

3.1.6 Hệ thống Test Mail Center 61

3.2 Thiết kế hệ thống 62

3.2.1 Tác nhân của hệ thống 62

3.2.2 Mô hình Use Case chức năng hệ thống 62

3.2.3 Thiết kế cơ sở dữ liệu 69

3.3 Các yêu cầu khi phát triển hệ thống RFID 72

3.3.1 Môi trường và yêu cầu của hệ thống 72

3.3.2 Điều kiện về bảo mật 75

3.3.3 Yêu cầu đảm bảo tuân theo quy định của nhà nước về tần số sử dụng công nghệ RFID 78

3.4 Cài đặt hệ thống Test Mail 80

3.4.1 Một số hình ảnh hệ thống TEST MAIL 81

3.4.2 Một số hình ảnh hệ thống cổng giám sát 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

Bưu chính

tiêu chuẩn thế giới

bộ

tần số vô tuyến

Viễn thông Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tỷ lệ đạt chuẩn về thời gian toàn trình của thƣ nội tỉnh 16

Bảng 1.2: Bảng kê trung bình (các đồ điện) 32

Bảng 1.3 Tổng dữ liệu theo dõi của hệ thống RFID 32

Bảng 1.4 Một số chuẩn RFID 37

Bảng 1.5: So sánh các công nghệ nhận dạng theo các tham số hệ thống 39

Bảng 3.1 Tính chất chung của thẻ RFID 75

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Các thành phần của hệ thống RFID 24

Hình 1.2: Hai thẻ RFID 26

Hình 1.3: Các thành phần của đầu đọc RFID 28

Hình 1.4: Các thành phần của phần mềm trung gian RFID 29

Hình 1.5: Đặt ứng dụng trực tiếp với đầu đọc RFID 30

Hình 1.6: Sử dụng phần mềm trung gian RFID 30

Hình 1.7: Các bộ lọc sự kiện 33

Hình 1.8: Trao đổi thông tin giữ thẻ và đầu đọc 35

Hình 1.9: Quy trình phát triển hệ thống RFID của DHL 43

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống 50

Hình 3.1: Mô hình chung của hệ thống Test Mail 56

Hình 3.2: Mô hình vận hành hệ thống 57

Hình 3.3: Sơ đồ chức năng của hệ thống Test Mail 58

Hình 3.4: Kiến trúc chung của hệ thống TestMail 59

Hình 3.5: Mô hình dữ liệu tại bưu cục 60

Hình 3.6: Mô hình dữ liệu tại Tổng công ty 61

Hình 3.7: Tác nhân hệ thống 62

Hình 3.8: Mô hình Use Case chức năng quản lý cổng giám sát 63

Hình 3.9: Mô hình Use Case chức năng nhận gửi thư 64

Hình 3.10: Mô hình hoạt động chức năng nhận gửi thư 65

Hình 3.11: Mô hình Use Case chức năng Quản lý thông tin định vị 66

Hình 3.12: Mô hình hoạt động chức năng Quản lý thông tin định vị 67

Hình 3.13: Mô hình Use Case chức năng Định vị thư 67

Hình 3.14: Mô hình hoạt động chức năng Định vị thư 68

Hình 3.15: Mô hình Use Case chức năng Đánh giá chất lượng dịch vụ 68

Hình 3.16: Mô hình hoạt động chức năng Đánh giá chất lượng dịch vụ 69

Hình 3.17: Mô hình quan hệ ER 71

Hình 3.18: Cơ sở dữ liệu nhóm chức năng hệ thống 72

Hình 3.19: Cơ sở dữ liệu nhóm chức năng nghiệp vụ 72

Hình 3.17: Giao diện cửa sổ chính hệ thống TEST MAIL 81

Hình 3.18: Giao diện cửa sổ chính hệ thống TEST MAIL 81

Hình 3.19: Giao diện cửa sổ quản lý cổng giám sát 82

Hình 3.20: Giao diện cửa sổ nhận gửi thư 83

Hình 3.21 : Giao diện cửa sổ quản lý thông tin định vị 84

Hình 3.22: Giao diện cửa sổ định vị thư 85

Hình 3.23: Giao diện cửa sổ đánh giá chất lượng dịch vụ 86

Hình 3.24: Giao diện cửa sổ in đánh giá chất lượng dịch vụ 87

Hình 3.25: Thẻ RFID 87

Hình 3.26: Bộ sạc cho đầu đọc thẻ 87

Hình 3.27: Đầu đọc thẻ RFID 88

Hình 3.28: Bộ giao tiếp với PC 88

Trang 9

Mục tiêu đặt ra đối với đề tài là:

- Dựa trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu thực tế công tác giám sát và quản lý chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện hiện nay của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, xác định yêu cầu và phạm vi của bài toán ứng dụng RFID vào việc quản

lý và nâng cao dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện ở nước ta

- Nghiên cứu công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID

- Đề xuất phương án xây dựng phần mềm ứng dụng RFID trong việc quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện

- Xây dựng thử nghiệm hệ thống phần mềm kết hợp với ứng dụng công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID hỗ trợ định vị bưu phẩm bưu kiện

Trang 10

- Về quyền sử dụng các dịch vụ bưu chính: Một số nước cố gắng cung cấp tất cả các dịch vụ bưu chính đến toàn bộ các khu dân cư, một vài tiêu chí khác như thời gian mở cửa bưu điện, khoảng cách từ bưu điện đến đường giao thông chính cũng được nhắc đến Ngoài ra, một thách thức lớn của dịch vụ bưu chính đó là phải đảm bảo cung cấp các dịch vụ này với giá cả mà khách hàng

có thể chấp nhận được, vì vậy cũng cần quan tâm đến một vài yếu tố khác như

về địa lý, tình trạng kinh tế, nền văn hóa, … để xây dựng được cơ sở hạ tầng

cơ bản cho ngành bưu chính nhằm đưa ra giá thành hợp lý cho các dịch vụ

- Phải thỏa mãn được khách hàng: Khách hàng là một thành phần quan trọng của bất cứ một ngành kinh tế nào, do đó quan tâm và thỏa mãn được khách hàng là yếu tố quan trọng để nâng cao được chất lượng dịch vụ bưu chính và tăng được doanh thu

- Tốc độ và độ tin cậy: Bưu chính là ngành vận chuyển, mang thông tin và hàng hóa Vì vậy, việc đảm bảo thông tin và hàng hóa được chuyển đến chính xác, nhanh chóng tới tay người nhận là rất quan trọng Nâng cao chất lượng dịch

vụ bưu phẩm, bưu kiện trong ngành bưu chính không thể bỏ qua yếu tố này

- An toàn và bảo mật: Trước tình hình tội phạm và khủng bố ngày càng gia tăng, việc kiểm tra hàng hóa và thư từ rất cần thiết để tránh những thiệt hại về người và vật chất Tuy nhiên, hàng hóa và thư từ của khách hàng cũng yêu cầu phải được đảm bảo bí mật và không để lộ thông tin cá nhân, tránh những rủi ro cho khách hàng, … là tiêu chí đang được đặt lên vị trí hàng đầu hiện nay

- Tiện lợi: Tiện lợi cho khách hàng khi tham gia dịch vụ, khiếu nại và các hoạt động khác Đối với nhân viên trong ngành có thể dễ dàng quản lý và thống kê được những thông tin cần thiết, như vậy chất lượng dịch vụ mới có thể nâng lên và có thể đưa vào những phương pháp mới

Những tiêu chí này là yêu cầu cơ bản trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ của ngành bưu chính, trong đó có cả bưu phẩm bưu kiện Bưu chính Việt Nam là thành viên của Liên minh Bưu Chính thế giới nên cũng phải tuân theo những qui định chung này Đối với mỗi nước, tùy thuộc vào đặc điểm riêng về kinh tế, văn hóa, con người ở nước mình mà áp dụng và thực thi cho phù hợp

Trước tình hình chung của thế giới, Bưu chính Việt Nam cần nỗ lực áp dụng khoa học công nghệ và cải tiến để nâng cao chất lượng dịch vụ, nhất là đối với bưu phẩm, bưu kiện, đặc biệt là trong tình hình Bưu chính tách ra hoạt động động lập với Viễn Thông hiện nay

Để nâng cao được chất lượng dịch vụ bưu phẩm-bưu kiện, việc áp dụng một phương pháp đánh giá chính xác là rất quan trọng Trên thế giới đã áp dụng nhiều công nghệ mới để xác định và thống kê thông tin hàng hóa gửi đi, hoặc đưa ra các dịch vụ như

Trang 11

chăm sóc khách hàng, tiến hành những cuộc khảo sát, thăm dò ý kiến, đầu tư cơ sở hạ tầng… tất cả chỉ với mục đích làm thế nào để cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ Tuy nhiên để đánh giá và quản lý được chất lượng dịch vụ là điều không phải dễ dàng Một vài phương pháp được đưa ra là:

- Xây dựng hệ thống chăm sóc khách hàng: thu thập, ghi nhận và quản lý những

ý kiến khách hàng đưa ra Thực hiện các cuộc điều tra, khảo sát đối với dịch

vụ để có những cải tiến phù hợp và kịp thời

- Nâng cao mạng lưới vận chuyển, kiểm tra bưu gửi nhằm đảm bảo được yếu tố thời gian và tính tin cậy

- Áp dụng công nghệ mới, xây dựng qui trình để kịp thời phát hiện hàng hóa nguy hiểm, có hệ thống kiểm tra, ghi nhận thư và hàng hóa thất lạc

- Cung cấp đầy đủ thông tin, các dịch vụ mới, các quy định về sử dụng dịch vụ, đền bù hàng hóa cho khách hàng nhằm tránh những rủi ro và mất thời gian không cần thiết

- Xây dựng hệ thống mới, tin học hóa các quá trình nghiệp vụ Đây là một giải pháp đang rất được quan tâm hiện nay, nhằm tiến tới hiện đại hóa trong ngành, theo kịp sự phát triển của công nghệ và thế giới

Trong bất cứ một ngành nào, việc nâng cao chất lượng dịch vụ là một việc làm cần thiết Bưu chính là một lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành khác, đặc biệt là Giao thông nên việc liên kết với những ngành này để cùng phát triển là rất quan trọng Năm

1999, VNPT đã kí kết với Cục Hàng Không dân dụng Việt Nam về việc kiểm tra an ninh đối với bưu gửi bay, nhằm tăng độ an toàn cho bưu gửi và giảm các thủ tục phiền

hà, tránh những trường hợp hàng hóa bị gửi trả do vi phạm những yếu tố an ninh Ngoài ra việc áp dụng khoa học Công Nghệ, tin học hóa nghiệp vụ của ngành là một nhiệm vụ quan trọng hiện nay, để đảm bảo chính xác và thuận tiện cho nhân viên trong ngành cũng như khách hàng, đồng thời việc giao dịch với Bưu chính quốc tế cũng dễ dàng hơn

Xây dựng một hệ thống để quản lý và kiểm tra chất lượng của dịch vụ bưu phẩm bưu kiện là một điều cần thiết Công nghệ RFID [10] là một công nghệ mới, hứa hẹn nhiều thành công và lợi ích trong việc này Hệ thống được xây dựng sẽ giúp thống kê, kiểm tra bưu gửi đến, giảm hàng hóa bị thất lạc, định vị chính xác bưu gửi đang ở đâu, từ đó

sẽ có những hành động kịp thời và giảm thiểu thiệt hại cho ngành bưu chính Một số phương pháp được áp dụng hiện nay để đánh giá chất lượng bưu chính là:

1 Thăm dò, khảo sát

Hàng năm, hoặc khi cần thiết tiến hành khảo sát và thống kê ý kiến khách hàng về các dịch vụ trong ngành, từ đó xác định cần thay đổi, cải tiến hoặc đưa ra những phương thức mới nào để nâng cao chất lượng dịch vụ trong ngành, đồng thời cũng thấy được sai sót để sửa chữa

2 Xây dựng hệ thống chăm sóc khách hàng

Khách hàng có thể đưa ra các yêu cầu, ý kiến thông qua điện thoại, email, internet Do đó, cần xây dựng hệ thống quản lý những thông tin này, đồng thời phản hồi kịp thời cho khách hàng Hệ thống này được xây dựng có sự tham gia của máy tính, giúp việc quản lý và theo dõi được dễ dàng, thuận

Trang 12

tiện hơn Từ đó, chúng ta có thể đưa ra được kết quả kiểm tra, độ đo về sự thỏa mãn của khách hàng như thế nào Trên thế giới có 2 phương pháp chính để đo sự thỏa mãn của khách hàng là:

Phương pháp đánh giá: Người dùng đưa ra đánh giá của mình Nhân viên bưu điện sẽ so sánh với tỉ lệ trung bình, từ đó đưa ra được nhận định của khách hàng về dịch vụ

Phương pháp “benchmarking”- điểm chuẩn: phương pháp này so sánh chất lượng bưu chính của các nước khác nhau với một điểm chuẩn có sẵn Đây là một phương pháp khá tốt và hiệu quả để nâng cao chất lượng dịch vụ

3 Thống kê hàng hóa, bưu gửi

Việc thống kê có hệ thống sẽ rất có hiệu quả trong quản lý và đánh giá xem dịch vụ nào được sử dụng và khiến khách hàng hài lòng nhất, cũng như những dịch vụ có chất lượng thấp nhất (hàng gửi không đến nơi, khách hàng phàn nàn, mất bưu gửi hoặc gửi không chính xác, …) Đây cũng là một cách thức rất hiệu quả để nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính

Ngoài ra, đầu tư cơ sở hạ tầng để nghiên cứu công nghệ và cải tiến qui trình nghiệp vụ cũng là yêu cầu lớn trong tình trạng hiện nay Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xu hướng toàn cầu hoá trong các ngành nghề, những thay đổi này sẽ giúp cho bưu chính Việt Nam hoạt động và kết nối tới thế giới nhanh chóng, hiệu quả hơn Bên cạnh các quy định và tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ bưu phẩm bưu kiện do liên minh bưu chính thế giới đưa ra như: đảm bảo an toàn, chính xác, nhanh chóng, nhiều nước cũng đã có những hoạt động đáng kể để nâng cao chất lượng dịch vụ, trong

đó phải kể đến Thuỵ Sỹ-là nước vừa được công nhận đạt chất lượng quản lý dịch vụ cao nhất của UPU năm 2006 Trước đó một nước công nghiệp khác cũng đã có được chứng nhận này là Đan Mạch Để cải tiến chất lượng dịch vụ, một số nước đã áp dụng công nghệ mới như RFID để giám sát, quản lý và lưu dấu vết hành trình của các bưu phẩm bưu kiện Bên cạnh đó, nhiều năm qua, UPU đã có những hoạt động nhằm hỗ trợ bưu chính các nước nâng cao chất lượng dịch vụ, nhằm tác động tích cực tới toàn bộ mạng lưới bưu chính quốc tế, nên công tác giám sát và quản lý đã có những cải tiến và quan tâm đáng kể Ứng dụng công nghệ được áp dụng và nhắc tới nhiều trong những năm qua là mã vạch Công nghệ này đã được triển khai đưa vào các dịch vụ bưu chính

để mã hóa địa chỉ, thay thế tem thông thường bằng e-stamp (áp dụng công nghệ mã vạch), lưu lại những thông tin về ngày tháng, giá cước, … giúp cho việc trao đổi và lưu dữ liệu hiệu quả hơn Những cải tiến này cũng quan tâm nhiều hơn đến quản lý đường thư và xác định những điểm tắc nghẽn, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và

dự phòng những rủi ro xảy ra trên đường vận chuyển thư Tùy theo điều kiện kinh tế,

sự phát triển khoa học kỹ thuật và tình hình địa lý, nhiều nước có những cải tiến khác nhau nhằm đạt được hiệu quả tối đa trong vận chuyển hàng và đảm bảo an toàn dịch

vụ cũng như gắn bó, liên kết hơn với bưu chính của các nước khác trên thế giới

a Các công nghệ được sử dụng

Trong nhiều năm qua, ngành bưu chính đã tích cực đưa những công nghệ mới vào sử dụng, một mặt giúp nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm lao động thủ công phức tạp cho người lao động, mặt khác là để theo kịp sự phát triển về khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới Những công nghệ phải được kể đến là:

Trang 13

- Mã vạch: công nghệ mã vạch đã được áp dụng vào lĩnh vực tem bưu chính (tem điện tử e-stamp) nhằm lưu lại mã của thư từ được gửi đi thay thế cho tem bưu chính thông thường

thác chia chọn các dịch vụ bưu phẩm bưu kiện, thư từ, EMS, … nhằm tự động hóa các khâu phân hướng, chia chọn tại trung tâm khai thác

- Công nghệ web, internet:

kết nối các vùng, khu vực khác nhau mà bưu phẩm, bưu kiện đi qua để đồng bộ dữ liệu và theo dõi định vị được bưu phẩm bưu kiện trong quá trình vận chuyển

+ Tất cả các máy tính đều được kết nối internet và liên kết với nhau, đảm bảo theo dõi được hoạt động của các đơn vị khác, liên thông và đồng bộ trong các hoạt động với nhau

- Công nghệ RFID: đây là công nghệ mới nhất đang được nghiên cứu và áp dụng ngày càng rộng rãi cho ngành bưu chính với nhiều mục đích:

+ Lưu vết, theo dõi định vị bưu phẩm, bưu kiện, thư từ

+ Theo dõi, kiểm tra thời gian toàn trình khi vận chuyển bưu phẩm bưu kiện trong hệ thống Test mail

+ Tiến tới bưu chính điện tử, với các thùng thư hay bưu gửi cũng được gắn thẻ RFID, giúp tự động và nhanh chóng xác định được vị trí bưu phẩm, bưu kiện

vào ứng dụng trong năm 2007

Ngoài các công nghệ này đã được đưa vào sử dụng cho việc giám sát quản lý đánh giá chất lượng bưu chính, việc áp dụng và tin học hóa các hoạt động nghiệp vụ của ngành cũng được thực hiện nhằm dần thay thế những hoạt động thủ công bằng máy móc tự động, lưu trữ dữ liệu trên máy tính và thực hiện các hoạt động bằng máy tính, giảm thiếu lao động bằng tay Với những cố gắng và nỗ lực này, ngành bưu chính đã có nhiều cải tiến cho chất lượng dịch vụ, thời gian toàn trình và mục tiêu cần đạt được khi vận chuyển bưu gửi tăng lên (các mục tiêu này được xét đến với tỷ lệ hài lòng khách hàng, thư gửi đảm bảo thời gian đưa ra, tốc độ chuyển phát, tính ổn định và an toàn khi gửi thư)

Việc áp dụng những công nghệ mới vào ngành bưu chính là yêu cầu cấp thiết để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ và cải tiến công tác giám sát cho ngành trong điều kiện bưu chính ngày càng phát triển mạnh mẽ với tỷ lệ bưu gửi được gửi đi hàng năm ngày càng tăng Bưu chính Việt Nam cũng đã áp dụng internet, mã vạch cho ngành bưu chính nhưng công nghệ RFID hiện tại vẫn là chưa khả thi do giá cả và yêu cầu bảo mật cho công nghệ này vẫn còn chưa triệt để, không phù hợp tình hình kinh tế của Việt Nam Trong một vài năm tới, áp dụng công nghệ mới này là hoàn toàn có thể để có thể kết nối với thế giới trong hoạt động bưu chính chung

b Xu hướng công nghệ ứng dụng trong việc giám sát chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện

Trang 14

Hiện tại, việc giám sát và quản lý được chất lượng dịch vụ bưu phẩm bưu kiện cũng như thư thường là yêu cầu cần thiết để hoạt động bưu chính ngày càng phát triển và phục vụ khách hàng tốt hơn Trên thế giới và Việt Nam vẫn chưa có hình thức nào thật

sự rõ ràng cho việc đánh giá và kiểm tra chất lượng, tất cả đều tùy thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi nước mà chưa hề có một quy định chung Công nghệ RFID là một công nghệ mới được áp dụng cho nhiều ngành nghề khác nhau trong đó có cả bưu chính, nhằm theo dõi và giám sát được hành trình của bưu gửi Ưu điểm rõ ràng khi sử dụng công nghệ mới này là có thể theo dõi được thời gian toàn trình khi một bưu phẩm bưu kiện được gửi đi cho tới khi nó đến được tay người nhận, từ đó có thể thấy được thời gian vận chuyển khai thác có trong giới hạn cho phép hay không Điều này là đặc biệt quan trọng đối với dịch vụ chuyển phát nhanh EMS

Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ RFID, việc đưa các ứng dụng dần lên web theo xu hướng chung cũng được quan tâm trong thời điểm hiện tại Khi đưa các hoạt động nghiệp vụ lên nền web sẽ giúp giải quyết vấn đề về thời gian, bất cứ ai có quyền tham gia vào hệ thống cũng có thể làm việc trực tiếp với dữ liệu ở một nơi khác, thậm chí có thể không cần đến cơ quan mà vẫn có thể làm việc được bình thường Điều này cũng giúp nhân viên làm việc trực tuyến, mọi người có thể trao đổi trực tiếp với nhau về tình hình hoạt động mà không cần phải chờ đợi gặp mặt hoặc kết nối điện thoại đường dài Với cách thức hoạt động như vậy không những giảm được chi phí cho hoạt động của hệ thống mà còn giúp giảm bớt công việc của nhân viên mà vẫn theo dõi được hành trình của bưu gửi, tình trạng bưu gửi đã đến nơi hay chưa và có hỏng hóc, mất mát hay lạc hướng hay không Cơ cấu hoạt động này vẫn là mơ ước trong tương lai, cũng như RFID cũng đang dần được sử dụng để thay thế mã vạch trong một vài dịch

vụ bởi chi phí và điều kiện về công nghệ trong thời điểm hiện tại là không khả thi Khi các bưu cục trong và ngoài nước có thể kết nối được với nhau, theo dõi được bưu gửi được chuyển đến từ nơi này đến nơi khác thì chất lượng dịch vụ của ngành bưu chính sẽ được nâng lên đáng kể Đó là bởi vì bưu gửi được giám sát chặt chẽ, có sự sửa đổi kịp thời khi đi sai hướng, khi yêu cầu của khách hàng thay đổi hoặc đưa ra những báo cáo cần thiết về tình hình hoạt động của một khu vực nào đó chỉ trong một khoảng thời gian ngắn Vì vậy, cần nỗ lực để đưa công nghệ mới vào phục vụ cho các hoạt động của ngành với sự nghiên cứu và phân tích cần thiết nhằm phù hợp với đặc điểm của mỗi nước cũng như đem lại được kết quả cao nhất cho ngành

1.1.2 Bưu chính Việt Nam

a Thực tế về chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện

Chất lượng dịch vụ bưu chính là tập hợp các đặc tính làm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng sử dụng dịch vụ Khi khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính, họ mong muốn sự truy cập dịch vụ được dễ dàng, tiện lợi khi sử dụng dịch vụ, thái độ của nhân viên bưu điện phải lịch sự, tận tình, chu đáo, bưu gửi phải được chuyển nhận một cách

an toàn không hư hỏng, rách nát hoặc mất mát đến đúng người nhận một cách nhanh chóng Những nhu cầu này của khách hàng đã được gói gọn vào thành các đặc tính của dịch vụ bưu chính Đó là “nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và văn minh”

b Chỉ tiêu về độ nhanh chóng

Chỉ tiêu về độ nhanh chóng của dịch vụ bưu chính được phản ánh thông qua thời gian chuyển nhận từ người gửi đến người nhận hay còn gọi là thời gian toàn trình Chỉ tiêu này được gọi là “J+n”, trong đó J là ngày gửi bưu gửi và n là số ngày tối đa để khai

Trang 15

thác, vận chuyển và phát bưu gửi đến tay người nhận [6] Đây là chỉ tiêu rất quan trọng đối với dịch vụ bưu chính Việc rút ngắn thời gian toàn trình của dịch vụ bưu chính sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính

Trong năm 2002, VNPT [6] đã ban hành bộ chỉ tiêu chất lượng thông tin bưu chính, trong đó có thời gian toàn trình đối với các dịch vụ bưu chính cơ bản là thư thường và bưu kiện Bộ chỉ tiêu này bao gồm:

- Các chỉ tiêu về thời gian toàn trình đối với bưu gửi vận chuyển đường bộ, bưu gửi vận chuyển đường bay

- Chỉ tiêu thời gian khai thác vận chuyển nội tỉnh tại các bưu điện Tỉnh, Thành phố

- Chỉ tiêu thời gian toàn trình bưu gửi nội tỉnh

Mỗi chỉ tiêu nêu trên bao gồm thời gian toàn trình, thời gian khai thác cụ thể đối với từng cấp vận chuyển (thời gian vận chuyển giữa các tỉnh/thành phố, nội tỉnh, …) Theo các chỉ tiêu này, thời gian toàn trình đối với bưu phẩm liên tỉnh nhanh nhất là 3 ngày (đối với bưu phẩm gửi cùng vùng và có địa bàn thuận lợi) và tối đa là 16 ngày (đối với bưu phẩm gửi từ hải đảo, vùng sâu, vùng xa đến xã của hải đảo, vùng sâu, vùng xa cách vùng)

So với các nước trong khu vực và các nước phát triển, thời gian toàn trình dịch vụ bưu chính của VNPOST còn cao Dịch vụ Bưu chính Hoa Kỳ đảm bảo vận chuyển bưu gửi trong nước với thời gian toàn trình từ 1 tới 9 ngày (tùy từng loại bưu gửi); Bưu chính Chi Lê áp dụng tiêu chuẩn J+3 (J là ngày nhận gửi, 3 là số ngày tối đa để khai thác); Bưu chính Pháp áp dụng tiêu chuẩn cho bưu gửi Quốc tế trong EU với tiêu chuẩn J+3 (85%) và J+5 (97%)…Điều này thể hiện tốc độ hay độ nhanh chóng của dịch vụ bưu chính của VNPOST thấp hơn so với nhiều nước Tốc độ này chậm hơn so với các nước khác ngoài nguyên nhân chủ quan từ VNPOST còn có nguyên nhân khách quan

là địa hình của nước ta trải dài và có nhiều địa bàn khó khăn

Việc đánh giá chất lượng dịch vụ bưu chính thông qua thời gian toàn trình được thực hiện bằng cách gửi một loạt các thư kiểm tra và sau đó căn cứ vào dấu của bưu cục đi

và bưu cục đến để xác định thời gian Theo khảo sát của VNPT trong năm 2005, thời gian toàn trình đối với dịch vụ thư thường như sau:

 Thời gian toàn trình của thư nội tỉnh:

Thời gian toàn trình của thư nội tỉnh được thể hiện qua Bảng 1.1

Trang 16

Bảng 1.1: Tỷ lệ đạt chuẩn về thời gian toàn trình của thƣ nội tỉnh

Nguồn: Thống kê của Ban Bưu chính- Phát hành bao chí - VNPT

 Chỉ tiêu thời gian toàn trình đối với thư liên tỉnh gửi đường bộ:

- Với thời gian J+5, tỷ lệ đạt chuẩn là 81.47%

- Với thời gian J+6, tỷ lệ đạt chuẩn là 91.89%

 Chỉ tiêu thời gian toàn trình đối với thư liên tỉnh gửi đường bay:

- Với thời gian J+3, tỷ lệ đạt chuẩn là 61.20%

- Với thời gian J+4, tỷ lệ đạt chuẩn là 78.00%

- Với thời gian J+5, tỷ lệ đạt chuẩn là 89.20%

 Chỉ tiêu thời gian khai thác, vận chuyển đối với thư quốc tế:

- Chiều đi:

+ Với thời gian J+5, tỷ lệ đạt chuẩn là 71%

+ Với thời gian J+4, tỷ lệ đạt chuẩn là 55%

- Chiều quốc tế đến:

+ Với thời gian J+5, tỷ lệ đạt chuẩn là 37%

+ Với thời gian J+4, tỷ lệ đạt chuẩn là 26%

Qua số liệu khảo sát trên cho thấy, đối với thư nội tỉnh, với thời gian toàn trình là J+1,

tỷ lệ đạt chuẩn trên toàn mạng là 60.76% và với thời gian toàn trình là J+2, tỷ lệ đạt chuẩn là 86% trên toàn mạng So với yêu cầu về chỉ tiêu chất lượng toàn trình của Bộ Bưu chính Viễn thông là J+2 với tỷ lệ đạt chuẩn là 70% thì mức chất lượng về chỉ tiêu này đạt cao hơn

Đối với thư liên tỉnh, theo quy định của Bộ BCVT, thời gian toàn trình là J+5 với tỷ lệ đạt chuẩn là 70% thì mức chất lượng của VNPOST cũng cao hơn với tỷ lệ đạt chuẩn là 81.47% Tuy nhiên, so với các nước châu Âu thì mức chất lượng đối với chỉ tiêu thời gian toàn trình của VNPOST còn thấp hơn nhiều cả về thời gian toàn trình và tỷ lệ đạt chuẩn (năm 2001, các nước châu Âu có tỷ lệ đạt chuẩn đối với J+3 là 92% và năm

2002 là 93.5%)

Đối với thư quốc tế đi và đến, theo Nghị quyết C29/2004 – tiêu chuẩn toàn cầu về chất lượng dịch vụ bưu chính quốc tế của Đại hội Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) lần thứ 23 tổ chức tại Bucharest-Roumania quy định: Tiêu chuẩn được áp dụng ở mức J+5 đối với bưu phẩm ưu tiên trao đổi giữa các vùng hoặc thành phố quan trọng tại mỗi quốc gia và tối thiểu 50% các thư được kiểm tra phải đạt tiêu chuẩn này Theo quy định của Bộ BCVT, tiêu chuẩn thời gian xử lý trong nước đối với thư đi quốc tế và quốc tế đến là J+5 với tỷ lệ đạt chuẩn 60% Như vậy, theo kết quả khảo sát ở trên, với thời gian J+5 thư đi quốc tế đạt tiêu chuẩn cao hơn so với quy định của Bộ và quốc tế (J+5 với tỷ lệ đạt chuẩn 71%) song với thư quốc tế đến, chỉ tiêu này còn thấp so với quy định của Bộ và quốc tế (J+5 với tỷ lệ đạt chuẩn 37%)

1.1.3 Chỉ tiêu về độ chính xác

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển phát các bưu gửi đúng hướng, đúng địa chỉ, đúng người nhận, không được để xảy ra sai sót nhầm lẫn

Trang 17

Trước đây, tình trạng phân lạc hướng bưu gửi còn xảy ra nhiều, đặc biệt là ở Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế của VNPT do khối lượng bưu gửi tập trung về đây để khai thác, chia chọn phân hướng đi các tỉnh và quốc tế rất lớn và phải chia chọn bằng thủ công Công nhân khai thác, chia chọn ở đây phải chia chọn bằng tay đi rất nhiều hướng với khối lượng lớn lên dẫn đến tình trạng nhầm lẫn, phân chia sai hướng

Từ khi VNPT trang bị máy chia chọn tự động tại Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực I của Công ty VPS, việc phân lạc hướng đã giảm đi rõ rệt do máy chia chọn hiện đại hoạt động rất chính xác và ổn định Tuy nhiên, ở Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực II, III và ở các BĐTT, việc chia chọn phân hướng vẫn thực hiện bằng tay vì vậy hiện tượng phân lạc hướng bưu gửi vẫn còn xảy ra

Việc phân chia không chính xác bưu gửi thực chất đã được phản ánh trong chỉ tiêu về

độ nhanh chóng hay thời gian toàn trình của bưu gửi Bởi vì, do phân sai hướng nên bưu gửi lại phải khai thác, vận chuyển lại dẫn đến mất thời gian và ảnh hưởng đến thời gian toàn trình của bưu gửi

và khi phát cho khách hàng phải có chữ ký của người nhận nên việc kiểm soát tương đối rõ ràng Khi bưu gửi bị mất có thể xác định được và khách hàng có thể khiếu nại đòi bồi thường

Tuy nhiên, đối với dịch vụ thư thường, khách hàng tự bỏ thư vào thùng thư, không có giấy biên nhận như các dịch vụ bưu chính nêu trên Bên cạnh đó, việc giao nhận thư thường giữa các đơn vị trong VNPT do có khối lượng thư lớn lên chỉ giao nhận theo cả túi gói lớn, thư được phát cho khách hàng chưa cũng không kiểm soát được do không phải lấy chữ ký của người nhận Chính vì vậy, đối với thư thường sẽ rất khó xác định

là khách hàng có sử dụng dịch vụ hay không, các đơn vị có làm mất bưu gửi hay bưu

tá có phát cho khách hàng không Cũng chính vì không thể xác định được khách hàng

có sử dụng dịch vụ thư thường hay không nên khi khách hàng khiếu nại về thư thường

sẽ không được bồi thường như các dịch vụ bưu chính khác

Đối với tình trạng hư hỏng của các bưu gửi, trong những năm qua đã giảm đi song vẫn còn xảy ra Tình trạng hư hỏng, suy suyển xảy ra đối với các loại bưu gửi, trong đó bị ảnh hưởng hơn cả là bưu kiện và gói nhỏ Nguyên nhân này chủ yếu do chủ quan như giao dịch viên khi chấp nhận bưu gửi chưa kiểm tra kỹ, chưa tư vấn cho khách hàng về từng loại dịch vụ, chưa hướng dẫn cho khách hàng cách bọc gói bưu gửi đúng cách Khâu giao nhận, khai thác thiếu thực hiện kiểm gạch, trong khai thác chưa thực hiện đúng quy định về củng cố bưu gửi, quăng quật mạnh khiến bưu gửi rách nát, suy suyển bưu gửi Mặt khác, một số khách hàng cũng chưa thực hiện đúng yêu cầu, quy định khi

sử dụng dịch vụ bưu chính như gói bọc đơn giản, dùng phong bì, bao gói không đúng quy chuẩn

Trang 18

Bên cạnh đó, một số quy định khó khả thi không thể yêu cầu nhân viên thực hiện được cũng làm ảnh hưởng đến độ an toàn của bưu gửi Chẳng hạn, việc giao nhận hàng ở ga tàu chỉ đỗ khoảng 20 phút cho nhân viên bưu điện giao nhận trên 100 túi, một xe hàng

6 tấn chỉ được bốc trong 20 phút hay có toa hàng chở hơn 1.000 kiện hàng nhưng mặt bằng giao nhận không đủ Điều này đã dẫn đến tình trạng làm cho bưu gửi đôi khi bị suy suyển, nhiều bưu kiện, gói nhỏ bị bẹp, méo mó

1.1.5 Chỉ tiêu về sự tiện lợi hay khả năng truy nhập dịch vụ

Chỉ tiêu phản ánh sự tiện lợi là chỉ tiêu chất lượng dịch vụ bưu chính tổng hợp, nó phản ánh khả năng truy nhập dịch vụ bưu chính có dễ dàng thuận lợi hay không Chỉ tiêu này được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu là bán kính phục vụ bình quân của một bưu cục, số dân phục vụ bình quân của một bưu cục, thời gian mở cửa của bưu cục, tần suất thu gom và phát

Trong những năm vừa qua, chỉ tiêu về sự tiện lợi đối với dịch vụ bưu chính của VNPT

đã tăng lên một cách rõ rệt Các điểm phục vụ bưu chính của VNPOST được bố trí rộng khắp đất nước, được bố trí ở những nơi thuận lợi để khách hàng tiện giao dịch

Hệ thống điểm phục vụ hiện có 15.706 điểm, trong đó có 3.060 bưu cục và kiốt, 67 Bưu cục cấp I; 594 Bưu cục cấp II, 2342 Bưu cục cấp III Trong số 67 Bưu cục cấp I,

có 64 Bưu cục cấp I của các Bưu điện tỉnh, Thành phố và ba Bưu cục cấp I của 3 trung tâm khai thác liên tỉnh và quốc tế khu vực của Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS), 7.247 điểm BĐ - VHX, 5.400 đại lý bưu điện

Theo thống kê (của “Phương án cung cấp dịch vụ bưu chính công ích và thực hiện các nhiệm vụ công ích của VNPOST giai đoạn 2006 - 2010 - VNPOST”), với số bưu cục, BĐ-VHX như trên, bán kinh phục vụ bình quân là 3,10km năm 2001, và 2,67 km năm

2005

So với các nước trên thế giới, chỉ tiêu về bán kính phục vụ bình quân của một bưu cục

và số dân phục vụ bình quân của một bưu cục của VNPOST đạt mức ngang bằng với các nước phát triển và cao hơn các nước trong khu vực Con số cụ thể như sau: tại Ấn

Độ, bán kính phục vụ bình quân (năm 2005) là 2,60 km, tại Nhật Bản là 2,79 km, tại Hàn Quốc là 2,94 km, tại Pháp là 3,19, …

Về thời gian mở cửa điểm phục vụ hiện nay là 8 giờ mỗi ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật Đối với các điểm BĐ-VHX, thời gian mở cửa có thể linh hoạt để phù hợp với sinh hoạt của nhân dân tại các xã vùng nông thôn nhưng vẫn đảm bảo 8 giờ/ngày

Về tần suất thu gom và phát, hiện nay, tại thành phố, thị xã mở và lấy thư ít nhất 2 lần/ngày, tại thị trấn, nông thôn ít nhất 1 lần/ngày So với các nước trên thế giới, chỉ tiêu này của VNPOST đạt ở mức trung bình Cụ thể là tại Trung quốc, sồ lần gom thư

là 3 lần/ngày ở Thành phố, 5 lần/tuần ở nông thôn; tại Malaysia 2 lần/ngày ở Thành Phố, 6 ngày/tuần ở nông thôn, …

1.1.6 Chỉ tiêu phản ánh sự văn minh hay chất lƣợng phục vụ

Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng phục vụ đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính Chất lượng phục vụ thể hiện tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên Bưu điện với khách hàng Đây là chỉ tiêu rất quan trọng đối với dịch vụ bưu chính Bởi vì, nếu dịch vụ bưu chính đáp ứng tốt những chỉ tiêu chất lượng nêu trên, đó là bưu gửi được gửi nhanh chóng, an toàn đến đúng người nhận nhưng khi khách hàng đến gửi bưu gửi,

Trang 19

khách hàng phải chờ lâu, thái độ của nhân viên giao dịch không niềm nở, lịch sự, không hướng dẫn tận tình cho khách hàng thì dịch vụ bị coi là có chất lượng kém Hiện nay, hệ thống các điểm giao dịch rất lớn với hơn 17.000 bưu cục, đại lý bưu điện, điểm BĐ-VHX Tại các điểm giao dịch này, hàng ngày có rất hàng chục nghìn giao dịch viên bưu điện tiếp xúc với hàng trăm nghìn lượt khách hàng Với mức độ tiếp xúc khách hàng lớn như vậy, sự phục vụ khách hàng trực tiếp của các giao dịch viên là hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến sự trung thành của khách hàng sử dụng dịch

vụ, sự ủng hộ của khách hàng và uy tín, hình ảnh của VNPOST đối với khách hàng Trong những năm gần đây, chất lượng phục vụ trong lĩnh vực bưu chính đã được nâng lên đáng kể Bưu cục khang trang hơn, dịch vụ phong phú hơn, thái độ phục vụ của nhân viên giao dịch cũng đã tận tình hơn Nhiều Bưu điện tỉnh, thành (BĐTT) đã ý thức được tầm quan trọng của chất lượng phục vụ nên đã tổ chức các lớp tập huấn cho các giao dịch viên về kỹ năng nghiệp vụ cũng như kỹ năng giao tiếp, mở các cuộc thi

“giao dịch viên duyên dáng”, … Điển hình trong các đơn vị là Bưu điện Hà Nội đã triển khai xây dựng đề án hệ thống quản trị chất lượng khách hàng từ tháng 5/2004 Nội dung đề án bao gồm xây dựng tiêu chuẩn chất lượng phục vụ khách hàng, xây dựng thang điểm đánh giá, xây dựng phương pháp và quy trình đánh giá Bưu điện Hà Nội đã thuê một công ty nghiên cứu thị trường tiến hành giám sát, đánh giá bằng cách định kỳ làm “khách hàng bí mật” chấm điểm về thái độ phục vụ của tất cả các giao dịch viên theo bảng tiêu chuẩn và bảng điểm có sẵn và chấm điểm về điều kiện phục

vụ khách hàng của tất cả các điểm giao dịch Mỗi giao dịch viên hàng tháng sẽ có một bảng điểm chi tiết, nhờ đó giao dịch viên biết được những điểm còn chưa đạt để rút kinh nghiệm khắc phục Sau khi thực hiện chấm điểm, chất lượng phục vụ khách hàng của Bưu điện Hà Nội đã tăng lên rõ rệt cả về mặt định tính và định lượng Về định tính, những hành vi và tác phong ứng xử với khách hàng chưa tốt của giao dịch viên đã giảm hẳn Về định lượng, điểm chất lượng của Bưu điện Hà Nội đã tăng lên từ 72,08 đến 79,93 điểm

Bên cạnh việc tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp cho các giao dịch viên, các BĐTT thường xuyên tổ chức hội nghị khách hàng Thông qua các buổi hội nghị này, các BĐTT sẽ được nghe các ý kiến đóng góp của khách hàng về những mặt được và chưa được về thái độ phục vụ, từ đó có các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Ngoài ra, VNPOST còn phát động các phong trào thi đua “tăng cường công tác chăm sóc khách hàng, giảm thiểu tối đa không để khách hàng khiếu nại về thái độ phục vụ của nhân viên”, “năm vì khách hàng”, Nhờ các hoạt động này

mà chất lượng phục vụ được nâng cao hơn

Tuy nhiên, chất lượng phục vụ tại các điểm giao dịch hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Nhiều quầy giao dịch còn chật chội, sắp xếp chỗ chưa thuận tiện cho khách hàng gói bọc bưu gửi, thông tin về dịch vụ chưa được cung cấp đầy đủ cho khách hàng, các bảng quảng cáo, thông báo cước phí dán ở những

vị trí chưa thuận tiện Khi khách hàng đến các quầy giao dịch, khách hàng còn phải chờ lâu, nhân viên giao dịch chưa chào hỏi khách hàng khi đến và cảm ơn khi khách hàng ra về, chưa hướng dẫn chu đáo về dịch vụ cho khách hàng, thao tác của giao dịch viên còn chậm, chưa chuyên nghiệp

Trang 20

1.1.7 Sự hài lòng của khách hàng

Những chỉ tiêu chất lượng bưu chính nêu trên chỉ phản ánh được từng mặt nhu cầu của khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính Sự thực hiện tốt các chỉ tiêu này cuối cùng cũng nhằm để thoả mãn được nhu cầu của khách hàng và sự hài lòng của khách hàng

sẽ phản ánh việc thực hiện các chỉ tiêu này đã tốt hay chưa

Đối với bưu chính các nước, việc đo lường, đánh giá sự hài lòng của khách hàng được thực hiện thường xuyên qua các cuộc khảo sát do doanh nghiệp hoặc các tổ chức độc lập thực hiện Việc đo lường, đánh giá sự hài lòng của khách hàng có thể được thể hiện qua mức độ khiếu nại của khách hàng hoặc qua các cuộc khảo sát Tuy nhiên, việc đánh giá qua mức độ khiếu nại của khách hàng không được chính xác do nhiều khi khách hàng không thoả mãn nhưng không khiếu nại nên không thể biết được

1.2 Thực trạng công tác giám sát, quản lý chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện của Bưu chính Việt Nam

1.2.1 Công tác kiểm tra đánh giá

Để đánh giá được chất lượng dịch vụ cũng như tình hình thực hiện các chỉ tiêu chất lượng của các đơn vị, hàng năm, VNPOST đã tiến hành các đợt kiểm tra, đánh giá

Về đánh giá chất lượng dịch vụ bưu chính, VNPOST đã sử dụng hình thức gửi thư kiểm tra hoặc chọn mẫu sống Có ba phương pháp cơ bản để đánh giá chất lượng

Phương pháp thứ nhất: Gửi thư kiểm tra có chứa phiếu bên trong

Thư kiểm tra dùng để kiểm tra thời gian toàn trình của thư từ lúc ký gửi tại các điểm giao dịch hoặc bỏ tại thùng thư cho tới lúc phát tới tay người nhận Thư kiểm tra có hình thức giống như thư thường, nội dung bên trong có phiếu trả lời được in sẵn cho người nhận điền nội dung và gửi ngược trở lại cho người phụ trách quản lý chất lượng Dựa trên kết quả kiểm tra có thể đánh giá được chỉ tiêu chất lượng thời gian toàn trình

Phương pháp thứ hai: Dán phiếu vào thư của khách hàng

Trong phương pháp này, chọn ngẫu nhiên thư của khách hàng, sau đó, dán phiếu thư kiểm tra ra bên ngoài Người ta sẽ đánh giá thời gian toàn trình thông qua các dấu xóa tem

Mỗi năm, các BĐTT phát hành một số lượng thư kiểm tra tối thiểu 500 chiếc (cho các địa chỉ nhận được cung cấp từ các BĐTT khác) tuỳ thời gian thuận tiện, sau đó tổng kết và phân tích kết quả gửi về Tập đoàn

Phương pháp thứ ba: Chọn mẫu sống tại các trung tâm khai thác, xử lý

Phương pháp này được tiến hành với bưu gửi là thư, bưu kiện để đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu thời gian đã công bố Mẫu được lấy ngẫu nhiên với một tỷ

lệ đảm bảo cho tính đại diện của tổng thể, được đánh giá căn cứ vào hình thức bên ngoài, hướng chuyển quy định và thời gian thực hiện tại công đoạn kiểm tra (so với dấu Bưu cục gốc) Mỗi năm, các BĐTT phải tiến hành tổ chức lấy mẫu hai đợt, mỗi đợt cách nhau 6 tháng Kích thước mẫu được chọn ở khoảng từ 1-10% đối với thư thường, 50 cái đối với bưu kiện Mỗi lần lấy mẫu, căn cứ vào thời gian thư, bưu kiện ở thời điểm kiểm tra để so sánh với thời gian đã được quy định để đánh giá

Về việc kiểm tra tình hình thực hiện các quy định về chất lượng của các đơn vị, hàng năm, Ban Bưu chính – Phát hành báo chí của VNPT tổ chức các đoàn kiểm tra chất

Trang 21

lượng đối với các đơn vị Hàng tháng, VNPT yêu cầu các đơn vị báo cáo tình hình chất lượng tại đơn vị mình Đối với các BĐTT, hàng tháng, Ban Bưu chính-Phát hành báo chí cũng đi kiểm tra, chấm điểm đối với các Bưu điện huyện, các Bưu cục, điểm Bưu điện – Văn hoá xã

Tuy nhiên, do có rất nhiều đơn vị và nằm ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước nên việc kiểm tra các đơn vị của VNPT cũng chỉ mang tính đại diện Việc báo cáo của các đơn vị chưa được thực hiện đầy đủ và chính xác Việc đánh giá chủ yếu dựa vào báo cáo của các đơn vị mà các báo cáo này không đầy đủ và chưa phản ánh đúng tình hình thực tế tại đơn vị nên việc đánh giá cũng chưa được chính xác, khách quan

1.2.2 Những vấn đề tồn tại

Trong những năm qua, chất lượng dịch vụ bưu chính của VNPT đã được cải thiện một cách đáng kể, thái độ phục vụ của nhân viên đã tốt hơn so với trước đây Trong công tác quản lý chất lượng, vấn đề chất lượng dịch vụ bưu chính đã bắt đầu được coi trọng Các hoạt động như đầu tư đổi mới công nghệ bưu chính, đưa ứng dụng tin học vào quá trình cung cấp các dịch vụ, ban hành các tiêu chuẩn, thể lệ, quy trình khai thác các dịch vụ bưu chính thống nhất đã được chú trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ

Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ bưu chính của VNPT vẫn chưa đáp ứng được tốt những nhu cầu của khách hàng Tình trạng mất, hư hỏng bưu gửi vẫn còn xảy ra, chỉ tiêu thời gian toàn trình còn bị vi phạm Bên cạnh đó, thái độ của nhiều giao dịch viên còn chưa tốt, chưa tận tình với khách hàng

Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại này là:

kỷ luật lao động, nhất là của thuê phát xã còn thấp dẫn đến vi phạm về chỉ tiêu thời gian toàn trình và độ an toàn của bưu gửi

qua VNPT đã đầu tư đổi mới công nghệ bưu chính song mới chỉ đầu tư máy chia chọn tự động tại Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực I tại Hà Nội Hai trung tâm còn lại là Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực

II tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khu vực III tại Đà Nẵng và tất cả các BĐTT vẫn khai thác, chia chọn thủ công nên năng suất lao động không cao, dễ nhầm lẫn, chất lượng không ổn định

nay vẫn quản lý theo kết quả cuối cùng, chưa quản lý theo quá trình Chức năng quản lý chất lượng còn phân tán ở các bộ phận, chưa rõ ràng và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, thống kê, đánh giá chất lượng chưa được tốt, chưa xác định được trách nhiệm của các đơn vị trong việc vi phạm các chỉ tiêu chất lượng

Ngoài những nguyên nhân trên còn có những nguyên nhân khác như do hầu hết các dịch vụ bưu chính không mang lại lợi nhuận nên lĩnh vực bưu chính của VNPT không được chú trọng như lĩnh vực viễn thông VNPT trong một thời gian dài không có cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực bưu chính nên đã ảnh hưởng đến tác phong làm việc của nhân viên chưa thực sự năng động

Trang 22

1.3 Một số biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện của Bưu chính Việt Nam

1.3.1 Tăng cường công tác đào tạo cho cán bộ công nhân viên

Yếu tố con người có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ, là yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ Cho dù công nghệ có hiện đại đến đâu nhưng nếu trình độ quản lý,

kỹ năng nghiệp vụ và thái độ của người lao động không tốt thì không thể có chất lượng dịch vụ tốt được

Đào tạo được coi là biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đội ngũ lao động của doanh nghiệp Đào tạo đội ngũ lao động là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chất lượng đội ngũ lao động của doanh nghiệp là một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng bậc nhất của các doanh nghiệp Chất lượng lao động sẽ quyết định đến chất lượng công việc, từ đó sẽ quyết định chất lượng dịch vụ Đầu tư vào việc đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ lao động của doanh nghiệp mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư vào các yếu

tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh

1.3.2 Chú trọng công tác điều tra, nghiên cứu thị trường

Xuất phát từ khái niệm về chất lượng là tập hợp các đặc tính của dịch vụ có khả năng đáp ứng những nhu cầu đã xác định hoặc còn tiềm ẩn Nói cách khác, chất lượng dịch

vụ là sự thoả mãn và thoả mãn vượt mong đợi của khách hàng Vấn đề quan trọng trong quản lý chất lượng là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ để thoả mãn nhu cầu của khách hàng Muốn vậy, vấn đề quan trọng và trước tiên là phải xác định được khách hàng là ai và họ cần gì, từ đó thiết kế quá trình cung cấp dịch vụ phù hợp

để đưa ra được những dịch vụ đáp ứng được những nhu cầu đó Nếu không điều tra nghiên cứu thị trường thì sẽ không nắm rõ được nhu cầu khách hàng, dẫn đến tình trạng “bán cái mà ta có chứ không phải bán cái khách hàng cần” và sẽ không đáp ứng được nhu cầu của họ

1.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý chất lượng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến ISO-9000

Chất lượng quản lý sẽ quyết định chất lượng sản phẩm Nếu doanh nghiệp tổ chức quản lý chất lượng tốt thì sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp sẽ có chất lượng tốt và ngược lại Để công tác quản lý chất lượng được tốt đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức được bộ máy quản lý chất lượng khoa học và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến

1.3.4 Tăng cường công tác thống kê, kiểm tra, đánh giá chất lượng

Trong công tác quản lý chất lượng, kiểm tra đánh giá là việc làm rất quan trọng nhằm tìm ra các biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát hiện ra các sai sót để

đề ra các biện pháp khắc phục, phòng ngừa Việc kiểm tra ở đây bao gồm cả kiểm tra đánh giá về chất lượng dịch vụ và kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu chất lượng cũng như tình hình thực hiện các quy định về quản lý chất lượng

1.3.5 Nghiên cứu, triển khai công nghệ mới phục vụ cho ngành bưu chính

Trình độ khoa học công nghệ có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm dịch vụ Chất lượng sản phẩm thể hiện những đặc trưng về trình độ kỹ thuật tạo ra sản phẩm Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong sản xuất giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh tế –

Trang 23

kỹ thuật của sản phẩm Do đó, việc đầu tư đổi mới công nghệ giúp nâng cao năng suất chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh

Công nghệ bưu chính có vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá và tự động hoá trong quá trình cung cấp dịch vụ bưu chính, giúp tạo ra nhiều dịch vụ bưu chính hiện đại, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính

Công nghệ bưu chính truyền thống thường là thủ công dẫn đến quá trình tác nghiệp chậm, thời gian toàn trình bị kéo dài, năng suất không cao và chất lượng không ổn định Việc đầu tư đổi mới công nghệ bưu chính sẽ nâng cao được năng suất do năng suất của thiết bị bưu chính tự động cao gấp nhiều lần so với lao động thủ công, lưu thoát được lưu lượng bưu gửi lớn một cách nhanh chóng, chính xác Chính vì vậy, việc tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ bưu chính là rất cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính

Trong khuôn khổ đề tài lần này, với mục tiêu nghiên cứu và đề xuất phương án ứng dụng công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến RFID trong việc quản lý và nâng cao chất lượng dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện, luận văn sẽ giới thiệu một số phương án đề xuất để ứng dụng công nghệ RFID Những đề xuất này giúp nâng cao năng suất sản xuất kinh doanh các dịch vụ bưu chính, hơn nữa, còn giúp tăng tính chính xác và khách quan trong việc thực hiện công tác giám sát, quản lý chất lượng

1.4 Công nghệ RFID

1.4.1 Các thành phần chính của hệ thống RFID

Hình 1.1 dưới đây mô tả các thành phần chính của một hệ thống RFID [7] tại một cửa hàng hoặc kho phục vụ bán lẻ hàng hóa (retail store):

- Thẻ - RFID Tag: Tại góc trái dưới của hình minh họa, có một bộ các thẻ RFID

tuơng ứng các hàng hóa đã được gắn thẻ

- Đầu đọc – Reader: Gian hàng này cũng có các đầu đọc được đặt trên các giá và

lối ra Những đầu đọc này có thể đọc thẻ với tốc độ hàng trăm thẻ thậm chí là hàng nghìn thẻ trong vòng một phút Các đầu đọc phải được cấu hình, quản lý

và kết hợp với nhau trong trường hợp có một đầu đọc gặp lỗi

- Phần mềm trung gian - RFID Middleware: là một hoặc nhiều module phần

mềm chuyên dụng được cài đặt để thực hiện các công việc cụ thể

- Ứng dụng biên – Edge Application: có thể là bất kỳ ứng dụng nào đang chạy

trong gian hàng (retail store), ví dụ là các thành phần của hệ thống bán hàng POS (Point Of Sales)

- Các dịch vụ thông tin RFID - RFID Informaiton Services: là cơ chế lưu các sự

kiện RFID và những dữ liệu liên quan ở vùng biên

- Các trung tâm dữ liệu - Data Center gồm có trung tâm dữ liệu của bản thân

doanh nghiệp (Enterprise’s Data Center) và trung tâm dữ liệu của các đối tác kinh doanh (Bussiness Partner’s data center) Sở dĩ có điều này là bởi thông tin RFID được lưu tại rất nhiều điểm trong hạ tầng kỹ thuật: tại các điểm biên, tại trung tâm dữ liệu và với các đối tác kinh doanh Hai thành phần khác trong trung tâm dữ liệu là “Enterprise service bus” và “Enterprise applications” Trong đó, “Enterprise service bus” là bất kỳ cơ chế nào mà công ty bạn đã chọn

Trang 24

để tích hợp ứng dụng “Enterprise applications” là bất kỳ ứng dụng nào trong hoạt động kinh doanh của bạn chịu ảnh hưởng của dữ liệu RFID

Trung tâm dữ liệu

Thành phần nghiệp vụ

Dịch vụ nghiệp vụ

Dịch vụ thông tin RFID

Dịch vụ thông tin EPS

Đặc điểm

Sau đây là những những đặc điểm quan trọng của thẻ RFID:

- Đóng gói

Trang 25

Như đã nhắc đến ở phần trên, các thẻ có thể được đặt trong các nút PVC, trong các ống thủy tinh nhỏ, trên các nhãn giấy hoặc trên các tấm thẻ bằng nhựa Các thẻ này cũng

có thể được gắn vào đồ trang sức, treo vào cùng với chùm chìa khóa hay gắn trực tiếp vào thân chìa khóa Chuẩn DIN/ISO69873 đã xác định tiêu chuẩn cho các thẻ được gắn vào các khe trên các máy hoặc các công cụ Một số thể gắn vào dây chuyền lắp ráp

tự động được thiết kế và đóng gói sao cho nó vẫn có thể hoạt động được khi phải chịu sức nóng của các máy khoan Nói một cách ngắn gọn, có thể có nhiều cách đóng gói thẻ khác nhau Hình 1-2 minh họa hai thẻ: thẻ thanh toán nhanh trong lồng chía khóa

để lộ ra cả anten và chip, và đầu chiếc chìa khóa cũng chứa một con chíp

Về khả năng đóng gói, công nghệ RFID hoàn toàn phù hợp để có thể gắn vào các bưu phẩm, bưu kiện dưới hình thức nhãn bằng giấy, có keo dán sẵn Loại thẻ RFID này không cồng kềnh, có thể gắn cả vào thư, thiếp, … không ảnh hưởng tới trọng lượng, tình trạng của bưu gửi

- Kết nối

Việc kết nối liên quan tới cách thức đầu đọc và thẻ “giao tiếp với nhau” Mỗi một cách kết nối khác nhau đều có những ưu và nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương pháp kết nối có ảnh hưởng trực tiếp tới phạm vi giao tiếp giữa thẻ và đầu đọc, tới giá thành của thẻ và tới điều kiện gây nhiễu

- Nguồn

Nhiều thẻ RFID sử dụng một số hệ thống passive (thụ động), trong đó năng lượng của

điện từ trường hoặc của xung tần số do đầu đọc phát ra sẽ cung cấp nguồn hoạt động

cho thẻ Còn trong những thẻ active thì lại có một pin nguồn, microchip hoặc các cảm biến bổ sung Tuy nhiên, các thẻ active vẫn giao tiếp với đầu đọc sử dụng nguồn năng

lượng nhận được từ đầu đọc Loại thẻ thứ ba được gọi là “thẻ two-way”, loại thẻ này

tự cung cấp nguồn để giao tiếp với đầu đọc và thậm chí nó còn có khả năng giao tiếp trực tiếp với các thẻ khác mà không thông qua đầu đọc

Có thể chọn một trong ba loại thẻ nói trên để ứng dụng RFID cho việc quản lý các bưu gửi Mỗi một loại thẻ đều có ưu nhược điểm riêng, điều này sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần sau

- Khả năng lưu trữ thông tin

Lượng thông tin lưu trữ được trong các thẻ thường biến đổi Những thẻ chỉ đọc được thiết lập để lưu trữ những giá trị cụ thể ngay trong quá trình sản xuất Người sử dụng

có thể ghi một lần các giá trị vào thẻ ghi một lần, trong khi đó giá trị được lưu trong thẻ ghi nhiều lần có thể được thay đổi nhiều lần Nhiều thẻ cũng có khả năng tự thu nhận thêm thông tin mới như các thông số về nhiệt độ, áp suất Khả năng lưu trữ của các thẻ nằm trong khoảng từ 1-bit (loại thẻ 1-bit) cho tới hàng nghìn byte (các loại thẻ được sử dung trong dây chuyền tự động)

Với khả năng lưu trữ lượng thông tin lớn, có thể ghi thêm thông tin bổ sung khi cần thiết, RFID rất phù hợp với việc quản lý, lưu vết các bưu gửi Có thể đưa ra một ứng dụng cụ thể là mỗi bưu gửi khi đi qua một bưu cục nào đó có thể được cập nhật thông tin về thời gian, mã bưu cục vừa qua, tình trạng bưu gửi (nguyên vẹn, hỏng hóc, rách,…) một cách tự động

Trang 26

Hình 1.2: Hai thẻ RFID

- Tuân theo các chuẩn

Có nhiều loại hệ thống RFID, mỗi loại đều tuân theo các chuẩn quốc gia hoặc quốc tế riêng Một số chuẩn như hệ thống phân lớp do EPCglobal sử dụng lại xác định chính xác tần số, loại kết nối, khả năng lưu trữ thông tin và nhiều đặc điểm khác

Phân loại

Có 2 loại thẻ (tag) đang được sử dụng rộng rãi hiện nay:

- Passive tag (thẻ bị động): đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi hiện nay, giá thành

rẻ

tag và kích hoạt thẻ Sau đó thẻ sẽ tự động truyền thông tin được mã hóa của

nó đến bộ phận đọc

sử dụng rất lâu, kích thước nhỏ và rẻ, có thể tái sử dụng

- Active tag (thẻ chủ động): là loại thẻ có gắn pin (một loại gắn pin cố định, một loại

hoạt động Trong tương lai gần, các active tag có thể sẽ mang nhưng chức năng sau:

nó lựa chọn kênh truyền thông tốt nhất

Ngoài ra còn có loại thẻ bán bị động là sự kết hợp giữa thẻ bị động và chủ động Thẻ bán bị động có sử dụng nguồn pin, khoảng cách đọc thẻ ngắn hơn thẻ chủ động nhưng

xa hơn so với thẻ bị động

Trang 27

Lựa chọn thẻ phụ thuộc vào yêu cầu sau:

- Dải đọc yêu cầu

Các thẻ active thường cho có dải đọc rộng hơn thẻ passive Đối với các ứng dụng bán hàng, người ta thường sử dụng thẻ passive vì dải đọc của những thẻ nãy cũng đủ đáp

ứng yêu cầu

- Chất liệu và đóng gói

Mỗi một chất liệu khác nhau sẽ tạo ra các thẻ RFID có đặc điểm khác nhau Ví dụ, chất lỏng có thể ngăn cản luồng sóng radio Các hộp chứa bằng kim loại cũng tạo ra nhiễu tới đầu đọc

- Chi phí

Chi phí của một thẻ RFID giữ vai trò quan trọng trong việc có chọn loại thẻ đó hay không bới vì hầu hết các ứng dụng đều sử dụng rất nhiều thẻ RFID Vì vậy, cần phải chọn loại thẻ RFID đáp ứng vừa đủ nhu cầu và có chi phí chấp nhận được

b Đầu đọc

Đầu đọc RFID dùng để nhận ra sự có mặt (trong phạm vi nhất định) của các thẻ RFID Đầu đọc RFID sẽ truyền năng lượng RF (Radio Frequency) qua một hay nhiều anten Lúc này, anten của một thẻ (nằm trong vùng hoạt động của đầu đọc kể trên) sẽ bắt được năng lượng này và sau đó, qua hiện tượng cảm ứng, thẻ này sẽ chuyển chúng thành năng lượng điện Năng lượng điện này đủ để cấp nguồn cho chip bán dẫn gắn trên antenna của thẻ Sau đó, thẻ sẽ gửi những tín hiệu nhận dạng về đầu đọc (bằng cách tăng và giảm điện trở của anten) dưới dạng mã Morse Đây chỉ là một trường hợp riêng, những loại thẻ khác nhau có thể hoạt động theo những cách khác nhau (không đáng kể), nhưng đây là sự tương tác đặc trưng giữa đầu đọc và thẻ

Thẻ RFID có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau Có thể coi các đầu đọc như điểm kết nối các thẻ với mạng Hình 1.3 minh họa các thành phần của một đầu đọc, đồng thời cũng cho thấy làm cách nào một đầu đọc có thể hoạt động ăn khớp với các thẻ và với thế giới bên ngoài

Trang 28

GIAO DIỆN LẬP TRÌNH ỨNG DỤNG (API) CỦA ĐẦU ĐỌC

Hình 1.3: Các thành phần của đầu đọc RFID

Các hệ thống con của đầu đọc

Đầu đọc là một hệ thống gồm có bốn hệ thống con sau đây:

- API của đầu đọc

API của đầu đọc là giao diện chương trình ứng dụng cho phép chương trình có thể bắt được các sự kiện đọc thẻ RFID Nó cũng cung cấp khả năng cấu hình, điều khiển và khả năng quản lý đầu đọc

- Giao tiếp

Các đầu đọc là những thiết bị biên và cũng giống như những thiết bị RFID khác, chúng được nối với toàn bộ biên của mạng Các thành phần giao tiếp sẽ điều khiển các chức năng mạng

- Quản lý sự kiện

Khi đầu đọc “nhìn thấy” một thẻ, chúng ta gọi đó là sự kiện theo dõi Sự kiện theo dõi

được nhắc đến ở đây khác với sự theo dõi thông thường, nên nó được gọi là một sự

kiện Quá trình phân tích sự kiện theo dõi được gọi là lọc sự kiện Việc quản lý sự kiện

sẽ xác định xem loại theo dõi nào được coi như các sự kiện và cũng định rõ những sự

kiện nào đủ cần thiết để đưa vào trong báo cáo hoặc được gửi lập tức tới những ứng dụng bên ngoài nằm trong mạng

số, mức năng lượng và tần suất (tần suất truyền thực sự của đầu đọc) Khi lựa chọn

Trang 29

một loại đầu đọc, cũng cần chú ý tới môi trường vật lý mà đầu đọc sẽ hoạt động trong

đó Đầu đọc phải đủ nhỏ để gắn vào các thiết bị và phải đủ nhạy để chống lại khi bị bám bụi, gặp sốc hay chịu được độ ẩm hoặc nhiệt độ cao (hoặc thấp) Cuối cùng, quan tâm tới việc lựa chọn một đầu đọc sao cho nó có thể kết hợp được tốt với hệ thống và các công cụ quản lý IT của bạn

c Các phần mềm trung gian

Chọn đúng loại thẻ, đầu đọc và xác định vị trí đặt antenna mới chỉ là bước đầu tiên trong việc xây dựng hệ thống RFID, vì việc nhận dạng các đối tượng chỉ là bước đầu trong cả quy trình quản lý chúng Khả năng đọc hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu thẻ khi chúng di chuyển qua dây chuyền sản xuất và sự cần thiết phải gắn những thông tin có nghĩa vào mã thẻ sẽ tạo ra lượng dữ liệu lớn có quan hệ với nhau khá phức tạp Một trong những lợi ích của việc sử dụng phần mềm trung gian RFID là nó

sẽ chuẩn hóa các phương án giải quyết khi xảy ra hiện tượng “lụt” thông tin do các thẻ

này tạo ra Bên cạch việc lọc sự kiện, cũng cần phải có một cơ chế để gói gọn ứng

dụng để bảo vệ, làm cho các chi tiết về cơ sở hạ tầng vật lý không bị lộ ra ngoài (các chi tiết đó có thể là: đầu đọc, các cảm biến và cấu hình của chúng)

Hình 1.4 cho thấy các thành phần chính của phần mềm trung gian RFID – RFID Middleware:

GIAO DIỆN ỨNG DỤNG

QUẢN LÝ SỰ KIỆN

ĐẦU ĐỌC

R F I D

T R U N G G I A N

Hình 1.4: Các thành phần của phần mềm trung gian RFID

Mục đích của việc sử dụng phần mềm trung gian RFID

Có ba lý do chính thúc đẩy việc đưa các phần mềm trung gian RFID vào sử dụng, đó là:

- Cung cấp khả năng kết nối với đầu đọc (thông qua bộ điều hợp thiết bị đọc)

- Xử lý các theo dõi thô của RFID (thông qua bộ quản lý sự kiện)

- Cung cấp giao diện mức ứng dụng (application-level interface) để quản lý các đầu

đọc và lọc các sự kiện RFID

Trang 30

Ứng dụng

Hình 1.5: Đặt ứng dụng trực tiếp với đầu đọc RFID

Trong hình 1.6, phần mềm trung gian xử lý sự kiện được đưa vào giữa đầu đọc và ứng dụng Phương pháp này thích hợp trong việc triển khai ở quy mô nhỏ sử dụng các khả năng do các sản phẩm tích hợp ứng dụng cung cấp

Ứng dụng

RFID trung gian

Hình 1.6: Sử dụng phần mềm trung gian RFID

Các chính thành phần của phần mềm trung gian RFID:

Bộ điều hợp thiết bị đọc

Hiện nay có khá nhiều loại đầu đọc RFID và mỗi một loại trong số đó đều có dạng kết nối riêng Sẽ là không thực tế nếu yêu cầu những người phát triển các ứng dụng phải học các loại kết nối khác nhau của mỗi loại thẻ khác nhau Các cách kết nối đầu đọc, cũng như truy cập dữ liệu và khả năng quản lý thiết bị, đều khác xa nhau, vì vậy bạn nên cố gắng sử dụng phần mềm trung gian mà có khả năng giúp bạn tránh khỏi việc phải học đặc tính của từng đầu đọc đơn lẻ Chính vì vậy, lớp điều hợp thiết bị đọc đóng gói các kết nối đầu đọc riêng lẻ lại để tránh việc người phát triển ứng dụng phải tiếp xúc trực tiếp với các kết nối đầu đọc

Bộ quản lý sự kiện

Một dây chuyền ứng dụng công nghệ RFID có thể có hàng trăm thậm chí hàng nghìn

đầu đọc thực hiện quét và đọc hàng trăm lần mỗi giây Hầu hết những sự theo dõi có

Trang 31

thể có ít ý nghĩa đối với hệ thống vì vậy bạn muốn đóng gói các kế nối đầu đọc lại để tránh cho ứng dụng của bạn bị tấn công khi gặp phải những dữ liệu thô Do đó, cần phải triển khai những phần mềm trung gian RFID có mục đặc biệt trong vùng biên của

cơ sở hạ tầng IT

Các đầu đọc có thể bắt được tín hiệu từ các thẻ trong vùng lân cận của nó với độ chính xác nhỏ hơn 100% Giả sử có 100 đối tượng xuất hiện gần một đầu đọc đã được thiết lập để quét hàng trăm lần trong một phút Sự may rủi là ở chỗ mỗi lần đầu đọc quét, nó

có thể bắt được từ 80 đến 90 đối tượng trong số 100 đối tượng kể trên Nhưng thực tế, đầu đọc lại chỉ “nhìn” thấy được 80% số lần đối tượng thứ 2 ví dụ, khi nó đi qua đầu đọc nhiều lần Tuy nhiên, ví dụ này minh họa tại sao việc đọc của đầu đọc RFID được coi là “thô” và vẫn phải có những quy trình xử lý tiếp theo để thu được những sự kiện

có ý nghĩa Giả sử rằng, đầu đọc này được đặt trên một kệ thông minh Liệu người sử dụng có muốn đặt những bộ theo dõi đọc không lọc vào quy trình ứng dụng của mình không? Đối với tất cả các ứng dụng, trừ những ứng dụng ít quan trọng, hầu như chắc

chắn người sử dụng sẽ muốn những theo dõi này được xử lý kỹ hơn trước khi gửi

chúng đi tiếp Một ví dụ là bộ lọc “mịn” có thể lấy kết quả quét của nhiều đầu đọc và tổng hợp lại trong kết quả, cách làm này được coi là ít chính xác hơn so với các công nghệ RFID khác

Nếu bạn nghĩ rằng việc đặt sự quan sát của một đầu đọc trực tiếp vào ứng dụng của là

một ý kiến tồi, hãy nghĩ rằng hoạt động của một hệ thống RFID đặc trưng luôn cần có

sự kết hợp chặt chẽ nhiều đầu đọc RFID Hãy tưởng tượng lượng dữ liệu do tất cả những đầu đọc này tạo ra và cần phải có bao nhiêu bộ lọc

Bộ phận quản lý sự kiện RFID sẽ kết hợp các dữ liệu RF thô đọc được từ nhiều nguồn

dữ liệu (như từ các đầu đọc), củng cố lại và lọc dữ liệu dựa trên các bộ lọc sự kiện mức ứng dụng đã được cấu hình trước đó Hầu hết các bộ phận quản lý sự kiện sau đó

sẽ gửi tiếp dữ liệu đã lọc tới hệ thống phụ trợ (backend systems)

Hãy quan sát kỹ hơn cách đưa vào sử dụng bộ quản lý sự kiện trong trường hợp đối với kệ (giá đỡ) thông minh Hãy tưởng tượng đối với một ứng dụng nào đó, mỗi một đầu đọc sẽ quét xung quanh các kệ 10 lần một phút Mỗi lượt quét sẽ trả về kết quả là

một tập hợp các theo dõi, và mỗi theo dõi sẽ có dạng như sau:

Reader Observation

Timestamp, reader code, antenna code, RF tag id, Signal strength

(Kết quả theo dõi của bộ dọc

Nhãn thời gian, mã đầu đọc, mã annten, Id của thẻ RF, cường độ tín hiệu)

Để có thể nhận biết được các giá trị của dữ liệu do các đầu đọc gắn trên các kệ sinh ra, hãy chú ý tới ví dụ dưới đây Một đại lý đồ điện, muốn tiến hành sử dụng hệ thống kệ thông minh Trong một kho, đồ được sắp như sau: 25 đồ điện trên một ngăn, có 4 ngăn trên một giá, như vậy, tính trung bình, một giá có 100 đồ điện Cứ 10 kho hàng thì có

20 dãy, mỗi dãy có 20 giá (mỗi bên có 10 giá) Vì vậy, kho hàng có 400 giá đồ thì sẽ

có khoảng 40.000 đồ điện Bảng 1-2 tóm tắt những con số trên:

Giả sử giá trị dữ liệu được sinh ra khi hệ thống RFID đọc các dữ liệu:

- Mỗi lần quét cho ra một bảng theo dõi gồm thông tin trên tất cả các đồ điện (trên

ngăn) đã được nhận ra

Trang 32

- 25 đồ điện (1giá) × 4 giá × 10 lần quét 1 phút = 1.000 bản theo dõi trong một phút,

đối với mỗi giá

- 1.000 đồ điện được đọc trong 1 phút × 400 giá = 400.000 bản theo dõi trong một

phút

- Coi như phải theo dõi các kho 10 tiếng/ngày: 10 tiếng × 2.400.000 đối tượng một giờ = 24.000.000 bản theo dõi một ngày đối với mỗi kho

- 10 kho = 240.000.000 bản theo dõi

Bảng 1.2: Bảng kê trung bình (các đồ điện)

Bảng sau tính toán tổng lượng dữ liệu:

Bảng 1.3 Tổng dữ liệu theo dõi của hệ thống RFID

Có thể nói đây là một con số rất lớn, tuy nhiên, vẫn chưa tính đến các bản theo dõi từ các cổng kiểm soát Việc xử lý tất cả những bản theo dõi này đòi hỏi phải lên kế hoạch

một cách có hệ thống Nhưng trước khi bắt đầu thiết kế hệ thống (với những ô chức năng và các luồng xử lý), cần phải hiểu về đặc điểm và sự liên quan của các thông tin

chứa trong các bảng theo dõi

Nếu chỉ đơn giản cho những bảng theo dõi này đi qua trung tâm dữ liệu của ứng dụng

thì sẽ không thể áp đảo được những ứng dụng này nhưng cũng có thể làm cho hệ thống mạng và các phần tử hạ tầng kỹ thuật đạt tới giới hạn Cũng như vậy, những ứng dụng

ở tuyến tiếp theo cũng có khả năng tìm thấy những bảng theo dõi thô từ đầu đọc RF

Lấy ví dụ, hãy yêu cầu một khách hàng lấy một đĩa DVD từ giá này và chuyển sang

giá khác Điều này có thể tạo ra hàng loạt các bảng theo dõi do các đầu đọc tương ứng

với các giá đó truyền về Tuy nhiên, nếu nhìn ví dụ này trong bối cảnh hệ thống quản

lý đặt hàng, những thông tin này có thể không thực sự quan trọng vì không có sự thay đổi về hàng trong kho Trên thực tế, thậm chí nếu khách hàng mua chiếc đĩa DVD này,

hệ thống quản lý đặt hàng cũng sẽ không quan tâm tới sự kiện này nếu như như bảng

Trang 33

kê của kho lưu trữ về DVD này chưa xuống dưới mức nhất định nào đó (được thiết lập từ trước qua một số quy tắc quản lý kinh doanh)

Ví dụ này minh họa sự cần thiết của một cơ chế để tập hợp kết quả của các bảng theo

dõi của các đầu đọc trong một khoảng thời gian nhất định nào đó Ví dụ cũng minh

họa cần phải có lọc, hợp nhất và truyền các bảng theo dõi thô Điều đó giải thích tại sao hệ thống RFID cần phải có các phần mềm trung gian chạy tại các ứng dụng biên

của trung tâm dữ liệu Theo cách này, chỉ những bảng theo dõi thực sự quan trọng mới

được gửi tới các ứng dụng Phần mềm trung gian RFID sẽ lọc phần còn lại của dữ liệu Như vậy, những loại dữ liệu nào sẽ được lọc? Vì các anten đặt khá gần nhau (hai anten

mỗi giá) nên vùng quét của chúng sẽ chồng lên nhau Do đó, những bảng theo dõi từ

các đầu đọc phải được lọc để xóa đi những bảng trùng nhau Cũng như vậy, vì độ

chính xác của quá trình quét luôn nhỏ hơn 100% nên những bảng theo dõi này cần

phải được tổng hợp lại sau các vòng đọc Vì khách hàng sẽ đi dọc theo lối đi giữa các giá để đồ, họ có thể cầm sản phẩm hàng hóa trên tay hoặc để trên xe đẩy hàng của cửa hàng nên những đầu đọc gần đó cũng có thể bắt được sóng từ các sản phẩm hàng hóa

này Chúng ta nên lọc những bảng theo dõi để bỏ đi bất kỳ một bảng nào không chính

xác trong hệ thống điều khiển thống kê Hình 1.7 minh họa việc lọc và làm mịn hệ thống

Nhận các bảng theo dõi ở dạng dữ liệu thô (EPC)

Làm mịn các bảng theo dõi

Lọc những bảng theo dõi bị trùng lặp

Lọc những bảng theo dõi khi đối tượng đi qua lối đi giữa các giá

“Công bố” các bảng theo dõi

Hình 1.7: Các bộ lọc sự kiện

Mỗi thành phần trong hệ thống nói trên được giải thích kỹ hơn ở phần dưới đây:

Trang 34

- Nhận các bảng theo dõi ở dạng dữ liệu thô (EPC) (Get raw RFID tag observation from

the antennas)

Các đầu đọc bắt tín hiệu, lấy dữ liệu dạng thô (các bảng theo dõi)

- Làm mịn các bảng theo dõi (Smoothening Filter)

Hiện nay, độ chính xác của các đầu đọc khi bắt tín hiệu từ các thẻ RF thường nhỏ hơn 100% nếu quét 1 lần, vì vậy cần phải phân tích dữ liệu thô từ đầu đọc qua vài lần quét

và lấy trung bình các giá trị của bảng theo dõi Lấy ví dụ, nếu 70% số bảng theo dõi đều

cho ta thấy hộp cáp RCA đang ở quầy thu tiền, thông tin này sẽ được chấp nhận

- Lọc những bảng theo dõi bị trùng lặp (Filter Duplicates)

Việc các bảng theo dõi bị trùng lặp xảy ra khi nhiều hơn một antenna nhận dạng cùng

một đối tượng, hiện tượng này có thể xử lý bằng các phương pháp lọc dựa trên cường

độ tín hiệu liên quan

- Lọc những bảng theo dõi khi đối tượng đi qua lối đi giữa các giá (Remove observations

picked up from aisles)

Bảng theo dõi của những đối tượng di chuyển qua lối đi giữa các giá để đồ sẽ có

cường độ tín hiệu nhỏ hơn và tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hơn Vì vậy, các tín hiệu này có thể được lọc đi

- “Công bố” các bảng theo dõi (Publish Observations)

Sau giai đoạn lọc cần thiết, dữ liệu của chúng ta đã sằn sàng để “giao tiếp” với tuyến tiếp theo

Giao diện mức ứng dụng

Giao diện mức ứng dụng là lớp cao nhất của phần mềm trung gian RFID Mục đích chính của nó là cung cấp một cơ chế đã được chuẩn hóa cho phép các ứng dụng có thể nhận được các sự kiện RFID đã lọc từ nhiều đầu đọc Thêm vào điều này, giao diện mức ứng dụng cũng cung cấp API chuẩn để cấu hình, điều khiển và quản lý phần mềm trung gian RFID, các đầu đọc, các cảm biến Nhiều nhà cung cấp phần mềm RFID đưa

ra những giao diện độc quyền được thiết kế cho những mục đích trên Gần đây,

EPCglobal đã đưa ra khái niệm sự kiện mức ứng dụng (Application Level Events,

ALE) để chuẩn hóa việc quản lý sự kiện của chức năng RFID [10]

Cuối cùng, cần lưu ý rằng phần mềm trung gian RFID có thể khai thác trên nhiều góc

độ và khía cạnh khác nhau Những điều trình bày trên đây mới chỉ là sự phân tích

thống kê mang tính logic của những gì gọi là phần mềm trung gian và những gì mà

phần mềm trung gian làm được Trong thực tế, có thể tìm ra rất nhiều nhà cung cấp phần mềm trung gian đưa ra các module cho phép bạn triển khai trên các loại đầu đọc riêng của những ứng dụng nhất định

1.4.2 Nguyên tắc hoạt động của hệ thống

Để hiểu được làm cách nào một thẻ RFID có thể truyền thông tin tới đầu đọc về sự có mặt của nó và các đặc điểm nhận dạng, hãy quan sát minh họa trong hình 1.8 Trong hình này, đầu đọc truyền tín hiệu Radio với tần số và khoảng thời gian (thường là khoảng vài trăm lần mỗi giây) thiết lập từ trước Bất kỳ thẻ nào có tần số nằm trong khoảng đọc được của đầu đọc này sẽ bắt được sóng do đầu đọc phát ra vì mỗi một thẻ

có gắn sẵn một antenna có khả năng nhận biết được các tín hiệu radio tại tần số nhất

Trang 35

định Các thẻ này sử dụng năng lượng nhận được từ tín hiệu radio để phản hồi lại tín hiệu này và sau đó có thể sẽ điều chỉnh tín hiệu để gửi thông tin về đầu đọc

Đầu đọc

Thẻ 3 Thẻ 2 Thẻ 1

1 đây!

2 đây!

3 đây!

Có thẻ nào ở đây không?

Hình 1.8: Trao đổi thông tin giữ thẻ và đầu đọc

Những loại thẻ và đầu đọc khác nhau sẽ thích hợp với những ứng dụng cũng như môi trường khác nhau Quyết định sẽ sử dụng loại thẻ và đầu đọc là công việc bao gồm xác định những gì thích hợp nhất so với nhu cầu Tuy nhiên, chi phí cho hệ thống sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ quyết định chọn loại thẻ nào

Nguyên tắc chung về hoạt động của hệ thống RFID như sau: các vật phẩm, hàng hóa cần giám sát được gắn với các thẻ RFID (các thẻ này có thể ở dạng nhãn hoặc ở dạng thẻ cứng) Các thẻ này sẽ phát ra tín hiệu, anten của đầu đọc có nhiệm vụ kích thích và bắt tín hiệu để đầu đọc RFID đọc thông tin từ các thẻ khi chúng đi qua những đầu đọc này Dữ liệu do thẻ đọc được là dữ liệu thô và sẽ được các thành phần trung gian, những thành phần lọc và quản lý sự kiện lọc thông tin và chuyển đến cơ sở dữ liệu máy tính Qua các thành phần ứng dụng (phần mềm biên, các ứng dụng ERP, …) thông tin trên thẻ được truyền tới người dùng và dưới dạng con người có thể hiểu được Quá trình xử lý dữ liệu mà đầu đọc đọc được cho tới dạng con người có thể hiểu

là rất phức tạp và yêu cầu có sự bảo mật, an toàn dữ liệu nhằm đảm bảo thông tin không bị rò rỉ, tránh những thiệt hại cho người dùng

Hiện nay các đầu đọc đã cung cấp các khả năng lọc dữ liệu, và vì các đầu đọc ngày càng trở nên “thông minh” hơn nên chúng sẽ có khả năng tự thực hiện được nhiều bước lọc Tuy nhiên, phần mềm trung gian và phần mềm biên cung cấp các bộ lọc ở mức sâu hơn, các thư viện hàm lập trình, các đặc tả giao tiếp giữa thẻ và đầu đọc còn các thành phần ứng dụng đóng vai trò hiển thị dữ liệu cho người dùng cuối

1.4.3 Một số chuẩn về RFID

Quá trình ghi dữ liệu lên thẻ, giao tiếp và trao đổi dữ liệu giữa đầu đọc và thẻ RFID là một quá trình phức tạp Để thực hiện được một hệ thống RFID hoàn chỉnh, phục vụ cho việc đọc và ghi dữ liệu lên thẻ cũng như lên cơ sở dữ liệu, đã có khá nhiều chuẩn

và giao thức cũng như thư viện API thực hiện công việc này Các chuẩn phục vụ cho

Trang 36

hệ thống được phân chia làm hai chuẩn chính cho hai quá trình: quá trình đọc ghi dữ liệu lên thẻ và quá trình giao tiếp giữa đầu đọc với thẻ Ngoài ra còn có các chuẩn khác cho việc kiểm tra hiệu năng và tuân theo chuẩn quốc tế của thẻ và đầu đọc (ví dụ ISO

18047 và ISO 18046) [12]

ISO 11784 là chuẩn xác định cấu trúc dữ liệu trên thẻ, cách lưu trữ và sắp xếp thông tin ISO 11785 xác định giao thức giao tiếp giữa đầu đọc và đầu ghi, tần số được sử dụng là 134,2kHz Hai chuẩn này chủ yếu được sử dụng trong việc nhận dạng và theo dõi động vật Các chuẩn dùng để nhận dạng các vật thể bao gồm ISO 18000 hay EPCGlobal Tập đoàn EPCGlobal đã triển khai và áp dụng một chuẩn mới cho quá trình giao tiếp giữa đầu đọc và thẻ, tuy nhiên lại chỉ áp dụng cho dải tần số UHF (tức

là dải tần số cao) bởi vì họ cho rằng giao thức UHF của ISO (ISO/IEC 18000-6) quá phức tạp sẽ làm cho chi phí của thẻ tăng lên không cần thiết Chuẩn này được đặt tên

là Gen2, được phổ biến trên toàn cầu Đi kèm với chuẩn này là sự phát triển của đặc tả ALE, cung cấp các thư viện hàm, API tốt hơn cho việc giao tiếp với đầu đọc và thẻ Ngoài ISO 18000-6 dành cho dải tần số UHF còn có ISO 18000-3 dành cho dải tần số

HF Bên cạnh chuẩn của ISO và EPCGlobal, Trung Quốc cũng đã đưa ra chuẩn của riêng mình, nhằm phục vụ cho việc ứng dụng RFID trên toàn Trung Quốc thống nhất theo một chuẩn riêng Việc này được thực hiện vào cuối năm 2004, áp dụng cho công nghệ DVD và chuẩn này không phải miễn phí

Trung tâm Auto-ID phát triển hai đặc tả Class 1 và Class 0 cho thẻ EPC và thuộc quản

lý của EPCGlobal vào tháng 12-2003 Đến tháng 6-2004 hai đặc tả này hoàn thiện chuẩn tiến trình của EPCGlobal và trở thành chuẩn EPC đầu tiên, và đến tháng 12-

2004 thì chuẩn Gen2 ra đời thay thế cho Class 1 và Class 0 Gen2 được thiết kế để làm việc mang tính chất quốc tế, có thể được sử dụng ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cải thiện khả năng của đầu đọc và ngăn chặn những tín hiệu nhiễu từ những đầu đọc khác khi có quá nhiều đầu đọc cùng hoạt động trong một phạm vi hẹp Giá rẻ hơn và khả năng làm việc của thẻ tốt hơn đã khiến Gen2 được chấp nhận rộng rãi Tuy vậy, dù chuẩn của EPC được thiết kế để hoạt động mang tính chất toàn cầu nhưng nó vẫn không phải là một chuẩn thuộc quản lý của ISO

Trang 37

Bảng dưới thể hiện một số chuẩn trên thế giới cho RFID:

đọc và ghi) cho tần số được chấp nhận trên toàn cầu

135kHz

ISO 18000-6 (dự định tên sẽ được thay

điện tử

hoạt động và lưu trữ thông tin truyền tới bộ nhận như thế nào (tính chất của việc truyền nhận thông tin giữa bộ phát và nhận)

Bảng 1.4 Một số chuẩn RFID

Ngoài ra, còn có một số chuẩn khác như chuẩn ANSI (tổ chức tiêu chuẩn Quốc Gia Hoa Kỳ), chuẩn cho hệ thống thời gian thực RTLS (ANSI INCITS T20) hay Trung Quốc sử dụng chuẩn của EPCGlobal cùng với một vài thay đổi để phù hợp với đặc điểm riêng của nước này, được biết đến với việc phát triển EPCGlobal China

Chính sự xuất hiện của khá nhiều chuẩn cho các quốc gia và khu vực riêng biệt đã là một trong những nguyên nhân khiến RFID chậm tiến trình phát triển và triển khai trên toàn cầu Thêm vào đó, hiện nay khá nhiều công ty cung cấp các phần mềm, các đặc tả

hỗ trợ cho các công nghệ này yêu cầu cấp bản quyền, đã làm cho việc sản xuất và đưa công nghệ này vào thực tế chậm lại Tuy nhiên, trong tương lai, sự phát triển của RFID

là tất yếu, được sử dụng trong nhiều hoạt động phân phối hàng hóa, sản xuất kinh doanh và các hệ thống bán lẻ cũng như các dịch vụ Bưu chính và vận chuyển trên toàn thế giới với chi phí triển khai và giá thành ngày càng hạ

Trang 38

1.4.4 Ƣu và nhƣợc điểm của hệ thống RFID

Việc so sánh các hệ thống nhận dạng nói trên sẽ nêu bật ưu điểm cũng như nhược điểm của hệ thống RFID trong mối quan hệ với các hệ thống khác Cũng ở đây, có một mối quan hệ khá gần giữa thẻ thông minh hoạt động dựa vào lớp tiếp xúc bề mặt và hệ thống RFID, tuy nhiên, hệ thống ra đời sau đã loại bỏ được toàn bộ các nhược điểm liên quan tới lỗi tiếp xúc bề mặt (như: bụi bẩn, mặt tiếp xúc bị xước, đọc thẻ theo một hướng duy nhất, thời gian đọc thẻ, ) Bảng 1.5 so sánh các hệ thống nhận dạng với nhau

Tham số hệ

thống

Mã vạch Nhận dạng ký

tự bằng quang học

Nhận dạng tiếng nói

Nhận dạng bằng đặc điểm sinh học

Thẻ thông minh

Hệ thống RFID

Đơn giản Đơn giản Khó khăn Không

Hoàn toàn sai

Trang 39

Bản quyền Không

được coi trọng

Không được coi trọng

Tốc độ đọc Thấp

(~4s)

Thấp (~3s)

Rất thấp (>5s)

Rất thấp ( > 5-10s)

Thấp (~4s)

Cực nhanh (~0.5s)

Bảng 1.5: So sánh các công nghệ nhận dạng theo các tham số hệ thống

a Ưu điểm

Có nhiều cách khác nhau để nhận dạng các đối tượng, động vật và con người Nhưng tại sao lại sử dụng RFID? Con người đã biết tới việc đếm các bản thống kê thú rừng ở một vùng và theo dõi sự vận chuyển hàng hóa kể từ khi người Xume (Sumerian) phát hiện ra sự thất thoát hàng hóa Thậm chí nhiều ghi chép cho thấy sự cần thiết của việc nhận dạng hàng hóa và định rõ hợp đồng hàng hóa được trao đổi giữa hai người chưa

hề gặp mặt Các thẻ ghi và các dây đeo tên làm việc khá hiệu quả trong việc nhận dạng một vài đối tượng hoặc một vài người, nhưng để nhận dạng và quản lý hàng trăm gói hàng trong vòng một giờ, người ta yêu cầu phải có một vài quy trình tự động

Mã vạch là phương pháp gần nhất với thẻ đọc được bởi máy tính, nhưng ánh sáng sử dụng để quét tia laser qua mã vạch lại có một số hạn chế Quan trọng nhất, nó đòi hỏi phải có một đường sáng trực tiếp, tức là đối tượng phải được đặt gần như sát vào thiết

bị đọc, hướng phần mã vạch về thiết bị đọc, yêu cầu không có vật nào nằm giữa chùm tia laser và mã vạch để không chắn các tia sáng Hầu hết các dạng nhận dạng, như dải

từ trên thẻ credit cũng phải đặt đúng hướng với đầu đọc card hoặc được cho vào bên trong đầu đọc thẻ theo một cách riêng Dù bạn đang theo dõi các hộp trên băng tải hay bạn đang theo dấu những đứa trẻ trong khu vui chơi nào đó, việc xếp các hộp hay các đứa trẻ thành hàng cũng tốn khá nhiều thời gian Các lý thuyết về sinh học có thể được dùng để nhận dạng con người, nhưng các hệ thống nhận dạng vân tay đều đòi hỏi phải đặt tay (bàn tay, ngón tay) để nhận dạng một cách cẩn thận, tương tự như các dải từ trường Để giải quyết những vấn đề này, người ta sử dụng công nghệ RFID Công nghệ này cung cấp cơ chế nhận dạng một đối tượng trong không gian, với độ nhạy nhỏ hơn nhiều để định hướng được các đối tượng và các đầu đọc Đầu đọc có thể “nhìn” thấy các đối tượng thậm chỉ cả khi nó không ở trước đầu đọc

RFID có các đặc tính bổ sung khiến việc sử dụng nó trở nên thích hợp hơn so với các công nghệ khác (như mã vạch hai dải từ) Không thể bổ sung thông tin một cách dễ dàng vào mã vạch sau khi đã in chúng, trong khi nhiều loại thẻ RFID có thể ghi và ghi

đè, ghi lại nhiều lần Cũng như vậy, vì việc sử dụng RFID đã loại bỏ việc phải sắp xếp đối tượng để theo dõi chúng nên sẽ gây ít phiền hà cho người sử dụng hơn RFID hoạt động trong một không gian, làm cho dữ liệu về quan hệ giữa các đối tượng, vị trí và

Trang 40

thời gian được kết hợp một cách âm thầm mà không cần một sự can thiệp công khai nào của người sử dụng hay người vận hành hệ thống

Tóm lại: RFID có những ưu điểm như sau:

- Không phải sắp xếp: lưu dấu, kiểm soát các đối tượng mà không cần phải sắp

xếp cùng Điều này tiết kiệm thời gian xử lý rất nhiều

- Kiểm kê với tốc độ cao: Nhiều đối tượng có thể được quét tại cùng một thời điểm Kết quả là, thời gian để đếm các đối tượng đã giảm thực sự

- Lưu vết đối tượng: thẻ RFID 96 bit cung cấp khả năng nhận dạng hàng tỉ đối tượng

- Khả năng ghi lại (ghi đè) thông tin: một số loại thẻ cho phép ghi và ghi lại nhiều lần Trong trường hợp tái sử dụng các bao bì, đây là một thuận lợi lớn

- Hoạt động đáng tin cậy trong môi trường không thuận lợi (ví dụ nóng, ẩm, bụi, bẩn, môi trường ăn mòn hay có sự va chạm, …)

- Thu thập dữ liệu nhanh và thao tác không tiếp xúc

- Hệ thống triển khai với RFID sẽ tăng năng suất lao động, tự động hóa nhiều quá trình sản xuất, tăng sự thỏa mãn khách hàng và tăng lợi nhuận

- Tại thời điểm hiện tại chi phí cho thẻ và đầu đọc RFID vẫn là khá lớn

- Chưa có được một chuẩn thống nhất giữa các quốc gia, các nhà sản xuất thiết bị Với những nhược điểm còn tồn tại này nên mặc dù đã được biết đến trong 50 năm qua mà RFID vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi và phổ biển Cần giải quyết được vấn đề bảo mật

và thống nhất giữa các nhà sản xuất cũng như chi phí giảm xuống thì công nghệ này mới

có thể đưa vào trong cuộc sống hàng ngày của con người, trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ

quốc gia

Công nghệ RFID đã được biết đến trong 50 năm qua, nhưng việc áp dụng nó cho các ngành nghề trong xã hội mới chỉ được thực hiện trong một vài năm gần đây Trong ngành bưu chính, RFID chủ yếu được ứng dụng tại các quốc gia và các công ty vận chuyển lớn hàng đầu trên thế giới, bởi hiện tại chi phí cho công nghệ này vẫn còn khá cao Công nghệ này chủ yếu giúp nhận dạng, lưu vết, mã hóa thông tin của hàng hóa cần gửi, tăng cường an ninh và bảo mật, … đặc biệt là những hàng hóa được vận chuyển qua nhiều nước hoặc hàng hóa nguy hiểm hay quý hiếm, yêu cầu giám sát và theo dõi cao hơn những hàng hóa khác Ngành bưu chính thế giới đã có nhiểu nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ và việc dần dần áp dụng và thay thể công nghệ RFID cho mã vạch cũng như áp dụng công nghệ này vào khía cạnh khác như giám sát, theo dõi và quản lý

Ngày đăng: 23/09/2020, 22:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w