1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đưa sản phẩm âm thanh thương mại lên Internet và áp dụng vào báo điện tử - đài tiếng nói Việt Nam : Luận văn ThS. Kỹ thuật Điện tử-Viễn thông : 2.07.00

90 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 3,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá những trở ngại chính đối với doanh nghiệp trong việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử Biểu đồ 1: Bạn có vui lòng trả phí để được nghe 1 tác phẩm âm nhạc chất lượng cao,có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

NGUYỄN XUÂN BA

NGHIÊN CỨU ĐƯA SẢN PHẨM ÂM THANH THƯƠNG MẠI LÊN INTERNET VÀ ÁP DỤNG VÀO BÁO ĐIỆN

TỬ - ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

Ngành: Công nghệ điện tử - Viễn Thông

Chuyên ngành: Kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc

Mã số: 2.07.00

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Vương Đạo Vy

Hà Nội - 2006

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

NGUYỄN XUÂN BA

NGHIÊN CỨU ĐƯA SẢN PHẨM ÂM THANH

THƯƠNG MẠI LÊN INTERNET VÀ ÁP DỤNG VÀO BÁO ĐIỆN TỬ - ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Hà Nội - 2006

Trang 3

DoS: Denial of Services

DRM: Digital Rights Management

EM: Email marketing

FEDI: Financial Electronic Data Interchange HAS: Human Auditory System

ISO: International Standards Organization JND: Just Noticeable Distortion

MLM: Multi Levels Marketing

MPEG: Moving Pictures Experts Group PCM: pulse code modulation

PE: Perceptual Entropy

PIN: Personal Information Number

P2C: PC-to-PC

RM: Real Media

SET: Secure Electronic Transaction

UCE: Unsolicited Commercial Email

UEM: Unsolicited Email Marketing

WAP: Wireless Application Protocal

WMA: Windows media player

Trang 4

Danh mục các hình vẽ, hình ảnh, bảng, đồ thị

H1.1 Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến

H1.2 Sơ đồ hoạt động của hệ thống thu phí qua SMS

H1.3 Website của Đài TNND TP HCM

H1.4 Website nhạc số

H1.5 Website của Báo Tuổi trẻ Online

H2.1 Chỉ ra sơ đồ khối của bộ mã hoá MP3 điển hình

H2.2 Mô tả sơ đồ bộ mã hoá MP3 chi tiết

H2.3 Những tần số cao bị mất khi nén ở những tốc độ bit thấp (64 kb/s)

H2.4 Ảnh hưởng của bộ lọc thông thấp bị cắt đứt ở 48 kb/s

H2.5 Trình bày lô gích của bitstream MP3

H2.6 Mã hoá MPEG/ audio nâng cao (a) Bộ mã hoá (b) Bộ giải mã

H2.7 Những kết quả MOS đối với những tín hiệu được được mã hoá và tín hiệu nguyên thuỷ ở 64 kb/s

H2.8 Những kết quả MOS đối với những tín hiệu được được mã hoá và tín hiệu nguyên thuỷ ở 48 kb/s

H2.9 Những tín hiệu được mã hoá và ban đầu ở 64 kb/s

H2.10 Những tín hiệu được mã hoá và ban đầu 48 kb/s

H2.11 So sánh mô hình được thiết kế với MP3PRO ở 64 kb/s

H3.1 Website báo điện tử VOVNEWS – Đài Tiếng nói Việt Nam

H3.2 Mô hình mã hoá âm thanh

H3.3 Giao diện website thử nghiệm đưa sản phẩm thương mại

H3.4 Mô hình thanh toán qua SMS của VOVNEWS

Bảng1.1 So sánh ưu khuyết điểm của các mô hình thanh toán

Trang 5

Bảng1.2 Đánh giá những trở ngại chính đối với doanh nghiệp trong việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử

Biểu đồ 1: Bạn có vui lòng trả phí để được nghe 1 tác phẩm âm nhạc chất lượng cao,có bản quyền trên Internet?”

Biểu đồ 2: Loại nhạc người nghe ưa thích

Biểu đồ 3: Hình thức thanh toán người nghe chọn?

Biểu đồ 4: Định dạng người nghe chọn?

Biểu đồ 5: Nơi ở của người nghe?

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, mã hoá audio đã chứng tỏ tầm quan trọng to lớn trong các ứng dụng truyền thông di động và các hệ thống đa phương tiện Nén âm thanh là một phạm vi rộng, gắn liền với sự phát triển của các công nghệ audio hiện đại Có thể nói, nếu các công nghệ nén âm thanh không phát triển thì cũng không phát triển được các loại hình dịch vụ audio số rộng rãi như hiện nay

Có nhiều công nghệ nén âm thanh khác nhau đang được phát triển Có công nghệ đã trở thành tiêu chuẩn như MPEG1, MPEG2… và cũng có những công nghệ đang được xem xét, đánh giá Nhiều công nghệ nén âm thanh tuy chưa được công nhận tiêu chuẩn của các tổ chức quốc tế nhưng cũng đang được phát triển mạnh trên thị trường như là một tiêu chuẩn thực tế

Ứng dụng của nén âm thanh cho các dịch vụ audio số cũng rất đa dạng

Có thể liệt kê một số ứng dụng tiêu biểu sau:

- Phát âm thanh số (EUREKA DAB, WorldSpace, ARIB, DRM)

- Truyền ISDN đối với âm thanh chất lượng cao cho mục đích đóng góp và phân phối chương trình phát

- Âm thanh phục vụ cho truyền hình kỹ thuật số (DVB, ATSC, CD hình, ARIB)

- Âm thanh phục vụ cho truyền audio trên Internet (Real Audio, Apple Quicktime và một số khác)

- Âm thanh cho các thiết bị cầm tay (mpman, mplayer3, Rio, Lyra, YEPP và một số khác)

- Lưu trữ và trao đổi file nhạc trên máy tính

Với các ứng dụng khác nhau thì nén âm thanh cũng sẽ theo chuẩn khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như tính đặc thù của dịch vụ, chất lượng yêu

Trang 7

cầu… Đối với âm thanh sử dụng cho mục đích thương mại và đặc biệt thương mại trên Internet thì việc lựa chọn công nghệ nén là một bài toán khó

Mục đích của đề tài là tìm hiểu vấn đề sản phẩm âm thanh thương mại trên internet và trọng tâm đó là kỹ thuật nén MPEG1 layer3 (MP3) Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử âm thanh

- Chương 2: Giải pháp công nghệ nén âm thanh MP3

- Chương 3: Một số triển khai bước đầu thương mại âm thanh trên Internet

Vì thời gian có hạn cũng như khả năng còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, bạn bè, đồng nghiệp và những ai quan tâm đến đề tài này!

Trang 8

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ÂM THANH

Mở đầu

Tính đa dụng của mạng Internet ngày càng được khẳng định Internet

đã có mặt và tham gia trực tiếp vào hầu hết các mặt của đời sống xã hội Trên

cơ sở của Internet đã hình thành một nền thương mại mới trên Internet mà người ta gọi nó là thương mại điện tử Thương mại điện tử (TMĐT) tạo ra những hình thái mới trong lĩnh vực dịch vụ thương mại; làm thay đổi nhiều tập quán kinh doanh cổ truyền…

1.1 Khái quát về thương mại điện tử

1.1.1 Thương mại điện tử là gì? Lịch sử phát triển của TMĐT

1.1.1.1 Thương mại điện tử là gì?

Thương mại điện tử (Electronic Commerce) là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch

Các phương tiện điện tử được sử dụng trong thương mại điện tử là (1) máy điện thoại; (2) máy FAX; (3) truyền hình; (4) các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toán điện tử (bao gồm cả mạng giá trị gia tăng); (5) các mạng nội bộ (intranet) và mạng ngoại bộ (extranet); (6) mạng toàn cầu Internet Công cụ Internet/Web ngày càng phổ biến, giao dịch thương mại điện tử với nước ngoài hầu như qua Internet, các mạng nội bộ và ngoại bộ nay cũng sử dụng công nghệ Internet

Các hình thức hoạt động chủ yếu của giao dịch thương mại điện tử là: (1) thư điện tử (email), (2) thanh toán điện tử (electronic payment), (3) trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange: EDI), (4) giao gửi số hoá các dung liệu (digital delivery of content), tức việc mua bán, trao đổi các sản phẩm mà người ta cần có nội dung (chính nội dung là hàng hoá), mà không cần tới vật

Trang 9

mang hàng hoá (như: Phim ảnh, âm nhạc, các chương trình truyền hình, phần mềm máy tính…); (5) bán lẻ hàng hoá hữu hình(retail of tangible goods) Trong các hình thức trên, trao đổi dữ liệu điện tử (dưới dạng các dữ liệu có cấu trúc) là hình thức chủ yếu

Thương mại điện tử bao gồm bốn loại giao tiếp: (1) người với người(qua điện thoại, thư điện tử, FAX); (2) người với máy tính điện tử (qua các mẫu biểu điện tử, qua Web); (3) máy tính điện tử với người (qua FAX, thư điện tử), và;(4) máy tính điện tử với máy tính điện tử (qua trao đổi dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, mã vạch)

Trong thương mại điện tử, các bên tham gia, các hình thức hoạt động, các phương tiện kỹ thuật điện tử, và các hình thái giao tiếp kết hợp thành một thể hữu cơ, đồng bộ, mang tính liên thông, liên tác.[1]

1.1.1.2 Lịch sử phát triển của thương mại điện tử

Từ khi Tim Berners Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá nhân đã tích cực khai thác và phát triển thêm về WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ Các doanh nghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với các đối tác

…một cách nhanh chóng tiện lợi và kinh tế Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của internet, WWW để phục vụ việc kinh doanh hình thành nên khái niệm thương mại điện tử

1.1.1.3 Các khái niệm B2B, B2C, P2P

Đôi khi bạn thấy ở đâu đó từ B2B, B2C, P2P v.v và có thể bạn chưa hiểu ý nghĩa của chúng Trong Thương mại điện tử người ta phân chia các khái niệm B2B, B2C, P2P dựa trên việc phân loại những đối tượng tương tác mua và bán, cụ thể là:

- B2B (Business – to – Business): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai nhóm đối tượng trong đó người mua và người bán đều là doanh nghiệp Ví

Trang 10

dụ như website www.vnmarketplace.net là nơi mà người mua và người bán đều là doanh nghiệp

- B2C (Business – to – Customer): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai nhóm đối tượng trong đó người bán là doanh nghiệp và người mua là cá nhân Ví dụ như website siêu thị điện tử (bán lẻ) như www.amazon.com là nơi mà người mua là cá nhân và người bán doanh nghiệp

- P2P (Peer – to – Peer): việc kinh doanh Thương mại điện tử giữa hai nhóm đối tượng trong đó người bán và người mua đều là cá nhân Ví dụ như website siêu thị điện tử (bán lẻ) như www.amazon.com là nơi mà người mua là cá nhân và người bán doanh nghiệp

1.1.2 Các cấp độ phát triển của thương mại điện tử

Thương mại điện tử phân chia thành nhiều cấp độ phát triển Xin giới thiệu 2 cách phân chia sau:

* Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển Thương mại điện tử

Cấp độ 1 - Hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng Ở mức

độ này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp

và sản phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác

Cấp độ 2 - Có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện

Cấp độ 3 - Chuẩn bị Thương mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ qua mạng Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống

cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng Các giao dịch còn chậm và không an toàn

Cấp độ 4 - Áp dụng Thương mại điện tử: website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự

Trang 11

động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả

Cấp độ 5 - Thương mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng Thương mại điện tử trên các thiết bị không dây như điện thoại di động, Palm (máy tính

bỏ túi) v.v… sử dụng giao thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocal)

Cấp độ 6 - Cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, người

ta có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch

* Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển Thương mại điện tử

Cấp độ 1 - Thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống

Cấp độ 2 - Thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến

Cấp độ 3 - Thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp, kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả

1.1.3 Lợi ích cho doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử

- Nắm được thông tin phong phú về kinh tế thưong mại

- Giảm chi phí sản xuất: trước hết là chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần(trong đó khâu in ân gần như bỏ hẳn), theo số liệu của

Trang 12

hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hướng này đạt tới 30% Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài, nếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ chiến lược

- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị: Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với nhiều khách hàng, ca ta lô điện

tử trên Web phong phú hơn nhiều và thương xuyên cập nhật so với ca ta lô in

ấn chỉ có khuân khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời

- Giảm chi phí giao dịch: Thương mại điện tử qua Internet/ Web giúp người tiêu thụ và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gianvà chi phí giao dịch

- Thiết lập và củng cố quan hệ đối tác

- Tạo điều kiện sớm tiếp cận “Kinh tế số hoá”.[1]

1.1.4 Thanh toán điện tử trực tuyến

1.1.4.1 Mô hình thanh toán qua mạng trên thế giới

Thanh toán trực tuyến trên Internet đã có từ những năm đầu của thập kỷ

90, bắt đầu với việc bán pizza qua mạng Internet (Hobbes' Internet Timeline v1.1, http://www.cc.utah.edu/history.html)

Đại đa số các thanh toán quốc tế được thực hiện thông qua thẻ tín dụng (credit card) Ngoài ra, còn có nhiều phương thức thanh toán khác như Paypal,

TradEnable, eCharge Phone, Mondex, Internet Cash , eGold, SMS, bank transfer, thẻ trả trước, coupons …

Thẻ tín dụng là loại thẻ Visa, MasterCard… có tính quốc tế, chủ thể có thể dùng được trên toàn cầu Tên gọi là tín dụng vì chủ thẻ dùng trước tiền của ngân hàng để chi trả, đến cuối tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng

Trên thẻ có các thông số sau: Hình chủ sở hữu thẻ, họ và tên chủ sở hữu thẻ, số thẻ (Visa Electron và MasterCard đều có 16 chữ số), thời hạn của

Trang 13

thẻ, mặt sau thẻ có dòng số an toàn (security code) tối thiểu là ba chữ số, và một số thông số khác cùng với các chip điện tử hoặc vạch từ (Magnetic stripe) Chủ thẻ cũng được cung cấp PIN code (Personal Information Number – mã số cá nhân) để khi rút tiền từ máy, chủ thẻ phải nhập đúng PIN code này thì máy mới xử lý yêu cầu rút tiền

Trong thanh toán trực tuyến, chủ sở hữu thẻ không cần quét thẻ cũng như không cần cung cấp thông tin về PIN code Vậy làm sao để đảm bảo an toàn cho chủ thẻ không bị người khác sử dụng trái phép thẻ của mình? Một thông số khác có thể được sử dụng bổ sung: thông tin về địa chỉ nhận hoá đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ Những thông tin về thẻ tín dụng người mua phải khai báo khi thực hiện việc mua qua mạng bao gồm:

- Số thẻ (16 chữ số được in trên mặt trước của thẻ)

- Họ tên chủ sở hữu in trên thẻ

- Thời hạn hết hạn của thẻ, cũng in trên mặt trước thẻ

- Mã số an toàn là ba chữ số cuối cùng in trên mặt sau thẻ Thông số này không bắt buộc phải cung cấp, tuỳ website có yêu cầu hay không

- Địa chỉ nhận hoá đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ Thông số này cũng không bắt buộc phải cung cấp, tuỳ website có yêu cầu hay không

Hiện giao thức thanh toán qua mạng được sử dụng gọi là SET (Secure Electronic Transaction – Giao dịch điện tử an toàn) do Visa và Master Card phát triển năm 1996 Hình sau minh hoạ cách thức sử lý thanh toán qua mạng

Trang 14

Hình 1.1 Quy trình xử lý thanh toán trực tuyến

[Nguồn: Richard Jewson E-payments: Credit Cards on the internet.]

3 Ngân hàng của người bán hoặc của Bên thứ ba sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ với ngân hàng nơi phát hành thẻ, thông qua giao thức SET (Secure

Trang 15

Electronic Transaction - Giao dịch điện tử An Toàn ) Việc kiểm tra này được thực hiện tự động rất nhanh, trong vòng vài giây

4 Ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi (được mã hóa theo quy định) cho ngân hàng của người bán hoặc bên thứ ba về tính hợp lệ của thẻ

5 Sau đó thông tin này được giải mã và gửi về cho người bán

6 Người bán dựa trên thông tin phản hồi này quyết định bán hay không bán Nếu bán thì sẽ gửi email xác nhận cũng như hoá đơn và các văn bản cần thiết khác cho người mua, đồng thời xử lý đơn hàng Nếu không bán thì giao dịch coi như kết thúc, người bán cũng gửi thông điệp cho người mua, nêu rõ lý do không bán

* Sự khác biệt giữa người bán có Merchant Account và không có

- Người bán có Merchant Account: Việc xin được Merchant Account không phải là rễ ràng, đòi hỏi người bán đa phần lphải là ở Mỹ, phải có

ký quỹ ngân hàng, phải có bằng chứng đảm bảo uy tín kinh doanh trên mạng… vì trường hợp này họ được truy cập trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của các ngân hàng để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ

- Người bán không có Merchant Account: Không phải người bán nào cũng có thể xin được Merchant Account, nhưng nhu cầu bán hàng qua mạng thì rất cao, từ đó có nhiều công ty xin Merchant Account để cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng cho các doanh nghiệp khác, những công ty này được gọi là Third Party (Bên thứ ba) hoặc Online Payment Processor (nhà xử lý thanh toán qua mạng)

* Rủi ro trong thanh toán qua mạng

Nếu người mua dùng thẻ tín dụng của người khác trái phép để mua hàng qua mạng, khi chủ thẻ phát hiện và khởi kiện với ngân hàng phát hành thẻ và đưa

ra bằng chứng mình không hề thực hiện giao dịch đó, thì thiệt hại cuối cùng thuộc về người bán Người bán không những không được thu tiền mà còn bị

Trang 16

mất từ 10 – 30 Dollar Mỹ cho chi phí “điều tra”, chi phí này được gọi là phí charge-back, thường được người bán khai rõ trong mục điều khoản khi người bán xin Merchant Account hoặc mua dịch vụ của Third Party.[3]

1.1.4.2 Mô hình thanh toán qua mạng tại Việt Nam

Cuối những năm 1990, TMĐT vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở nước ta Nhưng dưới sức lan tỏa rộng khắp của TMĐT, các công ty Việt Nam cũng đang từng bước làm quen với phương thức kinh doanh hiện đại này Chợ điện tử hiện nay không còn quá xa lạ đối với người tiêu dùng Việt Nam như cách đây vài năm, và xu hướng mua hàng qua mạng điện tử ngày càng gia tăng như tại chợ điện tử Golmart, vào tháng 5/2006, đã có hơn 30.000 khách hàng thường xuyên đặt hàng 2 lần/tuần và hơn 10.000 khách hàng vãng lai

(Theo www.vietrade.gov.vn , Cục xúc tiến thương mại, Bộ Thương Mại)

Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, chúng ta chưa có thanh toán qua thẻ tín dụng hoặc Paypal Vì vậy các hình thức thanh toán chủ yếu là thẻ cào và tin nhắn SMS Trong năm 2005, hình thức thẻ cào trả trước được sử dụng rộng rãi để thanh toán cho các trò chơi trực tuyến (game online) với tổng số tiền thanh toán ước tính hơn 100 tỷ đồng

Với tốc độ tăng trưởng tỷ lệ người sử dụng Internet là 123,4%/năm (cao nhất trong khu vực ASEAN), đạt 3,7 triệu thuê bao Internet và 13,7 triệu người sử dụng (số liệu thống kê từ VNNIC, tháng 9 năm 2006), Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển TMĐT Theo dự báo

về mức tăng trưởng thị trường công nghệ thông tin Việt Nam của IDG, trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008, mức chi tiêu cho công nghệ thông tin của Việt Nam nằm trong tốp 10 nước đứng đầu thế giới và sẽ vượt qua Trung Quốc với tỷ lệ tăng trưởng đạt 16% Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia rất nhanh nhạy với mô hình kinh doanh trực tuyến

Trang 17

Tuy vậy, chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động TMĐT tại Việt Nam vẫn còn có những điểm yếu nhất định Hầu hết các website B2B chưa có định hướng hoạt động rõ ràng, mà chúng ta chủ yếu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thiết lập và thử nghiệm, giá trị giao dịch thực tế còn rất thấp Loại hình giao dịch B2B chưa thật sự hình thành ở Việt Nam Các công ty nói chung khá nhanh nhạy trong việc áp dụng TMĐT, nhưng còn không ít công ty đến với hình thức này theo kiểu “phong trào”, chưa kể số lượng các website cung cấp dịch vụ TMĐT quy mô lớn chỉ đếm được trên đầu ngón tay

(theo http://www.mot.gov.vn/) Một số đơn vị như VASC đã cố gắng tạo lập cổng giao dịch thương mại nhưng nhiều năm nay vẫn chưa tạo được thành công nào đáng kể

Thẻ tín dụng

Hiện nay các hãng VISA, American Express, ANZ đã phối hợp với một số ngân hàng trong nước như Vietcombank và ACB để phát hành thẻ tín dụng Đặc biệt, chỉ cần 100,000 đồng là có thể mở một tài khoản Visa Debit tại ngân hàng TMCP Á Châu (www.acbcard.com.vn)

Đây là loại thẻ tín dụng trả trước (hoạt động như thẻ ATM nhưng có khả năng thanh toán trực tuyến) Dự kiến loại thẻ này sẽ phát triển khá mạnh ở Việt Nam trong một vài năm tới Tuy nhiên không nhiều website thế giới chấp nhận loại thẻ này Để đăng ký thẻ Visa – Master bình thường, khách hàng cần phải chứng minh tài chính

Kinh nghiệm của các hãng dịch vụ quốc tế đã chứng minh sử dụng thẻ tín dụng là phương thức thanh toán hữu hiệu nhất Tuy nhiên tại Việt Nam thì

Trang 18

việc dùng thẻ tín dụng để mua hàng của các công ty trong nước trên Internet chưa đi vào thực tế Nhiều website cấm IP ở Việt Nam không cho thanh toán qua thẻ tín dụng (ví dụ như Register.com, kiểm tra lần cuối vào tháng 8 năm 2006) Nhiều trường hợp nhà cung cấp dịch vụ còn dễ bị đền bù (charge-back) vì gian lận thẻ (credit card fraud) Cũng có những DN phải chọn cách dùng nhà cung cấp dịch vụ thứ 3 như PayPal, WorldPay, 2checkout… Điều đáng nói là PayPal , WorldPay, Google Checkout và một số tổ chức uy tín khác đã thẳng thừng từ chối những người bán hàng VN

Chỉ có số ít chịu “mở cửa” cho DN VN như 2checkout, chấp nhận thì chấp nhận nhưng 2checkout không có hỗ trợ tiếng Việt, không hỗ trợ kỹ thuật (do vậy chỉ có khách hàng là nhân viên kỹ thuật chuyên lập trình web, giỏi tiếng Anh thì mới có thể thực hiện giao dịch được với tổ chức này)

Ngày 1/3/2006 Việt Nam đã chính thức ban hành Luật giao dịch điện tử và ký kết nhiều văn bản với thế giới cũng như khu vực ASIAN về phát triển thương mại điện tử Những văn bản này đã tạo tiền đề và đang hứa hẹn một sự thay đổi lớn trong mô hình thanh toán trực tuyến tại Việt Nam vài năm tới

Năm 2005, hầu hết các thanh toán dịch vụ Internet tại Việt Nam được thực hiện thông qua hình thức thẻ trả trước

Demo một vài thẻ screenshots

Trang 20

Hình 1.2 Sơ đồ hoạt động của hệ thống thu phí qua SMS

[Nguồn: www.rao.hr]

Thanh toán bằng SMS có ưu điểm là nhanh, tiện lợi, phù hợp cho các thanh toán với số tiền nhỏ Hiện một mô hình tương tự VOVaudio là GiaiDieu.net đang áp dụng hình thức này

Chỉ tính riêng trong năm 2005 các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động Việt Nam đã thu tổng số khoảng 1.500 tỷ đồng từ tin nhắn SMS (theo số liệu thống kê năm 2005 của e-Chip Mobile)

Các công ty / dịch vụ online đang dùng SMS để thu phí tại Việt Nam

- Game online: Audition, MU, Con đường đế vương

- Nhạc: www.giaidieu.net

- Thông tin giải trí: FPT, VASC, Vietway

Các mức giá SMS hiện nay

Trang 21

Theo số liệu từ bộ Bưu chính viễn thông, các mức giá cho mỗi tin nhắn hiện nay đang được quy định là: 500đ, 1000đ, 2000đ, 3000đ, 4000đ, 5000đ và 15000đ

Tỷ lệ ăn chia

Thông thường, nhà cung cấp dịch vụ di động (VinaPhone, MobiFone, Viettel

…) sẽ chiết khấu 15% đến 25% tổng doanh thu

Nếu VOVnews thông qua một đối tác thứ 3 để kết nối, sẽ phải chia sẻ khoảng 20% - 50% số tiền còn lại cho đối tác này (tương đương 10% - 20% tổng doanh thu)

Như vậy, tổng số tiền VOVnews thu về (doanh thu thực) là khoảng 50% đến 70% doanh thu từ khách hàng Ví dụ một bài hát giá 2,000đ, VOVnews có thể thu về từ 1,000đ đến 1,400đ

(Nguồn: Công ty viễn thông di động VMS - MobiFone)

SMS là phương pháp thanh toán phù hợp với thị trường Việt Nam

Theo số liệu từ trung tâm VTC game online tháng 8 năm 2006, 80% thu nhập của trò chơi Audition là từ tin nhắn SMS Còn tại Hàn Quốc, theo Bộ thông tin và truyền thông Hàn Quốc, chỉ trong vòng 4 năm, SK Telecom đã thu về

số tiền kỷ lục 685 tỷ won, KTF có doanh thu 360 tỷ won còn LG về thứ 3 với

176 tỷ won nhờ dịch vụ SMS

Thu phí bằng tin nhắn SMS đang dần khẳng định ưu thế vượt trội và được dự đoán sẽ là công cụ thanh toán chủ yếu của Việt Nam trong vòng 2 năm tới

1.1.4.2.3 Thu tiền trực tiếp

Ngoài ra, còn có các hình thức thu phí khác như trả tiền trực tiếp tại văn phòng của nhà cung cấp dịch vụ, chuyển khoản, trả tiền mặt khi giao hàng Nhưng những hình thức thu phí trực tiếp này không phù hợp với các mặt hàng

ảo như nhạc số và chi phí rất lớn khi phục vụ số lượng khách hàng đông Mặt khác, thu phí trực tiếp với số tiền nhỏ sẽ gây bất tiện cho khách hàng

Trang 22

1.1.4.2.4 So sánh ưu khuyết điểm của các mô hình này

(sự tiện lợi, % chi phí, độ phức tạp để xây dựng, độ ổn định, phù hợp với số tiền nhỏ, sử dụng cho khách VN ở nước ngoài …)

Thẻ tín dụng

Thanh toán cho Việt Kiều dễ dàng

Ít người có thẻ tín dụng Yêu cầu bảo mật cao

Không phù hợp với số tiền nhở

SMS Đơn giản, phủ

sóng toàn quốc Chi phí trung gian cao

Bảng1.1 So sánh ưu khuyết điểm của các mô hình thanh toán

1.1.4.2.5 Các dịch vụ dành cho người Việt ở nước ngoài

Đối với khách hàng hiện không ở trong nước, ngoài việc nhờ người thân nạp tiền bằng các hình thức kể trên, hiện chỉ có một biện pháp là thanh toán bằng thẻ tín dụng

Nếu nhà cung cấp dịch vụ có tài khoản tại ngân hàng nước ngoài, quá trình này sẽ trở nên đơn giản Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ tại Việt Nam không có thẻ tín dụng để nhận tiền từ thẻ tín dụng hoặc Paypal của khách hàng, con đường phổ biến là thông qua một hãng thứ 3 Ví dụ: digitalriver, regNow, 2checkout …

Với mô hình này, khách hàng trả tiền bằng thẻ tín dụng thông qua hãng trung gian, sau khi chiết khấu hãng trung gian sẽ trả séc về cho VOVnews Chi phí cho hãng thứ 3 này dao động từ 5% đến 15% doanh thu Thông thường sau 1 tháng đến 3 tháng kể từ ngày khách hàng trả tiền, hãng trung

Trang 23

gian này sẽ chuyển séc về Việt Nam (tuy nhiên hầu hết các hãng hiện đang từ chối các chủ tài khoản từ Việt Nam)

Những vướng mắc cần giải quyết hoặc chờ đợi

Bảng 1.2 Đánh giá những trở ngại chính đối với doanh nghiệp trong việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử

[Nguồn: báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2005, Bộ Thương Mại]

1.1.5 Bảo mật an toàn trong TMĐT

Việc bảo mật trong khi thanh toán qua mạng là vấn đề chiến lược và là trọng tâm hàng đầu trong TMĐT

Hiện nay, trong việc thanh toán qua mạng, các tổ chức tín dụng và các nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán thẻ tín dụng trên thế giới áp dụng công nghệ bảo mật cao cấp là SET

- SET là viết tắt của các từ Secure Electronic Transaction, là một nghi thức tập hợp những kỹ thuật mã hoá và bảo mật nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho các giao dịch mua bán trên mạng

Trang 24

Đây là một kỹ thuật bảo mật, mã hóa được phát triển bởi VISA, MASTER CARD và các tổ chức khác trên thế giới Mục đích của SET là bảo vệ hệ thống thẻ tín dụng, tạo cho khách hàng, doanh nghiệp, ngân hàng, các tổ chức tài chính sự tin cậy trong khi giao dịch mua bán trên Internet

Những tiêu chuẩn và công nghệ SET được áp dụng và thể hiện nhất quán trong các doanh nghiệp, các ngân hàng/công ty cấp thẻ, tổ chức tín dụng và trung tâm xử lý thẻ tín dụng qua mạng

Ngoài ra, SET thiết lập một phương thức hoạt động phối hợp tương hỗ (method of interoperability) nhằm bảo mật các dịch vụ qua mạng trên các phần cứng và phần mềm khác nhau

Tóm lại SET được thiết lập để bảo mật những thông tin về cá nhân cũng như thông tin về tài chính trong quá trình mua bán và giao dịch trên mạng

1.2 Thương mại điện tử âm thanh

Thương mại âm thanh trực tuyến là một dạng của thương mại điện tử, liên quan đến các file âm thanh (trên thực tế chủ yếu là file nhạc)

Để kinh doanh (lành mạnh) trên mạng Internet, doanh nghiệp cần có kho dữ liệu âm thanh có bản quyền được số hóa và hạ tầng cơ sở để đưa kho âm thanh đó lên mạng và thực hiện các giao dịch trực tuyến

Âm thanh được đem bán ở đây bao gồm các thể loại như âm nhạc (kể cả nhạc phim, nhạc nền trò chơi điện tử, nhạc chuông điện thoại di động…), tin tức, thông tin, các loại văn bản hay sách được thể hiện dưới dạng âm thanh (audio books) Đó có thể là các đĩa CD lưu trữ âm thanh, được rao bán trên mạng để khách hàng sau đó mua tại cửa hàng thực hoặc nhận qua đường bưu điện Hình thức khác của sản phẩm âm thanh là các file được lưu ngay trên các website, khách hàng có thể trả tiền (qua nhiều phương thức khác nhau) để được nghe trực tiếp hoặc tải về máy tính cá nhân

Trang 25

1.2.1 Thương mại âm thanh trong nước và nước ngoài

1- Nhóm thứ nhất: đưa âm nhạc lên trang web để làm cho phong phú thêm nội

dung nhưng không thực sự chú trọng mục này, thể hiện ở cách trình bày còn đơn giản, nội dung khá nghèo nàn và âm thanh tuy dễ download nhưng chất lượng không cao Ví dụ: Ví dụ như trang Quân đội nhân dân điện tử có phần Media:

http://www.qdnd.vn/qdnd/media.qdnd, Hay báo Nhân dân điện tử: http://

www.nhandan.org.vn

2- Nhóm thứ hai: đang thực hiện hoặc có chiều hướng hướng tới mục tiêu

phục vụ thương mại Lúc này, ta phải có cái nhìn về thương mại điện tử rộng hơn (như đã trình bày ở trên), rất ít website bán trực tiếp bài hát hoặc file âm thanh, nhưng rõ ràng họ xây dựng trang âm thanh với mục tiêu thương mại

Trang 26

- Thông tấn xã Việt Nam có các bản tin âm thanh khá hấp dẫn, sinh động mặc dù TTXVN chưa bán các bản tin này nhưng lại có bán rất nhiều sản phẩm tin, ảnh khác

- Đài TNND TP HCM và Đài TNVN có nhiều bản nhạc online, nhiều chương trình âm nhạc được lưu giữ

http://www.voh.com.vn/newssound/newssound.cfm?catid=88

Hình 1.3 Website của Đài TNND TP HCM

Có hàng chục mục âm thanh, mà riêng trong mục Quà tặng âm nhạc đã có

641 file

Xu hướng thương mại thể hiện rõ: báo này có kèm ngay trong webpage biểu giá tài trợ cho các chương trình phát thanh:

http://www.voh.com.vn/ad/index.htm

Trang 27

* Trang Giai điệu xanh của Vietnamnet

http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/index.html

Là một website âm nhạc với khá đầy đủ kiến thức âm nhạc phổ thông Tuy nhiên trên trang này không có nhiều file âm nhạc để nghe Trang này có bán bài hát trực tiếp bằng cách cho download xuống diện thoại:

http://nhacso.net/Music/mp3/

Trang 28

Website rất phong phú với âm nhạc gồm nhiều thể loại: Nhạc cách mạng, nhạc dân tộc, nhạc nhẹ, nhạc trữ tình, nhạc không lời, Nhạc Rock , nhạc tiền chiến, nhạc thiếu nhi Trang web cũng được bố trí, phân loại theo từng thể loại nhạc, theo tác giả, tác phẩm, ca sĩ để người dùng dễ dàng tìm kiếm, chọn lựa được bài hát yêu thích

Website này có rất nhiều logo, baner quảng cáo

Hình1.4 Website nhạc số

* Báo Tuổi trẻ Online gần đây cũng phát triển trang âm nhạc Ngay trên trang chủ của báo này đã thấy banner quảng bá cho việc “Tải nhạc miễn phí” Trang Madia của báo này có thể nói là khá phong phú:

http://www3.tuoitre.com.vn/Media/?Comc=SongDownload

Trang 29

Hình1.5 Website của Báo Tuổi trẻ Online

Những bài hát thuộc nhiều thể loại khác nhau: Nhạc tiền chiến, nhạc trẻ, ca khúc kháng chiến, nhạc thiếu nhi… có hơn 1500 bài hát trong cơ sở dữ liệu Website này cũng có 1 mục hấp dẫn khác là sách nói, chủ yếu là truyện cho thiếu nhi Có 18 file sách nói, mỗi sách khoảng hơn 60 phút, chia làm 3-4 các file nhỏ, đủ để tạo sự hấp dẫn với các bạn trẻ

Ngoài ra trang này cũng giới thiệu 154 album video clip âm nhạc

Trang 30

http://www.cailuong.com/index.php

Đây là trang web nghe nhạc cải lương, nhưng đòi hỏi phải trả phí nếu muốn nghe đầy đủ, hầu hết các bài hát đều cho nghe thử dạng MP3, chất lượng âm thanh tốt

* Với báo điện tử VOVNews- Đài Tiếng nói Việt Nam

Khi website báo điện tử của Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày ngày càng nhiều âm thanh trên mạng Internet, đã có nhiều thính giả gửi thư đến bày tỏ mong muốn có những đĩa CD hoặc băng ghi âm những bài hát, những âm thanh tiếng thơ, đọc truyện đã phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam Có những thính giả trong nước, có người ở nước ngoài, yêu cầu gửi cho họ có khi là những bài hát qua giọng ca của nghệ sĩ Thanh Huyền, những bài thơ qua giọng ngâm nghệ sĩ Châu Loan…; và nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của riêng Đài Tiếng nói Việt Nam Một số thính giả cho biết sẵn sàng trả chi phí nếu phía VOVNews yêu cầu

Như vậy, nếu đưa kho âm thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam lên Internet và đặt vấn đề thương mại điện tử, chúng tôi kiến nghị:

1 Có thể “bán” các bài hát, chương trình đọc truyện, chương trình dạy tiếng Việt… này theo kiểu cho phép download từ trên trang web, có thu phí Hình thức này cũng có thể áp dụng theo lối “quà tặng”, Khách hàng A mua để gửi tặng cho khách hàng B Điều quan trọng là tìm ra hình thức thanh toán phù hợp

2 Có thể đưa âm thanh chất lượng cao lên website như “mẫu hàng” để giới thiệu và bán các CD chọn lọc ghi âm các chương trình ca nhạc, các mục âm thanh giải trí (đọc truyện đêm khuya, tiếng thơ, kể chuyện cổ tích, hát ru, câu lạc bộ hài ) Và cả các chương trình mang tính chất giáo dục (Dạy tiếng Việt, tiếng nước ngoài, Cửa sổ tình yêu )

Trang 31

1.2.1.2 Tình hình nước ngoài

eMusic, hãng bán lẻ nhạc độc lập lớn nhất thế giới, thành lập năm 1998

và cho ra đời dịch vụ đặt mua dài hạn nhạc số đầu tiên vào năm 2000 Napster cũng có bán nhạc trực tuyến vào năm 2000 Trong khi đó, Sony trở thành công ty đầu tiên đưa nhạc của các hãng thâu nhạc lớn lên mạng Các công ty thu nhạc khi ấy sợ giao các catalô nhạc của mình cho các công ty bên ngoài

và họ đã từ chối đề nghị bán nhạc số của hãng MP3.com và eMusic vào cuối thập kỷ Thay vào đó, họ tự mở dịch vụ nhạc số của riêng mình để tiện kiểm soát

Tuy nhiên, Sony - một trong các ông lớn về thâu nhạc, đã không thành công với nhạc online do dịch vụ của họ khó sử dụng mà giá lại cao (tới 3.5 đô-la /bài) Đã thế khách hàng lại không thực sự được sử dụng mà chỉ là “thuê” các track (bài hát) Sau một thời gian nhất định, các file sẽ hết giá trị và người sử dụng phải mua lại!

Bất chấp thất bại, ngành công nghiệp thu đĩa thử sức một lần nữa Universal Music Group, Sony liên kết thành lập Duet (sau là PressPlay) Còn EMI, AOL/Time Warner và BMG thành lập MusicNet Song các dịch vụ này vẫn gặp trở ngại do giá cao và những hạn chế đối với cách thức khách hàng được

sử dụng file sau khi tải Rốt cục, nhiều khách hàng đổ xô sang các chương trình chia sẻ file - vừa dễ sử dụng vừa miễn phí

Các dịch vụ không thuộc hãng thâu nhạc lớn, như eMusic và Rhapsody.com tiếp tục cuộc chơi bằng việc bán nhạc của các nghệ sĩ độc lập Thị trường tải nhạc số chỉ thực sự bắt đầu khởi sắc vào năm 2003, khi hãng Apple Computer giới thiệu dịch vụ iTunes (hiện chiếm tới 65% thị phần nhạc số toàn cầu.) Các hãng nhạc ở Mỹ, Anh, Tây Âu có vẻ phát triển hơn cả (về mọi mặt) Ở Nga có AllofMP3.com là một website có bề dày hoạt động, có cả giao diện tiếng Anh và tiếng Nga, khá chuyên nghiệp, tích cực bán nhạc trong và ngoài

Trang 32

nước, là đối thủ đáng gờm của các hãng nhạc trực tuyến Tây Âu Ở Trung Quốc, tiểu biểu là music.km169.net (chỉ có giao diện tiếng Trung.) Bên Úc có website AMO (Australian Music Online) do Nhà nước tài trợ, chuyên quảng

bá thương mại cho nhạc Úc trong và ngoài nước

* Doanh thu

Theo tính toán năm 2006 của Công ty nghiên cứu thị trường In-Stat thì doanh số nhạc số năm 2005 (bao gồm cả nhạc tải hoặc nghe trực tuyến và nhạc đĩa) đạt 1,5 tỷ đô-la Công ty này dự đoán con số trên sẽ lên tới 10,7 tỷ đô-la vào năm 2010 In-Stat cũng dự đoán doanh thu từ nhạc tải vào năm

2007 sẽ vượt doanh thu từ việc bán đĩa nhạc qua mạng Ngoài ra, báo cáo của In-Stat cho thấy dịch vụ tải nhạc lên điện thoại di động đang lên ngôi bên cạnh việc bán đĩa CD truyền thống cũng như tải các bài hát, album về máy tính hay dụng cụ nghe nhạc xách tay Báo cáo còn cho biết hiện có sự gia tăng đáng kể sồ người chấp nhận trả tiền để nghe nhạc một cách hợp pháp

* Loại hình doanh nghiệp kinh doanh nhạc online

Chủ yếu là B-2-C Có thấy một B-2-B là MusicNet Các hãng nhạc online được khảo sát ở đây chủ yếu bán trực tiếp file âm thanh trên mạng Có một số ít như Walmart.com (của tập đoàn bán lẻ Wal-Mart) vừa bán file online vừa bán đĩa

1.2.2 Bản quyền âm nhạc

1.2.2.1 Bản quyền (quyền tác giả) là gì?

Theo từ điển Bách khoa wikipedia, quyền tác giả hay bản quyền là

độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi

là tác phẩm) thí dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh Quyền

Trang 33

này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này

Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất

1.2.2.2 Thực thi bản quyền ở Việt Nam

Quyền tác giả là một lĩnh vực phức tạp và còn mới mẻ đối với Việt Nam Thực tế, ý tưởng về quyền tác giả đã hình thành ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và được tiếp tục ghi nhận tại các bản Hiến pháp sau Ngoài

ra, tại Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Hải quan, Bộ luật Hình sự và các luật, văn bản pháp quy khác cũng đã có các quy định về quyền tác giả

Các quy định pháp luật Việt Nam về quyền tác giả về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu bảo hộ quyền tác giả nói chung và thực thi các hiệp định song phương

về quyền tác giả, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng Nó đã xác lập được hành lang pháp lý an toàn, khuyến khích các hoạt động sáng tạo, bảo hộ quyền tác giả của những tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do lao động của tư duy sáng tạo ra Nó bảo đảm việc điều chỉnh hầu hết các quan

hệ xã hội ở lĩnh vực này, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, dự báo được xu thế phát triển trong nước và trên trường quốc tế Vì vậy, nó thể hiện

tư tưởng tiến bộ, nhân văn về quyền con người của Nhà nước Việt Nam Trong những năm qua, pháp luật về quyền tác giả đã phát huy tác dụng tích cực trên các mặt Pháp luật đã tạo lập môi trường khuyến khích tự do sáng tạo các giá trị văn học, nghệ thuật và khoa học, thúc đẩy phong trào nghiên cứu, sáng tạo nói chung, trong giới trí thức, văn nghệ sĩ nói riêng Pháp luật là phương tiện để tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, là công cụ để quản

lý, giữ gìn trật tự xã hội về quyền tác giả, ngăn chặn những sản phẩm văn hóa

Trang 34

độc hại, bất lợi cho cộng đồng và lợi ích quốc gia

Ở hầu hết các lĩnh vực, từ báo chí, xuất bản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình đến phát thanh, truyền hình đều tôn trọng các quyền đặt tên tác phẩm, quyền đứng tên tác giả trên tác phẩm, quyền cho phép khai thác,

sử dụng tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm và quyền được hưởng nhuận bút, thù lao và các lợi ích vật chất khác phát sinh từ việc cho phép khai thác, sử dụng tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Tình trạng vi phạm quyền tác giả cũng đã diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, có

vụ việc nghiêm trọng Thị trường băng, đĩa âm thanh, băng, đĩa hình được báo động về tình trạng nhập lậu qua biên giới, sao chép tùy tiện không phép đã gây thiệt hại cho các chủ sở hữu tác phẩm Việc sử dụng tác phẩm không xin phép tác giả, chủ sở hữu tác phẩm vẫn diễn ra, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình Tình trạng in lậu sách vẫn chưa được chấm dứt Việc sao chép, sử dụng không phép các chương trình phần mềm đang là vấn đề gây ảnh hưởng đến chính sách đầu tư phát triển công nghệ thông tin của Nhà nước, làm thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm Nếu hệ thống pháp luật về quyền tác giả đủ sức bảo hộ quyền tác giả ở nội địa và hội nhập quốc tế thì hệ thống thực thi và việc thi hành đang là vấn đề bức xúc cần phải được cải thiện tích cực

Để trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc tham gia Hiệp định TRIPS, về các khía cạnh kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ là yêu cầu bắt buộc của lộ trình này Theo cam kết tại Hiệp định về bảo hộ

sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thụy Sĩ, ngoài việc tham gia Công ước Berne, Hiệp định TRIPS, Việt Nam còn phải tham gia Công ước Rome 1961

về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng Theo cam kết tại Điều 1, Khoản 3 và Điều 18, Chương II Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thì ngoài việc tham gia Công ước Berne về bảo hộ tác

Trang 35

phẩm văn học, nghệ thuật trong thời hạn 24 tháng, Việt Nam còn phải tham gia Công ước Geneva 1971 về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép trái phép, Công ước Brussles 1974 về phân phối các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh trong thời hạn 30 tháng kể từ ngày Hiệp định

lệ còn thấp hơn tỷ lệ trên Điều này chứng tỏ phần nào về việc đề cao trách nhiệm của các nhà xuất bản khi phải thực hiện nghĩa vụ thoả thuận trước khi xuất bản với các tổ chức, cá nhân thuộc nước thành viên công ước

Cùng với Công ước Berne, Công ước Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ có hiệu lực vào ngày 6/7/2005 cũng đã có tác động mạnh vào hoạt động của các hãn sản xuất băng, đĩa ca nhạc, các tổ chức phát sóng, các tổ chức và cá nhân hoạt động với mục đích thương mại sử dụng chương trình ghi âm

1.2.2.3 Thực thi bản quyền của thế giới

1.2.2.3.1 Vấn đề pháp lý

Xã hội phương Tây trọng pháp luật từ xưa và hiện nay chế độ pháp quyền tương đối hoàn thiện nơi đây Pháp luật được tích cực áp dụng để điều chỉnh mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh

Các công ty thương mại điện tử nói chung và nhạc nói riêng của nước ngoài

tỏ ra rất am hiểu về pháp luật và coi trọng các vấn đề pháp lý Dường như

Trang 36

chúng hầu hết đều có riêng một đội ngũ luật gia, luật sư chuyên nghiên cứu luật, tư vấn luật, hỗ trợ hoạch định chính sách và đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp Ngoài ra, chúng có may mắn là được bảo hộ bởi luật bản quyền đã phát triển đầy đủ của nước sở tại

Các website nhạc thương mại đều có các mục như Terms of Use (điều khoản

sử dụng), Agreement (thỏa thuận), Privacy Policy (chính sách về quyền riêng tư), thể hiện rõ và chặt chẽ quan điểm của công ty, trách nhiệm của công ty và những ràng buộc pháp lý của công ty đối với khách hàng

Cụ thể có mấy điểm sau:

a Các website yêu cầu tất cả những ai ghé thăm và muốn dùng website phải

đọc và tuân thủ đầy đủ các điều khoản sử dụng của website; nếu không nhất trí ở bất cứ điểm nào thì không được dùng website hoặc ngừng ngay lập tức việc sử dụng website

b Các website nhạc đặc biệt quan tâm đến bản quyền vì (1) nó liên quan sát sườn đến lợi nhuận và uy tín của các công ty, (2) sản phẩm kỹ thuật số rất dễ sao chép, nhân bản và phát tán với chất lượng gần như không đổi

Các website khẳng định quyền sở hữu của doanh nghiệp và đối tác doanh nghiệp đối với tất cả nội dung bên trong trang web, từ các file nhạc, bài viết đến tranh ảnh, slogan, logo, thương hiệu, v.v Chúng (các website B-2-C) chỉ chấp nhận việc sử dụng cá nhân, phi thương mại, tức là khách hàng không được sao chép, nhân bản, bán lại, phân phối hoặc phát lại bất cứ nội dung nào của website (dù khách hàng đã mua nội dung đó) nếu không có sự đồng ý trước bằng văn bản của website

Ngay trong trường hợp người sử dụng được nghe nhạc miễn phí, đọc bài viết miễn phí, các website cũng yêu cầu phải tôn trọng quyền tinh thần (moral rights) của website, tức là phải chỉ rõ nguồn và không tùy ý chỉnh sửa thông tin

Trang 37

Ngoài ra, các website còn khẳng định bản quyền đối với các thông tin do khách hàng chia sẻ trên mạng của công ty

c Website nghiêm cấm người sử dụng lấy cắp dữ liệu, đột nhập mạng, rà soát website để tìm lỗ hổng bảo mật, tải nặng lên website, can thiệp vào hoạt động

và giao dịch của website, thay đổi thông tin, dùng website hoặc nội dung website cho mục đích bất hợp pháp

d Website khẳng định không chịu trách nhiệm với khách hàng về hậu quả khách hàng chịu do vi phạm quy định của công ty Nó cũng không bảo đảm

an toàn tuyệt đối cho khách hàng khi truy cập và khách hàng phải chấp nhận nguy cơ đó khi sử dụng website

e Website giữ quyền chỉnh sửa nội dung hoặc chấm dứt hoạt động bất cứ lúc nào mà không cần thông báo trước

f Website khẳng định tôn trọng thông tin cá nhân, bao gồm thông tin tài chính, của khách hàng và gắng hết sức để bảo vệ thông tin đó nhằm tạo yên tâm cho khách hàng

h Website cũng nêu rõ nếu khách hàng vi phạm các điều khoản sử dụng thì

có thể bị website truất quyền sử dụng dịch vụ, phạt tiền, tiết lộ thông tin hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

1.2.2.3.2 Vi phạm bản quyền về âm nhạc trên thế giới

Năm 2004: Ngành công nghiệp đĩa nhạc lậu phát triển rất mạnh tại châu Mỹ Latin, Ấn Độ, Trung Đông và bắc Âu 31 quốc gia có số doanh thu bán đĩa nhạc lậu cao hơn nhạc hợp pháp (Liên hiệp âm nhạc quốc tế)

Tập đoàn Informa Media Group ở London đưa ra mức ước tính thiệt hại vi phạm bản quyền nhạc qua Internet khoảng 2,1 tỷ USD mỗi năm

1.2.2.4 Các bên tham gia bản quyền

Tình hình bản quyền âm nhạc ở Việt Nam đang ở giai đoạn sơ khai và rất thiếu chuyên nghiệp 80% thị phần âm nhạc hiện nằm ở thành phố Hồ Chí

Trang 38

Minh, tập trung vào TOP5 hãng đĩa lớn (Phương Nam, Bến Thành, Viết Tân, Hãng Phim Trẻ, VAFACO)

Hiện chưa có công ty nào chuyên về bản quyền nên các đơn vị có nhu cầu phải làm việc trực tiếp với các chủ sở hữu Hiện một bài hát được lưu trong đĩa CD thường có 3 chủ sở hữu hợp pháp: Nhạc sĩ + Hãng đĩa + ca sĩ Trong trường hợp một ca sĩ mới hiện nay mua độc quyền ca khúc và bỏ tiền thuê hãng đĩa phát hành thì chỉ cần mua trực tiếp từ ca sĩ đó

Hiện nay tại Việt Nam không chỉ có duy nhất Trung tâm bảo vệ quyền tác giả

âm nhạc có quyền cho phép sử dụng bài hát, bản nhạc, bản ghi âm ca khúc,

mà còn có Hiệp hội Công nghiệp ghi âm, Cục bản quyền tác giả, ca sĩ, người biểu diễn, tổ chức phát sóng…, sắp tới sẽ có thêm Hiệp hội bảo vệ quyền của người biểu diễn Trong điều kiện hội nhập, sự ra đời các tổ chức này là cần thiết đối với việc bảo vệ quyền lợi của các tác giả

Để tăng cường bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về vấn đề này, chúng ta cần tích cực "thực hiện chính sách bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ" đã được Đại hội IX của Đảng xác định Hội nhạc sĩ Việt Nam đã cho phép Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam chính thức tách khỏi Hội để hoạt động như một chủ thể độc lập

Từ nay trở đi, mọi báo cáo, thủ tục hành chính, tài chính, cũng như việc truy - thu bao nhiêu tiền tác quyền (thu ít hay thu nhiều), Hội nhạc sĩ Việt Nam đều không có quyền can thiệp Trung tâm vận hành theo cơ chế tự làm, tự chịu Theo nhạc sĩ Lương Nguyên (Phó Giám đốc Trung tâm): “đã đến lúc các nhạc

sĩ phải sống được bằng tác phẩm của mình” Muốn vậy, các nhạc sĩ phải bán được tác phẩm Tức là, quan hệ giữa nhạc sĩ và người tiêu dùng sẽ chỉ là quan

hệ giữa người mua và người bán, tuân theo tiêu chí “thuận mua, vừa bán” Cá nhân, cơ quan, tổ chức không trả tiền cho nhạc sĩ (hoặc đại diện tác quyền của

Trang 39

nhạc sĩ) thì không được phép sử dụng tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào Trung tâm sẽ mở rộng phạm vi bảo vệ tác quyền cho cả những tác giả không phải là hội viên Hội nhạc sĩ Việt Nam

Hiện tại, Trung tâm đang tiến hành thu tiền bản quyền với các Website nhạc trực tuyến Trung tâm cũng đang dự định thu tiền ở các khách sạn và trên mạng điện thoại di động Nhưng đến giờ mới chỉ có khách sạn Sunway (Hà Nội) đồng ý trả tiền Các nơi khác vẫn dùng dằng vì cho rằng biểu giá của Trung tâm quá cao ( mỗi lĩnh vực có một biểu giá khác nhau tuỳ theo lãi lỗ) Sau 4 năm ra đời, tới năm 2005 Trung tâm Bảo vệ bản quyền âm nhạc Việt Nam (thuộc Hội Nhạc sỹ Việt Nam) đã ký hợp đồng uỷ thác quyền với trên

700 nhạc sỹ, thu hơn 2 tỷ đồng từ việc cho khai thác, sử dụng tác phẩm âm nhạc đề phân phối lại cho các nhạc sỹ Đặc biệt, vào ngày 24 tháng 11 năm

2005, với sự hỗ trợ của Liên đoàn quốc tế các nhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC), Lễ ký kết hợp đồng đại diện song phương giữa Trung tâm Bảo vệ bản quyền âm nhạc Việt Nam (VCPMC) với Hiệp hội các nhà soạn nhạc và soạn lời Singapore (COMPASS) và các hiệp hội thành viên được uỷ thác gồm

16 tổ chức của 14 quốc gia đã diễn ra tại Hà Nội Theo hợp đồng song phương này, nhạc sỹ của Việt Nam được thu tiền bản quyền sử dụng tác phẩm tại 14 quốc gia Đồng thời, VCPMC cũng có nghĩa vụ thu và thanh toán tiền cho các quốc gia liên quan VCPMC còn ký kết bản hợp đồng để nhận được

sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, nghiệp vụ từ CISAC Hoạt động này là một bước tiến mới của Trung tâm sau 4 năm chuẩn bị Nó là sự kiện đầu tiên của Việt Nam trong việc vươn ra nước ngoài cùng các tổ chức tương ứng thuộc các quốc gia, thực hiện vai trò quản lý tập thể trong việc thu và thanh toán tiền bản quyền cho giới nhạc sỹ

Các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan đã ý thức rõ hơn về quyền lợi của mình từ việc đăng ký xin cấp giấy chứng nhận bản

Trang 40

quyền, cũng như nộp đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc vi phạm, xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan Nhiều tác phẩm được chuyển giao quyền sở hữu đã được các chủ sở hữu nộp đơn đăng ký

Các bước cơ bản để mua các tác phẩm âm nhạc:

Bước 2: Lên danh sách, mua của Hội nhạc sĩ trước

Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN hiện nay là tổ chức lớn nhất về bản quyền của các nhạc sĩ, quy tụ khoảng 90% các nhạc sĩ tên tuổi (gần 1000 tác giả) Có báo giá và hoá đơn

Bước 3: Mua của hãng đĩa

Bước này là bước nhiêu khê nhất Rất vất vả và khó khăn Các hãng đĩa chiếm đến 60%-70% tiền bản quyền (giá dao động từ 500,000đ/bài đến vài triệu)

Có hãng bao luôn phần ca sĩ Giá các bài là khác nhau

Hà Nội:

Hồ Gươm (có 2 hãng Hồ Gươm 1 và 2 khác nhau, hạch toán độc lập) chuyên nhạc cách mạng, truyền thống, dân tộc Hơi chậm và theo phong cách Bắc (theo kinh nghiệm của Nhacso.net)

Đa phần các hãng đĩa đều ở TPHCM:

Bến Thành làm dễ chịu nhất, báo giá rõ ràng, uy tín, thương hiệu tốt, nhiều bài hay, nhanh chóng và có thể liên hệ email

Viết Tân chú trọng chất lượng, công ty gia đình,

Phương Nam làm chuyên nghiệp

Ngày đăng: 23/09/2020, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w