Ngày nay, Chính phủ điện tử e-government đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển và ngày càng được các nước coi như một giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
ĐỖ MAI THANH
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐỖ MAI THANH
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ ĐIỆN
TỬ TẠI VIỆT NAM
Ngành: Công nghệ thông tin Chuyên ngành: Truyền dữ liệu và Mạng máy tính
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Bùi Thế Duy
Hà Nội – 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ 7
1.1 Khái niệm Chính phủ điện tử 7
1.1.1 Sự hình thành và khái niệm Chính phủ điện tử 7
1.1.2 Mô hình tương tác của chính phủ điện tử 7
1.2 Dịch vụ hành chính công điện tử 10
1.3 Hệ thống một cửa 11
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM 14
2.1 Đánh giá tổng quát hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công 14
2.1.1 Thực trạng quản lý và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công 14
2.1.2 Những hạn chế về cơ cấu tổ chức và cách thức tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công 14
2.1.3 Những hạn chế về kỹ thuật, công nghệ 15
2.2 Nhận xét chung về hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến 16 CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 17
3.1 Tình hình phát triển dịch vụ hành chính công điện tử của một số nước 17
3.2 Khung giải pháp Chính phủ điện tử 19
3.2.1 Mô hình Khái niệm 19
3.2.2 Kiến trúc CGF 21
3.3 Web 2.0: Thúc đẩy ra đời chính phủ điện tử 2.0 24
3.3.1 Web 2.0 24
3.3.2 So sánh web 2.0 với web 1.0 26
3.4 Các công nghệ thúc đẩy web 2.0 28
3.3.1 XML (eXtensible Markup Language) 28
3.3.2 AJAX (Asynchronous JavaScript and XML) 29
3.3.3 Ứng dụng RIA (Rich Internet Application) 30
Trang 43.3.4 RSS (Really Simple Syndication) 31
3.3.5 SOAP (Simple Object Access Protocol) 31
3.3.6 MashUp 33
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN 35
4.1 Cơ sở lý thuyết xây dự mô hình 35
4.1.1 Mô đun hóa và các loại liên kết 35
4.1.2 Các chiến lược trong quản lý quy trình nghiệp vụ 36
4.2 Các kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ 38
4.2.1 Mô hình hướng dịch vụ SOA 38
4.2.2 Web Service 50
4.2.3 An toàn, bảo mật Web Service 59
4.3 Đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công 60
4.3.1 Cấp độ dịch vụ hành chính công: 60
4.3.2 Lựa chọn chiến lược quản lý quy trình phối hợp giữa các mô đun 60
4.3.3 Liên kết, tích hợp các hệ thống thông tin trong dịch vụ liên thông và mô đun hóa phần mềm nghiệp vụ theo kiến trúc SOA 61
4.3.4 Các đề xuất về xác thực, bảo mật trong các dịch vụ liên thông sử dụng Web Service 67
4.4 Các khuyến nghị nâng cao hiệu quả khi xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến 70
4.3.1 Về nguyên lý chung khi lựa chọn dịch vụ hành chính công trực tuyến 70 4.3.2 Về quy trình lựa chọn dịch vụ hành chính công trực tuyến 70
4.3.3 Về mức cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến 71
4.3.4 Về phí, lệ phí và hình thức trả kết quả 72
4.3.5 Khuyến nghị về yêu cầu nghiệp vụ 73
4.3.6 Khuyến nghị về thông tin 73
4.3.7 Khuyến nghị về ứng dụng 75
4.3.8 Giao diện và phù hợp tiêu chuẩn 75
4.3.9 Các mẫu đơn, tờ khai phải luôn có sẵn để tài về 76
4.3.10 Thời gian đáp ứng 76
Trang 54.3.11 Thông tin sẵn sàng 77
4.3.12 Tra cứu trạng thái và nhận kết quả 77
4.3.13 Khuyến nghị về hạ tầng kết nối 77
CHƯƠNG 5: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT TRONG TRIỂN KHAI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ XIN THÔI QUỐC TỊCH VIỆT NAM TẠI CƠ QUAN ĐẠI DIỆN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 79
5.1 Giới thiệu về dịch vụ hành chính công “Xin thôi quốc tịch Việt Nam tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài” 79
5.2 Yêu cầu bài toán 81
5.3 Các quy trình nghiệp vụ chính 81
5.4 Áp dụng mô hình dịch vụ hành chính công điện tử đề xuất để thiết kế hệ thống dịch vụ hành chính công điện tử liên thông “Đăng ký thôi quốc tịch VN” 86
5.4.1 Lựa chọn chiến lược quản lý phối hợp các tổ chức trong quy trình 86
5.4.2 Quy trình nghiệp vụ để xây dựng dịch vụ hành chính công liên thông 87
5.4.3 Các phân hệ phần mềm: 89
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6Kết quả cuối cùng của đề tài là đề xuất mô hình dịch vụ hành chính công trực tuyến phù hợp với thực tế xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG I: DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm Chính phủ điện tử
1.1.1 Sự hình thành và khái niệm Chính phủ điện tử
Khởi đầu với quá trình cải cách hành chính được diễn vào những năm 70 của Thế kỷ trước trong các nước phát triển như Mỹ, Anh, tiếp theo là quá trình chính phủ các nước đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào trong hoạt động của các cơ quan chính phủ vào những năm 90, đi cùng đó là sự phát triển mạnh mẽ của mạng máy tính, Internet, tỷ lệ cao người sử dụng máy tính cá nhân, đã ra đời khái niệm chính phủ điện tử Một trong những nước đầu tiên đã đưa ra giải pháp phát triển chính phủ điện
tử là Chính phủ Mỹ vào tháng 9/1993
Ngày nay, Chính phủ điện tử (e-government) đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển và ngày càng được các nước coi như một giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn trên cơ sở cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, cải tiến quy trình làm việc của chính phủ
Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra khái niệm “chính phủ điện tử” government) Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về Chính phủ điện
(e-tử, hay nói cách khác hiện không có một hình thức Chính phủ điện tử được áp dụng giống nhau cho các nước Các tổ chức khác nhau đưa ra những khái niệm về Chính phủ điện tử của riêng mình
Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm: Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để biến đổi hình thức các hoạt động, cách quan
hệ bên trong và bên ngoài của chính phủ (e-government is a government that applies ICT to transform its internal and external relationships)
Chính phủ điện tử theo cách hiểu của Ngân hàng thế giới là: Chính phủ điện tử
là việc các cơ quan chính phủ sử dụng công nghệ thông tin (như các mạng diện rộng, Internet, và sử dụng công nghệ di động) có khả năng biến đổi những quan hệ với người dân, các doanh nghiệp, và các tổ chức khác của chính phủ Những công nghệ
đó có thể phục vụ những mục đích khác nhau: cung cấp dịch vụ chính phủ đến người dân tốt hơn, cải thiện những tương tác với doanh nghiệp và giới công nghiệp, tăng quyền cho người dân thông qua truy nhập đến thông tin, hoặc quản lý nhà nước hiệu quả hơn
1.1.2 Mô hình tương tác của chính phủ điện tử
Việc cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, các tương tác của chính phủ điện tử được xác định trong mô hình chính phủ điện tử gồm các lĩnh vực sau:
Trang 8- Chính phủ và người dân (G2C)
- Chính phủ và các doanh nghiệp (G2B)
- Giữa các cơ quan chính phủ các cấp với nhau và trong các cơ quan chính phủ (G2G); và
- Giữa các cơ quan chính phủ với các cán bộ, công chức (G2G)
Đôi khi người ta cũng phân nhỏ các lĩnh vực trên thành: G2C (Chính phủ và người dân) và C2G (Người dân và Chính phủ), G2B và B2G, G2G, G2E và E2G
Chính phủ và người dân (G2C):
Nhóm các dịch vụ của chính phủ đến người dân bao gồm việc phổ biến thông tin đến người dân, các dịch vụ cơ bản cho người dân, và các dịch vụ người dân thực hiện cho các cơ quan chính phủ
- Các thông tin phổ biến đến người dân là các thông tin về các cơ quan chính phủ, thông tin về các qui định, chính sách, luật pháp, … giúp cho người dân hiểu biết tốt hơn về cơ quan chính phủ và công việc của cơ quan, cũng như trợ giúp họ thực hiện tốt các dịch vụ hành chính
- Các dịch vụ mà chính phủ thường cung cấp cho người dân là: Làm giấy khai sinh/khai tử/hôn nhân, làm mới hoặc gia hạn các loại giấy phép (lái xe, đăng ký quyền sở hữu nhà ở, …) , cũng như các dịch vụ trợ giúp người dân trong giáo dục, bảo vệ sức khỏe và chữa bệnh, thư viện, …
- Các dịch vụ mà người dân thường thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: khai thuế thu nhập, nộp tiền phạt, thay đổi nơi ở, … Tiến tới người dân tham gia vào các công việc của các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng chính sách, ra các quyết định, bầu cử trực tuyến, …
Dịch vụ cho người dân hướng đến có thể được thực hiện trực tuyến, 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả 365 ngày trong năm Các hình thức thực hiện dịch
vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện ở bất cứ đâu thuận lợi cho người dân
Chính phủ và các doanh nghiệp (G2B)
Có rất nhiều dịch vụ khác nhau giữa Chính phủ và các doanh nghiệp, bao gồm việc cung cấp thông tin, các dịch vụ của các cơ quan chính phủ cho doanh nghiệp và các dịch vụ mà các doanh nghiệp phải thực hiện đối với chính phủ
- Các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp, phổ biến các qui định, các chính sách, các lệnh, các bản ghi nhớ, … của các cơ quan chính phủ cho các doanh nghiệp
Trang 9- Các dịch vụ chính phủ thực hiện cho các doanh nghiệp thường là: làm mới và gia hạn các loại giấy phép, các chứng nhận, thanh tra và kiểm tra, …
- Các dịch vụ các doanh nghiệp thực hiện cho các cơ quan chính phủ là: nộp thuế, cung cấp thông tin thống kê kinh doanh, cung cấp thông tin và tham gia vào đấu thầu-mua bán trực tuyến, …
Cả chính phủ và các doanh nghiệp cải thiện dần mối quan hệ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thiết lập mối quan hệ trợ giúp nhà nước-tư nhân trong Chính phủ điện tử
Cũng như Dịch vụ cho người dân, dịch vụ cho các doanh nghiệp tiến tới thực hiện trực tuyến, tiến tới được thực hiện 24 giờ trong ngày, 7 ngày trong tuần, tất cả
365 ngày trong năm Các hình thức thực hiện dịch vụ ngày càng phải được cải thiện và tiến tới thực hiện ở bất cứ đâu thuận lợi cho doanh nghiệp
Giữa các cơ quan chính phủ (G2G)
Các dịch vụ này có hai mức: ở mức trong nước hoặc địa phương và ở mức quốc
Một cách tổng quan, chúng ta có thể thấy lợi ích của Chính phủ điện tử như sau:
- Nhìn từ phía các cơ quan chính phủ: làm tăng hiệu quả làm việc của các cơ quan chính phủ, chính phủ trở nên minh bạch hơn
- Nhìn từ phía người dân, doanh nghiệp: Người dân và doanh nghiệp được các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin, cung cấp dịch vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn bằng việc cung cấp thông tin, dịch vụ một cách trực tuyến Một cách cụ thể, người dân và doanh nghiệp ngày càng ít phải đến trực tiếp các cơ quan chính phủ
Trang 10- Người dân trở thành trung tâm trong quá trình các cơ quan chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ Nhờ các công cụ của thông tin và truyền thông, cơ quan chính phủ nhanh chóng thu lượm được ý kiến của người dân và giúp người dân tham gia
dễ dàng hơn trong quá trình ra quyết định của chính phủ
1.2 Dịch vụ hành chính công điện tử
Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý Các tiêu chí phân loại về dịch vụ hành chính công trực tuyến được hiểu như sau:
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến
cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng
Các đặc điểm chung chung về cấu trúc của một dịch vụ công trực tuyến là:
- Quy trình, thủ tục, yêu cầu về hồ sơ đã chuẩn hóa;
- Cung cấp các thông tin liên quan (mức độ 1 trở lên);
- Cung cấp các biểu mẫu có thể tải về (mức độ 2 trở lên) hoặc dưới dạng điền và gửi
đi trực tuyến (mức độ 3 trở lên);
- Chức năng tiếp nhận hồ sơ trực tuyến (mức độ 3 trở lên);
- Chức năng tra cứu trạng thái giải quyết hồ sơ;
- Chức năng thông báo kết quả thực hiện;
- Chức năng hỗ trợ thanh toán trực tuyến (mức độ 4 trở lên);
- Chức năng tiếp nhận câu hỏi và trả lời câu hỏi liên quan (mức độ 3 trở lên)
Trang 11Trong những năm gần đây hầu hết các nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới đang theo đuổi chương trình xây dựng một hệ thống CPĐT mạnh, nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu ngày một tăng của xã hội, nâng cao năng lực và khả năng thích ứng của chính phủ CPĐT đóng góp mạnh mẽ vào quá trình cải cách chính phủ theo hướng trong sạch, hiệu quả và toàn diện trên khắp toàn bộ hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước CPĐT cũng cho phép các cơ quan nhà nước có cơ hội nắm bắt thông tin và công tác với nhau tốt hơn Thông qua việc liên kết các quy trình nghiệp vụ một cách hợp lý, nỗ lực giảm thiểu chi phí, đẩy mạnh nghiên cứu và đánh giá hoạt động, hoạt động quản lý điều hành nhà nước sẽ được nâng cao cả về chất lượng lẫn thời gian xử lý
Một trong những trọng tâm của CPĐT là phục vụ người dân một cách thuận tiện nhất, tốn ít công sức và thời gian nhất có thể, thông qua hệ thống các dịch vụ hành chính công trực tuyến Ngay từ những đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi sự phát triển Internet đã phần nào chứng tỏ ưu điểm của mình trong việc giảm thiểu chi phí truyền thông và xử lý thông tin, định hướng về chuyển đổi hoạt động hành chính công sang môi trường trực tuyến đã bắt đầu được nhen nhóm Trực tuyến hóa hoạt động hành chính công giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý điều hành, đặc biệt là nỗ lực kiểm soát chi phí thông qua các ứng dụng CNTT mang tính liên ngành, chia sẻ thông tin và cung cấp nhiều hình thức tiếp cận dịch vụ hành chính công khác nhau vượt qua giới hạn về thời gian và địa lý
1.3 Hệ thống một cửa
Khái niệm “cơ chế một cửa” được hiểu như là cơ chế giải quyết công việc của
tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là “bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại cơ quan hành chính nhà nước Như vậy, dịch vụ hành chính công một cửa
là dịch vụ hành chính công được thực hiện giữa tổ chức, công dân với cơ quan hành chính nhà nước theo cơ chế một cửa Cơ chế “một cửa” được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật
- Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của
tổ chức, công dân
- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
- Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước
- Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, công dân
Các cấp độ dịch vụ công trực tuyến: 3 cấp độ
1 Dịch vụ hành chính công độc lập (Service Islands):
Trang 12Hầu hết các dịch vụ hành chính công trực tuyến của Việt Nam hiện nay đang ở cấp
độ này Mỗi cơ quan nhà nước trên cơ sở nhu cầu thực hiện chức năng của mình chủ động xây dựng dịch vụ hành chính công trực tuyến đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân Đặc điểm của các dịch vụ ở cấp độ này là:
- Chỉ phát huy hiệu quả khi toàn bộ
quy trình xử lý công việc (thủ tục
hành chính) gói gọn trong tổ chức
Vẫn còn tồn tại những hạn chế do
không có các kết nối chia sẻ thông
tin với các hệ thống ứng dụng của
cơ quan chức năng khác
- Không thừa kế được những thông
tin đã có trong các hệ thống của cơ
quan khác do không có các kết nối
“một cửa” Government Gateway thực
hiện việc phân phối và liên lạc giữa các
hệ thống của các cơ quan chức năng khác
nhau để cung cấp một dịch vụ hoàn chỉnh
cho người dân
Để xây dựng được dịch vụ hành chính
công trực tuyến ở cấp độ này, một số
điều kiện đặt ra:
- Xây dựng được Government Gateway với các thành phần: Message Routing, Identity Management, Aplication Integration
Trang 13- Các cơ quan nhà nước đều đã thực
hiện giải quyết các quy trình nghiệp
- Khó khăn trong việc điều phối xử lý các yêu cầu
3 Dịch vụ hành chính công liên thông hoàn chỉnh (Seamless Services):
Đây là cấp độ cao nhất của dịch vụ
hành chính công trực tuyến Ở cấp độ
này, những hạn chế của các cấp độ dịch
vụ hành chính công trực tuyến trên được
giải quyết triệt để Đồng thời, cấp độ
này cho phép khả năng phối hợp xử lý
công việc giữa các bộ phận chức năng
của các cơ quan khác nhau tạo điều kiện
nâng cao chất lượng phục vụ của dịch
vụ
Trang 14CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN Ở VIỆT NAM
2.1 Đánh giá tổng quát hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công
2.1.1 Thực trạng quản lý và tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công
Trong những năm vừa qua, việc quản lý và cung cấp dịch vụ hành chính công
đã đạt được một số kết quả như xác định rõ hơn về phạm vi cung cấp dịch vụ, có kế hoạch đầu tư cho các hoạt động dịch vụ công Chính phủ cũng có nỗ lực sửa đổi các cơ chế quản lý, chính sách và mục tiêu cho phép các cơ quan tổ chức cung cấp dịch vụ công phát huy quyền tự chủ, đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin thiết yếu và từng bước cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến, một cửa, mọi lúc, mọi nơi cho người dân, doanh nghiệp, giúp cho người dân và doanh nghiệp làm việc với các cơ quan nhà nước nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiết kiệm hơn Cải cách dịch vụ hành chính công thể hiện ở nhiều nội dung cụ thể như:
- Cải cách thủ tục hành chính;
- Cải cách quy trình cung cấp dịch vụ hành chính công;
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức giải quyết các công việc của người dân;
- Cải cách tổ chức các bộ phận chức năng liên quan đến giải quyết công việc của người dân;
- Cải cách cơ chế cung cấp dịch vụ;
- Hiện đại hóa trang thiết bị và công nghệ sử dụng trong giải quyết các công việc của người dân;
- Tăng cường trách nhiệm kiểm tra, giám sát của người dân đối với cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết công việc của dân
2.1.2 Những hạn chế về cơ cấu tổ chức và cách thức tổ chức cung cấp dịch vụ
hành chính công
Tuy có một số kết quả nhất định, thực tế là vẫn còn nhiều điểm hạn chế trong thực trạng công tác cung cấp dịch vụ hành chính công ở Việt Nam Những điểm hạn chế này chủ yếu nằm ở các mặt nội dung chủ trương và nhận thức chưa rõ ràng, thủ tục hành chính chưa công khai minh bạch, tổ chức và cơ chế hoạt động chưa hiệu quả, đội ngũ cán bộ công chức cung ứng dịch vụ công chưa nắm rõ quy trình, điều kiện vật chất còn thiếu, trong khi cơ chế kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm chưa đủ mạnh
Việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ hành chính công còn thiếu kiên quyết và chưa được tập trung cao, kỷ luật, kỷ cương trong cải cách hành chính chưa nghiêm; trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu chưa được quy định rõ
Trang 15Thủ tục hành chính chưa được công khai, minh bạch, quy trình xử lý thiếu rõ ràng, không nhất quán Ở nhiều trường hợp, do tính pháp lý cần thiết còn thiếu, cần phải tập hợp nhiều văn bản pháp quy khác nhau mới có thể xác định quy trình xử lý cho một thủ tục hành chính Theo số liệu thống kế của giai đoạn 1 đề án 30, tổng số lượng thủ tục hành chính đã được thống kê thuộc phạm vi chức năng quản lý của bộ, ngành, địa phương là trên 5.000 thủ tục hành chính, với hơn 7.400 văn bản quy định và 81.194 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính Một số dịch vụ công còn phải qua nhiều cửa và thời gian kéo dài Điều này đã gây khó khăn cho các đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ một cách đồng bộ và minh bạch, đồng thời cản trở người dân và doanh nghiệp tiếp cận thông tin và các dịch vụ hành chính công
Trong khoảng 5 năm gần đây, việc tổ chức mô hình xử lý thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa đã đem lại một số kết quả tích cực, tuy nhiên ngoài ra còn thiếu một mô hình một cửa thống nhất, không tùy thuộc chủ yếu vào đặc điểm kinh tế xã hội địa phương Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm khi tham gia cung cấp dịch vụ hành chính công còn chưa chặt chẽ, không thống nhất về trách nhiệm của từng đơn vị Chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước, cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa phù hợp Đội ngũ cán bộ tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ hành chính công vẫn chưa nắm bắt được nội dung thủ tục hành chính, do vậy thiếu chủ động trong công việc và không theo kịp yêu cầu về đổi mới thủ tục hành chính Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế
do vướng phải rào cản về chế độ quản lý công chức và vấn đề kinh phí Điều kiện cơ
sở vật chất, trang thiết bị còn yếu kém, không đáp ứng được các yêu cầu về hiện đại hóa hoạt động cung cấp dịch vụ hành chính công, đảm bảo tính bền vững trong phát triển
Cơ chế kiểm tra giám sát chưa được điều chỉnh tạo điều kiện cải tiến việc cung cấp dịch vụ công Đơn cử là bước tiền kiểm đã dần được loại bỏ trong các thủ tục thuộc lĩnh vực đăng ký kinh doanh nhưng chưa được rộng rãi áp dụng trong các lĩnh vực khác Mối quan hệ hậu kiểm giữa các cơ quan, tổ chức thuộc các lĩnh vực hành chính khác nhau chưa được thống nhất Các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực dịch vụ hành chính công vẫn chưa thỏa đáng
2.1.3 Những hạn chế về kỹ thuật, công nghệ
Việc xây dựng các dịch vụ hành chính công trực tuyến chủ yếu mang tính tự phát, đơn chiếc tùy thuộc vào đơn vị chủ trì xây dựng và sẽ tạo ra nhiều vấn đề lớn phải đối mặt trong tương lai:
- Kiến trúc các hệ thống không đồng nhất, phân mảnh không thể nâng cấp, mở rộng
- Phần mềm nghiệp vụ được thiết kế theo yêu cầu trước mắt, không tính đến các yếu
tố phát triển, tích hợp trong tương lai nên không có tính mở, mềm dẻo để có thể thích nghi được với những thay đổi
Trang 16- Khả năng tích hợp, liên thông giữa các hệ thống trong trường hợp kết hợp thành dịch vụ hành chính công điện tử liên thông giữa các cơ quan liên quan rất hạn chế
2.2 Nhận xét chung về hiện trạng cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
Hình thức chủ yếu của giao dịch dịch vụ hành chính công hiện nay là thông qua giao tiếp trực tiếp tại bộ phận tiếp dân ở các cơ quan nhà nước tương ứng Mức độ sẵn sàng và khả năng cung cấp dịch vụ trực tuyến rất khác nhau Ở những đơn vị nằm trong địa phương có sự phát triển cao về kinh tế, xã hội, có thể thấy nhiều dịch vụ đã được trực tuyến hóa với mức độ trực tuyến cao, trong khi ở những địa phương có phát triển thấp hơn về kinh tế xã hội, nhu cầu trực tuyến hóa và nhận thức của các bên liên quan còn thấp cũng như hạ tầng cần thiết chưa đảm bảo Nỗ lực cải cách hành chính và hiện đại hóa quy trình đảm bảo cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến cũng có
sự khác biệt rất rõ ràng Khả năng xây dựng, tích hợp để cung cấp dịch vụ hành chính công điên tử liên thông sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không sớm có những mô hình dịch
vụ hành chính công chuẩn phù hợp với thực tế của Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
3.1 Tình hình phát triển dịch vụ hành chính công điện tử của một số nước
Ngày nay, ngay ở cả những nước tiên tiến nhất, yêu cầu về dịch vụ hành chính công trực tuyến không ngừng gia tăng hàng năm về các mặt như khả năng tiếp cận, khả năng cung cấp, nhận thức dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ từ phía người dân Người dân và doanh nghiệp kỳ vọng chất lượng của dịch vụ do phía chính phủ cung cấp sẽ bằng hoặc tốt hơn chất lượng dịch vụ do các doanh nghiệp thực hiện Họ không muốn tốn quá nhiều thời gian vào việc xếp hàng tại trụ sở các cơ quan, tổ chức nhà nước để thực hiện các thủ tục hành chính Thay vì đó, người dân và doanh nghiệp muốn các thủ tục này được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện, thông qua nhiều hình thức có ứng dụng công nghệ tiên tiến và dịch vụ phải đảm bảo chính xác, qui trình thực hiện phải minh bạch Đặc biệt các doanh nghiệp có trình độ phát triển cao cũng luôn muốn được hợp tác và giao tiếp với khối nhà nước thông qua các hình thức đơn giản, nhanh gọn thay vì hoạt động trong môi trường giấy tờ truyền thống, vừa mất thời gian, sức lực vừa không hiệu quả về chi phí Chính phủ do vậy luôn phải đối mặt với thách thức về đổi mới tổ chức, phương thức quản lý, quy trình điều hành, đồng
bộ với thực hiện ứng dụng CNTT để hoạt động hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn trong cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến
Chính phủ Hàn Quốc trong giai đoạn tin học hóa và xây dựng CPĐT lần thứ tư
(từ năm 2007 trở đi) đã tập trung thúc đẩy chính phủ ở "mọi nơi, mọi lúc (ubiquitous)", áp dụng nhiều công nghệ mới, cung cấp dịch vụ công chất lượng cao và tăng cường chính sách của chính phủ, tăng cường mối quan hệ dựa vào nhau giữa người dân với chính phủ Hoạt động tin học hóa quốc gia và xã hội được bắt đầu từ năm 2002 và tiếp tục được triển khai mạnh mẽ trên các lĩnh vực giáo dục trên môi trường điện tử, thương mại điện tử và tin học hóa trong các lĩnh vực công, bao gồm dịch vụ hành chính công trực tuyến, đổi mới các hoạt động công và nâng cấp CPĐT Trọng tâm phát triển CPĐT ở Hàn Quốc trong những năm gần đây đã có sự chuyển dịch mục tiêu từ đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, điều hành nhà nước trong các
cơ quan nhà nước sang phục vụ xã hội Nghĩa là, cùng với nâng cao năng lực, quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước phục vụ tác nghiệp, mục tiêu phục vụ cộng đồng
xã hội gồm người dân, doanh nghiệp và sự liên kết giữa chính phủ và chính quyền địa phương cũng được ưu tiên đặt ra
Trang 18Bản cho cho thấy hàng năm có khoảng 20 triệu bản đăng kí đóng thuế, nộp thuế, ngoài
ra có khoảng 49 triệu bản thủ tục liên quan đến việc bảo hiểm xã hội, 5.8 triệu lượt người đăng kí xin làm hộ chiếu Tháng 1/2006, Ban chỉ đạo Chiến lược CNTT xây dựng kế hoạch 05 năm “Chiến lược cải cách CNTT mới” nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân Mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu đạt 100% giao dịch về dịch vụ bảo hiểm y tế được thực hiện trực tuyến Chính phủ Nhật Bản nhận thức rõ ràng xây dựng CPĐT phải gắn với cải cách hành chính Tính hiệu quả và thành công của các dịch vụ công (đặc biệt là dịch vụ hành chính công) trực tuyến phải gắn liền với quy trình cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ
Ở Ai Cập, trong chương trình hành động xã hội thông tin từ năm 2003, chính phủ
đặt mục tiêu đến năm 2008, Ai Cập có thể đưa vào sử dụng các dịch vụ công có chất lượng cao cho cộng đồng Một trong những nguyên tắc cơ bản trong chương trình này
đó là: dịch vụ cần phải lấy người dân làm trọng tâm với khẩu hiệu "government now delivers" và định hướng xây dựng các dịch vụ hành chính công thông qua cơ chế một cửa Văn hóa quản lý quan hệ khách hàng cho chính phủ được coi trọng, trong đó người dân được xem là khách hàng và các cơ quan chính phủ phải có nhiệm vụ thỏa mãn các yêu cầu của người dân Chính phủ Ai Cập nhận thức sự cần thiết phải xây dựng một cổng thông tin chính phủ tích hợp thông tin và dịch vụ công để có thể phục
vụ người dân được tốt hơn trên cơ sở các hệ thống một cửa Bắt đầu được xây dựng từ năm 2004, đến năm 2007 khoảng 700 dịch vụ đã được tích hợp trên cổng thông tin chính phủ
Năm 2000, chính phủ Singapore đã đề ra kế hoạch hành động CPĐT lần 1, mục
đích nhằm định hướng cho hoạt động và đầu tư về CNTT đối với các dịch vụ công Mục tiêu của kế hoạch này là đưa toàn bộ dịch vụ công trở thành dịch vụ công trực tuyến Kế hoạch này được đầu tư khoảng 01 tỷ USD, tập trung phục vụ tương tác giữa chính phủ và doanh nghiệp (G2B), chính phủ với công dân (G2C) và chính phủ với người lao động (G2E) Kết quả là đến năm 2007, đã có khoảng 1.600 dịch vụ công trực tuyến được xây dựng Người dân Singapore có thể truy cập những dịch vụ này thông qua một cổng duy nhất, sử dụng một mật khẩu và một mã nhận dạng chung cho tất cả các dịch vụ
Một trong những mục tiêu chính của chương trình tạo ra một chính phủ khác
biệt (Different Government) ở Đan Mạch đó là cung cấp dịch vụ công có chất lượng
cao, đẩy mạnh việc hợp tác mang tính liên ngành trong các cơ quan chính phủ Từ nửa cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các cơ quan, tổ chức nhà nước đã phải đối mặt với yêu cầu phải tạo ra những trang thông tin điện tử riêng của mình để cung cấp thông tin cho người dân Vì vậy, trong chương trình này đến năm 2007, sẽ có khoảng 65% các dịch vụ công quan trọng nhất sẽ được đưa lên mạng Internet Các thông tin về người dân, doanh nghiệp, đất đai,… sẽ được tập trung lưu trữ và chia sẻ, tránh tình trạng người dân phải cung cấp cùng một thông tin nhiều lần Người dân và doanh nghiệp sẽ được cấp mã số nhận dạng điện tử duy nhất, được sử dụng trong giao dịch điện tử
Trang 19Chính phủ Đan Mạch cũng cho rằng mỗi người dân nên có một trang thông tin cá nhân trên mạng Internet dùng để lưu trữ thông tin cá nhân cũng như quản lý các giao dịch giữa người dân và chính phủ Chính phủ có thể tận dụng những trang thông tin này để nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, rà soát nội dung để chính xác phản ánh nhu cầu kinh tế xã hội của cộng đồng
Mục tiêu của đầu tư dự án CPĐT là mang lại khả năng đồng bộ, kết nối, nâng cao năng lực trong phục vụ cho nhu cầu chung cần thiết cho người dân, doanh nghiệp, đảm bảo an toàn xã hội, góp phần quan trọng trong nâng cao chất lượng của hệ thống hành chính Tuy nhiên, tồn tại một thực tế là không phải dự án CPĐT nào cũng thành công Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới thì có tới 85% các dự án CPĐT ở các nước đang phát triển đã thất bại hoặc một phần hoặc hoàn toàn, và chỉ gần 15% có thể được coi thành công trong cung cấp các dịch vụ công, đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp
và công dân Do vậy trong quá trình phát triển CPĐT, kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều dự án nâng cấp, mở rộng cung cấp dịch vụ công đã được lập kế hoạch trong một khoảng thời gian đủ lớn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội và hạ tầng CNTT, có mục tiêu cụ thể, tập trung chủ yếu vào việc đơn giản hóa việc cung cấp dịch
vụ tới công dân và doanh nghiệp, đồng thời gián tiếp giảm bớt chi phí hành chính
3.2 Khung giải pháp Chính phủ điện tử
Khung giải pháp Chính phủ điện tử của Microsoft (Microsoft Connected Government Framework - CGF) là thiết kế giải pháp của Microsoft, dựa trên các phương pháp thực tiễn được đúc rút từ quá trình thực hiện các dự án xây dựng Chính phủ điện tử tại một số quốc gia trên thế giới
Mô hình CGF được xây dựng dựa trên việc đúc kết các kinh nghiệm từ việc triển khai Trung tâm điều hành thông tin điện tử quốc gia của Anh quốc (UK Government Gateway) cũng như các kinh nghiệm từ các dự án tương tự trên thế giới (Ru-ma-ni, Ai Cập, Cộng hòa Séc, Đài Loan, Bulgari, Slovakia)
3.2.1 Mô hình Khái niệm
Mô hình khái niệm (Conceptual Architecture) trình bày những quan điểm của Microsoft đối với các khối chức năng chủ chốt (main subsystems) cho Khung giải pháp Chính phủ điện tử Mô hình này cũng giới thiệu các nhiệm vụ trọng tâm cùng với những bộ phận cấu thành bên trong của từng khối chức năng này
Sau đây là mô hình Khái niệm tổng quát:
Trang 20Trong mô hình trên chúng ta thấy có những khối chức năng chủ chốt sau:
Delivery Channels (Kênh phân phối thông tin)
Hay còn gọi là các điểm truy cập vào hệ thống – Access Point: Khối chức năng này cung cấp các điểm giao tiếp cho công dân, doanh nghiệp, các cơ quan và các công chức nhà nước để truy cập tới thông tin, dịch vụ thông tin (dịch vụ công) được sản sinh bởi hệ các hệ thống thông tin chuyên ngành của chính phủ và các bộ, ngành
Các kênh phân phối thông tin tới người dùng có thể là cổng thông tin, thiết bị di động cầm tay, máy fax, hệ thống email, hệ thống tin nhắn tức thời (instant message) hoặc hệ thống các ứng dụng chuyên ngành
Portal Services (Cổng thông tin điện tử)
Khối chức năng này cung cấp một điểm truy cập thống nhất để truy cập tới các nguồn thông tin và các dịch vụ công của chính phủ và các bộ, ngành Các bộ phận cấu thành bao gồm:
- Hệ thống quản trị nội dung (Content Management Services): Tạo lập, lưu trữ và cung cấp thông tin dưới dạng các trang thông tin điện tử (web) cho người dùng
- Hệ thống cảnh báo (Notification Services): Gửi các cảnh báo, thông báo tới người
sử dụng trên cơ sở các sự kiện thông tin được xác lập trước đó
- Cá nhân hóa (Personalization Services): Cung cấp khả năng tạo giao diện riêng cho từng cá nhân người sử dụng
- Hệ thống tờ khai điện tử (eForm Services): Cung cấp các mẫu tờ khai điện tử (eForm) mà thông qua đó người sử dụng tương tác với các ứng dụng chuyên ngành
Trang 21Tìm kiếm và tạo lập chỉ mục (Search and Indexing Services): Cung cấp khả năng đánh chỉ mục và tìm kiếm thông tin trên hệ thống chỉ mục này Việc đánh chỉ mục được tiến hành không chỉ đối với những thông tin được quản lý bên trong (thông tin được tổ chức bởi các hệ thống thông tin thuộc Khung giải pháp chính phủ điện tử)
mà cả với những thông tin bên ngoài (thông tin được tổ chức bởi hệ thống thông tin khác, bên ngoài Khung giải pháp chính phủ điện tử)
Government Gateway (Trung tâm điều hành)
Đóng vai trò cầu nối trung gian giữa người sử dụng với các hệ thống thông tin nền (back-end services) hoặc giữa các hệ thống thông tin trên quan điểm tích hợp hệ thống Có thể nói, Trung tâm điều hành là trái tim của khung giải pháp chính phủ điện
tử CGF của Microsoft
Để thực thi nhiệm vụ quan trọng này, Trung tâm điều hành cần phải thực thi các nhiệm vụ chính sau:
- Thực hiện các xử lý trung tâm mang tính chất điều hành của toàn bộ hệ thống, ví
dụ như: Tiếp nhận yêu cầu giao dịch và chuyển yêu cầu này tới các hệ thống thông tin nền để thực hiện; thực thi các giải pháp bảo đảm an ninh cho toàn hệ thống
- Thực hiện các xử lý mang tính chất điều phối thông tin trong toàn hệ thống, ví dụ như: Thực thi các dịch vụ định tuyến để chuyển dữ liệu tới hệ thống thông tin đích;
Tổ chức các tiến trình phối hợp xử lý thông tin (orchestrate the processes) giữa các
hệ thống thông tin để thực thi nghiệp vụ phối hợp xử lý giữa các tổ chức
Value Added Services (Dịch vụ giá trị gia tăng)
Bao gồm các dịch vụ hệ thống khác nhằm tăng cường năng lực của Trung tâm điều hành Những ví dụ về dịch vụ giá trị gia tăng này bao gồm: Hệ thống các dịch vụ cung cấp trên mạng Internet (Hosted Agency Services) cho các cơ quan chủ sở hữu hệ thống thông tin bên trong khi họ không đủ khả năng hoặc không muốn tự mình tổ chức cung cấp các dịch vụ điện tử của họ (e-services) trên Internet; Hệ thống thông tin cộng tác cho cán bộ của cơ quan chính quyền trên mạng Internet; Hệ thống thông tin quản lý mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp
3.2.2 Kiến trúc CGF
Kiến trúc CGF mức cao được thiết kế ở mô hình tương tác (interactions) khác nhau giữa Trung tâm điều hành với các hệ thống thông tin bên ngoài, đồng thời phần này cũng nói rõ hơn vai trò quan trọng của dịch vụ thông điệp (Messaging Service) trong Khung giải pháp CGF
Trang 22Cổng thông tin (Portals)
Sử dụng các dịch vụ định danh (identity service) và dich vụ an ninh (security service) của Trung tâm điều hành để xác thực người sử dụng (authenticate users), hoặc
để gửi yêu cầu giao dịch của khách hàng (submit transactions) tới các hệ thống cung cấp dịch vụ (tương ứng) để xử lý Việc gửi yêu cầu giao dịch tới hệ thống cung cấp dịch vụ được thực hiện thông qua các dịch vụ chức năng của hệ thống dịch vụ thông điệp
Các hệ thống bên ngoài khác (other systems, other e-government gateways)
Những hệ thống bên ngoài này liên kết với Trung tâm điều hành để nhận hoặc trả kết quả các giao dịch với các hệ thống thông tin khác hoặc để sử dụng các dịch vụ nền sẵn có của Trung tâm điều hành
Tất cả các kiểu tương tác của khách hàng nêu trên đều được thực hiện thông qua hệ thống các giao diện công cộng của (published interfaces) các dịch vụ web (Web services) Hệ thống dịch vụ web là chuẩn công nghiệp, nó cho phép chúng ta xây dựng được hệ thống thông tin có tính mở cao, giao tiếp được với hầu hết các hệ thống thông tin khác, và bảo đảm rằng hệ thống có thể đồng thời vận hành được trên nhiều hạ tầng CNTT khác nhau (cross platform) Như vậy có thể nói các kiểu tương tác với khách
Trang 23hàng của Trung tâm điều hành là độc lập hạ tầng và môi trường triển khai phần mềm của khách hàng
Dịch vụ thông điệp (Messaging Services)
Việc xây dựng các dịch vụ hạ tầng dùng chung cho các chức năng: nhận yêu cầu giao dịch (transaction submissions) từ khách hàng; xác thực khách hàng (authenticate clients); kiểm soát quyền sử dụng dịch vụ của khách hàng (authorize clients); chuyển yêu cầu giao dịch của khách hàng tới nhà cung cấp dịch vụ hợp lệ (route to the appropriate target service provider) là những chức năng quan trọng của Trung tâm điều hành, và nó làm cho Trung tâm điều hành trở nên có ích đối với cả hai phía: Khách hàng (client) và nhà cung cấp (service provider)
Thêm vào đó, nhờ việc xây dựng các dịch vụ hạ tầng dùng chung mà các nhà cung cấp dịch vụ cũng được giải phóng khỏi việc xây dựng các dịch vụ có cùng chức năng tương tự, cho phép họ chỉ tập trung vào việc xây dựng các dịch vụ chức năng chuyên biệt đúng với chức năng nghiệp vụ của mình, và kết quả là họ có thể cung cấp các dịch vụ điện tử của mình một cách dễ dàng và nhanh chóng
Dịch vụ thông điệp chính là bộ phận thực thi các chức năng nhận thông tin; xác thực khách hàng; kiểm soát quyền sử dụng dịch vụ, chuyển yêu cầu tới nhà cung cấp dịch vụ của Trung tâm điều hành
Dịch vụ thông điệp cần cung cấp các chức năng như sau:
- Tiếp nhận và chuyển các yêu cầu giao dịch của khách hàng tới nhà cung cấp dịch vụ
- Trả kết quả giao dịch cho khách hàng từ nhà cung cấp dịch vụ Có 2 cơ chế trả kết quả: đồng bộ (synchronously) hoặc không đồng bộ (asynchronously) Sử dụng cơ chế trả kết quả nào là phụ thuộc vào từng dịch vụ cụ thể
- Lưu trữ trung gian (tạm thời) các yêu cầu giao dịch hoặc kết quả giao dịch khi
mà những thông tin này tạm thời chưa thể chuyển tới đích (tới khách hàng hoặc tới nhà cung cấp dịch vụ)
- Kiểm tra quyền sử dụng dịch vụ của khách hàng
- Tiếp nhận thông tin trả kết quả giao dịch từ nhà cung cấp dịch vụ
- Chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng khi khách hàng liên tục hỏi kết quả (polling)
- Thực thi các hành động bảo đảm an ninh dữ liệu cần thiết đối với các dữ liệu trong quá trình thực thi giao dịch thông qua Trung tâm điều hành
- Cung cấp cơ chế, công cụ cần thiết khác trong việc gửi tới khách hàng những thông thông báo, thông tin cảnh báo
- Cung cấp cơ chế, công cụ cần thiết khác trong việc bảo dưỡng hoặc theo dõi sự hoạt động của toàn hệ thống
Trang 24- Tổ chức qui trình nghiệp vụ để phối hợp xử lý yêu cầu giao dịch (orchestration
of business processes) giữa các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Để có thể cung ứng được các chức năng cơ bản nêu trên, dịch vụ thông điệp cần được xây dựng trên cơ sở các thành tố (components) cơ bản sau:
- Khối Dịch vụ về Danh bạ các dịch vụ điện tử (Service Directory): Cung cấp các dịch vụ danh bạ sao cho các nhà cung cấp dịch vụ có thể công bố các dịch vụ của mình cho khách hàng Đồng thời, khách hàng có thể thông qua các dịch vụ danh bạ này để tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ đã đăng ký
- Khối dịch vụ tiếp nhận các yêu cầu giao dịch (Transaction submission) từ khách hàng, kiểm tra tính hợp lệ của các giao dịch và với tư cách là đại diện cho khách hàng, xây dựng qui trình nghiệp vụ để xử lý yêu cầu giao dịch của khách hàng Khách hàng mà chúng ta đề cập ở đây là các kênh phân phối thông tin hoặc các
hệ thống thông tin bên ngoài khác
- Khối xây dựng qui trình nghiệp vụ (Business Process Orchestration) mang lại khả năng sắp đặt một giao thức mức ứng dụng (application protocol) lên phía trên các dịch vụ phần mềm có nhu cầu giao tiếp với nhau thông qua việc gửi/ nhận thông điệp Giao thức mức ứng dụng này kiểm soát luồng trao đổi thông điệp giữa các dịch vụ Việc sắp đặt giao thức mức ứng dụng này cho phép duy trì môi trường thực thi các qui trình nghiệp vụ (business process) trên cơ sở phối hợp xử lý của nhiều nhóm dịch vụ bên trong hoặc bên ngoài Trung tâm điều hành
Cấp độ dịch vụ hành chính công điện tử khi áp dụng khung chính phủ điện tử CGF
sẽ là dịch vụ hành chính công liên thông hoàn chỉnh (Seamless Service)
3.3 Web 2.0: Thúc đẩy ra đời chính phủ điện tử 2.0
3.3.1 Web 2.0
Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông ngày càng tăng trên thế giới,
theo các tác giả (Web 2.0 trong quá trình tham gia điện tử của người dân: Trường hợp
tổ chức của Mỹ và nền hành chính của Ông Obama - Web 2.0 in the process of participation: The Case of Organizing for america and the Obama Administration Aysu Kes-Erkul, R Erdem ErKul NCDG Working Paper No 09-001, October 6, 2009) thế giới đã thấy ba làn sóng ảnh hưởng lớn Làn sóng thứ nhất là nông nghiệp,
e-làn sóng thứ hai là cách mạng công nghiệp và e-làn sóng thứ ba là công nghệ thông tin
và truyền thông Làn sóng thứ ba về công nghệ thông tin và truyền thông đã mang đến một cấu trúc xã hội mới, mà nhịp độ phát triển của nó khó đoán trước Ngày nay Internet là công cụ hình thành khuôn mẫu đối với nhiều mặt của cuộc sống Internet và
Trang 25các ứng dụng của nó làm biến đổi cách chúng ta nghĩ về chính phủ truyền thống, vì
chính phủ đã tạo ra chính phủ điện tử
Sau những năm 2000, khi số người sử dụng Internet tiến đến 1 tỷ và xã hội ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin như là công cụ cải tiến các hoạt động, các mối liên hệ trong xã hội, bản chất cũng như sản phẩm của các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin đang thay đổi nhanh chóng Một xu hướng, thường được gọi là web 2.0, bắt đầu xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực từ trò chơi, giải trí, truyền thông, bán lẻ, tin tức, giáo dục, chính phủ điện tử, Chỉ trong một giai đoạn ngắn, đã bùng nổ việc xâm nhập của các ứng dụng có ứng dụng web 2.0
như Skype, MySpace, Wikipedia, và YouTube trong xã hội hiện đại (Theo Ad Planner, tháng 4-2010, số người sử dụng của facebook có 540 triệu – xếp hạng 1, youtube -490 triệu – xếp hạng2, wikipedia là 310 triệu - xếp hạng 4, amazon là 74 triệu – xếp hạng 22, myspace là 72 triệu – xếp hạng 26, đây là những website có nhiều người sử dụng nhất trên thế giới) Xu hướng đó đã xác lập việc các công nghệ được sử
dụng mạnh mẽ khi các công nghệ đó tạo điều kiện dễ dàng cho mọi người kết nối với nhau, trao đổi thông tin và cộng tác với nhau
Web 2.0 thúc đẩy sự tham gia tích cực của người sử dụng vào quá trình cung cấp và xử lý thông tin đã làm thay đổi cách thức con người sử dụng Internet, do vậy web 2.0 đã làm thay đổi cách con người sử dụng Internet từ chỗ tập trung vào duyệt các trang web và đọc tin sang cung cấp, trao đổi thông tin, từ đó làm thay đổi dần cách nghĩ, cách làm của người sử dụng và như vậy đã tác động mạnh mẽ đến việc chính phủ điện tử cung cấp thông tin và dịch vụ phục vụ người dân Người dân của các nước đã tham gia tích cực vào quá trình ra quyết định của Chính phủ
Với sự phát triển của Web 2.0, Web không còn là tập hợp các trang web tĩnh (HTML) miêu tả thế giới nữa, ngày nay Web chính là thế giới - mọi thứ và mọi người trên thế giới đang đóng vai một hình bóng thông tin trên web, web đã trở thành kho dữ liệu vô giá, khi chúng ta nắm bắt được và xử lý thông minh dữ liệu đó, nó cung cấp nhiều cơ hội và mang đến các trạng thái, tâm trạng liên quan lạ thường cho con người (Tim O'Reilly and John Battelle)
Web 2.0 là một thuật ngữ để chỉ những xu hướng phát triển công nghệ được triển khai trong các năm gần đây Theo tài liệu “What Is web 2.0, by Tim O‟Reilly” thuật ngữ web 2.0 lần đầu tiên được xuất hiện vào năm 2004 khi Tim Oreily và Dale Dougherty đưa ra tại hội thảo giữa O‟Reilly và MediaLive International Thuật ngữ này bao gồm một dải rộng các thành phần phần mềm cơ bản như AJAX (Asynchronous JavaScript - JavaScript không đồng bộ), công cụ tìm kiếm nâng cao, cung cấp thông tin liên kết tổng hợp RSS (Really Simple Syndication), các bộ phân tích nâng cao và các kỹ thuật xử lý dòng video đến tính toán mạng lưới và thực tế ảo, cùng với đó là việc phát triển mạnh mẽ của hạ tầng truyền thông và sự xuất hiện, sử dụng các chuẩn mở là những yếu tố chính thúc đẩy cơ bản cho việc ra đời web 2.0
Trang 26Các đặc tính của web 2.0:
Các chuyên gia đã phân tích cách người dùng sử dụng web và web 2.0, cùng với các công nghệ đã nêu ở trên, đã đưa ra một số đặc tính riêng của web 2.0 Trong cuốn “Chính phủ điện tử 2.0 – Chúng ta có thể có lợi ích gì từ web 2.0 - eGovernment 2.0 - How can Government benefit from web 2.0” đã chỉ rõ các đặc tính của công nghệ web 2.0:
a) Các công nghệ web 2.0 sử dụng web như là nền tảng: Công nghệ này
không yêu cầu cài đặt bất kỳ phần mềm nặng nề nào trên máy người sử dụng, đây là
mô hình lập trình nhẹ (light weight programming model) Để có thể thực hiện được điều này, cần có các chuẩn mở và định hướng dịch vụ Khác với việc lập trình theo yêu cầu, ở đây hướng đến thu thập các dịch vụ, việc thu thập dữ liệu, video, hình ảnh,
âm nhạc chỉ là một số nhỏ các ví dụ theo hướng này
b) Tập trung vào việc kết nối con người - không phải máy tính: Ở Mỹ các
công cụ để thực hiện điều này được miêu tả như là "Folksonomies - Hệ thống phân loại để cộng tác", là các công cụ và kỹ thuật để tạo wikis, blogs cũng như việc sử dụng thẻ đánh dấu (tagging) và cung cấp (feed), những công cụ này sẽ tự động giúp đỡ những người khác tham gia trong mạng việc chia sẻ các ý tưởng và các liên kết ưa thích
c) Kinh nghiệm phong phú của người sử dụng: Một số công nghệ thúc đẩy
việc chia sẻ, cung cấp kinh nghiệm phong phú của người sử dụng web là AJAX (Asynchronous JavaScript - JavaScript không đồng bộ) và XML, cùng với đó là việc
sử dụng công nghệ Mash up (Trộn lẫn) Các công nghệ này sẽ được giới thiệu chi tiết
ở những phần sau
d) Thúc đẩy trí tuệ tập thể: Để thực hiện việc sử dụng trí tuệ tập thể, web 2.0
đã sử dụng các thuật toán tìm kiếm nâng cao, các bộ phân tích và các công nghệ
"Mash up - trộn lẫn" Các giải pháp thông minh trong nghiệp vụ (Business Intelligence) đang được phát triển cùng với các hệ thống thông minh để theo dõi, bắt ghi video, xác nhận mẫu, và giải pháp nhận biết, cùng đó các công cụ phiên dịch ngôn ngữ được phát triển, ngày càng hiện đại và sẽ trở lên phổ biến trong các năm tới
3.3.2 So sánh web 2.0 với web 1.0
Theo các chuyên gia, trước khi web 2.0 ra đời thì chưa có khái niệm web 1.0, web 1.0 chỉ là một khái niệm được sinh ra khi có web 2.0 và web 2.0 đánh dấu một bước ngoặt phát triển của Internet để phân biệt hai thế hệ web khác nhau
Việc chuyển đổi từ web 1.0 không chỉ từ việc phát triển các công nghệ trợ giúp (được miêu tả chi tiết ở phần dưới như Ajax, RIA, …) mà còn thể hiện cách con người tham gia vào thế giới của Internet Web 1.0 với đặc trưng là người sử dụng chỉ đọc tin, thông tin được cung cấp 1 chiều từ nhà cung cấp, còn web 2.0 với đặc trưng là người
Trang 27sử dụng vừa đọc tin, vừa cung cấp thông tin một cách tích cực Đối với web 2.0, mọi người sử dụng web là người cung cấp, chia sẻ thông tin, dù đó là thông tin dưới dạng văn bản, hình ảnh, hay video hoặc dưới hình thức khác Khi sử dụng web 2.0, người sử dụng tham gia theo xu hướng tích cực, vừa đọc tin vừa cung cấp thông tin, tạo thành tương tác 2 chiều một cách tích cực khác với 1 chiều chỉ đọc tin đối với web 1.0
Thực tế đã chỉ ra là, web 2.0 phát triển mạnh mẽ như ngày nay là nhờ sự lớn mạnh của của các mạng xã hội, nhờ sự tham gia tích cực của cộng đồng Chính nhờ điều này, đang dẫn đến sự thay đổi về kênh truyền thông, bên cạnh các kênh truyền thông có tính truyền thống như truyền hình, truyền thanh, báo điện tử, … thì mạng xã hội, các blog đang trở thành một kênh truyền thông phổ biến
Dù cho các công nghệ định hình web 2.0 vẫn đang phát triển, nhưng các chuyên gia vẫn phân biệt khái niệm web 2.0 với web 1.0 và web 3.0 Khái niệm Web 1.0 nhằm chỉ những website phát triển trước web 2.0 và người sử dụng chủ yếu đọc, lấy thông tin Thuật ngữ "web 3.0" có ý nghĩa khác và hướng đến các ý tưởng về chuyển web đến các cơ sở dữ liệu, để giúp cho các ứng dụng duyệt khác nhau có thể truy nhập và thúc đẩy các dạng trí tuệ nhân tạo khác nhau, web 3.0 hướng đến web ngữ nghĩa (hoặc còn gọi là web ý thức - semantic web)
Tim O‟Reilly (trong bài What is Web 2.0) đã đưa ra các ví dụ có tính so sánh, phát triển về một số website nổi tiếng hoặc dịch vụ dựa trên web 1.0 với một số website nổi tiếng hoặc dịch vụ khác dựa trên web 2.0
(Các website cá nhân)
(Các blog)
and Values Database – Cơ sở dữ liệu về các sự kiện và nơi gặp) Domain name speculation
(Đầu cơ mua tên miền)
(Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm) Page views
(trả tiền theo mỗi lần yêu cầu máy
chủ hiện trang web)
(trả tiền theo một lần nhấp chuột vào quảng cáo)
Trang 28(Các hệ thống quản lý nội dung)
(Các ứng dụng mở) Directories (taxonomy)
3.4 Các công nghệ thúc đẩy web 2.0
Sự phát triển mạnh mẽ của web 2.0 và các ứng dụng thực tế của nó trong những năm gần đây là dựa trên nền tảng phát triển ứng dụng của nhiều công nghệ và sự phối hợp giữa các công nghệ này Các công nghệ chính bao gồm: XML, AJAX, RIA, RSS, SOAP, Mash-Up
Phần trình bày dưới đây tóm tắt các đặc điểm chính của các công nghệ trên:
3.3.1 XML (eXtensible Markup Language)
XML là từ viết tắt bởi eXtensible Markup Language – tạm dịch là Ngôn ngữ
đánh dấu mở rộng” được Tổ chức W3C (The World Wide Web Consortium – là một cộng đồng quốc tế gồm các tổ chức, các thành viên phát triển các chuẩn về web, do người sáng lập web là Tim Berners-Lee và CEO Jeffrey Jaffe lãnh đạo) đề nghị XML
là định dạng văn bản linh hoạt, đơn giản (được phát triển tiếp từ SGML - ISO 8879, khởi đầu để đáp ứng các thách thức trong việc xuất bản các tài liệu điện tử có quy mô lớn), XML đóng vai trò ngày càng tăng trong việc trao đổi các dữ liệu khác nhau trên mạng web XML nhằm đơn giản hóa việc chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau, đặc biệt là các hệ thống được kết nối với Internet
XML là định dạng dựa trên văn bản (text based) để biểu diễn thông tin có cấu trúc: tài liệu, dữ liệu, cấu hình, sách, giao dịch, hóa đơn, và các thông tin khác Các thông tin đều thể hiện dưới dạng văn bản và được sử dụng cùng các thẻ đánh dấu (mark up) để thông tin trở thành có cấu trúc Đơn vị cơ sở của XML là các ký tự theo định nghĩa của Bộ Ký tự toàn cầu (Universal Character Set) Các ký tự được kết hợp theo các tổ hợp chuỗi hợp lệ để tạo thành một tài liệu XML Tài liệu này gồm một hoặc nhiều thực thể, mỗi thực thể thường là một phần nào đó của các ký tự thuộc tài
Trang 29liệu, được mã hóa dưới dạng một chuỗi các bit và lưu trữ trong một tệp văn bản (text file) Dưới đây là một ví dụ đơn giản về XML
<part number="1976">
<name>Windscreen Wiper</name>
<description>The Windscreen wiper
should happen to splash there
It has a rubber <ref part="1977">blade</ref>
</description>
</part>
Như ở trên đã trình bày, XML được phát triển tiếp từ SGML - ISO 8879, một ứng dụng SGML được biết đến nhiều nhất trong thực tế và đối với web là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (HyperText Markup Language) Các trang web là các tài liệu tài liệu HTML hướng đến để hiển thị được trong bất cứ ứng dụng nào có khả năng hiểu được HTML (hay còn gọi là các trình duyệt web – web browser)
HTML được dùng để trình bày, hiển thị dữ liệu còn XML được thiết kế để trao đổi dữ liệu HTML được thiết kế cho một ứng dụng cụ thể để mang thông tin đến người dùng (thường thì ở dạng trực quan thông qua trình duyệt); XML được thiết kế không cho một ứng dụng cụ thể nào, nó được thiết kế cho bất cứ mục đích sử dụng nào bạn cần Vì thế, có thể tạo ra các tài liệu XML để mô tả bất cứ thông tin gì bạn muốn, nhưng trước khi tài liệu XML đó trở nên hữu dụng thì phải có các ứng dụng hiểu nó
XML là nền tảng để tạo các ngôn ngữ khác dựa trên XML như RDF, RSS, XHTML Có thể thấy các ứng dụng khác nhau của XML như:
MathML: Ứng dụng của XML trong toán học WML: Ứng dụng của XML trong viễn thông-di động ebXML: Ứng dụng của XML trong thương mại điện tử SVG: Ứng dụng của XML trong lĩnh vực đồ họa
3.3.2 AJAX (Asynchronous JavaScript and XML)
AJAX (Asynchronous JavaScript and XML) không phải là một ngôn ngữ lập trình, đó là cách thức mới để sử dụng các chuẩn đang có, đó là một cách kỳ diệu
Trang 30(mang tính nghệ thuật) để trao đổi dữ liệu với máy chủ (server), và cập nhật các phần của trang web mà không cần tải lại toàn bộ trang web đó Cụ thể hơn AJAX là bộ công cụ giúp tăng tốc độ ứng dụng web bằng cách cắt nhỏ dữ liệu và chỉ hiển thị những gì cần thiết, thay vì tải đi hoặc tải lại toàn bộ trang web
AJAX không phải một công nghệ đơn lẻ mà là sự kết hợp một nhóm công nghệ với nhau AJAX có thể hiểu là “Asynchronous JavaScript + CSS + DOM + XMLHttpRequest” Trong đó, HTML và CSS đóng vai trò hiển thị dữ liệu, mô hình DOM để trình bày thông tin động, XMLHtttpRequest trao đổi dữ liệu không đồng bộ với máy chủ web, còn XML là định dạng chủ yếu cho dữ liệu truyền Các công nghệ
đã có này được Javascript kết hợp lại để thực hiện nhiệm vụ trên CSS - Cascading Style Sheet là Bảng định kiểu trình bày xếp lớp Đó là tập hợp các khai báo về các kiểu trình bày dữ liệu được áp dụng để định dạng dữ liệu HTML hoặc XML cho việc hiển thị trong các trình duyệt
3.3.3 Ứng dụng RIA (Rich Internet Application)
Ứng dụng RIA là một ứng dụng web được thiết kế để chuyển cùng các đặc tính
và chức năng thường liên quan đến các ứng dụng chạy trên máy tính để bàn các ứng dụng RIA thường phân chia quá trình xử lý trên mạng/Internet dựa trên việc xác định giao diện người sử dụng và các hoạt động liên quan ở phía người sử dụng và việc xử lý
dữ liệu và các hoạt động ở phía máy chủ ứng dụng Một ứng dụng RIA chạy trên trình duyệt Web, thường không yêu cầu cài đặt phần mềm ở phía người sử dụng Tuy nhiên một số ứng dụng RIA có thể chạy tốt đối với một số trình duyệt web cụ thể Tuy nhiên
do không cần cài đặt hay cập nhật các phiên bản mới, khi đó vấn đề an ninh, bảo mật lại là một vấn đề quan trọng đặt ra đối với các ứng dụng này
Theo (www.adobe.com) thì các ứng dụng RIA cung cấp những trải nghiệm phong phú (rich) liên qua làm tăng sự hài lòng của người sử dụng và làm tăng năng suất làm việc
Định hướng này giúp cho hệ thống ở phía người sử dụng xử lý các hoạt động cục bộ, tính toán, định dạng, và như vậy giảm thiểu khối lượng thông tin thường trao đổi giữa máy chủ (server) và máy người sử dụng Một đặc tính phân biệt giữa ứng dụng RIA với ứng dụng dựa trên web là có một chương trình (clien engine) chạy giao tiếp giữa người sử dụng và máy chủ ứng dụng, Chương trình này được tải về khi ứng dụng RIA được kích hoạt, Chương trình này có thể được gia tăng trong quá trình hoạt động để điều khiển giao diện của người sử dụng với máy chủ theo truyền thống
Các đặc trưng của ứng dụng RIA là có khả năng tương tác với DOM (Document Object Model) và xây dựng được những ứng dụng chạy trên nhiều loại trình duyệt và nền tảng khác nhau Có khả năng sử dụng được các đối tượng trên máy chủ (như web services, …) hay những công nghệ tương tự khác, làm cho các ứng dụng trên các máy trạm (clients) có thể kết nối với máy chủ minh bạch hơn, dễ dùng hơn
Trang 31Dữ liệu được đưa về và xử lý tại máy người sử dụng, sau đó chuyển trả lại cho máy chủ ứng dụng, bằng cách đó tránh việc quá tải đường truyền cũng như hệ thống xử lý của máy chủ ứng dụng Các nền tảng RIA thường được nhắc đến là Curl, Adobe Flash, Java/JavaFX, Microsoft Silverlight, …
3.3.4 RSS (Really Simple Syndication)
RSS là viết tắt của Really Simple Syndication hoặc Rich Site Syndication là giao thức dựa trên XML dùng để chia sẻ hoặc đồng bộ thông tin giữa các website RSS được dùng để thông báo cho người dùng các thông tin mới trên các website thông qua việc chia sẻ thông tin RSS cung cấp các nội dung từ các website chứa tiêu đề, tóm tắt
và liên kết đến trang web đầy đủ của website đó
Để áp dụng công nghệ RSS, người quản trị website tạo định dạng XML để có thể biểu diễn các bài tin mới thành một danh sách, với nội dung ngắn cho mỗi bài tin
và tạo liên kết đến bài tin đầy đủ Các thông tin ngắn này được cung cấp dưới dạng một tập tin XML được gọi là một RSS feed, hoặc RSS channel Cùng với việc hỗ trợ chia sẻ thông tin, RSS cho phép người dùng đọc tin thường xuyên của một website có thể theo dõi các thông tin mới cập nhật của website đó Nhờ đó RSS đã làm thay đổi cách người dùng lướt web một cách thông thường, thay vì phải vào website để tìm thông tin mới cập nhật một cách trực tiếp thì thông qua một phần mềm ứng dụng đọc RSS (ví dụ như newzcrawler, SharpReader, …) người dùng đọc tin có thể dễ dàng có được thông tin tổng hợp cập nhật về những nội dung thay đổi của website , điều này cho phép người dùng đọc tin tiết kiệm thời gian khi khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
RSS là cách dễ dàng để thu thập các nội dung đa dạng, khác nhau vào một chỗ trên máy tính của bạn, không phải khảo sát, tìm kiếm chi tiết các nội dung trên website chính Nhiều chương trình đọc RSS còn "thông báo" cho bạn khi có nội dung mới từ những website mà bạn thích
3.3.5 SOAP (Simple Object Access Protocol)
SOAP là một giao thức đơn giản dựa trên XML để cho phép các ứng dụng trao đổi thông tin thông qua HTTP Một cách đơn giản có thể nói SOAP là giao thức để truy cập dịch vụ Web (web services)
Một thông điệp SOAP (SOAP message) là một tài liệu XML bình thường chưa các yếu tố sau:
- Yếu tố phong bì (Envelope-vỏ) xác định tài liệu XML như là một thông điêp SOAP
- Yếu tố đầu (Header) chứa thông tin đầu
- Yếu tố thân (Body) chứa thông tin gọi và thông tin đáp ứng
Trang 32- Yếu tố lỗi (Fault) chứa các lỗi và thông tin trạng thái
Như vậy một khung thông điệp SOAP có dạng sau:
- Yếu tố phong bì của SOAP là yếu tố gốc (root) của một thông điệp SOAP, yếu
tố này xác định một tài liệu XML như là một thông điệp SOAP
- Yếu tố đầu (Header) của SOAP chứa thông tin đầu, những thông tin riêng về ứng dụng (như xác thực, trả tiền, ) đối với thông điệp SOAP Yếu tố đầu không là yếu tố bắt buộc, nếu có thì đó là yếu tố đầu tiên dưới yếu tố gốc (root)
- Yếu tố thân (Body) của SOAP chứa thông điệp thật sự của SOAP để thông báo đến điểm cuối
- Yếu tố báo lỗi (Fault) được sử dụng để chỉ thông báo về lỗi, nếu có yếu tố này thì nằm ngay dưới yếu tố thân (Body) của SOAP Yếu tố báo lỗi chỉ xuất hiện một lần thông một thông điệp SOAP
Như chúng ta đã biết: Giao thức HTTP truyền thông trên TCP/IP, phần mềm HTTP trên máy trạm kết nối với phần mềm HTTP trên máy chủ nhờ sử dụng TCP, sau khi thiết lập kết nối, phần mềm trên máy trạm có thể gửi một thông điệp yêu cầu đến máy chủ Máy chủ xử lý thông điệp yêu cầu và gửi thông tin phản hồi về máy trạm
Một phương thức SOAP là một lần yêu cầu/phản hồi dạng HTTP đáp ứng những quy định mã của SOAP HTTP + XML = SOAP
<?xml version="1.0"?>
<soap:Envelope xmlns:soap="http://www.w3.org/2001/12/soap-envelope"
Trang 33Để hỗ trợ các nhà phát triển xây dựng các dịch vụ web và liên kết các thành phần đa dạng khác nhau trên Internet, giao thức SOAP đã được tạo ra SOAP cung cấp cách thức mở để trao đổi đối với Web dựa trên các thông điệp XML, mà không phải quan tâm đến hệ điều hành, mô hình đối tượng hoặc một ngôn ngữ lập trình cụ thể
SOAP có thể được ứng dụng cụ thể trong rất nhiều ứng dụng Trong việc tích hợp các ứng dụng nghiệp vụ, SOAP cho phép phát triển các ứng dụng nghiệp vụ, sau
đó nhờ SOAP các ứng dụng này có sẵn để các công ty khác có thể truy cập; hoặc trong các ứng dụng phân tán, các cơ sở dữ liệu có thể được lưu trên máy chủ và được truy cập và quản lý thông qua các máy trạm trên Internet
3.3.6 MashUp
Đối với phát triển web, một mashup (trộn lẫn) là một trang web hoặc một ứng dụng kết hợp dữ liệu hoặc chức năng của hai hoặc nhiều hơn các nguồn bên ngoài để tạo ra một dịch vụ mới Thuật ngữ mashup ngụ ý về việc tích hợp nhanh, dễ dàng, thường sử dụng các giao diện API mở và nguồn dữ liệu mở để tạo các kết quả với dữ liệu nguồn thô Ví dụ, một người có thể tạo website của mình bằng cách chia sẻ ảnh và video của riêng mình khi kết hợp hai dịch vụ YouTube và Flickr
Mashup có thể phân loại thành mashup tiêu dùng, dữ liệu và nghiệp vụ:
Mashup tiêu dùng (Consumer Mashup): là mashup hướng đến cho cộng đồng chung Mashup tiêu dùng khi được cung cấp với các tiện ích mashup dựa trên web có thể là công cụ rất hiệu quả cho cá thể hóa dữ liệu/biểu diễn, điều này thường là việc người sử dụng trình duyệt web để kết hợp hoặc định dạng lại dữ liệu phù hợp với nhu cầu của người đó
Mashup dữ liệu (Data Mashup): Mashup kết hợp các dạng tương tự về thông tin
từ nhiều nguồn vào một nguồn đại diện Một ví dụ về Mashup phổ biến là Mashup về bản đồ của Google với dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau hoặc Trộn
dữ liệu cùng loại từ nhiều nguồn, chẳng hạn gộp dữ liệu từ các RSS feed vào một feed đơn nhất
Mashup nghiệp vụ (Business Mashup): Mashup tập trung dữ liệu vào một nơi trình diễn đơn và cho phép cộng tác giữa những người phát triển và người làm nghiệp vụ Mashup nghiệp vụ khác với mashup tiêu dùng về mức độ tích hợp với môi trường tính toán nghiệp vụ, an toàn và các đặc trưng về quản lý truy nhập, điều hành, và tính tinh tế của các công cụ lập trình (các soạn thảo mashup) được sử dụng
Mashup còn được phân loại theo hướng kiến trúc đó là mashup dựa trên web và dựa trên máy chủ Mashup dựa trên web thường sử dụng cho các trình duyệt web của người sử dụng để kết hợp và định dạng lại dữ liêu, còn mashup dựa trên máy chủ phân
Trang 34tích và định dạng dữ liệu trên máy chủ ở xa và truyền dữ liệu đến trình duyệt web của người sử dụng
Trong thực tế, người sử dụng hay trộn lẫn (mashup) những nội dung sau:
- Bản đồ: Bản đồ của Google Maps thường được sử dụng để lập bản đồ về đường đi của máy bay, bản đồ về cửa hàng, trường học, …
Trang 35CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRỰC TUYẾN
4.1 Cơ sở lý thuyết xây dự mô hình
Dịch vụ hành chính công một cửa đang là một xu thế tất yếu trong quá trình cải cách thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân Một dịch vụ hành chính công thường bao gồm nhiều bước trong quy trình nghiệp vụ và được nhiều
cơ quan chức năng khác nhau thực hiện Để có thể cung cấp được một dịch vụ hành chính công một cửa, một yêu cầu được đặt ra là tất cả các cơ quan có liên quan trong quy trình nghiệp vụ phải tham gia thực hiện dịch vụ hành chính công đó
Việc đảm bảo chất lượng dịch vụ khi mà các bước trong quy trình nghiệp vụ được thực hiện bởi các cơ quan chức năng khác nhau tùy thuộc nhiều vào sự phối hợp của các cơ quan này Kiểm soát sự phối hợp giữa các tổ chức được chia làm 2 loại: kiểm soát tập trung và phân cấp Kiểm soát tập trung có ưu điểm giúp tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, nhưng lại thường làm giảm tính tự chủ của cơ quan chức năng, trong khi đó, kiểu phân cấp thì ngược lại và có hiệu quả tốt hơn Do đó, trong từng trường hợp cụ thể, cần có chiến lược phù hợp để quản lý và phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính công liên cơ quan Các chiến lược này có thể được phân loại theo 2 hướng: mức độ quản lý sự phối hợp và cách tiếp cận
về mặt kiến trúc hệ thống trong việc tích hợp các hệ thống thông tin
4.1.1 Mô đun hóa và các loại liên kết
Nhằm tăng cường khả năng thích nghi trong những điều kiện khác nhau, mô đun hóa quy trình nghiệp vụ cũng như hệ thống thông tin được áp dụng Mô đun hóa được hiểu rằng các bước trong quy trình nghiệp vụ được tổ chức thực hiện bởi các thực thể khác nhau, thay vì một quy trình nghiệp vụ tích hợp Mô đun hóa đem lại các lợi ích: mềm dẻo trong quản lý, cho phép thực hiện công việc một cách song song, khả năng chấp nhận những hạn chế đem lại từ các mô đun khác Trong trường hợp các cơ quan chức năng khác nhau thực hiện các công đoạn khác nhau của một dịch vụ, việc quản lý toàn bộ quy trình nghiệp vụ chỉ tập trung vào việc liên kết các thành phần đã được mô đun hóa Liên kết giữa các mô đun thể hiện mức độ phụ thuộc và tin cậy lẫn nhau Việc liên kết các mô đun được chia làm 2 dạng: liên kết chặt (Tight coupling) và liên kết lỏng (Loose coupling) Trong liên kết lỏng, các mô đun độc lập với nhau và đòi hỏi rất ít các điều kiện đối với các mô đun khác khi liên kết, chủ yếu là yêu cầu về định dạng dữ liệu và thứ tự của thao tác Điều này cho phép dễ dàng thay thế hoặc chỉnh sửa một mô đun Hơn nữa, việc trao đổi thông tin giữa các mô đun lỏng thường không có phụ thuộc trực tiếp nào và có thể sử dụng các kết nối không đồng bộ thực hiện, giảm thiểu được yêu cầu về thời gian tính (tính sẵn sàng) Ưu điểm của liên kết lỏng là sự ảnh hưởng không đáng kể khi có sự thay đổi của một mô đun, trong khi liên
Trang 36kết chặt cho phép thực hiện các tiến trình theo thời gian thực và trao đổi dữ liệu một cách đầy đủ Một ưu điểm khác của liên kết chặt là tại một thời điểm cụ thể, trạng thái
xử lý công việc được xác định rõ ràng và có thể tạo ra những tác động phù hợp
4.1.2 Các chiến lược trong quản lý quy trình nghiệp vụ
Như đã trình bầy ở trên, hai hướng chính trong chiến lược quản lý quy trình nghiệp vụ được chỉ ra, bao gồm: mức độ quản lý các bước trong quy trình và cách tiếp cận kiến trức trong việc tích hợp các hệ thống thông tin
Hướng thứ nhất bao gồm 2 tình huống:
1 Quản lý tập trung: toàn bộ quá trình thực hiện quy trình nghiệp vụ được quản lý theo mô hình các cơ quan chức năng tham gia quy trình và chịu sự điều phối của một cơ quan cấp trên (orchestrator)
2 Quản lý phân tán: các cơ quan chức năng tham gia thực hiện quy trình nghiệp
vụ có vai trò ngang hàng nhau và không có cơ quan cấp trên điều phối
Trang 37Hướng thứ hai bao gồm 2 tình huống:
bộ phận tham gia quy trình nghiệp vụ Trong chiến lược này, các cơ quan tham gia quy trình nghiệp vụ có rất ít sự tự chủ và cần phải có một hệ thống thông tin tích hợp được xây dựng bao trùm các cơ quan tham gia Tuy nhiên, do tính chất kiểm soát tập trung cao và các hệ thống được tích hợp chặt chẽ sẽ là rào cản lớn khi một cơ quan mới tham gia vào quy trình nghiệp vụ do thay đổi về cơ cấu tổ chức Thông thường sẽ phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống ứng dụng
2 Orchestra: chiến lược được xây dựng với yêu cầu quản lý tập trung và liên kết giữa các cơ quan tham gia quy trình nghiệp vụ là liên kết lỏng Trong chiến lược này, tiến trình xử lý bao gồm các bước do các thực thể tự chủ thực hiện độc lập nhưng vẫn đảm bảo sự quản lý tập trung toàn bộ tiến trình tại bất cứ thời điểm nào Nó tương tự như việc thực hiện một bản hợp xướng, trong khi nhạc trưởng chỉ huy dàn nhạc, các nhạc công chơi các nhạc cụ theo vai trò của mình Trong một quy trình nghiệp vụ, điều này có nghĩa là mặc dù tất cả các thực thể tham gia quy trình nghiệp vụ có thể thực hiện các phần việc trong tiến trình nghiệp vụ theo cách của họ nhưng vẫn phải đảm bảo các thông tin được trao đổi theo cách nào đó để toàn bộ quy trình nghiệp vụ được thể hiện như
Trang 38trong một thể thống nhất Hơn thế nữa, các tác nghiệp được thực hiện bởi các thực thể độc lập cần được thể hiện một cách rõ ràng và theo chuẩn Các thông tin được trao đổi phải đầy đủ để đảm bảo các bước trong quy trình nghiệp vụ có
đủ thông tin thực hiện phần nghiệp vụ của mình
3 Relay Race: chiến lược được xây dựng không yêu cầu quản lý tập trung và liên kết giữa các cơ quan tham gia quy trình nghiệp vụ là liên kết chặt Điều này có nghĩa rằng các thực thể độc lập tham gia tiến trình nghiệp vụ đã thống nhất một định dạng dữ liệu trao đổi giữa các hệ thống thông tin nhằm đảm bảo một liên kết chặt chẽ giữa các bên Kết quả xử lý công việc tại bước này được chuyển trực tiếp đến bước tiếp theo (thực thể độc lập khác) theo một định dạng thông tin đã được quy ước để xử lý, tương tự như việc chuyển “thẻ bài” để vận động viên tiếp theo thực hiện bài thi theo khả năng của vận động viên đó như trong chạy tiếp sức Trong chiến lược này, không có cơ chế kiểm soát tập trung đảm bảo thời gian thực hiện toàn bộ quy trình nghiệp vụ theo đúng quy định (thường
là trong các văn bản pháp lý) Để đảm bảo thời gian, các thực thể tham gia cần phải có thỏa thuận hợp tác, phối hợp cụ thể
4 Broadcasting: chiến lược được xây dựng không yêu cầu quản lý tập trung và liên kết giữa các cơ quan tham gia quy trình nghiệp vụ là liên kết lỏng
4.2 Các kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ
4.2.1 Mô hình hướng dịch vụ SOA
Định nghĩa: Mô hình hướng dịch vụ (Service Oriented Architechture – gọi tắt là mô
hình SOA) là một khái niệm về kiến trúc hệ thống nhằm đem lại một cách thuận tiện nhất những chức năng nghiệp vụ, hoặc là những quy trình ứng dụng, tới người sử dụng dưới dạng các dịch vụ hoạt động trên môi trường mạng có khả năng chia sẻ và sử dụng lạị Dịch vụ ở đây được hiểu là những mô đun nghiệp vụ hoặc chức năng ứng dụng với giao diện được thiết kế theo quy định và được tương tác bằng cách gửi nhận thông điệp Hình vẽ dưới đây khái quát hóa mô hình SOA
Trang 39Hình vẽ: Khái quát mô hình hướng dịch vụ SOA
Về mối liên hệ với kiến trúc tổng thể EA: Trong khi kiến trúc tổng thể (Enterprise Architecture – EA) là một phương pháp luận nhằm xác định, sắp xếp và điều chỉnh quy trình nghiệp vụ cho phù hợp với tầm nhìn, chiến lược và mục tiêu của một cơ quan, tổ chức, mô hình SOA chủ yếu được sử dụng trong thiết kế và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ cho những quy trình nghiệp vụ đã được nhận biết (trong kiến trúc tổng thể)
Có thể liệt kê một số lợi ích cơ bản của việc sử dụng mô hình SOA như sau:
- Cho phép hướng sự tập trung vào xây dựng các tính năng nghiệp vụ trong quá trình phát triển phần mềm;
- Giảm thiểu chi phí trong quá trình phát triển;
- Giảm thiểu yêu cầu về đào tạo và kỹ năng;
- Chi phí bảo trì thấp;
- Chu trình phát triển phần mềm nhanh chóng hơn
Mô hình SOA có ưu thế hơn các mô hình truyền thống (như mô hình hướng ứng dụng hoặc mô hình hướng lập trình) ở điểm mô hình SOA chủ yếu tập trung nguồn lực phát triển vào các chức năng và tính năng phục vụ hoạt động và quy trình nghiệp vụ Điều này cho phép nhà quản lý chỉ cần dựa trên đặc điểm mang tính nghiệp
vụ rà soát, xác định rõ chi tiết, thành phần cần thêm, sửa đổi hoặc loại bỏ Do đó, các
hệ thống phần mềm phát triển phía sau có thể được thiết kế nhằm đáp ứng những quy trình nghiệp vụ (thay vì quy trình nghiệp vụ phải thay đổi để tận dụng những tính năng
Trang 40phần mềm như trong các mô hình thường thấy ở nhiều cơ quan tổ chức với hạ tầng ứng dụng Công nghệ thông tin được phát triển từ trước)
Bằng cách phát triển và tập hợp danh mục các dịch vụ, nhà phát triển có một bộ sưu tập những mô đun phần mềm có sẵn, có thể được sử dụng để lắp ghép nên một hệ thống mới (thay vì phải xây dựng hệ thống này từ đầu) Danh mục dịch vụ này sẽ nhanh chóng được gia tăng về qui mô và số lượng, khiến việc phát triển các hệ thống mới ngày càng trở nên thuận tiện, nhanh chóng Khả năng sử dụng lại cũng cho phép giảm bớt chi phí phát sinh khi thêm các tính năng mới vào hệ thống
Khái niệm định hướng dịch vụ
Định hướng dịch vụ là một khái niệm gắn với quy cách tạo ra các chuỗi lôgic một cách tự động dưới hình thức là tập hợp các dịch vụ, qua đó cho phép các thành phần bên trong hệ thống tổng thể về nghiệp vụ được tính hợp với nhau dưới dạng các dịch vụ có khả năng kết nối cùng với các chức năng riêng biệt của chúng
Khái niệm định hướng dịch vụ là nền tảng của mô hình SOA, mà ở đó các hệ thống thông tin có kiến trúc dựa trên quy tắc cung cấp các dịch vụ nghiệp vụ có khả năng sử dụng lại Các dịch vụ này được lắp ghép từ những thành phần của phần mềm được gắn kết một cách khá mềm dẻo Sự mềm dẻo thể hiện ở chỗ, với mô hình SOA các lựa chọn về công nghệ, nền tảng hệ thống, vị trí hoặc môi trường của mỗi bên, nhà cung cấp hoặc người sử dụng dịch vụ, không nhất thiết phải khai báo tường minh đối với bên còn lại Chính vì mô hình SOA thúc đẩy sự gắn kết mềm dẻo giữa các thành phần phần mềm, các thành phần này có thể được sử dụng lại Các mô hình truyền thống thường yêu cầu nghiêm ngặt về tường minh giao diện kết nối cũng như sự phối hợp logic rất chặt chẽ giữa các nhóm, thủ tục chức năng Đây là một lý do chính cản trở hoạt động cập nhật, thay đổi hệ thống, dịch vụ và quy trình để không ảnh hưởng tới môi trường nghiệp vụ và Công nghệ thông tin hiện tại của cơ quan, tổ chức Tính mềm dẻo đã góp phần giúp các dịch vụ có thể được nâng cao hoặc sửa đổi, đưa ra những dịch vụ chia sẻ hoặc chuẩn hóa mới vào quy trình nghiệp vụ mà không đòi hỏi phải thay đổi toàn bộ quy trình
Mô hình SOA thể hiện sự tiên tiến hơn hình thức phát triển ứng dụng thông thường bằng cách đặt trọng tâm phát triển vào qui trình nghiệp vụ và sử dụng các giao tiếp đã được chuẩn hóa nhằm che đi tính chất phức tạp của kỹ thuật phía dưới Theo thiết kế SOA, mô đun thực hiện dịch vụ (phần mềm) được tách rời với mô đun đảm nhiệm giao tiếp, nối kết dịch vụ Điều này cho phép mô đun giao tiếp, nối kết dịch vụ được chuẩn hóa và có tính độc lập với công nghệ (bao gồm nền tảng phần cứng, hệ điều hành và ngôn ngữ lập trình) sử dụng trong mô đun thực hiện dịch vụ Thay vì xây dựng các ứng dụng đơn lẻ và quy mô lớn trong toàn bộ quy trình nghiệp vụ, nhà phát triển sẽ xây dựng các dịch vụ được tinh gọn, dễ triển khai và sử dụng lại Điều này không chỉ cho phép sử dụng lại phần mềm tốt hơn, mà còn nâng cao tính linh hoạt