Như đã biết cây quyết định hồi quy là một dạng của mô hình cây quyết định [2], thường được sử dụng để phát hiện tri thức mới trong các khối dữ liệu có yếu tố thời gian và vì kho dữ liệu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
TRẦN VĂN ĐỒNG
PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NỢ XẤU BẰNG MÔ HÌNH CÂY
QUYẾT ĐỊNH HỒI QUY VÀ LOGIT/PROBIT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
TRẦN VĂN ĐỒNG
PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NỢ XẤU BẰNG MÔ HÌNH CÂY
QUYẾT ĐỊNH HỒI QUY VÀ LOGIT/PROBIT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Văn Thành
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, nội dung luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trần Văn Đồng
Trang 4Lời cảm ơn
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Đỗ Văn Thành, người đã động viên, giúp đỡ tận tình và cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu để hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của tập thể lớp K18
chuyên ngành Hệ Thống Thông Tin cũng như bạn bè gần xa trong quá trình học tập
Mặc dù bản thân em đã hết sức cố gắng để hoàn thành tốt nhất luận văn song do năng lực còn hạn chế nên luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Trần Văn Đồng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài 1
II Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2
III Mục đích nghiên cứu 4
IV Phương pháp nghiên cứu 4
V Kết cấu của Đề tài 4
VI Kết quả chính đạt được 5
CHƯƠNG I: NỢ XẤU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NỢ XẤU 6
I.1 Nợ xấu 6
1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 6
2 Chính sách tín dụng của ngân hàng 10
3 Kiểm tra tín dụng 12
4 Chất lượng tín dụng ngân hàng 14
5 Phân tích tín dụng 16
6 Những biểu hiện và các bước xử lý nợ có vấn đề 32
I.2 Một số phương pháp dự báo nợ xấu 35
1 Phương pháp Gaussian 35
2 Mạng nơron nhân tạo 38
3 Phân tích hồi quy logistic 39
4 Cây quyết định 39
5 Phương pháp CBR 40
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH HỒI QUY LOGITS VÀ MÔ HÌNH CÂY QUYẾT ĐỊNH 42
II.1 Mô hình lôgit 42
1 Giới thiệu chung về mô hình logit 42
2 Công thức toán học và các khái niệm liên quan 43
3 Đặc điểm của mô hình logit 47
4 Bộ công cụ hỗ trợ xây dựng mô hình dự báo logit 49
II.2 MÔ HÌNH CÂY QUYẾT ĐỊNH 59
1 Giới thiệu 59
2 Một số thuật toán 62
3 Bộ công cụ xây dựng cây quyết định 72
CHƯƠNG III: THỰC HÀNH VÀ DỰ BÁO NỢ XẤU 76
III.1 Xây dựng tập dữ liệu phục vụ xây dựng mô hình dự báo nợ xấu 76
1 Dữ liệu cần thu thập 76
2 Thu thập và tiền xử lý dữ liệu 77
3 Tập dữ liệu xây dựng và kiểm định mô hình 84
III.2 Xây dựng mô hình dựa trên tập dữ liệu dự báo 85
1 Xây dựng mô hình theo ngôn ngữ SAS 85
2 Xây dựng cây quyết định hồi quy dự báo nợ xấu 92
3 Dự báo kiểm thử mô hình 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Hạng mục chấm điểm tín dụng tại các ngân hàng của Mỹ 26
Bảng 1.2: khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số 27
Bảng 1.3 khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số 31
Bảng 1 4: Những biểu hiện của một khoản tín dụng xấu và một chính sách tín dụng kém hiệu quả 34
Bảng 3.1: kết quả của thủ tục sprint 52
Bảng 3.2: kết quả của thủ tục sprint sử dụng tùy chọn TABULATE 52
Bảng 3.3: kết quả của phép phân tích trong ví dụ về sử dụng logistic trong phân tích luyện kim 55
Bảng 3.4: hàm liên kết logistic sử dụng trong phân tích luyện kim 56
Bảng 3.5: Bảng tiêu chuẩn AIC phân tích luyện kim 56
Bảng 3.6: Bảng thống kê xác suất bác bỏ phân tích luyện kim 57
Bảng 3.7: Bảng dữ liệu quan sát thời tiết trong 2 tuần 59
Bảng 3.8: Một số thuật toán xây dựng cây quyết định 63
Bảng 3.9: Danh sách các bảng nguồn dữ liệu dự báo 79
Bảng 3.10: Danh sách các thủ tục làm sạch dữ liệu 84
Bảng 3.11: Danh sách các hợp đồng kiểm thư mô hình dự báo 85
Bảng 3.12: Kết quả dự báo với mô hình logistic hồi quy 104
Bảng 3.13: Kết quả dự báo với mô hình cây quyết định 105
DANH MỤC ĐỒ THỊ Đồ thị 2.1 Đồ thị biểu diễn hàm biến đổi trong mô hình logit 48
Đồ thị 2.2 Đồ thị biểu diễn mô hình logit 48
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2.3: cấu trúc dữ liệu của tập dữ liệu SAS 50
Hình 3.1: Biểu diễn luật trong công cụ khai phá dữ liệu của oracle 73
Hình 3.2: Luồng phân tích và dự báo trong công cụ khai phá của oracle 93
Hình 3.3: Thành phần dữ liệu đầu vào 93
Hình 3.4: Thành phần áp dụng mô hình 94
Hình 3.5: Thành phần xây dựng mô hình 94
Hình 3.6: Các tham số của thuật toán phân lớp 94
Hình 3.7: Các trường dữ liệu sử dụng trong thành phần nhập 95
Hình 3.8: Chi tiết thành phần áp dụng mô hình 95
Hình 3.9: Thành phần đầu ra trong luồng phân tích, dự báo 96
Hình 3.10: Cây mô hình dự báo nợ xấu 97
Trang 7Từ đó dẫn đến khái niệm nợ xấu Làm thế nào để có thể sớm nhận biết được khoản cho vay là nợ xấu? Nguyên nhân nào dẫn đến nợ xấu? và có thể xử lý nợ xấu bằng phương pháp nào là hiệu quả nhất? là những câu hỏi cơ bản, thường trực cần được trả lời trong quá trình hoạt động ngân hàng
Hiện nay, kho dữ liệu về tín dụng của các tổ chức ngân hàng ngày càng lớn do các hoạt động tín dụng của ngân hàng diễn ra hàng ngày và thông tin dữ liệu được cập nhật liên tục vào kho dữ liệu Tuy nhiên, việc khai phá tri thức từ kho dữ liệu tín dụng chưa được quan tâm đúng mức, các phương pháp khai phá tri thức chủ yếu dựa vào lý thuyết thống kê
Trong những năm gần đây, khai phá dữ liệu (data mining) đang nổi lên là phương pháp hiệu quả trong việc tìm kiếm tri thức mới, tiềm ẩn từ những tập dữ liệu lớn và hỗn tạp Trong các kỹ thuật khai phá dữ liệu, mô hình cây quyết định được đánh giá là một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất bởi tính hiệu quả của nó [1, 3, 5]
Như đã biết cây quyết định hồi quy là một dạng của mô hình cây quyết định [2], thường được sử dụng để phát hiện tri thức mới trong các khối dữ liệu
có yếu tố thời gian và vì kho dữ liệu tín dụng ngân hàng là khối dữ liệu có yếu tố thời gian nên một cách tự nhiên có thể hy vọng sử dụng mô hình cây quyết định hồi quy như là kỹ thuật khai phá dữ liệu phục vụ phân tích và dự báo nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
Mô hình Lôgit/Probit [4] là một dạng mô hình kinh tế lượng với biến phụ thuộc là biến lô gic nên có thể nhận thấy nó có liên quan với mô hình cây quyết định hồi quy, và cũng có thế ứng dụng mô hình này trong phân tích và dự báo
nơ xấu
Đề tài này nhằm góp phần trả lời các câu hỏi cơ bản thường trực trong quá trình hoạt động ngân hàng bằng việc ứng dụng kỹ thuật mô hình cây quyết định
Trang 8hồi quy trong công nghệ thông tin và mô hình lôgit/Probit trong kinh tế lượng để phân tích và dự báo nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
Nợ xấu hiện đang là vấn đề rất hóc búa, phức tạp cần được giải quyết trong hệ thống các ngân hàng ở nước ta Tỷ số nợ xấu cao hiện là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây ra hiện tượng ứ đọng lưu thông dòng vốn tín dụng, đình đốn họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc xây dựng mô hình phân tích và dự báo nợ xấu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, cải thiện chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội
II Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Tín dụng là một trong hai nghiệp vụ cốt lõi của ngân hàng Bởi vì ngân hàng có bản chất là tổ chức kinh doanh tiền “Đi vay để cho vay” và lợi nhuận có được thông qua chênh lệch lãi suất Và từ đó ta thấy được hoạt động tín dụng chính là đầu ra cho hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Hoạt động này
có nguồn tiền được lấy từ hoạt động huy động vốn Vai trò của hoạt động tín dụng là phải cho vay, thu được lãi từ khoản cho vay và nhiệm vụ quan trọng nhất là phải thu hồi được gốc – tức là số tiền đã cho vay
Và làm thế nào để tiến hành hoạt động tín dụng một cách hiệu quả nhất, khả năng mất vốn thấp nhất? Thì trước khi cho vay, phía ngân hàng cần phải phân tích xem khách hàng của mình là ai? Khả năng tài chính của họ như thế nào? Họ vay tiền với mục đích gì? kỳ hạn bao lâu? Số tiền và lãi suất bao
nhiêu? Và khả năng không trả được của khách hàng là bao nhiêu phần trăm?
Nếu không trả lời thỏa đáng được những câu hỏi này thì sẽ rất khó để hoạt động tín dụng của ngân hàng có thể diễn ra một cách lành mạnh và hiệu quả Từ đó, Phân tích và dự báo giữ vai trò rất quan trọng và quyết định mạnh mẽ đến hiệu quả của hoạt động tín dụng
1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Phân tích, dự báo nợ xấu trong hoạt động tín dụng đã được quan tâm nghiên cứu và chú trọng ứng dụng trong hầu hết các ngân hàng ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Các phương pháp phân tích và dự báo nợ xấu nói chung đều bao gồm phân tích định tính và dự báo định lượng Phương pháp định tính thường tập trung trả lời 3 câu hỏi:
1 Có thể tín nhiệm người xin vay và có thể biết về họ bằng cách nào?
Trang 92 Hợp đồng tín dụng có được ký kết một cách đúng đắn và hợp lệ, nhằm bảo vệ được ngân hàng và người gửi tiền, và người xin vay có khả năng hoàn trả
nợ vay mà không cần đến một sức ép nào?
3 Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, liệu ngân hàng có thể thu hồi nợ bằng tài sản hay thu nhập của người vay một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp?
Đối với phương pháp dự báo định lượng: Hiện tại đã hình thành nhiều phương pháp dự báo nợ xấu khác nhau như phương pháp dự báo dựa trên mô hình điểm số Z [12]; Phương pháp phân tích dự trên chấm điểm điểm tiêu dùng
Logit/Probit [13]; Phương pháp sử dụng kỹ thuật khai phá dữ liệu như mạng Nơtron nhân tạo, cây quyết định [13], …
Hiệu quả dự báo nợ xấu dựa trên các phương pháp/mô hình dự báo khác nhau nói chung là khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào cho biết phương pháp/mô hình dự báo nào trong các phương pháp/mô hình dự báo đã biết là hiệu quả nhất để dự báo nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng
Do hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động vay vốn ngân hàng nói chung
là hành vi của con người Ngoài những yếu tố kinh tế thì những yếu tố tâm lý, văn hóa, thói quen, …cũng ảnh hưởng rất lớn đến những hành vi đó Nói như vậy cũng có nghĩa là phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng được đánh giá là hiệu quả nhất ở quốc gia này có thể không phải là như vậy, thậm chí có thể là không phù hợp khi ứng dụng nó ở quốc gia khác Vì vậy việc nghiên cứu, thực nghiệm các phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu đã biết trên tập số liệu thực của nền kinh tế nhằm tìm kiếm phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu phù hợp cho mỗi quốc gia luôn là một hướng nghiên cứu, ứng dụng quan trọng và luôn được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới
2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vai trò của phân tích và dự báo nợ xấu trong hoạt động ngân hàng ngày càng được các ngân hàng nhận thức, được khẳng định và nhiều ngân hàng trong nước quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và nhất là khi nợ xấu trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong lĩnh vực ngân hàng có xu hướng tăng, chưa được kiểm soát như hiện nay
Tuy nhiên nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu ở nước ta hiện rất hạn chế Hiện tại việc dự báo nợ xấu của các hợp động tín
Trang 10dụng chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính dựa trên kinh nghiệm, kiến thức của người thẩm tra tín dụng Phương pháp/mô hình định lượng được ứng dụng rất ít, chủ yếu là các phương pháp giản đơn và được thực hiện bởi cá nhân cán bộ tín dụng hoặc dừng ở mức nghiên cứu
Phương pháp ứng dụng kỹ thuật cây quyết định cũng như mô hình kinh tế lượng (trong đo báo gồm cả mô hình logit/probit) để phân tích và dự báo nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng ở nước ta chủ yếu dừng ở mức độ nghiên cứu, thực hành trên tập số liệu nhỏ [14], thiếu tính hệ thống và chưa được nghiên cứu thực hành trên tập dữ liệu đủ lớn để chỉ ra sự phù hợp cũng như hiệu quả đích thực của các phương pháp/mô hình này nên tác dụng của những nghiên cứu đó là rất hạn chế Cho đến nay cũng chưa có ngân hàng nào ứng dụng kỹ thuật cây quyết định cũng như mô hình hồi quy logit trong việc hỗ trợ phân tích và dự báo nợ xấu của các hợp đồng tín dụng Mặc dù các phương pháp đó đã được ứng dụng ở nhiều nơi trên thế giới
III Mục đích nghiên cứu
Nhằm phục vụ xây dựng hệ thống phân tích và dự báo tự động về nợ xấu, giúp cho các nhân viên phân tích tín dụng trong bộ phân tín dụng của ngân hàng
có cộng cụ định lượng đánh giá được tính khả thi của một hợp đồng cho vay
Tính khả thi được đánh giá dựa trên các tiêu chí như: lĩnh vực kinh doanh (sản xuất), luồng tiền, lịch sử vay trả, các giao dịch tài chính, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh (sản xuất), các chỉ số kinh tế liên quan đến sản xuất kinh doanh tại thời điểm xem xét hợp đồng cho vay, trong đó nhất là hợp đồng cho vay có tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu ngân hàng hay không
IV Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong khảo cứu và phân tích tài liệu;
Sử dụng phương pháp mô hình hóa để xây dựng mô hình dự báo nợ xấu của hệ thống ngân hàng dựa vào mô hình logit;
Sử dụng phương pháp khai phá dữ liệu (cụ thể là cây quyết định) để phát hiện những tri thức mới phục vụ phân tích và dự báo nợ xấu của hệ thống ngân hàng
V Kết cấu của Đề tài
Đề tài gồm 3 chương nội dung
Chương I: Nợ xấu và một số phương pháp dự báo nợ xấu, sẽ tập trung trình bầy một số khái niệm và nội dung liên quan đến nợ xấu trong lĩnh vực
Trang 11ngân hàng cũng như những phương pháp phân tích và dự báo nợ xấu chủ yếu hiện đang được ứng dụng ở các nhiều nước trên thế giới
Chương II: Mô hình hồi quy logit và mô hình cây quyết định hồi quy sẽ tập trung trình bầy chi tiết hơn hai phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu mà luận văn sẽ thực hành xây dựng trên tập dữ liệu đủ lớn, thực của một trong những ngân hàng lớn nhất ở Việt Nam
Chương III: Mô hình hồi quy logit và mô hình cây quyết định hồi quy, sẽ tập trung trình bầy về tập dữ liệu được sử dụng để xây dựng mô hình dự báo nợ xấu, xây dựng mô hình dự báo nợ xấu bằng ứng dụng mô hình cây quyết định và
mô hình hồi quy logit, đồng thời đánh giá độ chính xác dự báo nợ xấu của hai
mô hình này so với thực tế
VI Kết quả chính đạt được
Tổng quan một cách hệ thống những khái niệm và nội dung liên quan đến
nợ xấu và phương pháp/mô hình dự báo nợ xấu đang được ứng dụng phổ biến hiện nay trên thế giới;
Khảo cứu và trình bầy hệ thống, cụ thể và chi tiết về mô hình hồi quy logit, mô hình cây quyết định và giới thiệu các công cụ để xây dựng các mô hình này
Xây dựng hệ thống dữ liệu tín dụng dựa trên trích xuất từ cơ sở dữ liệu ngân hàng lõi của kho dữ liệu của một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam
Thực hành xây dựng mô hình dự báo nợ xấu dựa vào mô hình cây quyết định và mô hình hồi quy logit, so sánh độ chính xác dự báo nợ xấu của 2 mô hình này so với thực tế;
Trang 12CHƯƠNG I
NỢ XẤU VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NỢ XẤU
I.1 Nợ xấu
1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế
Một cách khái quát, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một số lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả
Tín dụng có nhiều loại như: tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân và tín dụng ngân hàng Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ
chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng vời các chủ thể khác trong nền kinh
tế; trong mối quan hệ này, ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ) Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người gửi tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế
Từ phân tích trên, ta đi đến khái niệm: Tín dụng ngân hàng là việc ngân
hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay
uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu) , cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác Phân biệt tín dụng và cho vay: bất kỳ sự chuyển giao sử dụng tạm thời (có
hoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này lại
được thể hiện dưới nhiều hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê
tài chính Như vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên
trong hoạt động tín dụng thì cho vay (tín dụng bằng tiên) là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các Ngân Hàng Thương Mại Chính vì
vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế lẫn
nhau
Trang 131.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin Ngân hàng chỉ cấp tín
dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn
Thứ hai, Tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn Ngân hàng
là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài, ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả
nợ đúng hạn Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Nếu không có
sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn Khoản lãi phải luôn luôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động kinh doanh, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng
Trang 14Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…, trong
đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn
Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải bảo đảm được hai nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích
Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn cam kết trong hợp đồng
1.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, xu hướng tự do hóa ngày càng sâu sắc, thì các ngân hàng càng phải nghiên cứu đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh Chính vì vậy, ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau
Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát về các loại tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo các tiêu chí sau:
1.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
1.3.1.1 Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được
sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình
1.3.1.2 Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến
5 năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh Tín dụng trung dài hạn còn là nguồn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập
1.3.2 Căn cứ vào bảo đảm tín dụng
1.3.2.1 Tín dụng có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc
có bảo lãnh của bên thứ ba Hình thức tín dụng này áp dụng với những khách hàng không đủ uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc người bảo lãnh
Trang 15có thêm nguồn thu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộc con nợ phải trả, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
1.3.2.2 Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của người thứ ba Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng mới, có hệ số tín nhiệm không cao
1.3.3 Căn cứ vào mục đích tín dụng
1.3.3.1 Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản, bao gồm:
- Tín dụng ngăn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai
- Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại
và bất động sản ở nước ngoài
1.3.3.2 Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho
các doanh nghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế, và chi trả lương
1.3.3.3 Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt
động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng
và chăn nuôi gia súc
1.3.3.4 Tín dụng tiêu dùng: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ
gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trong nhà …
1.3.4 Căn cứ vào chủ thể vay vốn
1.3.4.1 Tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn): gọi là bán buôn vì những doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn
1.3.4.2 Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ): Gọi là bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng
1.3.4.3 Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác Những khoản đi vay này trở thành nguồn vốn của ngân hàng đi vay, nên chúng có thể dùng để trả nợ hay cho vay lại
Trang 161.3.5 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay
1.3.5.1 Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải trả hoàn toàn vốn gốc và lãi vay định kỳ thành những khoản bằng nhau Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay lớn và có thời hạn dài
1.3.5.2 Tín dụng hoàn trả một lần: Là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả gốc và lãi vay một lần khi đến hạn Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn
1.3.5.3 Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả nợ vay bất cứ khi nào Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dung
1.3.6 Căn cứ vào hình thái của tín dụng
1.3.6.1 Tín dụng bằng tiền: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền Tín dụng bằng tiền gọi là cho vay
1.3.6.2 Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản Hình thức tín dụng này chính là cho thuê tài chính
1.3.6.3 Tính dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng
1.3.7 Căn cứ vào xuất sứ của tín dụng
1.3.7.1 Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dung, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả
nợ vay trực tiếp cho ngân hàng
1.3.7.2 Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng ủy thác, tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể
2 Chính sách tín dụng của ngân hàng
Một trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý và bảo đảm an toàn là việc hình thành một “ chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả” Chính sách tín dụng cung cấp cho cán
bộ tiêu dùng và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng Thông qua kết cấu danh mục tín dụng của ngân hàng, ta có thể biết được chính sách tín dụng của ngân hàng này là như thế nào Nếu một chính sách tín dụng hoạt động không
Trang 17hiệu quả thì phải tiến hành kiểm tra hoặc phải được tăng cường quản lý bởi ban lãnh đạo ngân hàng
Vậy những nội dung căn bản của chính sách tín dụng là gì? Sau đây là những yêu tố quan trọng nhất thường cấu thành trong chính sách tín dụng của một ngân hàng:
1 Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng, bao gồm các đặc điểm của một danh mục tín dụng xét theo các tiêu chí như: các loại tín dụng, những kỳ hạn tín dụng, các độ lớn tín dụng, chất lượng tín dụng, đối tượng khách hàng nòng cốt, khách hàng mục tiêu
2 Phân cấp thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín dụng và từng hội đồng tín dụng (quy định mức cho vay tối đa, các loại tín dụng được phép, và chữ
ký của người có trách nhiệm)
3 Phân cấp chịu trách nhiệm hàng ngày trong công việc và báo cáo thông tin trong nội bộ phòng tín dụng
4 Quy trình tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng
5 Hồ sơ bắt buộc đối với từng đơn xin vay, và những gì phải được lưu giữ lại tại ngân hàng (ví dụ như các báo cáo tài chính, hợp đồng bảo đảm tín dụng…)
6 Phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng, cụ thể ai là người chịu trách nhiệm duy trì và kiểm tra hồ sơ tín dụng
7 Các chỉ dẫn nhận, định giá và hoàn tất hồ sơ bảo đảm tín dụng
8 Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng, mức phí
và điều kiện hoàn trả nợ vay
9 Quy định những tiêu chuẩn chất lượng áp dụng chung cho tất cả các loại tín dụng
10 Quy định giới hạn tín dụng tối đa cho một khách hàng
11 Quy định lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng, từ đó hướng tín dụng vào lĩnh vực này
12 Các phương án ưu tiên trong việc phát hiện, phân tích và xử lý tín dụng
có vấn đề
Trang 1813 Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng, nhà quản lý có thể bổ xung thêm những quy định cho phù hợp Ví dụ, có ngân hàng quy định không cấp một số loại tín dụng nhất định, nhưng lại ưu tiên với một số loại tín dụng khách…
Chính sách tín dụng ngân hàng mang lại nhiều ưu điểm trong quá trình thực hiện cho vay Trước hết, đối với các bộ tín dụng, họ biết được cần phải làm các bước như thế nào khi tiến hành một khoản cho vay và biết được trách nhiệm của mình đến đâu; đối với ngân hàng, thông qua chính sách tín dụng, ngân hàng có thể đạt được mục đích tín dụng đa mục đích, như làm tăng khả năng sinh lời, kiểm soát được tiềm ẩn rủi ro và đáp ứng được các đòi hỏi từ phía nhà quản lý Bất kỳ sự ngoại lệ nào trong chính sách tín dụng cũng phải được quy định đầy
đủ, các lý do tại sao lại có sự ngoại lệ cũng phải liệt kê
3 Kiểm tra tín dụng
Những gì đã xảy ra đối với hợp đồng tín dụng sau khi đã ký kết giữa người vay và ngân hàng? Có thể cho qua và quên đi tất cả cho đến khi hợp đồng tín dụng đến hạn và người vay hoàn trả lần cuối? Rõ ràng thật là dại khờ nếu ngân hàng làm như vậy, bở vì các điều kiện tín dụng thường thay đổi theo thời gian,
có ảnh hưởng đến điều kiện tài chính của người vay và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng Những biến động trong nền kinh tế làm suy yếu một số công ty
và làm tăng nhu cầu tín dụng đối với công ty khác, trong khi đó, từng cá nhân có thể mất việc làm, nhiễm bệnh hiểm nghèo làm cho người vay không còn khả năng trả nợ Các bộ tín dụng phải nhạy cảm với những diễn biến như vậy và định kỳ phải kiểm tra tất cả các khoản tín dụng cho đến khi chúng đến hạn Ngày nay, ngân hàng sử dụng rất nhiều các quy trình khác nhau để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên, những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng bao gồm:
Nguyên lý 1: Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất
định, ví dụ đối với các khoản tín dụng nhỏ và vừa thì định kỳ kiểm tra có thể là
30 ngày, 60 ngày hay 90 ngày; đối với những khoản tín dụng lớn thì phải kiểm tra thường xuyên hơn
Nguyên lý 2: Xây dựng kế hoạch, chương trình, nôi dung quá trình kiêm tra
một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản tín dụng phải được kiểm tra, bao gồm:
Trang 19- Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhàm bảo đảm rằng khách hàng không
chậm trễ trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch
- Chất lượng và điều kiện của tài sản bảo đảm tín dụng
- Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, bảo đảm rằng ngân hàng có
đầy đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm tín dụng đối với người vay trước tòa án nếu cần thiết
- Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay xem đã thay
đổi, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi như thế nào
- Đánh giá xem khoản tín dụng còn tuân thủ chính sách cho vay của ngân
hàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra
Nguyên lý 3: Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các
“đại gia” bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân hàng
Nguyên lý 4: Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn
đề, tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan đến khoản tín dụng của ngân hàng
Nguyên lý 5: Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu
hiện đi xuống, hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiện những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ nhu xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương pháp phân phối mới)
Kiểm tra tín dụng không phải là việc làm thừa, lãng phí, mà rất cần thiết để hình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh Nó không những giúp cho nhà quản lý nhận ra vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn có tác dụng kiểm tra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay của ngân hàng Với lý do này, đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác kiểm tra tín dụng, hầu hết các ngân hàng lớn đều thành lập phòng “kiểm tra tín dụng” độc lập với “phòng tin dụng” Kiểm tra tín dụng giúp cho hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành trong toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng, từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách “quỹ dự phòng bù đắp rủi ro” và chiến lược tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai
Trang 204 Chất lượng tín dụng ngân hàng
Chất lượng tín dụng là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro và sinh lời trong bảng tổng hợp cho vay của một tổ chức tín dụng Để phản ánh về chất lượng tín dụng, có rất nhiều chỉ tiêu, nhưng nói chung người ta thường quan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu định lượng sau đâu
4.1 Các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn
Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi Nợ quá hạn thường là biểu hiện yếu kém về tài chính của khách hàng và là dấu hiệu rủi ro tín dụng cho ngân hàng Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, nợ quá hạn phát sinh là không thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ quá hạn vượt quá tỷ số cho phép sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán của ngân hàng Nợ quá hạn có nhiều mức độ khác nhau, căn cứ vào tính chất rủi ro, người ta có các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn sau:
1 Tỷ số nợ quá hạn:
Tỷ số “Nợ quá hạn” phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn, đây là một tiêu chí cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng Tỷ số nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thất; ngược lại, tỷ
số nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao
Tỷ số “Nợ quá hạn” chỉ phản ánh những số dư nợ thực sự đã quá hạn, mà không phản ánh toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn Để khắc phục nhược điểm này, người ta sử dụng chỉ tiêu “tỷ số tổng dư nợ có nợ quá hạn” như sau
2 Tỷ số tổng dư nợ có nợ quá hạn
Do chỉ tiêu “Tổng dư nợ có nợ quá hạn” bao gồm toàn bộ dư nợ của một khách hàng (kể cả đến hạn và chưa đến hạn) kể từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên, nên nó phản ánh chính xác hơn mức độ rủi ro (chất lượng) tín dụng của ngân hàng
3 Chỉ tiêu “khách hàng có nợ quá hạn”
Chỉ tiêu này cho biết, cứ 100 khách hàng vay vốn thì có bao nhiêu khách đã quá hạn Nếu tỷ số này cao, phản ánh chính sách tín dụng của ngân hàng là không hiệu quả Ngoài ra, nếu chỉ tiêu này thấp hơn chỉ tiêu “Nợ quá hạn”, cho biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng lớn; ngược lại, nếu chỉ tiêu này
Trang 21cao hơn chỉ tiêu “Nợ quá hạn” cho biết nợ quá hạn tập trung vào những khách hàng nhỏ
4 Chỉ tiêu “Cơ cấu nợ quá hạn”
5 Khả năng thu hồi nợ quá hạn: Để đánh giá chính xác hơn chất lượng tín
dụng, người ta còn phân loại nợ quá hạn theo hai tiêu chí sau:
Nợ quá hạn còn được phân theo một số tiêu chí khác làm căn cứ xây dựng
kế hoạch thu hồi nợ trong từng trường hợp cụ thể và định hướng chính sách cho vay
1 Nợ quá hạn theo thời gian
- Nợ quá hạn dưới 180 ngày
- Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
- Nợ quá hạn trên 360 ngày
2 Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế
- Nợ quá hạn của các doanh nghiệp nhà nước
- Nợ quá hạn của các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
- Nợ quá hạn của các hộ gia đình, cá nhân…
4.2 Các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu
Để hình thành chỉ tiêu “Nợ xấu”, chúng ta tiến hành phân loại nợ của ngân hàng thương mại thành 5 nhóm sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu
hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có
khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Trang 22- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
- Các khoản nợ có cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn
trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị
quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
“Nợ xấu” (Non-Performance Loan –NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5
Tỷ số “Nợ xấu” cho biết, trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng
là nợ xấu, chính vì vậy, tỷ số nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức đọ rủi ro thông thường nữa mà là nguy
cơ mất vốn
5 Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là quá trình đánh giá khách hàng về các điều kiện vay vốn
và hoàn trả vay, trên cơ sở đó ra quyết định cho vay và giám sát khoản vay của ngân hàng Mục đích phân tích tín dụng nhằm:
- Hạn chế thông tin bất cân xứng
Trang 23- Đánh giá đúng thực trạng rủi ro của khách hàng
- Xác định đúng nhu cầu của khách hàng
- Đưa ra quyết định chính xác về việc cho vay hay không cho vay
Các nhà kinh tế và quản trị ngân hàng đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau
để phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm các
mô hình phản ánh về mặt định tính – còn được gọi là phương pháp chất lượng, phương pháp chủ quan, phương pháp chuyên gia hay phương pháp truyền thống (quality, subjective, expert or traditional metheds); các mô hình phản ánh về định lượng (quantity models) Tuy nhiên, các mô hình này không loại trừ lẫn nhau, nên một ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá rủi
ro tín dụng khách hàng Ta bắt đầu từ mô hình đơn giản nhất
bảo vệ được ngân hàng và người gửi tiền, và người xin vay có khả năng hoàn trả
nợ vay mà không cần đến một sức ép nào?
- Trong trường hợp khách hàng không trả nợ, liệu ngân hàng có thể thu hồi
nợ bằng tài sản hay thu nhập của người vay một cách nhanh chóng với chi phí
và rủi ro thấp?
Sau đây là những nội dung cần đi sâu phân tích:
5.1.1 Người vay có tín nhiệm không?
Câu hỏi cần trả lời trước hết là: Người vay có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết tiêu chí 6C của người xin vay, bao gồm: tư cách (Character), năng lực (Capacity), thu nhập (Cash), bảo đảm (Collateral), điều kiện (Conditions), và kiểm soát (Control) Tất
cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt, thì khoản vay mới được xem là khả thi
1 Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người xin vay
có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn
Trang 24Nếu cán bộ tín dụng không biết chính xác được tại sao khách hàng lại xin vay tiền thì cần phải làm cho rõ ràng mục đích xin vay là gì
- Khi mục đích xin vay đã rõ ràng, cán bộ tín dụng phải xác định xem có
phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không Thậm chí,
dù mục đích xin vay là tốt, thì cán bộ tín dụng cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, trả lời các câu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ vay khi đến hạn
- Tóm lại, tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng, và thiện
chí trả nợ của người vay gọi là “tư cách người vay” (character) Nếu phát hiện thấy người vay giả dối trong kế hoạch sử dụng và trả nợ như đã thỏa thuận, thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không, rủi ro tín dụng sẽ phát sinh cho ngân hàng
2 Năng lực pháp lý của người vay
- Nếu khách hàng là cá nhân, thì cá nhân đó phải có: (i) năng lực pháp luật
dân sự, nghĩa là phải có quyền và nghĩa vụ dân sự theo pháp luật; (ii) năng lực hành vi dân sự, tức là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực
hiện quyền và nghĩa vụ dân sự
- Nếu khách hàng là tổ chức, thì tổ chức đó phải: (i) được thành lập theo
hợp pháp; (ii) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (iii) có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (iv) nhân danh mình tham gia
các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Ví dụ, ở hầu hết các nước đều quy định người dưới 18 tuổi không đủ tư cách pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Tương tự, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty
ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền của công ty Trường hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh thì cán bộ tín dụng phải biết được thoả thuận đối tác kinh doanh để xác định xem ai là người được ủy quyền ký kết hợp đồng tín dụng cho công ty Một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được
ủy quyền có thể sẽ không thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng
3 Thu nhập của người vay:
Tiêu chí thu nhập của người vay tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền là:
Trang 25(i) luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, (ii) bán thanh lý tài sản, (iii) phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Bất cứ nguồn thu nào từ
ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên
và căn bản để trả nợ vay ngân hàng Điều này là vì: việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay trở nên yếu đi, khiến cho ngân hàng là chủ nợ trở nên ít được đảm bảo Ngoài ra, một sự thiếu hụt luồng tiền là biểu hiện không lành mạnh trong kinh doanh của con nợ, khiên cho tín dụng trở nên có vấn đề
4 Bảo đảm tiền vay
Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng phải tự hỏi: người vay có sở hữu hợp pháp một giá trị nào hay tài sản nào có chất lượng để hỗ trợ khoản vay? Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yêu tố nhạy cảm như: tuổi thọ, điều kiện, và mức độ chuyên dụng của tài sản người vay Khía cạnh công nghệ cũng phải đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu, thì giá trị giảm rất nhanh và rất khó tìm được người mua trong khi công nghệ lại thay đổi hàng ngày
5 Các điều kiện
Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết được xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và nghành ngsề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng Để đánh giá xu hướng ngành và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, hầu hết các ngân hàng đều duy trì các tập dữ liệu thông tin gồm các mẫu báo cáo có liên quan, các bài tạp chí, và các báo cáo nghiên cứu
6 Khả năng kiểm soát khoản vay
Ngân hàng có kiểm soát được việc khách hàng sử dụng tiền vay hay không? Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng?
5.1.2 Hợp đồng tín dụng được ký kết đúng đắn và hợp lệ?
Việc cho vay của ngân hàng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích
Trang 26sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoải thuận
Các tiêu chí tín dụng “6C” đã giúp cán bộ tín dụng và nhà phân tích trong việc trả lời một câu hỏi tổng quát: Người vay có đủ tư cách? Khi câu hỏi này đã được trả lời thuận, thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Hợp đồng tín dụng được ký kết đúng đắn và hợp lệ, đáp ứng được yêu cầu của người vay và ngân hàng?
5.1.3 Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản bảo đảm?
1 Lý do nhận bảo đảm tín dụng
Việc ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng nhằm hai mục đích là:
Thứ nhất: nếu người vay không trả nợ theo quy định thì ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố hay thế chấp để thu hồi nợ;
Thứ hai: nhận bảo đảm tín dụng tạo cho ngân hàng lợi thế về mặt tâm lý so với người vay Bởi vì một tài sản khi đã là vật đặt cọc (như xe hơi, đất đai, nhà cửa…), buộc người đặt cọc (người vay) phải có trách nhiệm nhiều hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khỏi phải gán những tài sản có giá trị của mình
Như vậy, nội dung quan trọng thứ ba trong phân tích tín dụng đó là việc trả lời câu hỏi: Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi bằng tài sản bảo đảm hay thu nhập của người vay?
Khi nhận bảo đảm tín dụng, ngân hàng phải xác định rõ ràng và chính xác những tài sản nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được, đồng thời phải chứng minh được bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình là người có quyền hợp pháp định đoạt tài sản nếu người vay không trả được nợ Khi đã nhận tài sản thế chấp, ngân hàng sẽ có vị thế ưu tiên trong việc gán nợ so với các chủ
nợ khác và ngay cả với chủ sở hữu
Trong thực tế, những công ty lớn và những khách hàng truyền thống có hệ
số tín nhiệm cao không cần có bảo đảm tín dụng bằng tài sản Thực chất, các
khoản tín dụng như vậy được bảo đảm bằng uy tín, nên gọi là tín chấp
2 Biện pháp bảo đảm tín dụng
tài sản của khách hàng vay; Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Trang 27Trong thực tế, các loại tài sản thường được dùng làm bảo đảm tiền vay bao gồm:
- Tài khoản phải thu: ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng bằng việc quy định
tỷ số % (thông thường từ 40 đến 90%) giá trị của tài khoản phải thu (bán hàng chịu, hay tín dụng thương mai) theo số liệu trên bảng cân đối tài chính Khi khách hàng của người vay thanh toán tiền hàng mua chịu, thì số tiền này được dùng để trả nợ cho ngân hàng Để việc thu nợ được thuận lợi, ngân hàng cho vay thường yêu cầu người vay phải mở tài khoản và thực hiện thanh toán qua mình
- Bao thanh toán: Ngân hàng có thể mua tài khoản phải thu của người vay
theo một tỷ số % nhất định theo giá trị ghi sổ Tỷ số % này phụ thuộc vào chất lượng và thời hạn của khoản phải thu Bởi vì ngân hàng đã mua khoản phải thu (chuyển giao quyền sở hữu), nên ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng của người vay là khoản tiền thanh toán mua chịu sẽ trả trực tiếp cho ngân hàng Thông thường, người vay phải cam kết với ngân hàng là sẽ bù đắp những khoản tiền phải thu nhưng thực tế không thu được
- Hàng tồn kho: Để đảm bảo tín dụng, ngân hàng có thể nhận hàng tồn kho,
vật tư, nguyên liệu của người vay làm tài sản cầm cố Thông thường, ngân hàng chỉ cho vay một tỷ số % nhất định (từ 30 đến 80%) trên giá trị thị trường hiện hành của tài sản cầm cố, nhằm phòng ngừa hàng hóa giảm giá Tài sản cầm cố
có thể do người vay kiểm soát hoàn toàn, nhưng giấy tờ sở hữu do ngân hàng nắm giữ Một sự lựa chọn khác có thể là, ngân hàng là người nắm giữ tài sản cầm cố cho đến khi nào nợ được trả hoàn toàn
- Thế chấp tài sản cố định: Các ngân hàng cũng có thể chấp nhận bảo đảm
tín dụng bằng tài sản cố dịnh (đất đai và những công trình gắn liền với đất)
- Cầm cố các động sản lâu bền, có giá trị: Như phương tiện vận tải, xe hơi,
dây chuyền sản xuất, bằng phát minh, sáng chế…
- Thế chấp tài sản cố định: Các ngân hàng cũng có thể chấp nhận bảo đảm
tín dụng bằng tài sản cố định (đất đai và những công trình gắn liền với đất)
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba: Trong trường hợp người vay không
có tài sản bảo đảm tín dụng thì phải có một bên thứ ba đứng ra dùng tài sản của mình để bảo lãnh Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay là sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho người vay nếu người vay không trả được nợ khi đến hạn
Trang 28- Biện pháp bảo đảm tín dụng trong trường hợp cho vay không có bảo đảm
bằng tài sản: Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản (cho vay tín chấp); tổ chức tín dụng nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ; tổ chức tín dụng cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
3 Nguyên tắc bảo đảm tiền vay
- Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm
bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của
các khoản vay được chính phủ xử lý
- Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biên pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ
trước hạn
- Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định
của pháp luật để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo
lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
5.2 Phân tích định lượng – Các mô hình hiện đại
Hiện nay, phân tích định lượng dựa trên các chỉ tiêu tài chính được xem là phương pháp truyền thống và phổ biến, tuy nhiên, phương pháp này bộc lộ những nhược điểm nhất định, chẳng hạn như:
- Kết quả các chỉ tiêu tài chính phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu được dùng
để tính, trong khi đó, chất lượng các dữ liệu lại do vô số các yếu tố chủ quan và khách quan quyết định
- Việc chọn ra nhóm doanh nghiệp tương đồng với doanh nghiệp đang xét
để so sánh là việc làm tốn nhiều công sức và không phải lúc nào cũng khả thi
Trang 29- Kết luận trên cơ sở phân tích từng chỉ tiêu riêng lẻ có thể cho những kết
quả đối nghịch, trong khi đó, các chỉ tiêu lại không có sự liên kết chặt chẽ với nhau
Tóm lại, phương pháp truyền thống tỏ ra vừa mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ quan, chính vì vậy, ngân hàng không ngừng cải tiến phương pháp đánh giá khách hàng để ra các quyết định cho vay Tuy nhiên, nhiều ngân hàng khi cấp tín dụng cho công ty vẫn tiếp tục sử dụng chủ yếu phương pháp truyền thống để đánh giá rủi ro tín dung
Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng hóa rủi
ro tín dụng ngày vay Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ là, nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí thấp, khách quan, do đó đóng góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng Các mô hình cho điểm tín dụng
sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng hóa xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người vay thành các nhóm có mức độ rủi ro khác nhau Để sử dụng các mô hình này, nhà quản lý phải xác định được các tiêu chí
về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể Đối với tín dụng tiêu dùng, các tiêu chí đó có thể là thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp và nơi ở Đối với tín dụng công ty, thì các tiêu chí tài chính (như hế số đòn bẩy…) thường là các tiêu chí chủ yếu Sau khi các tiêu chí đã được xác định, kỹ thuật thống kê sẽ được sử dụng để lượng hóa (cho điểm) xác suất rủi ro tín dụng hoặc để phân hạng rủi ro tín dụng
Sau đây, chúng ta sẽ tiếp cận với một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
cơ bản thường được sử dụng nhất
5.2.1 Mô hình điểm số Z
Mô hình điểm số Z dó E I Altman hình thành để cho điểm tín dụng đối với công ty sản xuất của Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào:
2 Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay
Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Trang 30Trong đó:
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Giả sử, một khách hàng tiềm năng có các chỉ số tài chính là: X1 = 0,20;
Bên cạnh những ưu điểm, thì mô hình điểm số tín dụng có những hạn chế sau:
- Mô hình này chỉ cho phép phân biệt khách hàng thành hai nhóm là “vỡ
nợ” và “không vỡ nợ” Trong thực tế, vỡ nợ được phân thành nhiều loại, từ không trả hay chậm trễ trong việc trả lãi tiền vay, đến việc không hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay Điều này hàm ý, cần có một mô hình cho điểm chính xác hơn, toàn diện hơn theo nhiều thang điểm để phân loại khách hàng thành nhiều nhóm tương ứng với các mức độ vỡ nợ khác nhau
- Không có lý do rõ ràng để giải thích sự bất biến về tầm quan trọng của
cũng không phải là bất biến, đặc biệt là khi điều kiện thị trường và kinh doanh
Trang 31thường xuyên thay đổi Ngoài ra mô hình cũng giả thiết các biến số là Xj là hoàn toàn độc lập không phụ thuộc lẫn nhau
- Đã không tính tới một số nhân tố quan trọng nhưng khó lượng hóa, nhưng
lại ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng Ví dụ, yếu tố
“danh tiếng” của khách hàng, yếu tố “ mối quan hệ truyền thống” giữa khách hàng và ngân hàng, hay yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh Nhìn chung, các nhân tố này thường không được đề cập trong mô hình ghi điểm tín dụng “Z” Mặt khác, mô hình cho điểm thường không sử dụng các thông tin đại chúng có sẵn, như giá cả thị trường của các tài sản tài chính…
5.2.2 Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngày nay, nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn xin vay của người tiêu dùng Thực tế, nhiều tổ chức thẻ tín dụng đã sử dụng mô hình điểm để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng, những ngân hàng cũng sử dụng mô hình này để đánh giá những khoản tín dụng mua sắm xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi những yêu cầu tín dụng của họ được xử
lý bằng hệ thống cho điểm tự động Thông thường, khách hàng có thể gọi điện thoại đến ngân hàng để liên hệ xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng, trên cơ sở dữ liệu của khách hàng, trong vòng vài phút ngân hàng có thể thông báo kết quả tín dụng cho khách hàng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản cá nhân, thời gian công tác
Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 đến 10 Ví dụ, bảng 1.1 cho thấy những hạng mục và điểm của chúng thường được sử dụng ở các ngân hàng Mỹ
STT Các hạng mục xác định chất lượng tín dụng Điểm số
1
Nghề nghiệp của người đi vay
Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
Công nhân có kinh nghiệm (tay nghề cao)
Nhân viên văn phòng
Trang 32Công nhân không có kinh nghiệm
Công nhân bán thất nghiệp
Nhà thuê hay căn hộ
Sống cùng bạn hay người thân
Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
5
2
5
Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn 1 năm
Các tài khoản tại ngân hàng
Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành séc
Chỉ tài khoản tiết kiệm
Bảng 1.1: Hạng mục chấm điểm tín dụng tại các ngân hàng của Mỹ
Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 hạng mục nêu trên là
43 điểm, thấp nhất là 9 điểm Giả sử ngân hàng biết rằng mức 28 điểm là ranh giới giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu; trên cơ sở
Trang 33đó, ngân hàng hình thành một khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số như sau:
Tổng điểm số của khách hàng Quyết định tín dụng
Bảng 1.2: khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số
Rõ ràng là, mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nhược điểm như đã không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và những thay đổi trong cuộc sống gia đình Một mô hình điểm số không linh hoạt
có thể đe dọa đến chương trình tín dụng tiêu dùng của ngân hàng, bỏ sót những khách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của cộng đồng vào dịch vụ ngân hàng
5.2.3 Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng
Đây là phương pháp dựa trên các yêu tố thị trường để đánh giá rủi ro tín dụng và phân tích “mức thưởng chấp nhận rủi ro” (risk premiuns) gắn liền với mức sinh lời của khoản nợ công ty hay khoản tín dụng ngân hàng đối với những người vay có cũng mức độ rủi ro Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm đã xếp hạng các công ty phát hành trái phiếu thành 7 nhóm chính Các nhóm khác nhau phản ánh mức vượt trội của lãi suất trái phiếu thuộc nhóm đó so với mức lãi suất trái phiếu kho bạc (trái phiếu không có rủi ro tín dụng)
Sau đây, chúng ta sẽ nghiên cứu trường hợp đơn giản về rủi ro tín dụng đối với ngân hàng khi mua trái phiếu kỳ hạn một năm, hay cấp tín dụng thời hạn một năm cho một khách hàng là công ty có rủi ro Sau đó, chúng ta sẽ nghiên cứu sâu hơn đối với trái phiếu và tín dụng có thời hạn dài hơn Trong mỗi trường hợp, chúng ta sẽ thấy được rủi ro tín dụng (xác suất vỡ nợ) của người vay theo đánh giá của thị trường là như thế nào
1 Xác suất vỡ nợ của công cụ nợ kỳ hạn một năm
Trang 34Giả sử một ngân hàng yêu cầu mức thu nhập dự tín của trái phiếu công ty thời hạn một năm ít nhất là bằng với mức thu nhập của trái phiếu kho bạc kỳ hạn một năm Gọi p là xác suất hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đối với trái phiếu công ty; như vậy, (1 - p) sẽ là xác suất vỡ nợ Nếu người vay vỡ nợ, theo giả định, ngân hàng sẽ không nhận được gì Gọi mức thu nhập của trái phiếu công ty kỳ hạn một năm là (1 + k), và của trái phiếu kho bạc là (1 + i); nhà quản trị ngân hàng sẽ đạt được kết quả như nhau khi đầu tư vào trái phiếu công ty hay trái phiếu kho bạc khi:
p(1 + k) = (1+i)
Điều này hàm ý, mức thu nhập dự tính của trái phiếu công ty bằng với mức thu nhập của trái phiếu không có rủi ro Giả sử ta có: i = 10% và k = 15,8%, điều này hàm ý xác suất hoàn trả của trái phiếu đánh giá của thị trường sẽ là:
p = (1+i)/(1+k) = 1,100/1,158 = 0.95 = 95%
Nếu xác suất hoàn trả là 0.95%, thì xác suất vỡ nợ của trái phiếu sẽ là (1-p)
= 1 – 0,95 = 0,5 = 5% Từ đó suy ra, với xác suất vỡ nợ của trái phiếu công ty (hay khoản vay) là 5%, thì “mức thưởng chấp nhận rủi ro” tương ứng phải là 5,8%:
nợ bị phá sản Ví dụ theo nghiên cứu của Altman thì, khi trái phiếu đầu cơ (Junk bond) của công ty bị vỡ nợ, thì nhà đầu tư vẫn có thể thu hồi trung bình 40 cents trên một dollar Một thực tế là, nhiều khoản tín dụng có quyền thu nợ bằng tài sản cầm cố hay thế chấp nếu người vay vỡ nợ; do đó, nếu gọi β là tỷ số thu hồi được gốc và lãi trong trường hợp vỡ nợ Ví dụ, đối với trái phiếu đầu cơ thì β xấp sỉ bằng 0,4
Nhà quản trị ngân hàng sẽ đạt được kết quả như nhau khi đầu tư vào trái phiếu công ty hay trái phiếu kho bạc khi:
β(1 + k)(1 – p) + p(1 + k) = (1 + i)
Trang 35Như vậy, nếu khoản tín dụng có bảo đảm bằng tài sản (β > 0), thì “mức thưởng chấp nhận rủi ro” đối với tín dụng phải giảm trong mọi trường hợp ứng với mức xác suất rủi ro là (1 – p) Bảo đảm tín dụng là phương pháp kiểm soát rủi ro vỡ nợ, có vai trò thay thế trực tiếp “mức thưởng chấp nhận rủi ro” trong việc ấn định mức lãi suất tín dụng Để thấy được điều này, chúng ta tính “mức thưởng chấp nhận rủi ro – Δ” như sau:
Δ = k – i = (1 + i)/( β + p – pβ) – ( 1 + i)
Theo ví dụ đang xét, khi i = 10% và p = 0.95, và nếu ngân hàng dự tính sẽ thu được 90% gốc và lãi nếu người vay vỡ nợ, tức là β = 0,9, thì “mức thưởng chấp nhận rủi ro” chỉ còn 0,6% (Δ = 0,6%)
Một điều thật thú vị là, giữa β và p có thể thay thế hoàn hảo lẫn cho nhau, Điều này hàm ý, nếu một khoản tín dụng có hệ số β = 0,7 và p = 0,8 sẽ có “mức thưởng chấp nhận rủi ro” bằng với một khoản tín dụng khác có hệ số β = 0,8 và
p = 0,7 Một sự tăng bảo đảm tín dụng (β tăng) được thay thế trực tiếp bằng một
sự tăng xác suất rủi ro vỡ nợ (p giảm)
2 Xác suất vỡ nợ của công cụ nợ dài hạn
Chúng ta có thể mở rộng sự phân tích để xác định rủi ro tín dụng ( hay rủi ro
vỡ nợ) đối với các khoản tín dụng hay trái phiếu một năm, xác suất vỡ nợ ( 1- p) được xác định là:
kỳ phải được tính dựa trên xác suất không xảy ra vỡ nợ trước đó Xác suất vỡ nợ của trái phiếu trong một năm bất kỳ được gọi là “xác suất vỡ nợ cận biên” ( Marginal Default Probability) của năm đó Đối với trái phiếu kỳ hạn một năm,
Trang 36phương pháp để nhà quản lý ngân hàng có thể dự tín được p2, nhưng trước hết ta
Xác suất không vỡ nợ của người vay tại bất cứ thời điểm nào kể từ bây giờ (thời điểm 0) đến cuối năm thứ hai sẽ là:
suốt kỳ hạn của tín dụng hay trái phiếu dài hạn Như vậy, đối với trái phiếu kỳ hạn hai năm sẽ có xác suất vỡ nợ tích lũy là 11,65% Giả sử, hai loại trái phiếu chiết khấu kỳ hạn một năm và hai năm thuộc trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty, ta có thể tính được p2 từ việc phân tích cấu trúc kỳ hạn của lãi suất Chúng ta hãy quan sát đồ thị dưới đây
Nhìn vào đồ thị thấy rằng, khi kỳ hạn trái phiếu càng dài thì lãi suất trái phiếu chiết khấu của chính phủ và của công ty càng tăng Nhiệm vụ của chúng
ta là xác định xác suất vỡ nợ đối với trái phiếu công ty có kỳ hạn hai năm là như thế nào
Trước hết, hãy nhìn đường lãi suất của trái phiếu chính phủ Điều kiện để không xảy ra kinh doanh chênh lệch lãi suất là: thu nhập từ trái phiếu chiết khấu
kỳ hạn hai năm phải bằng thu nhập dự tính từ việc đầu tư liên tiếp vào trái phiếu chiết khấu kỳ hạn một năm trong vòng năm thứ hai (lãi suất kỳ hạn của năm thứ
Trang 37(1 + i1)(1 + f1) = thu nhập của trái phiếu chiết khấu có kỳ hạn 1 năm, nhưng
1+ f1 = (1 + i2)2/ (1 + i1) = (1,11)2/1,10 = 1,12
theo phản ánh mức lạm phát dự tính và các nhân tố khác trực tiếp ảnh hưởng lên giá trị thời gian của tiền tệ
Căn cứ và tuyến lãi suất của trái phiếu công ty, chúng ta cũng có thể tính được mức lãi suất kỳ hạn một năm (của năm thứ hai) của trái phiếu công ty Tuyến lãi suất của trái phiếu công ty nói lên rằng, mức lãi suất của trái phiếu
công ty ở năm thứ 2, chúng ta có:
1+ c = (1+k2)2/(1+k1) = (1,180)2/1,158 = 1,202
Kết quả tính toán được trình bày tại bảng 1.3:
Loại Mức lãi suất áp dụng cho
năm hiện hành
Mức lãi suất dự tính áp dụng cho năm tiếp theo
Trái phiếu chính phủ 10,0%/năm 12%/năm
Bảng 1.2 khung chính sách tín dụng tiêu dùng theo mô hình điểm số
Mức lãi suất dự tính của trái phiếu công ty kỳ hạn một năm là căn cứ để xác
phát hành sau hai năm nữa với cách làm như vậy, chúng ta có thể hình thành được toàn bộ cấu trúc kỳ hạn của xác suất vỡ nợ của trái phiếu công ty kỳ hạn 1 năm được phát hành kế tiếp nhau như sau:
Trang 38Các xác suất vừa tính là xác suất cận biên trên cơ sở giả thiết là không có vỡ
nợ xảy ra trước đó Chúng ta cũng có thể đề cập đến khái niệm “xác suất vỡ nợ tích lũy”, trên cơ cở đó, cho phép nhà đầu tư xác định được mức rủi ro tổng hợp trong suốt thời hạn đầu tư Trong ví dụ đang xét, xác suất vỡ nợ tích lũy trong suốt 2 năm đầu tư sẽ là:
6 Những biểu hiện và các bước xử lý nợ có vấn đề
Cho dù hầu hết các ngân hàng đã xây dựng một cơ chế bảo đảm an toàn tín dụng, nhưng điều không thể tránh khỏi là một số khoản tín dụng vẫn được thể hiện trên sổ sách là những khoản tín dụng có vấn đề Tức là nợ xấu Những khoản nợ xấu thường bao gồm các trường hợp:
- Người vay không thể trả nợ đúng hạn một hay nhiều kỳ
- Tài sản bảo đảm tín dụng giảm đáng kể
Những biểu hiện của nợ xấu ít nhiều là khách nhau trong các tình huống khách nhau, nhưng một số đặc điểm chung cho hầu hết các khoản tín dụng có vấn đề được nêu ra như sau:
Thứ nhất, Sự chậm trễ bất thường và không có lý do trong việc cung cấp báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận; hoặc chậm trễ trong việc liên lạc lại với cán bộ tín dụng
Thú hai, đối với tín dụng doanh nghiệp, bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong khấu hao, kế hoạch trả lương và phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập
Thứ ba, đối với tín dụng doanh nghiệp, việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức, hoặc thay đổi vị trí xếp hạng tín nhiệm
Thứ tư, Giá cổ phiếu của công ty thay đổi bất lợi
Trang 39Thứ năm, thu nhập ròng giảm trong một hay nhiều năm, đặc biết là các chỉ tiêu như tỷ số sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ số sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), hay lợi tức trước thuế và lãi suất (EBIT)
Thứ sáu, Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần trên nợ vay), thanh khoản (chỉ tiêu thanh khoản hiện thời), hay mức độ hoạt động (ví dụ chỉ tiêu doanh thu trên hàng tồn kho)
Thứ bảy, độ lệch của doanh thu hay lưu chuyển tiền tệ so với kế hoạch khi
mà tín dụng đã được cấp
Thứ tám, những thay đổi bất ngờ, không dự kiến và không có lý do đối với
số dư tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng
Các biểu hiện của tín dụng có vấn đề Các biểu hiện của chính sách tín dụng
kém hiệu quả
1 Trả nợ vay không đúng kỳ hạn
hoặc thất thường
1 Sự lụa chọn khách hàng không đúng với cấp độ rủi ro của họ
2 Thường xuyên sửa đổi thời hạn,
xin gia hạn tín dụng
2 Chinh sách cho vay phụ thuộc vào
sự kiện xảy ra trong tương lai (ví
4 Lãi suất tín dụng cao không bình
7 Thất lạc hồ sơ (đặc biệt là các báo
cáo tài chính của khách hàng)
7 Tỷ số cho vay nội bộ cao (cán bộ công nhân viên, hồi đồng quản trị, ban tổng giám đốc, các cổ đông)
8 Chất lượng bảo đảm tín dụng thấp 8 Có xu hướng thái quá trong cạnh
tranh (cấp tín dụng xấu để giữ chân khách hàng)
9 Dựa vào đánh giá lại tài sản để
tăng vốn chủ sở hữu của khách
Trang 40tiền hay dự báo luồng tiền các điều kiện môi trường kinh tế
11 Khách hàng dựa vào nguồn thu bất
thường để trả nợ (ví dụ bán nhà
xưởng hay máy móc thiết bị)
Bảng 1 4: Những biểu hiện của một khoản tín dụng xấu và một chính sách tín dụng kém
hiệu quả
Vậy ngân hàng phải làm gì khi tín dụng có vấn đề? Các chuyên gia ngân hàng sẽ tìm ra các giải pháp nhằm thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề theo một số bước sau:
Bước 1: Luôn đặt mục tiêu “Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi đầy đủ nợ
đã cho vay”
Bước 2: Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời mọi vấn đề thực chất liên quan đến tín dụng, mọi chậm trễ đều làm cho tình hình trở nên xấu hơn Bước 3: Trách nhiệm xử lý tín dụng có vấn đề phải được độc lập với chức năng cho vay nhằm tránh những xung đột có thể xảy ra với quan điểm của cán
bộ tín dụng trực tiếp cho vay
Bước 4: Chuyên gia xử lý tín dụng cần hội ý khẩn cấp với khách hàng về các giải pháp có thể, đặc biệt là tinh giảm chi phí, tăng nguồn thu, và tăng cường cải tiến công tác quản lý Trước khi hội ý với khách hàng, chuyên gia cần phân tích
sơ bộ tín dụng có vấn đề và những nguyên nhân có thể, ghi chú mọi vấn đề đặc biệt khám phá ra (kể cả chủ nợ có liên quan) Xây dựng kế hoạch hành động sau khi đã xác định được rủi ro đối với ngân hàng và bổ xung hồ sơ tín dụng (đặc biệt là yêu cầu bổ xung tài sản làm vật bảo đảm tín dụng để phù hợp với tình hình mới)
Bước 5: Dự tính những nguồn thu có thể dùng để thu nợ có vấn đề (bao gồm nguồn thu từ thanh lý tài sản và số dư tiền gửi ngân hàng)
Bước 6: Chuyên gia cần tiến hành nghiên cứu nghĩa vụ thuế và những tranh chấp xem khách hàng còn nghĩa vụ tài chính nào chưa thực hiện
Bước 7: Đối với doanh nghiệp, chuyên gia cần đánh giá chất lương, năng lực
và sự nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và tài sản của doanh nghiệp
Bước 8: Chuyên gia phải cân nhắc mọi phương án có thể để hoàn thành việc thu hội nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn nợ tạm thời nếu khách