Cơ chế bệnh sinh của SLE ban đỏ hệ thống Nguyên nhân gây bệnh của SLE ban đỏ hệ thống cũng như biểu hiện tổn thương mô bệnh học trên sinh thiết thận là do nhiều yếu tố và liên quan đến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: PHẠM NGUYỄN NGỌC OANH
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁP ỨNG ĐIỀU TRỊ Ở TRẺ LUPUS BAN ĐỎ TẠI
KHOA NHI - BỆNH VIỆN BẠCH MAI
NĂM 2016 -2017
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA
KHÓA: QH.2012.Y NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN THÀNH NAM
THS PHẠM VĂN ĐẾM
HÀ NỘI - 2018
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Y Dược –
ĐH Quốc Gia Hà Nội đã rất tâm huyết truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại Khoa Y Dược
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến THS Nguyễn Thành Nam – Trưởng Khoa Nhi – Bệnh viện Bạch Mai – người đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu, đồng thời cũng đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành khóa luận Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Nhóm nghiên cứu của đề tài Khoa học và Công nghệ tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến người thầy mà tôi vô
cùng kính mến và ngưỡng mộ đến THS Phạm Văn Đếm – Giảng viên Bộ môn
Nhi, Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã tạo cho tôi nguồn động lực rất lớn trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Y Dược, ĐHQGHN, Ban chủ nhiệm khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, cùng toàn thể các thầy cô bộ môn Nhi, các nhân viên Khoa Nhi, Bệnh Viện Bạch Mai đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những bệnh nhân, gia đình bệnh nhân đã tham gia và đóng góp một phần không nhỏ cho sự thành công của khóa luận
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và sự yêu thương đến gia đình, người thân và bạn bè, những người đã luôn ở bên cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Phạm Nguyễn Ngọc Oanh
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 5MTP Methylprednisolone
SLE
Systemic SLE Erythematosus SLE ban đỏ hệ thống
SLICC/ACR Systemic SLE International Collaborating Clinics /
American College of Rheumatology Những trung tâm cộng tác quốc tế về SLE hệ thống
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các yếu tố môi trường có liên quan đến bệnh sinh của SLE 8
Bảng 1.2 Phác đồ điều trị SLE ở trẻ theo KDIGO 32
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán SLE theo ACR - 1997 32
Bảng 3.1 Triệu chứng cơ năng khi bệnh nhân khởi phát bệnh 32
Bảng 3.2 Biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng tại thời điểm nhập viện 33
Bảng 3.3 Tổn thương các cơ quan đánh giá dựa vào chỉ số SLICC 35
Bảng 3.4 Thay đổi một số thành phần nước tiểu 35
Bảng 3.5 Thay đổi một số thành phần sinh hóa máu 36
Bảng 3.6 Kết quả sinh thiết thận 36
Bảng 3.7 Số bệnh nhân tham gia điều trị sau 1 tháng, 3 tháng và số bệnh nhân tử vong 36
Bảng 3.8 Thay đổi protein niệu 37
Bảng 3.9 Thay đổi ure máu 37
Bảng 3.10 Thay đổi creatinin máu 37
Bảng 3.11 Thay đổi albumin máu 38
Bảng 3.12 Thay đổi chỉ số mức lọc càu thận MỨC LỌC CẦU THẬN 38
Bảng 3.13 Mức độ đáp ứng điều trị trên từng nhóm đối tượng dựa theo các chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng 40
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Các con đường hoạt hóa bổ thể 32
Hình 1.2 Tổn thương mô bệnh học 22
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 34
Hình 3.1 Tỷ lệ bệnh nhi phân bố theo giới 34
Hình 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương gan, thận 39
Hình 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng và không đáp ứng điều trị 39
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 8MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 TỔNG QUAN VỀ SLE BAN ĐỎ HỆ THỐNG 3
1.1.1 Độ lưu hành và đặc điểm chung bệnh nhân SLE ban đỏ hệ thống 3
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh của SLE ban đỏ hệ thống 4
1.1.3 Rối loạn miễn dịch học trong SLE 7
1.2 TỔN THƯƠNG THẬN SLE 12
1.2.1 Dịch tễ tổn thương thận SLE và tiên lượng điều trị 12
1.2.2 Tổn thương mô bệnh học viêm thận SLE và liên quan lâm sàng 13
1.2.3 Viêm cầu thận SLE có hội chứng thận hư 19
1.2.4 Điều trị tổn thương thận SLE 21
1.2.5 Cyclophosphamide 22
1.2.6 Nhóm ức chế chuyển hóa 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 25
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 27
2.3.3 Sơ đồ nghiên cứu 27
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 927
2.3.4 Cách tiến hành nghiên cứu 27
2.3.5 Các biến số nghiên cứu 28
2.3.6 Sai số và cách khống chế sai số 30
2.3.7 Xử lý và phân tích số liệu 31
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 32
3.2.1 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 32
3.2.2 Đánh giá đáp ứng điều trị 38
3.2.3 Thay đổi các chỉ số sinh hóa trước và sau điều trị 40
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Đặc điểm chung của nhóm trẻ nghiên cứu 44
4.2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm đối tượng 45
4.3 Đánh giá đáp ứng điều trị 47
KẾT LUẬN 49
1 Về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng 49
2 Về đáp ứng điều trị 49
KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
SLE ban đỏ hệ thống (SLE: Systemic SLE Erythematosus) là bệnh của
hệ thống tạo keo gây tổn thương nhiều cơ quan khác nhau Bệnh diễn tiến trong nhiều năm và gây tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời và theo dõi chặt chẽ Tỷ lệ mắc bệnh SLE ban đỏ hệ thống (SLE: Systemic SLE Erythematosus) ước tính vào khoảng 51/100.000 người [1] Tại châu Mỹ và châu Âu trong khoảng 2-8/100.000 dân, tỷ lệ này đã tăng gấp ba lần trong 40 năm qua, do tác động của môi trường và tiến bộ trong chẩn đoán bệnh [1] Tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao gấp 9 lần so với nam giới [1, 2] Các nghiên cứu thấy 60% bệnh nhân mắc SLE ban đỏ hệ thống khởi phát trong độ tuổi từ 16 và 55 tuổi, chỉ có 20% khởi phát ở trẻ em [1, 2] Theo Linda và cstại Mỹ trong 4 năm từ 2000-2004 đã thống kê được 2.959 trẻ từ 3 đến 18 tuổi mắc SLE/30.420.597 trẻ em, tỷ lệ hiện mắc vào khoảng 9,73 trẻ/100.000 trẻ sống [1, 2] Trước những năm 50 tỷ
lệ sống trên 5 năm của bệnh nhân SLE gần như là 0% [1, 2] Từ năm 1955, khi steroid bắt đầu được sử dụng ngày càng rộng rãi, tiếp theo là các thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporin, Mycophenolat Mofetil, cyclophosphamide, chlorambucin…diễn biến và tiên lượng của bệnh đã thay đổi rất nhiều, tỷ lệ sống sót trên 5 năm là trên 85% và tỷ lệ tử vong là dưới 10% [1, 2]
Khác với người lớn, SLE ban đỏ ở trẻ em biểu hiện lâm sàng nặng nề hơn, tỉ lệ tổn thương thận và thiếu máu cao (chiếm 2/3 bệnh nhân SLE) [1-3]
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về SLE tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào
về những đặc điểm SLE ở trẻ em một cách hệ thống về những vấn đề liên quan trong chẩn đoán và điều trị điều trị SLE ban đỏ ở trẻ em cũng như đáp ứng điều trị ở trẻ mắc SLE có gì khác biệt
Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị ở trẻ SLE ban đỏ tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai năm 2016-2017 ” nhằm 2 mục tiêu sau:
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 123
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ SLE BAN ĐỎ HỆ THỐNG
1.1.1 Độ lưu hành và đặc điểm chung bệnh nhân SLE ban đỏ hệ thống
Tỉ lệ SLE trong dân số khoảng 40 đến 150 trường hợp/100.000 dân [4, 5] Do sự tiến bộ trong chuẩn đoán và khả năng phát hiện bệnh trong giai đoạn sớm nên tỉ lệ bệnh nhân SLE tăng khoảng gấp 3 lần trong vòng 40 năm qua [6]
Tỉ lệ ước tính ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu và châu Á dao động từ 24 (Newzeland) đến 254 (Bắc Ailen) trường hợp/100.000 dân/năm [7, 8]
Tại Hoa Kỳ, dữ liệu từ hai bang có đông dân cư đô thị và dân tộc thiểu
số, sự lưu hành là 104-170 trên 100.000 phụ nữ, với tỷ lệ hiện mắc ở phụ nữ
Mỹ gốc Phi cao hơn 2,5 - 3 lần ở phụ nữ da trắng [9] Các loại SLE khác cũng được xác định SLE da bán cấp và SLE ở trẻ sơ sinh đã được xác định là có liên quan đến kháng thể kháng Ro và gen HLA-DR3 [9]
* Giới: Tỷ lệ SLE ở nữ cao hơn ở nam là do ảnh hưởng của hormon
estrogen Điều này được chứng minh bằng sự khác biệt của tỷ lệ mắc SLE khi
so sánh nam và nữ giữa các nhóm tuổi Ở trẻ em khi mà hormon sinh dục nữ chưa ảnh hưởng nhiều thì tỉ lệ mắc bệnh nữ:nam là 3:1 [9] Ở người lớn tỉ lệ nữ:nam dao động từ 7-15:1[9] Ở người già, tỉ lệ mắc SLE nữ:nam là khoảng 8:1[10]
Để chứng minh cho vai trò của estrogen trong cơ chế bệnh sinh của SLE, một nghiên cứu của tổ chức Health Nursing cho thấy: Những phụ nữ có kinh nguyệt sớm, dùng thuốc tránh thai hay điều trị nội tiết tố thay thế sau mãn kinh gây tăng nguy cơ mắc SLE rõ rệt từ 1,5 -2,1 lần [11]
* Tuổi khởi phát: 65% bệnh nhân SLE có khởi phát bệnh trong độ tuổi từ
16 đến 55 tuổi [12].Trong số các trường hợp còn lại, 20 % biểu hiện bệnh trước tuổi 16, và 15 % bệnh nhân khởi phát bệnh sau tuổi 55 [12] Tuổi trung bình mắc bệnh của phụ nữ da trắng là 37 đến 50 tuổi và đàn ông da trằng từ 50-59 tuổi Trong khi đó người da đen, phụ nữ mắc trung bình trong độ tuổi từ 15 – 44 và
đàn ông từ 45 – 64 tuổi [13]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 134
1.1.2 Cơ chế bệnh sinh của SLE ban đỏ hệ thống
Nguyên nhân gây bệnh của SLE ban đỏ hệ thống cũng như biểu hiện tổn thương mô bệnh học (trên sinh thiết thận) là do nhiều yếu tố và liên quan đến vai trò đen gen, hormon sinh dục và yếu tố môi trường
1.1.2.1 Vai trò yếu tố gen
Có nhiều bằng chứng về mặt dịch tễ chứng minh yếu tố gen có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của SLE Tỉ lệ bệnh SLE giữa các chủng tộc người khác nhau có ý nghĩa do tính nhạy cảm của các bệnh nhân khác nhau Người vùng Địa trung hải có nguy cơ mắc bệnh SLE cao gấp 3-6 lần so với người da trắng [14] Hơn nữa, nghiên cứu trẻ sinh đôi cho thấy tỉ lệ trẻ cùng mắc bệnh SLE (34%) ở những đứa trẻ sinh đôi cùng trứng khi so sánh với trẻ sinh đôi khác trứng (3%) và tỉ lệ đồng dương tính kháng thể ANA ở trẻ sinh đôi cùng trứng cũng rất cao, khoảng 90% [15] Nguy cơ mắc bệnh cao gấp 15-
20 lần ở những người có chị hoặc em ruột bị mắc bệnh SLE so với người bình thường trong cộng đồng [16] Bên cạnh đó, nhiều báo cáo dịch tễ chứng minh vai trò của gen trong cơ chế sinh bệnh của SLE Một tỉ lệ nhỏ số bệnh nhân (5%) có liên quan đến thiếu hụt một vài gen (yếu tố đơn gen), còn hầu hết bệnh nhân SLE như là hậu quả của sự tương tác đa gen gây nên Người ta đã xác định được những vị trí trên nhiễm sắc thể có liên quan đến bệnh sinh SLE ban
đỏ hệ thống như 1q23-24, 1q41-42,2q37, 4p15-16, 6p11-22, 16q12-13 và 17p13 [14]
Vai trò của HLA (human leukocytes antigen) trong cơ chế bệnh sinh của SLE đã được nghiên cứu và chứng minh hơn 30 năm trước DR-B1 alen DR2
và DR3 chỉ la mối liên quan chặt chẽ với bệnh SLE ở chủng tộc người da trắng
và nếu người mang 2 alen trên có nguy cơ mắc bệnh SLE cao gấp 3 lần với nhóm chứng [15] Các gen DR 2 và DR3 cũng liên quan đến sự hiện diện của một số tự kháng thể như: kháng thể kháng Sm (anti-Sm), anti-Ro, anti_La và kháng thể chuỗi kép (ds DNA) [15] Tuy nhiên, các gen này lại không có mối liên quan bệnh sinh và mang tính hệ quả thật sự thuyết phục ở bệnh nhân thuộc chủng tộc khác không phải người da trắng)[15] Giải thích cho hậu quả này là
do sự mất cân bằng trong quá trình gắn kết giữa các vùng của nhiễm sắc thể
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 145
Ngoài ra, một số giả thuyết đề cập mối liên quan của một vài gen MHC III như TNFa, gen TAP và HSP70 có thể gây ra tình trạng rối loạn gắn kết với các gen khác của HLA hoặc có thể lấn át một vài gen
Hệ thống bổ thể có vai trò quan trọng trong sự lắng đọng các phức hợp miễn dịch và các tế bào chết theo chương trình Sự thiếu hụt mang tính di truyền của các thành phần bổ thể trong con đường cổ điển (C1q, C2, C4) có thể gây ra SLE Các kháng thể tự miễn lưu hành trong bệnh SLE đã được xác định bao gồm ANA, ds DNA, kháng thể RNP, kháng thể kháng phospholipid, kháng thể kháng Clq Fcγ gắn với cổng Fc của IgG có thể hoạt hóa (FcgRI, IIa, IIIa, IIIb, và IV) hoặc ức chế (FcgRIIb) cũng liên quan đến yếu tố di truyền [17]
1.1.2.2 Vai trò của yếu tố môi trường
Mặc dù yếu tố gen và hormon là những yếu tố cơ địa làm tăng nhạy cảm
và gia tăng nguy cơ gây ra SLE, nhưng những biểu hiện ban đầu của bệnh có
lẽ là hậu quả kích thích của các yếu tố môi trường và các yếu tố ngoại sinh
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 15Isoniazid, penicillamine Thuốc lá
Thuốc nhuộm tóc Tia cực tím
Chế độ ăn
Chế độ ăn chất béo no (mỡ động vật) L-canavanin (mầm các củ)
Các yếu tố nhiễm khuẩn
DNA vi khuẩn Nội độc tố Virus Người ta đã gây tổn thương SLE trên da thực nghiệm bằng cách chiếu liên tục liều cao tia cực tím bước sóng B (UVB-Ultraviolet light B) lên cùng một vị trí Tia UV, đặc biệt là UVB liều cao làm gia tăng bệnh SLE thông qua một số cơ chế: làm thay đổi DNA tại chỗ và thay đổi các kháng nguyên nhân khác thông qua quá trình chết theo chương trình (Apoptosis), giải phóng interferon-anpha (INF) từ các tế bào tua gai (Dendritic cells)
Một số thuốc như: hydralazin, procainamid có thể gây ra bệnh SLE do thuốc Hút thuốc lá thành phần có chứa procainamid, một số loại thức ăn có mầm chứa L-cavananin có thể gây ra bệnh cảnh gống SLE (SLE-like)
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 167
Vai trò gây bệnh của virus vẫn còn chưa rõ ràng nhưng những đợt cấp của bệnh thường có liên quan với tình trạng nhiễm virus trước đó và ở những bệnh nhân SLE có tỉ lệ mắc Epstein- Barr virus cao hơn hẳn nhóm chứng không phải SLE [1]
1.1.2.3 Yếu tố hormon[18]
SLE xuất hiện chủ yếu ở nữ với tị lệ nữ:nam = 9:1 và tình trạng này liên quan đến sự khác biệt về hormon giữa nam và nữ Hơn nữa, bệnh hiếm khi khởi phát trước tuổi dậy thì và sau tuổi mãn kinh và bệnh nhân hội chứng Klinefelter’s, đặc trưng bởi tình trạng cường nội tiết tố nữ và giảm nội tiết tố nam vì vậy có nguy cơ cao mắc SLE Các nghiên cứu dịch tễ học cũng cho thấy môi liên quan giữa việc sử dụng estrogen ngoại sinh với việc gia tăng bệnh SLE[19] Trên thực nghiệm gây bệnh SLE cho chuột người ta thấy rằng estrogen làm tăng sản xuất các tự kháng thể Một số nghiên cứu tương tự cũng chỉ ra hiệu quả bảo vệ của testosteron trong bệnh SLE [20] Kanda và Tamaki (1990) đã phát hiện thấy estrogen làm sinh tế bào B, tăng sản xuất kháng thể trong invitro và ở bệnh nhân SLE, tăng sản xuất các tự kháng thể [20]
Prolactin và một số hormon nghi ngờ khác cũng được thấy làm tăng nguy
cơ gây bệnh SLE ở cả nam và nữ Bệnh nhân không phải SLE nhưng có tình trạng tăng prolactin trong máu dẫn đến ANA dương tính và làm thay đổi tính đáp ứng IL-2, tất cả những rối loạn này trở về bình thường khi tình trạng prolactin trong máu bình thường [21]
1.1.3 Rối loạn miễn dịch học trong SLE
SLE ban đỏ hệ thống là điển hình của bệnh lý tự miễn, hậu quả là do rối loạn của đáp ứng miễn dịch, rối loạn quá trình chết tế bào theo chương trình,
có sự hình thành các dòng tế bào tự hoạt hóa và sản xuất các tự kháng thể gây bệnh
1.1.3.1 Các tự kháng thể[22, 23]
Rối loạn miễn dịch chủ yếu ở bệnh nhân SLE là tình trạng sản xuất các tự kháng thể Các kháng thể trực tiếp kháng lại các thành phân của nhân, bào tương
và bề mặt tế bào, ngoài ra còn có các thành phần hòa tan trong bào tương như IgG,
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 178
yếu tố đông máu Kháng thể kháng nhân (ANAs) là đặc hiệu nhất và biểu hiện trên 95% bệnh nhân SLE Kháng thể kháng chuỗi kép (ds DNA) biểu hiện đơn độc ở bệnh nhân SLE và là tiêu chuẩn chuẩn đoán của bệnh
Biểu hiện đáng chú ý nhất của dsDNA là mối liên quan với tình trạng viêm cầu thận Tuy nhiên, mối liên quan này cũng chưa thực sự hoàn toàn vì người ta thấy rằng ở một số bệnh nhân có tổn thương viêm cầu thận mà kháng thể DNA âm tính và ngược lại một số bệnh nhân SLE có nồng độ kháng thể DNA cao trong máu lại không có biểu hiện tổn thương thận
Ngoài ra, người ta cũng tìm thấy nhiều tự kháng thể khác trong máu bệnh nhân SLE với tổng cộng gần 100 tự kháng thể trong đó có một vài tự kháng thể hay gặp như kháng thể Sm, kháng thể kháng phospholipid, kháng thể kháng tiểu cầu, hồng cầu, kháng thể kháng Ro-SSA, Ro-SSB…
- Kháng thể kháng Sm (tên của bệnh nhân được phát hiện đầu tiên): tỉ lệ gặp là 30-40% cũng có liên quan chặt chẽ đến tổn thương viêm cầu thận SLE
- Kháng thể kháng RNP (kháng nguyên tương ứng là protein): độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao
ribonucleo-Hai kháng thể Sm và RNP thường đi kèm với nhau tuy kháng nguyên khác nhau RNP gặp trong bệnh mô liên kết hỗn hợp và trong đó tổng thương thận chiếm khoảng 30%
- Kháng thể kháng SSA (kháng Ro) gặp 30% trong bệnh SLE ban đỏ hệ thống, 60% trong hội chứng Sjogren-Gougerout Các tự kháng thể này có vai trò trong chẩn đoán SLE sơ sinh và block tim bẩm sinh
- Kháng thể kháng hồng cầu: nghiệm pháp Coombs dương tính tỉ lệ gặp 60% trong bệnh SLE và thường gây ra biểu hiện thiếu máu trên lâm sàng
- Kháng thể kháng bạch cầu: bạch cầu ngoại vi giảm Các nghiên cứu cho thấy chủ yếu là lymphocyte bị tổn thương, một phần nhỏ là bạch cầu đa nhân trung tính
- Kháng thể kháng tiểu cầu: là các kháng thể kháng lại các kháng nguyên trên bề mặt tiểu cầu, gây biểu hiện giảm tiểu cầu mức độ nhẹ và vừa; có thể gặp
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 189
xuất huyết giảm tiểu cầu
+ Kháng thể kháng phospholipid: gặp khoảng 40% bệnh nhân SLE Hội chứng antiphospholipid với sự lưu hành các kháng thể kháng phospholipid có liên quan chặt chẽ với tình trạng viêm cầu thận SLE và có tiên lượng xấu Độ lưu hành các tự kháng thể kháng phosphpholipid gặp khoảng 70% aCL, 30% LA
và hội chứng APS trong viêm thận SLE là 20%[24]
1.1.3.2 Rối loạn đáp ứng miễn dịch[23]
SLE đặc trưng bởi vô số sai sót trong hệ miễn dịch liên quan đến tế bào
B, T và dòng tế bào đơn nhân gây ra hoạt hóa tế bào lympho B đa dòng, làm tăng số lượng tế bào sản xuất kháng thể, tăng gamagloblulin trong máu, tăng các tự kháng thể và hình thức phức hợp miễn dịch Các thành phần này dư thừa cùng với sự mất kiểm soát của tế bào lympho T đã tạo điều kiện hoạt hóa và biệt hóa tế bào B sản xuất kháng thể Đây có thể là con đường phổ biến cuối cùng tạo ra nhiều kháng thể trong máu bệnh nhân SLE
Sự hoạt hóa tế bào B và T đòi hỏi có sự kích thích của các kháng nguyên đặc hiệu Các kháng nguyên đó có thể là DNA vi khuẩn, phospholipid thành tế bào, các kháng nguyên virus có thể gây ra hình thành kháng thể DNA trên chuột Hơn nữa, các tự kháng nguyên như phức hợp DNA-protein có thể gây sản xuất các tự kháng thể Các yếu tố môi trường ngoại lai và các tự kháng nguyên đều được trình diện thông qua các tế bào trình diện kháng nguyên (APCs) hoặc gắn với kháng thể được sản xuất trên bề mặt của tế bào B Cả tế bào trình diện kháng nguyên và tế bào B đều trình diện kháng nguyên cho tế bào B thông qua các phân
tử HLA bề mặt Các tế bào T hoạt hóa sẽ kích thích trở lại tế bào B để sản xuất các tự kháng để gây bệnh Trong quá trình kích thích, sự tương tác giữa tế bào B
và T được thuận hóa bởi một số cytokine như IL-10 và có sự hỗ trợ của các phân
tử CD40/CD40L và hệ thống B7/CD28/CTLA-4 tham gia vào tín hiệu thứ 2
Hoạt hóa tế bào B trong SLE là bất thường Trong tất cả các giai đoạn của quá trình hoạt hóa thì tế bào B đều tăng ở bệnh nhân SLE đợt cấp Các tế bào B bất thường có thể gặp trước khi biểu hiện bệnh trên lâm sàng Trong SLE, các tế bào B được hoạt hóa tăng nhạy cảm hơn với canxi trong bào tương hơn ở người bình thường Bên cạnh đó, người ta cũng thấy rằng tế bào B ở bệnh nhân SLE
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 1910
cũng tăng nhạy cảm với các interleukin (IL06) hơn tế bào B ở bệnh nhân không
bị SLE Vì vậy, tế bào B ở bệnh nhân SLE có xu hướng hoạt hóa đa dòng do các
dị nguyên, cytokine và các yếu tố kích thích khác
Sự bất thường chức năng của tế bào T cũng được ghi nhận ở bệnh nhân SLE Hầu hết ở bệnh nhân SLE, tổng số bạch cầu lympho T máu ngoại vi đều giảm do có sự xuất hiện của kháng thể kháng bạch cầu trong máu Sự rối loạn chức năng tế bào T kích thích tế bào B tăng sản xuất kháng thể Có sự thiếu sót trong quá trình hoạt hóa tế bào T sớm hơn ở bệnh nhân SLE so với người bình thường Mặc dù tế bào T được hoạt hóa ở máu ngoại vi nhưng cả sự đáp ứng với các kích thích của mitogenic và tăng sinh do kích thích của IL-2 đều giảm
Sự rối loạn đáp ứng của Th1 ở bệnh nhân SLE vẫn còn đang được nghiên cứu Rối loạn khả năng điều hòa do dư thừa IL-2, sự khiếm khuyết trong quá trình tương tác của tế bào T với các tế bào APCs, rối loạn ức chế của tế bào T CD8
và tế bào diệt tự nhiên (NK), sự hiện diện của chất ức chế IL-2 và sự suy giảm khả năng điều hòa của thụ thể IL-2 có lẽ là cơ chế bệnh sinh của bệnh SLE
1.1.3.3 Hiện tượng chết theo chương trình (Apotosis)
Quá trình thực bào để làm sạch các phức hợp miễn dịch và các tế bào già
bị rối loạn trong bệnh SLE do vậy làm kéo dài sự tồn tại của các kháng nguyên
và phức hợp miễn dịch Đây là quá trình dung nạp miễn dịch bệnh lý Các tế bào lympho B trong máu luôn luôn được hoạt hóa sinh kháng thể và luôn luôn được kích thích trưởng thành để có khả năng sinh kháng thể do BlysS (BAFF)
và do tế bào T hỗ trợ được hoạt hóa kéo dài các cytokin của tế bào B như là
IL-6 và IL -10 Điều này làm gia tăng các tự kháng thể lưu hành trong máu ở bệnh nhân SLE Sự mất cân bằng này là do mất khả năng ức chế của tế bào T CD8
và mất khả năng điều hòa của T CD4, hậu quả là không có khả năng làm giảm kháng thể tự miễn lưu hành trong máu
1.1.3.4 Vai trò của bổ thể (C3, C4) trong SLE ban đỏ hệ thống[25]
Hệ thống bổ thể có mối liên quan mật thiết trong cơ chế bệnh sinh bệnh SLE ban đỏ hệ thống Vaugal và cslần đầu tiên đánh giá tình trạng bổ thể toàn phần CH50 ở bốn bệnh nhân SLE và phát hiện thấy tình trạng suy giảm bổ thể
ở bệnh nhân SLE đặc biệt trong đợt cấp tiến triển Sau đó các nghiên cứu của
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2011
Elliott và Mastheison chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng suy giảm bổ thể và albumin niệu Lange và csđã phát hiện ra rằng mặc dù bổ thể giảm là đặc trưng cho bệnh SLE ban đỏ hệ thống nhưng liệu rằng có liên quan đến tổn thương thận hay không? Schur và Sandson thấy rằng tình trạng suy giảm CH50 ở 50% bệnh nhân, bình thường ở 46% bệnh nhân tổn thương thận và 24% bệnh nhân bệnh hoạt động nhưng chỉ giảm ở 4% bệnh nhân bệnh không hoạt động Kết quả này gợi ý giá trị của bổ thể trong theo dõi và đánh giá đợt cấp SLE đặc biệt viêm thận SLE
Mặt khác, tình trạng suy giảm bổ thể di truyền có liên quan đến gia tăng nguy có biểu hiện SLE do đó người ta cho rằng tình trạng suy giảm bổ thể có thể là nguyên nhân gây ra SLE đặc biệt là tình trạng suy giảm bổ thể theo con đường cổ điển (C1, C2 hoặc C4)
Sự hoạt hóa bổ thể được gây ra bởi tình trạng lắng đọng phức hợp miễn dịch được hình thành từ phản ứng kháng nguyên kháng thể (tự kháng nguyên với tự kháng thể) Kết quả là gây ra hình thành phức hợp tấn công màng theo
ba con đường hoạt hóa khác nhau bao gồm con đường cổ điển, con đường thay thế và con đường Lectin gây tình trạng viêm và tổn thương các cơ quan (sơ đồ minh họa con đường hoạt hóa bổ thể) Sự trái ngược trong mối liên quan giữa
hệ thống bổ thể và bệnh SLE là ở chỗ mặc dù một số nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống bổ thể có vai trò duy trì sự dung nạp miễn dịch để tránh tiến triển bệnh SLE nhưng mặt khác nó cũng tham gia quá trình viêm gây tổn thương mô, tế bào làm biểu hiện rõ hơn tình trạng bệnh
Hệ thống bổ thể của cơ thể gồm trên 30 protein huyết thanh và gắn màng
Sự hoạt hóa hệ thống bổ thể là một quá trình gồm 2 giai đoạn Trong giai đoạn đầu tiên, duy nhất một trong ba con đường được hoạt hóa, các thành phần bổ thể sớm được kích hoạt và hình thành C3 covertases Trong giai đoạn thứ 2, ba con đường hợp nhất để tạo thành phức hợp ly giải trong đó có sự tham gia của các đầu tận cùng của các thành phần bổ thể
Trong các khuyến cáo điều trị SLE gầy đây đều cho rằng đánh giá tình trạng bổ thể là cần thiết để theo dõi và đánh giá đợt cấp, hơn nữa bổ thể còn có vai trò dự báo sớm đợt cấp vì thường giảm trước khi có biểu hiện lâm sàng đặc
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2112
biệt là trong đợt cấp tổn thương thận Trong nghiên cứu của Birmingham và cstrên 71 bệnh nhân đánh giá C3, C4 hai tháng 1 lần kéo dài 36 tháng và đánh giá tổng cộng 70 đợt cấp tổn thương thận Kết quả cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của C3 và C4 lần lượt là 75%/71% và 48/71% [26]
Hình 1.1 Các con đường hoạt hóa bổ thể [12]
1.2 TỔN THƯƠNG THẬN SLE
1.2.1 Dịch tễ tổn thương thận SLE và tiên lượng điều trị
Tỉ lệ viêm thận SLE phụ thuộc vào chủng tộc và tiêu chuẩn chẩn đoán SLE Tỉ lệ viêm thận SLE cộng dồn cao nhất ở chủng tộc chấu Á khoảng 55%
- 70%, châu Phi (51%) và người vùng Địa trung hải (43%), tỉ lệ thấp nhất là người Caucasians (14%) Mức độ năng của viêm thận SLE cũng thay đổi theo chủng tộc và mang tính cả thể chủ yếu ở người da đen, người vùng Địa trung hải và người dân châu Á Hơn nữa, tình trạng viêm thận SLE nặng hay gặp ở lứa tuổi trẻ và ít gặp hơn ở người lớn tuổi[18]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 22kể Tỉ lệ sống sót ở nhóm bệnh nhân viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa chỉ khoảng 30% trong những năm đầu thập kỷ 70, tăng đến 50% trong những năm giữa thập kỷ 70 và trong 20 năm gần đây, tỉ lệ này đã tăng lên đến 80% Có được kết quả tiến bộ trên là nhờ có sự tiến bộ trong hiểu biết và áp dụng có hiệu quả thuốc ức chế miễn dịch trong điều trị bệnh nhân SLE nói chung và bệnh nhân viêm thận SLE nói riêng Ngoài ra, nhờ việc áp dụng rộng rãi kỹ thuật lọc máu chu kỳ và tiến bộ trong ghép thận cũng góp phần quan trọng làm gia tăng có ý nghĩa tỉ lệ sống cho bệnh nhân viêm thận SLE type IV
1.2.2 Tổn thương mô bệnh học viêm thận SLE và liên quan lâm sàng
Hầu hết tổn thương thận ở bệnh nhân SLE là biểu hiện sớm sau khi được chuẩn đoán trong vòng 6-36 tháng Mặc dù có đến 30% bệnh nhân tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối nhưng những bằng chứng về tình trạng suy giảm chức năng thận trong những năm đầu tiên được chuẩn đoán thường không phổ
biến
1.2.2.1 Viêm thận SLE câm (Silent SLE nephritis)[27, 28]
Nghiên cứu, trong đó sinh thiết thận đã được thực hiện ở bệnh nhân mà không có bất kỳ bằng chứng lâm sàng của bệnh thận SLE đã phát hiện thấy tổn thương viêm cầu thận gian mạch, viêm cầu thận ổ, lan toả ở nhiều bệnh nhân Trong trường hợp này những bệnh nhân không có tình trạng lâm sàng kéo dài
và là một yếu tố tiên lượng tốt Một nghiên cứu 213 trường hợp viêm thận câm (một nửa số bệnh nhân được điều trị bằng corticoid có phối hợp với cyclophosphamide hoặc không) tỷ lệ sống sau 4 năm là 98%[28] Bệnh tiến triển liên quan đến tình trạng biểu hiện lâm sàng của viêm cầu thận[27]
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2314
1.2.2.2 Viêm cầu thận SLE
Hầu hết bệnh nhân viêm thận SLE biểu hiện bệnh cầu thận liên quan đến phức hợp miễn dịch[29] Trong hai thập kỉ vừa qua, nhờ có nỗ lực của nhiều hiệp hội khoa học và đặc biệt là của tổ chức y tế thế giới trong việc đưa ra phân loại tổn thương cầu thận SLE Dựa trên mối tương quan giữa lâm sàng và mô bệnh học, một hệ thống phân loại mới của viêm cầu thận SLE đã được xây dựng
và xuất bản năm 2004[30] nhờ các nhà giải phẫu bệnh, thận học, nhà khớp học Phân loại này là sự kế thừa của phân loại WHO 1995 sửa đổi[30, 31]
Viêm cầu thận SLE màng tổn thương tối thiểu (Minimal mesangial SLE nephritis - type I): Bệnh nhân có tổn thương cầu thận type I chỉ có lắng
đọng phức hợp miễn dịch ở vùng gian mạch Tổn thương được thấy trên kích hiển vi huỳnh quang đơn thuần hoặc cả trên kích hiển vi điện tử Không thấy tổn thương trên kích hiển vi quang học Viêm thận SLE type I là tổn thương biểu hiện sớm nhất và nhẹ nhất trong các dạng viêm cầu thận
Viêm cầu thận tăng sinh gian mạch (Mesangial proliferative SLE nephritis - type II): Trên kính hiển vi quang học tổn thương quan sát thấy là tình
trạng tăng sinh tế bào gian mạch ( ở mọi mức độ) và sự phát triển của mạng lưới gian mạch Có tình trạng lắng đọng dưới nội mạch và hình ảnh sẹo cầu thận thành dải hoặc ổ nguyên nhân là do tình trạng tăng sinh nội mao mạch trước đó hoặc do tổn thương hình liềm và không tương xứng với chẩn đoán
Biểu hiện tổn thương type II trên lâm sàng là tình trạng đái máu hoặc protein niệu vi thể, tăng huyết áp hiếm gặp Hội chứng thận hư và suy thận thì hầu như không bao giờ gặp Bệnh nhân tiên lượng rất tốt và không cần điều trị đặc hiệu trừ khi bệnh thận tiến triển nặng hơn trên lâm sàng
Viêm cầu thận tăng sinh ổ (Focal SLE nephritis - type III): Tổn
thương < 50% cầu thận trên kính hiển vi quang học với tình trạng tổn thương thành đoạn hoạt động hoặc không hoạt động hoặc tổn thương viêm cầu thận nội mao mạch hoặc ngoài mao mạch Tổn thương thường là hình ảnh lắng đọng phức hợp miễn dịch dưới nội mạc Tổn thương gian mạch cũng được thấy trên tổn thương mô bệnh học[32] Các dưới nhóm của viêm cầu thận tăng sinh ổ (Type III)
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 24Hơn nữa tổn thương mô bệnh học còn bao gồm tỉ lệ cầu thận bị hoại tử
xơ và tổn thương hình liềm Có hoặc không có tổn thương ống thận kẽ hay bất thường mạch máu Trên kình hiển vi điện tử thấy hình ảnh lắng đọng của phức hợp miễn dịch ở lớp dưới nội mô thành mao mạch cầu thận cũng như phần gian mạch Mặc dù trên kình hiển vi quang học chỉ <50% cầu thận bị tổn thương nhưng trên kính hiển vi hùynh quang thấy hầu hết các cầu thận lắng đọng C3
và IgG một cách đồng dạng[32] Tiên lượng của type III là rất thay đổi do không xác định được chính xác tỉ lệ cầu thận bị tổn thương
Type III bệnh xuất hiện ở 10-20 phần trăm trường hợp Đái máu và protein niệu được thấy trong hầu hết các bệnh nhân, một số người cũng có hội chứng thận hư, tăng huyết áp, và một nồng độ creatinine huyết thanh tăng cao Rối loạn chức năng thận tiến triển trong viêm thận SLE tăng sinh ổ hiếm khi xuất hiện ( ít nhất trong năm năm đầu mắc bệnh) nếu <25% số cầu thận bị tổn thương trên kích hiển vi quang học và hầu hết cầu thận chỉ tổn thương tăng sinh thành dải[32] Nếu tổn thương lan rộng hơn hoặc nặng (40-50% cầu thận bị tổn thương và có vùng hoại tử hoặc có tăng sinh hình liềm thì thường xuất hiện hội chứng thận hư và kèm tăng huyết áp Điều này liên quan với tiên lượng xa
và xấu giống như trong tổn thương cầu thận tăng sinh lan toả type IV[33]
Viêm cầu thận SLE tăng sinh lan toả (Diffuse SLE nephritis - type IV): Tổn thương trên 50% cầu thận biểu hiện tình trạng viêm cầu thận trong
mao mạch hoặc ngoài mao mạch; tổn thương gian mạch cũng có thể xuất hiện[29] SLE lan toả liên quan với tình trạng lắng đọng phức hợp miễn dịch,
ít nhất là trong pha hoạt động Nếu tổn thương lắng đọng phức hợp miễn dịch
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 25➢ Type IV-S (C), tổn thương gồm tổn thương mãn tính không hoạt động với những vết sẹo Dạng này được gọi là viêm thận SLE xơ hoá dải lan toả
➢ Type IV-G (C), lớp IV-G với các tổn thương mãn tính không hoạt động với những vết sẹo được gọi là viêm thận SLE xơ hoá toàn bộ lan toả
Khi bệnh hoạt động, các tổn thương tăng sinh, hoại tử và tổn thương hình liềm có thể đều thấy trên sinh thiết thận, tổn thương trên 50% cầu thận trên kính hiển vi quang học[32, 34] Lắng đọng phức hợp miễn dịch và bổ thể dày đặc trên thành của mao mạch cầu thận giống như tổn thương viêm cầu thận tăng sinh màng Những tổn thương này đặc trưng bởi sự xâm nhập của dòng tế bào tiền viêm (mono, tế bào T gây độc/ức chế), đôi khi gây ra hình ảnh liềm tế bào[35, 36]
Type IV viêm thận SLE là phổ biến nhất và nghiêm trọng nhất của viêm thận SLE [8] Trong một nghiên cứu 135 bệnh nhân tổn thương thận lớp IV trên sinh thiết, 65% tăng sinh toàn bộ và 35% tăng sinh thành dải lan toả đã được quan sát thấy [29]
Đái máu và protein niệu gần như là xuất hiện ở tất cảc các trường hợp,
và hội chứng thận hư, tăng huyết áp, và suy thận là rất thường gặp Bệnh nhân tăng nồng độ kháng thể dsDNA và giảm bổ thể trong máu rất rõ ràng đặc biệt
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2617
là trong đợt cấp của bệnh[37]
Mặc dù hiệu quả của thuốc ức chế miễn dịch, quá trình sẹo hoá có thể xuất hiện trong vài năm sau khi quá trình viêm đã hồi phục Quá trình suy giảm chức năng thận muộn thường liên quan với biểu hiện trên xét nghiệm nước tiểu, trên sinh thiết thận có dấu hiệu sẹo hoá có hoặc không có tình trạng viêm cấp tính
Viêm thận SLE màng (Membranous SLE nephritis - type V): Type
IV liên quan đến lắng đọng miễn dịch dưới nội mô ( có thể thành dải hoặc toàn bộ)[48] Màng đáy cầu thận dày lan toả thấy trên kính hiển vi quang học[20, 38] Tổn thương gian mạch cũng có thể xuất hiện Tổn thương type V có thể kết hợp với lớp III hoặc type IV
Khoảng 10-15% bệnh nhân tổn thương viêm cầu thận màng trong viêm thận SLE Biểu hiện lâm sàng của tổn thương thận lớp này là hội chứng thận
hư giống hình thái tổn thương màng cầu thận vô căn[20, 38-40]
Viêm cầu thận màng trong SLE có thể không có các dấu hiệu khác của SLE cả lâm sàng và rối loạn trong huyết thanh có thể bổ thể không giảm và kháng thể dsDNA âm tính [38, 41] Tuy nhiên nếu có tổn thương trên sinh thiết thận và kèm theo các rối loạn miễn dịch thì thường là SLE ban đỏ hệ thống hơn
là tổn thương thận màng vô căn[20, 41] Bệnh nhân SLE tổn thương cầu thận màng chức năng thận có thể bình thường hoặc gần như bình thường kéo dài trong khoảng 5 năm hoặc hơn mà không cần điều trị liệu pháp miễn dịch
Viêm cầu thận SLE xơ hoá lan toả (Advanced sclerosing SLE nephritis - type VI): Type VI đặc trưng bởi tình trạng xơ hoá cầu thận >90%
cầu thận kết quả của quá trình lành các tổn thương viêm trước đó cũng như là quá trình tiến triển của các lớp tổn thương thận mạn tính type III, IV hoặc V Nghiên cứu hồi cứu 169 bệnh nhân tổn thương thận lớp IV phát hiện thấy có 4% tiến triển thành type VI [42] Bệnh nhân SLE viêm cầu thận xơ hoá thường biểu hiện quá trình suy thận diễn ra chậm và liên quan với rối loạn trong nước tiểu Xác định tổn thương dựa trên sinh thiết là rất quan trong để quyết định liệu pháp sử dụng thuốc ức chế miễn dịch trong trường hợp tổn thương không hoạt động
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2718
1.2.2.3 Tổn thương khác
Trong viêm thận SLE, ngoài tổn thương cầu thận là chủ yếu còn có 3 dạng tổn thương thận trong SLE khác là viêm thận kẽ, viêm mạch và viêm thận SLE do thuốc[29, 31]
- Bệnh thận kẽ (thâm nhiễm khoảng kẽ và tổn thương ống thận) có hoặc không kèm theo lắng đọng phức hợp miễn dịch dọc ống thận Nghi ngờ bệnh thận kẽ khi mà bệnh nhân SLE có sự gia tăng nhanh nồng độ creatinin trong máu mà biểu hiện trong nước tiểu tối thiểu chỉ gặp mộ vài hồng cầu, bạch cầu hoặc bình thường [43, 44]
- Bệnh mạch máu trong tổn thương thận SLE là không hay gặp và thường liên quan đến tình trạng lắng đọng phức hợp miễn dịch và viêm mạch [42, 45] Những trường hợp này thường liên quan với hội chứng kháng phospholipid Biểu hiện lâm sàng đặc trưng là hội chứng thận hư
- SLE do thuốc: Rất nhiều loại thuốc có thể gây ra hội chứng giống như SLE (SLE –like syndrome) như procainamid, hydralazin Tổn thương thận hiếm gặp nhưng đôi khi viêm cầu thận tăng sinh và hội chứng thận hư có thể gặp
Hình 1.2 Tổn thương mô bệnh học [3]
A: Viêm cầu thận SLE tăng sinh gian mạch B: viêm cầu thận SLE tăng sinh
C: Viêm cầu thận SLE màng
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 2819
1.2.3 Viêm cầu thận SLE có hội chứng thận hư
Biểu hiện lâm sàng của viêm thận SLE bao gồm: protein niệu, hội chứng thận hư, trụ hạt, trụ hồng cầu, đái máu vi thể, đại thể, suy giảm chức năng thận, suy thận tiến triển nhanh, suy thận cấp, tăng huyết áp, tăng kali máu và tổn thương ống thận
Hội chứng thận hư là biểu hiện lâm sàng nặng của tổn thương thận SLE gặp ở tất cả các type phân loại mô bệnh học tổn thương thận từ type II đến type
IV chiếm khoảng 45-65% số bệnh nhân viêm thận SLE[46] và chủ yếu là trong tổn thương thận tăng sinh (type III và IV)[47] và 75% số bệnh nhân tổn thương cầu thận màng tiến triển đến hội chứng thận hư[48] Bệnh nhân viêm cầu thận SLE 100% có protein niệu sau đó dần tiến triển đến hội chứng thận hư nếu không điều trị Nghiên cứu của các tác giả Trần Văn Vũ, Nguyễn Thị Lệ, Đặng Vạn Phước về mối tương quan giữa lâm sàng và mô bệnh học của bệnh nhân SLE tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho kết quả hội chứng thận hư gặp 15/34 bệnh nhân được sinh thiết thận có tổn thương mô bệnh học là type III và type IV[49] Hội chứng thận hư SLE thường tiến triển sau 3-4 năm khởi phát bệnh với tình trạng viêm thận
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng thận hư do SLE cũng giống như hội chứng thân hư nguyên phát với các đặc trưng:
1.2.3.1 Biểu hiện lâm sàng[50]
Phù: Trọng lượng cơ thể tăng, phù toàn thân, phù mềm, ấn lõm Có thể
có các triệu chứng của dịch màng phổi, màng bụng, màng tim, màng tinh hoàn (ở nam giới)
Protein niệu ≥ 50mg/kg/24 giờ hoặc chỉ số protein/creatinin niệu ≥ 200mg/mmol Trong nước tiểu có mỡ chiết quang, trụ trong, hồng cầu
Giảm và biến đổi thành phần của protid huyết tương:
Trang 29Tăng cholesterol, triglycerid huyết tương:
Do tình trạng giảm áp lực keo do mất albumin qua màng lọc cầu thận gây hiện tình trạng bù đắp bằng việc tăng nồng độ cholesterol và triglycerid
1.2.3.2 Các biến chứng của hội chứng thận hư[50]
Nhiễm khuẩn: Do sức đề kháng giảm vì IgM giảm và C3PA làm giảm khả năng thực bào Có thể gặp:
- Nhiễm khuẩn huyết
- Viêm mô, viêm tế bào
- Viêm màng bụng tiên phát do phế cầu và các vi khuẩn khác
- Viêm phế quản, viêm phổi
- Zona
Rối loạn nước, điện giải:
Đặc biệt Na+ huyết tương giảm do pha loãng; giảm Ca++ máu nên có thể
có triệu chứng tetani; kali máu giảm gây liệt ruột
Biến chứng tiêu hóa:
Đau bụng do viêm loét dạ dày tá tràng Cần chẩn đoán phân biệt với viêm màng bụng tiên phát, tắc động mạch mạc treo
Thiểu dưỡng do đái nhiều protein
Trang 30đó là hội chứng APS Trên dưới 25% bệnh nhân viêm thận SLE có liên quan đến hội chứng APS Trên sinh thiết cầu thận cho thấy hình ảnh tắc vi mạch cầu thận mạch cầu thận và là nguyên nhân chủ yếu gây biểu hiện suy thận cấp ở bệnh nhân SLE và có tiên lượng xấu[24]
1.2.3.3 Các biểu hiện ngoài thận
SLE là bệnh tự miễn tổn thương nhiều cơ quan Do đó bên cạnh tổn thương thận có hội chứng thận hư, bệnh nhân còn biểu hiện các tổn thương ngoài thận như rối loạn huyết học, cơ xương khớp, hô hấp, tim mạch và đặc biệt quan trong và nặng là tổn thương thần kinh SLE[46]
Áp dụng chỉ số SLICC/ACR để đánh giá tổn thương các cơ quan trên bệnh nhân SLE
1.2.4 Điều trị tổn thương thận SLE
Trong hơn 40 năm qua, nhiều thử nghiệm lâm sàng được tiến hành với nhiều thuốc và liệu pháp được áp dụng để điều trị cho tổn thương thận do SLE bởi vì tổn thương thận là yếu tố tiên lượng rất xấu và hay gặp trong bệnh SLE[51, 52] Điều trị viêm cầu thận do SLE gồm 2 giai đoạn là điều trị tấn công
và điều trị duy trì tương ứng với pha cấp tính và mạn tính tương ứng
1.2.4.1 Mục tiêu điều trị của liệu pháp ức chế miễn dịch
Hiệu quả của liệu pháp ức chế miễn dịch phải được cân đối với độc tính của nó Để ngăn chặn việc sử dụng liệu pháp điều trị ức chế miễn dịch khi
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 3122
không cần thiết, điều quan trọng là đánh giá các mục tiêu của điều trị
Mục tiêu của liệu pháp ức chế miễn dịch là làm giảm các biểu hiện viêm của SLE, kiểm soát các triệu chứng thận, ngoài thận, và các biểu hiện huyết thanh của SLE[53] Trong số các bệnh nhân bị viêm cầu thận (như trái ngược với SLE màng), điều trị tình trạng viêm đáp ứng được đặc trưng bởi giảm tế bào hồng cầu trong nước tiểu, bạch cầu đa nhân, và tế bào trụ niệu, và giảm trong hoặc ít nhất là ổn định của creatinine huyết thanh Ở một số bệnh nhân nồng độ creatinin không trở về bình thường do tình trạng viêm xơ hoá cầu thận hoặc tổn thương không hồi phục thì sự đánh giá đáp ứng điều trị của đợt lui bệnh bằng việc giảm các dấu hiệu viêm [54, 55]
1.2.4.3 Corticosteroid trong điều trị tấn công
Corticosteroid là thuốc điều trị quan trọng nhất trong các thuốc điều trị SLE Corticosteroid là điều trị cơ bản cho tất cả các thể lâm sàng của SLE Trong tổn thương thận SLE, đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh liệu pháp điều trị corticoid đơn thuần là không hiệu quả trong kiểm soát bệnh khi so sánh với phác đồ phối hợp với một hoặc 2 thuốc ức chế miễn dịch khác
Cơ chế tác dụng của corticoid lên hệ miễn dịch[56]:
➢ Làm giảm các tế bào lympho, bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào đơn nhân
➢ Làm giảm khả năng đáp ứng của tế bào T với IL-1
➢ Giảm quá trình tăng sinh tế bào lympho B
➢ Làm giảm sản xuất tông lượng IgG trong máu
➢ Làm giảm quá trình hoá ứng động của tế bào đơn nhân
➢ Giảm sản xuất TNF- , INF- , INF-γ, IL-2, IL-37[57, 58]
1.2.5 Cyclophosphamide
Cyclosphosphamide được chỉ định cho bệnh nhân bị SLE mà có HCTH trong các trường hợp chức năng thận xấu đi (suy thận tiến triển) Liều điều trị thường là 500mg/m2 da, 1 tháng 1 lần trong 6 tháng sau đó giảm dần 3 tháng 1
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU
Trang 321.2.6 Nhóm ức chế chuyển hóa
Mycophenolate mofetil bên cạnh cyclosporin thì một số thử nghiệm dùng
Mycophenolate mofetil, một loại thuốc ức chế chuyển hoá tế bào cũng được áp dụng trong điều trị HCTH kháng corticoid Mycophenolate mofetil có tên hóa học là ester 2-morpholinoéthylique de l'acide mycophenolique (MMF) MMF
là một chất ức chế chọn lọc men ionosine monophosphate dehydrogenase (IMPDH), do đó ức chế sự tổng hợp nhân nucleotide của guanosine mà không cần thâm nhập vào ADN Do sự tổng hợp nhân purin rất cần thiết cho tạo các
tế bào lympho B và T, trong khi các loại tế bào khác thì có thể tận dụng cơ chế tái sử dụng nhân purine, MMF có hiệu lực kìm tế bào trên các tế bào lympho hơn hẳn trên các tế bào khác Mycophenolate mofetil được chỉ định điều trị bệnh nhân bị HCTH kháng corticosteroid Mycophenolate mofetil dùng với liều
1200 mg/1,73m2/ngày, uống ngày chia 2 lần, dùng trong 3 - 6 tháng nếu có hiệu quả (protein niệu âm tính) thì duy trì trong 6 - 12 tháng Mycophenolate mofetil được điều trị phối hợp với corticosteroid với liều 1 mg/kg/cách nhật, khi hiệu quả thì giảm liều từ từ với thời gian cũng có thể kéo dài 6-12 tháng Tác dụng phụ trên đường tiêu hóa gây đau bụng, nôn, ỉa lỏng, ảnh hưởng hệ máu gây giảm bạch cầu và thiếu máu [41],[42]
Một số điều trị mới hiện nay đang trong giai đoạn nghiên cứu như rituximab hoặc IL2 chưa được áp dụng rộng rãi vì dữ liệu nghiên cứu còn ít, số lượng nghiên cứu chưa nhiều, giá thành thì khá đắt, các nghiên cứu thử nghiệm ban đầu cũng có hiệu quả nhất định cho những bệnh nhân kháng tất cả các thuốc
ức chế miễn dịch Ghép tế bào gốc đang trong giai đoạn thử nghiệm
Một số thuốc điều trị triệu chứng như tổn thương da, khớp thò dung Hydroxyl cloroquin
Copyright @ School of Medicine and Pharmacy, VNU