Khái niệm Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được bệnh viện lựa chọn và phê duyệt để sử dụng, có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý thuốc lưu hành trong bệnh việ
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ VÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG
TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
GS.TS Nguyễn Thanh Bình, Hiệu Trưởng Trường Đại Học Dược
Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học, các bộ môn và các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy,
truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc bệnh viện
y học cổ truyền Trung ương, Khoa Dược, Khoa đông y thực nghiệm, Phòng công nghệ thông tin, Phòng kế hoạch tổng hợp đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà nội, năm 2020
Học viên
Nguyễn Thị Vân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Quy trình xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 3
1.1.3 Vai trò của danh mục thuốc bệnh viện 7
1.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC 8
1.2.1 Phân tích ABC 8
1.2.2 Phân tích nhóm điều trị 9
1.2.3 Phân tích VEN 9
1.2.4.Phương pháp kết hợp ABC/VEN 10
1.3 THỰC TRẠNG THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN 10
1.3.1 Trên thế giới 10
1.3.2 Tại Việt Nam 12
1.3.3 Tiêu chí đánh giá nguồn gốc, chất lượng của thuốc YHCT tại Việt Nam17 1.4 ĐÔI NÉT VỀ BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƯƠNG 19
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Các biến số nghiên cứu 22
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 25
Trang 52.2.4 Xử lý và phân tích số liệu 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TRONG NĂM 2018 35
3.1.1 Tổng giá trị tiền thuốc trong năm 2018 35
3.1.2 Cơ cấu giá trị và số lượng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền trung Ương 35
3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo các nhóm tác dụng dược lý 38
3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược theo phân loại thuốc đơn thành phần và đa thành phần 42
3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược theo phân loại nhóm thuốc generic và thuốc biệt dược gốc 42
3.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 43
3.1.7 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường sử dụng 43
3.2 XÁC ĐỊNH MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG NĂM 2018 CỦA BỆNH VIỆN YHCT TRUNG ƯƠNG 45
3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC-VEN 45
3.2.2 Một số vấn đề trong sử dụng các thuốc nhóm A và phân nhóm AN 47
3.2.3 Những bất cập về số lượng sử dụng của các thuốc đã trúng thầu trong năm 2018 49
3.2.4 Một số bất cập trong việc sử dụng thuốc cổ truyền 49
3.2.5 Những bất cập trong việc sử dụng các thuốc nhập khẩu 51
3.2.6 Những bất cập trong việc sử dụng các thuốc biệt dược gốc 54
3.2.7 Một số vấn đề trong việc sử dụng các thuốc thuỷ châm 55
Chương 4 BÀN LUẬN 57
4.1 VỀ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN TRONG NĂM 2018 57
4.2 VỀ MỘT SỐ BẤT CẬP CỦA DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG NĂM 2018 CỦA BỆNH VIỆN YHCT TRUNG ƯƠNG 63
Trang 6KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 22
Bảng 2.2 Một số công thức tính toán được sử dụng 30
Bảng 3 3 Tổng giá trị tiền thuốc của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2018 35
Bảng 3.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm thuốc hoá dược và thuốc cổ truyền 36
Bảng 3 5 Chất lượng của các vị thuốc cổ truyền 36
Bảng 3 6 Cơ cấu danh mục vị thuốc cổ truyền theo các nhóm tác dụng dược lý 37
Bảng 3 7 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược sử dụng theo các nhóm tác dụng dược lý 38
Bảng 3.8 Cơ cấu một số nhóm thuốc kháng sinh được sử dụng trong năm 2018 40
Bảng 3 9 Cơ cấu danh mục thuốc cổ truyền theo các nhóm tác dụng dược lý 41
Bảng 3.10 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược theo phân loại thuốc đơn thành phần - đa thành phần 42
Bảng 3.11 Cơ cấu danh mục thuốc hoá dược theo phân loại thuốc generic – thuốc biệt dược gốc 42
Bảng 3 12 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 43
Bảng 3.13 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường sử dụng 44
Bảng 3 14 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ABC 45
Bảng 3.15 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích VEN 45
Bảng 3 16 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân tích ma trận ABC-VEN 46
Bảng 3.17 Cơ cấu thuốc nhóm A theo các nhóm tác dụng dược lý 47
Bảng 3.18 Các thuốc phân nhóm A-N 48
Bảng 3.19 Các thuốc hoá dược có cùng hoạt chất, nồng độ/hàm lượng và dạng bào chế được sử dụng đồng thời ở nhóm A và nhóm C 48
Bảng 3 20 Chênh lệch giữa số lượng sử dụng thực tế so với trúng thầu của các thuốc đã trúng thầu trong năm 2018 của bệnh viện 49
Bảng 3 21 Cơ cấu thuốc cổ truyền 50
Bảng 3.22 Các thuốc cổ truyền bệnh viện tự sản xuất được nhưng vẫn mua ngoài 50
Trang 9Bảng 3.23 Chênh lệch kinh phí mua sắm thuốc khi thay thế các thuốc nhập khẩu b ng các thuốc sản xuất trong nước 51Bảng 3 24 Chênh lệch kinh phí mua sắm thuốc khi thay thế các thuốc biệt dược gốc hết bảo hộ độc quyền b ng các thuốc generic trúng thầu 54Bảng 3.25 Các thuốc thuỷ châm được sử dụng trong năm 2018 55
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện 4Hình 2.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 25
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc sống ngày một văn minh hơn, người dân cũng đã có nhiều kiến thức và nhận thức hơn trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân cũng như cho gia đình của mình Việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân là một việc cần được chính quyền quan tâm vì sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người, góp phần đảm bảo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cung ứng nhiều loại thuốc đảm bảo chất lượng tốt có giá cả phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Chính sách quốc gia về thuốc
đã đưa ra hai mục tiêu đó là đảm bảo cung ứng thường xuyên và đầy đủ các thuốc có chất lượng đến tay người bệnh và đảm bảo việc sử dụng thuốc sao cho an toàn, hợp lý
và hiệu quả [3]
Hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, mô hình bệnh tật cũng thay đổi và ngày càng đa dạng, phức tạp hơn Sự tăng trưởng đều đặn tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm phần nào nói lên kiến thức, nhu cầu sử dụng thuốc và các dược phẩm trong vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ nói chung và hệ thống các kênh phân phối thuốc nói riêng, các công ty, các tập đoàn dược phẩm trong và ngoài nước đã cùng nhau góp phần tạo nên một thị trường thuốc đa dạng, đầy đủ các chủng loại thuốc, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và chăm sóc sức khỏe của nhân dân Nhìn chung, thị trường thuốc trong nước đã phần nào đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân Tuy nhiên, nhiều vụ kinh doanh và phân phối thuốc giả, thuốc kém chất lượng gần đây bị phanh phui đang là một vấn đề cần được quan tâm và giải quyết triệt để nh m đảm bảo thị trường thuốc được an toàn và chất lượng
Đối với bất kỳ quốc gia nào, đóng vai trò hết sức quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người dân là hệ thống các bệnh viện Khoa Dược của các bệnh viện đã có những bước phát triển về nhiều mặt, góp phần không nhỏ trong công tác nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các bệnh viện Việc cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng và hợp lý cho người bệnh có vai trò hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến hiệu quả của
Trang 12công tác cung ứng thuốc chính là hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, đặc biệt là
sử dụng thành công danh mục thuốc trúng thầu Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang còn một
số bất cập trong công tác quản lý và sử dụng thuốc trong các bệnh viện, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cũng như uy tín của các cơ sở y tế, làm tăng kinh phí khám chữa bệnh và quan trọng hơn cả đó là vấn đề đảm bảo thuốc được sử dụng hợp lý, an toàn và hiệu quả
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là một trong những bệnh viện tuyến đầu của cả nước trong việc phối hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại, đảm bảo và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân Tiến tới giai đoạn tự chủ, được
sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện trong việc chú trọng phát triển khoa dược đặc biệt vấn đề sản xuất thuốc theo tiêu chuẩn cơ sở cũng như làm thế nào để thu hút bệnh nhân thì việc xây dựng danh mục thầu thuốc rất quan trọng Hiện nay, đã có nhiều đề tài trong nước tiến hành phân tích hoạt động cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế, trong
đó chú trọng đến hoạt động sử dụng thuốc thông qua việc phân tích các danh mục thuốc trúng thầu và danh mục thuốc sử dụng Nh m góp phần mang lại một số thông tin về hoạt động sử dụng thuốc nói riêng và hoạt động cung ứng thuốc trong Bệnh viện
Y học cổ truyền Trung ương nói chung, đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng
tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ƣơng năm 2018” được tiến hành với hai mục
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 DANH MỤC THUỐC BỆNH VIỆN
1.1.1 Khái niệm
Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được bệnh viện lựa chọn
và phê duyệt để sử dụng, có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý thuốc lưu hành
trong bệnh viện; được xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc
chủ yếu của Việt Nam và WHO hiện hành, đảm bảo các mục tiêu:
- sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả,
- đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh,
- đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế
độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định luôn sẵn có bất kỳ lúc nào, với số lượng cần thiết, đảm bảo được chất lượng tốt, có các dạng bào chế phù hợp và có giá cả phải chăng
1.1.2 Quy trình xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện
Lựa chọn thuốc là một hoạt động mà trong đó các nhân viên y tế thông qua Hội đồng thuốc và điều trị, từ rất nhiều các sản phẩm thuốc có sẵn, đánh giá và lựa chọn ra những thuốc được coi là hiệu quả nhất, an toàn nhất và có chi phí hợp lý nhất Kết quả của quá trình lựa chọn thuốc là một danh mục thuốc có chứa tất cả các loại thuốc đã được phê duyệt cho mua sắm và sử dụng trong các cơ sở y tế nhất định
Trang 14Hình 1.1 Quy trình lựa chọn thuốc và xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện [14]
Lựa chọn thuốc là xác định chủng loại và số lượng thuốc để cung ứng Trong bệnh viện, chủng loại thuốc được thể hiện qua danh mục thuốc bệnh viện Việc lựa chọn và xây dựng danh mục này là công việc đầu tiên của quy trình cung ứng thuốc Danh mục thuốc là cơ sở để đảm bảo cho việc cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch hợp lý, an toàn, hiệu quả và có tác động trực tiếp đến kết quả điều trị với người bệnh Danh mục thuốc được xây dựng hàng năm, có thể bổ sung hoặc loại bỏ một số thuốc trong danh mục của năm trước thông qua các kỳ họp của Hội đồng thuốc và điều trị Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng dựa trên các yếu tố như: mô hình bệnh tật,
Căn cứ để lựa chọn thuốc đưa
vào Danh mục thuốc bệnh viện:
1 Mô hình bệnh tật
2 Phác đồ điều trị
3 Danh mục thuốc thiết yếu,
thuốc chủ yếu
4 Nguồn kinh phí bệnh viện
5 Ý kiến của các khoa phòng
6 Ý kiến của Hội đồng thuốc
và điều trị
6 Danh mục thuốc sử dụng
năm trước
7 Phân tuyến kỹ thuật
8 Thông tin về thuốc và các
văn bản pháp quy khác
Khoa Dược xây dựng dự thảo danh mục thuốc bệnh viện và hướng dẫn thực hành danh mục thuốc
Hội đồng thuốc
và điều trị thông qua
Giám đốc bệnh viện xem xét và
ký duyệt
Danh mục thuốc bệnh viện theo hoạt chất
Danh mục thuốc đấu thầu
Danh mục thuốc
sử dụng theo tên biệt dược
Cơ sở để xây dựng danh mục thuốc kỳ sau
Trang 15phác đồ điều trị được áp dụng, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, các chính sách
về thuốc của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và kinh phí của bệnh viện, nhu cầu thuốc
đã sử dụng trong những năm trước và dự đoán trong thời gian tới [7] Ngoài ra, danh mục thuốc cũng cần được xây dựng dựa trên các hướng dẫn điều trị chuẩn, đây cũng là căn cứ khoa học có độ tin cậy cao để xây dựng danh mục
Việc xây dựng Danh mục thuốc bệnh viện phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện,
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện,
- Đáp ứng với các phương pháp và kỹ thuật mới trong điều trị,
- Thống nhất với Danh mục thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y
tế ban hành,
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước
Một số tiêu chí để đánh giá và lựa chọn các thuốc trong danh mục bao gồm:
- Mô hình bệnh tật của bệnh viện,
- Điều kiện trang thiết bị chuyên môn và nhân lực của bệnh viện,
- Chất lượng, hiệu quả và độ an toàn trong điều trị của các thuốc,
- Căn cứ và chi phí của thuốc và tính chi phí – hiệu quả,
- Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược gốc hoặc nhà sản xuất cụ thể
Mô hình bệnh tật là số liệu thống kê bệnh tật về số bệnh nhân đến khám và
điều trị trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) WHO đã ban hành phân loại quốc tế về bệnh tật ICD để hỗ trợ nghiên cứu mô hình bệnh tật Bảng phân loại này đã qua 9 lần sửa đổi và phiên bản ICD 10 gồm 21 chương với 10.000 bệnh trong đó mỗi chương có 1 hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh, mỗi loại bệnh có nhiều chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặc thù của bệnh đó [2] Mô hình bệnh tật là căn cứ quan trọng góp phần giúp bệnh viện trong việc
Trang 16xây dựng danh mục thuốc phù hợp, là cơ sở để bệnh viện hoạch định và phát triển toàn diện trong tương lai Mỗi bệnh viện được xây dựng trên địa bàn khác nhau, ứng với mỗi đặc trưng nhất định về cấu trúc dân cư, địa lý, yếu tố môi trường, văn hóa, kinh tế
- xã hội cũng như sự phân công chức năng nhiệm vụ theo tuyến Do vậy, mô hình bệnh tật của mỗi bệnh viện là khác nhau, chủ yếu được phân thành 2 loại là mô hình bệnh tật của bệnh viện đa khoa và của bệnh viện chuyên khoa [38]
Nguồn kinh phí cũng là căn cứ quan trọng để bệnh viện có thể ra quyết định và
lựa chọn thuốc để sử dụng sao cho thật hợp lý Nguồn kinh phí của bệnh viện đến từ nhiều nguồn như sự đầu tư của nhà nước, nguồn thu thông qua các hoạt động của bệnh viện như khám chữa bệnh, nguồn quỹ Bảo hiểm Y tế hoặc nguồn tài trợ của các đơn vị trong và ngoài nước
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến
khả năng lựa chọn cũng như hiệu quả của việc sử dụng thuốc Bệnh viện cần căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật của mình để đưa ra các loại thuốc có thể sử dụng phù hợp nhất bởi nếu trình độ chuyên môn kỹ thuật không tốt thì nhiều khi có những thuốc bệnh viện nhập về cũng không sử dụng được, qua đó mà gây lãng phí nguồn kinh phí bệnh viện
Phác đồ điều trị/hướng dẫn điều trị chuẩn là những văn bản được đúc kết từ
kinh nghiệm thực tiễn và được sử dụng như một khuôn mẫu trong điều trị bệnh, có giá trị khoa học cao Phác đồ điều trị là căn cứ để bệnh viện xây dựng danh mục thuốc Nếu không có các phác đồ điều trị chuẩn thì khó có thể xây dựng danh mục thuốc một cách khoa học [38] Theo WHO, một hướng dẫn điều trị chuẩn sẽ thỏa mãn đầy đủ bốn tiêu chí sau: hợp lý (đúng thuốc, đúng chủng loại, phối hợp đúng, còn hạn dùng), an toàn (không gây tai biến, không có tương tác thuốc), hiệu quả (dễ dàng khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu) và kinh tế (có chi phí điều trị thấp nhất)
Danh mục thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám chữa bệnh đã được ban hành, là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách
của nhà nước về đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến các thuốc phòng và chữa bệnh cho người dân Các thuốc n m trong danh mục thuốc thiết yếu được lựa chọn với
Trang 17nhiều tiêu chí như có giá cả hợp lý, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho người sử dụng
[1] Danh mục thuốc chủ yếu bao gồm 845 hoạt chất, 1.064 thuốc tân dược và 57 thuốc
phòng xạ làm tiền đề cho các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn và đảm bảo nhu cầu điều trị cũng như thanh toán chi phí cho người bệnh, nhất là những bệnh nhân có sử dụng
Bảo hiểm Y tế [8] Một danh mục thuốc không kém phần quan trọng nữa đó là danh
mục các thuốc được Bảo hiểm Y tế chi trả, là căn cứ để bệnh viện lựa chọn sao cho
vừa thỏa mãn nhu cầu điều trị của mình, vừa đảm bảo được quỹ Bảo hiểm Y tế thanh toán, góp phần giảm gánh nặng điều trị cho bệnh nhân
Hội đồng thuốc và điều trị là đơn vị có nhiệm vụ xây dựng danh mục thuốc
dùng trong bệnh viện [6], [34] Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các quy định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế), Hội đồng thuốc và điều trị có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện theo nguyên tắc: Ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn thành phần, thuốc sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt GMP Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, kịp thời và có kế hoạch nh m phục vụ nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục trong các kỳ họp của Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện
1.1.3 Vai trò của danh mục thuốc bệnh viện
Xây dựng Danh mục thuốc bệnh viện là điểm đầu tiên của chu trình cung ứng thuốc và là cơ sở để đảm bảo việc cung ứng thuốc diễn ra một cách chủ động, có kế hoạch và hợp lý Danh mục thuốc được xây dựng tốt sẽ góp phần giúp tinh giản số lượng cũng như chủng loại thuốc trong bệnh viện, tạo thuận lợi trong việc mua sắm, bảo quản và phân phối thuốc cũng như công tác kiểm tra, quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện Bên cạnh đó, Danh mục thuốc sử dụng hợp lý còn góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc y tế Bác sỹ kê đơn tập trung hơn khi giảm số đầu thuốc, việc phát hiện các tương tác thuốc và các phản ứng có hại của thuốc sẽ dễ dàng hơn Bệnh nhân
Trang 18không phải điều trị b ng nhiều loại thuốc nhưng vẫn đảm bảo được hiệu quả tốt và tiết kiệm chi phí trong điều trị
Thêm vào đó, một danh mục thuốc bệnh viện hợp lý góp phần giúp bệnh viện tiết kiệm nguồn kinh phí hàng năm và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài chính trong quá trình cung ứng thuốc thiết yếu Trong quá trình mua sắm thuốc, việc hạn chế mua nhiều loại thuốc có thể giúp bệnh viện mua thuốc với số lượng hợp lý, giá cả cạnh tranh và đạt hiệu quả kinh tế khi xét tới các khía cạnh như đảm bảo chất lượng thuốc,
số lần mua sắm thuốc, bảo quản và phân phối thuốc; qua đó mà có được thuốc phục vụ điều trị với giá cả phù hợp và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh
1.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC
Sử dụng thuốc không hợp lý đã và đang là vấn đề được quan tâm trên toàn cầu
vì những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra như làm tăng đáng kể chi phí cho hoạt động chăm sóc sức khỏe, giảm chất lượng điều trị, tăng nguy cơ xảy ra các ADR của thuốc Để quản lý được việc sử dụng thuốc một cách hiệu quả cần có các phương pháp phân tích dữ liệu và tổng hợp thông tin về thuốc Có 3 phương pháp thường được sử dụng trong việc phân tích hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện bao gồm: phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị và phân tích VEN Nhiều nghiên cứu cũng kết hợp giữa các phương pháp phân tích (nhất là ma trận ABC-VEN) để phân tích cụ thể hơn nữa thực trạng sử dụng thuốc trong bệnh viện, qua đó góp phần giúp bệnh viện kiểm soát tốt hơn hoạt động sử dụng thuốc cũng như công tác cung ứng thuốc trong bệnh viện
1.2.1 Phân tích ABC
Phân tích ABC sử dụng số liệu về thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn Sau khi phân tích, các thuốc cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục và thuốc đắt tiền (nhất là thuốc thuộc nhóm A), trên
cơ sở đó lựa chọn những phác đồ điều trị có hiệu lực tương đương nhưng có chi phí thấp hơn Ưu điểm chính của phương pháp này là giúp xác định xem phần lớn nguồn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào, qua đó mà có biện pháp để xử trí phù hợp Thông thường thuốc nhóm A chiếm khoảng 10 - 25% tổng số thuốc, thuốc nhóm
B chiếm khoảng 10 - 20% và 60 - 80% còn lại là thuốc nhóm C [34]
Trang 19Phương pháp ABC phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nh m phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách mua sắm thuốc của bệnh viện Phương pháp này xác định và so sánh chi phí y tế trong hệ thống danh mục thuốc, cung cấp thông tin cơ bản để giảm thiểu chi phí và phân tích chi phí – hiệu quả Thông tin thu được sau khi phân tích có thể được sử dụng để lựa chọn hoặc thay thế các thuốc có chi phí thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế Ngoài
ra còn giúp các cơ sở y tế trong việc thương lượng với nhà cung ứng/đấu thầu thuốc để mua được thuốc với giá thấp hơn, phát hiện những điểm chưa hợp lý trong sử dụng thuốc b ng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
1.2.2 Phân tích nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:
- Xác định các nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và có chi phí nhiều nhất
- Xác định các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý trên cơ sở những thông tin về bệnh tật
- Xác định các thuốc đã bị lạm dụng hoặc các thuốc sử dụng không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể như sốt rét
- Giúp Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí - hiệu quả cao [34]
1.2.3 Phân tích VEN
Phân tích VEN giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn Thêm vào đó, phân tích VEN cho phép so sánh các thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau Trong phân tích VEN, các thuốc được chia thành 3 nhóm sau:
Trang 20- Nhóm thuốc V (Vital drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám, chữa bệnh của bệnh viện
- Nhóm thuốc E (Essential drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Nhóm thuốc N (Non-essential drugs) là những thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [6], [34]
1.2.4 Phương pháp kết hợp ABC/VEN
Kết hợp phân tích ABC và phân tích VEN được ma trận ABC/VEN để xác định mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc không ưu tiên, mang lại hiệu quả trong việc kiểm soát lựa chọn và mua thuốc
Trong ma trận ABC/VEN cần chỉ ra các thuốc nhóm AN (thuốc không thiết yếu) nhưng có chi phí cao để hạn chế sử dụng hoặc loại bỏ ra khỏi danh mục
1.3 THỰC TRẠNG THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI CÁC BỆNH VIỆN
1.3.1 Trên thế giới
Điều kiện sống ngày một nâng cao, khoa học công nghệ ngày càng phát triển góp phần giúp người dân tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ khám chữa bệnh Bên cạnh
đó, sự thay đổi thói quen ăn uống và sinh hoạt thiếu khoa học (ăn nhiều thức ăn nhanh,
đồ uống có ga…), sự ô nhiễm môi trường sống cũng như thực phẩm không đảm bảo chất lượng khiến cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe và sử dụng dược phẩm ngày một tăng Bên cạnh các thuốc tân dược, hiện nay ở nhiều quốc gia, các thuốc YHCT cũng được chú trọng nghiên cứu và phát triển
Tại Trung Quốc, thuốc YHCT chiếm khoảng 30% chi phí về thuốc tại quốc gia này Trong danh mục thuốc thiết yếu, thuốc YHCT chiếm 39% còn trong danh mục thuốc được BHYT chi trả, thuốc YHCT chiếm 46% Danh mục thuốc được BHYT chi trả ở Trung Quốc năm 2017 có 2.535 thuốc trong đó 1.238 thuốc là thuốc YHCT [31],
Trang 21[36] Có 8 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chọn các thuốc YHCT để đưa vào Danh mục thuốc BHYT chi trả bao gồm:
- Tác dụng của thuốc YHCT đối với các bệnh không chữa được và bệnh mạn tính
- Sự chấp nhận sử dụng thuốc YHCT của thầy thuốc và người bệnh
- Sự sẵn có của thuốc YHCT
- Thuốc YHCT có ưu thế khi đánh giá chi phí - hiệu quả
- Tác dụng rõ rệt của thuốc YHCT đối với các vấn đề về sức khỏe có liên quan đến chất lượng cuộc sống
- Tác dụng toàn diện của thuốc YHCT đối với sức khỏe, nâng cao thể trạng và tinh thần của người bệnh
- Có sự giảm chi phí tiền thuốc so với thuốc tân dược và
- Sự an toàn của thuốc YHCT [37]
Nhật Bản cũng là một quốc gia có truyền thống lâu đời trong sử dụng thuốc YHCT Từ những năm 2000, cơ quan BHYT Nhật Bản đã chấp nhận thanh toán cho nhiều dịch vụ YHCT như châm cứu, ấn huyệt, xoa bóp, 147 công thức thuốc YHCT và
192 loại dược liệu Tại Hàn Quốc, thuốc YHCT cũng được sử dụng ngày càng rộng rãi: trong năm 1990 có 1,6 triệu lượt bệnh nhân sử dụng thuốc YHCT, tăng lên đến 91,1 triệu lượt trong năm 2010 Trong khi đó, tại Đài Loan, các dịch vụ YHCT như các chế phẩm thuốc, châm cứu, ấn huyệt cũng được BHYT thanh toán, trong đó có
337 công thức thuốc và hơn 500 chế phầm cho từng loại thảo dược riêng rẽ [31]
Đối với sự hoạt động của các cơ sở y tế, danh mục thuốc sử dụng có vai trò quan trọng trong việc góp phần giúp sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả tại các khoa lâm sàng Để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện, các phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN được sử dụng phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển và thu về nhiều hiệu quả tích cực Tại một bệnh viện của Nga trong 4 năm từ năm 2011 - 2014, phân tích ABC/VEN được tiến hành kết hợp với việc can thiệp b ng cách đào tạo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý cho lãnh đạo khoa Kết quả cho thấy gần 40 ngân sách tiền thuốc năm 2014 là thuốc nhóm V, nhóm N chiếm
Trang 2214% và việc can thiệp nói trên đã góp phần giúp chi phí tiền thuốc trong năm 2014 giảm đi so với năm 2013 [40] Tại Bệnh viện quốc gia Muhimbili (Tanzania), từ tháng 07/2011 đến 06/2012 bệnh viện đã sử dụng 394 loại thuốc trong đó thuốc nhóm A chiếm 12 và thuốc nhóm V chiếm 17 , chỉ có 4 thuốc nhóm A-V; thuốc nhóm E chiếm 70% về số thuốc và cũng chiếm 70% giá trị sử dụng [39] Tại bệnh viện Pgimer thuộc Ấn Độ giai đoạn 2007 – 2008, danh mục thuốc của bệnh viện có 421 khoản mục thuốc Các thuốc nhóm A, B, C lần lượt chiếm 14 ; 22 ; 64 về số khoản mục và 69,97 ; 19,95 ; 10,08 về giá trị tiền thuốc sử dụng [35]
1.3.2 Tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, kinh phí mua sắm thuốc của các bệnh viện tăng cả
về số lượng và tỷ trọng so với tổng nguồn kinh phí bệnh viện Ở nước ta, trong năm
2015, quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả 26.132 tỷ đồng để mua sắm thuốc, chiếm 48,3% còn sang năm 2016 là 31.5419 tỷ đồng, chiếm 41% Theo Báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009 – 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc của bệnh viện chiếm 47,9% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm đối với năm
2009 và 58,7 đối với năm 2010 [11], [12] Tại các bệnh viện, số tiền bệnh viện dành
ra để mua sắm thuốc cũng như phần trăm kinh phí dành cho việc mua sắm thuốc trên tổng ngân sách chi ra hàng năm của các bệnh viện là rất khác nhau Tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng, mô hình bệnh tật cũng như quy mô của bệnh viện mà các bệnh viện sẽ có một danh mục thuốc riêng, với số lượng và chủng loại thuốc khác nhau Số lượng các thuốc trong danh mục của các bệnh viện rất khác nhau
Về nguồn gốc xuất xứ của thuốc: Cục Quản lý khám chữa bệnh đã tiến hành
khảo sát 900 bệnh viện ở cả 3 tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện trong năm
2010, trong đó có tình hình nguồn gốc xuất xứ của các loại thuốc thuốc được sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy r ng ở tuyến càng cao thì giá trị thuốc nhập khẩu càng cao trong khi ở những tuyến thấp hơn, thuốc sản xuất trong nước lại được sử dụng nhiều hơn Đối với tuyến trung ương, thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 11,9% tổng chi tiêu tiền thuốc trong khi thuốc nhập khẩu chiếm tới 88,1 Đối với tuyến tỉnh, thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước tương ứng chiếm 66,8% và 33,2% tổng chi tiêu tiền thuốc còn đối với tuyến huyện, lần lượt chiếm 48,5% và 51,5% tổng chi
Trang 23tiêu tiền thuốc [5] Trong các thuốc nhập khẩu, các thuốc nhập khẩu từ Ấn Độ và Hàn Quốc thường được sử dụng nhất, tập trung chủ yếu là các nhóm thuốc kháng khuẩn, nhóm tiêu hóa và chuyển hóa mà nhiều doanh nghiệp trong nước đang tiến hành sản xuất
Trong những năm gần đây, một số bệnh viện vẫn đang sử dụng khá nhiều thuốc nhập khẩu hơn thuốc sản xuất trong nước về cả số lượng lẫn giá trị sử dụng Tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2015, 68,6 thuốc tân dược là thuốc có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài[15] Tại Bệnh viện 108, trong năm 2017, gần 55% số khoản mục thuốc của bệnh viện là thuốc nhập khẩu, chiếm đến gần 3/4 tổng giá trị sử dụng [33] Tại một số bệnh viện chuyên khoa, do phải sử dụng các thuốc chuyên khoa đặc thù nên tỷ lệ thuốc nhập khẩu được sử dụng khá cao Ví dụ như trong năm 2017, tại Bệnh viện Phổi trung ương, thuốc nhập khẩu chiếm đến 73,3% số khoản mục thuốc
và hơn 92 tổng giá trị sử dụng [25]
Thuốc biệt dược gốc và thuốc generic: Ưu tiên sử dụng các thuốc generic trong
điều trị là một trong những biện pháp hiệu quả nh m giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân, là một trong những tiêu chí mà Bộ Y tế đã đưa ra trong việc lựa chọn danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện Trong những năm gần đây, tỷ lệ phần trăm thuốc biệt dược gốc được sử dụng trong danh mục thuốc bệnh viện có xu hướng giảm Thực trạng thuốc biệt dược gốc chiếm tỷ lệ cao trong danh mục thuốc bệnh viện là một vấn
đề hiện có tại một số bệnh viện trên toàn quốc Tuy nhiên, hiện nay, tại rất nhiều bệnh viện trong cả nước, thuốc generic là nhóm thuốc được sử dụng nhiều hơn nhóm biệt dược gốc cả về số lượng lẫn giá trị sử dụng Ví dụ như tại Bệnh viện đa khoa huyện
Gò Quao tỉnh Kiên Giang, trong năm 2015, bệnh viện đã sử dụng 268 thuốc generic (chiếm khoảng 85% số khoản mục thuốc), với chi phí gần 7,4 tỷ đồng, tương ứng hơn 80% tổng kinh phí về thuốc trong năm của bệnh viện [17]
Đường dùng của thuốc: Hai dạng dùng của thuốc được sử dụng rất phổ biến
hiện nay ở các bệnh viện trên toàn quốc là dạng thuốc dùng đường uống và dạng thuốc tiêm – tiêm truyền Trong năm 2015, tại Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, bệnh viện sử dụng hơn 51 số khoản mục thuốc là thuốc dùng đường uống với kinh phí lên đến 11,6 tỷ đồng, chiếm 53,5% tổng giá trị sử dụng Thuốc tiêm và
Trang 24tiêm truyền cũng chiếm đến 41% số khoản mục thuốc và chiếm 44% tổng chi tiền thuốc trong năm của bệnh viện [18] Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, 62 số khoản mục thuốc được sử dụng trong năm 2017 là thuốc tiêm, tiêm truyền, chiếm đến 85,8% tổng giá trị sử dụng [32]
Các nhóm tác dụng dược lý: Trong các nhóm tác dụng dược lý, nhìn chung
nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất
về cả số khoản mục lẫn giá trị sử dụng Ngoài ra, một số nhóm thuốc khác cũng có giá trị sử dụng cao như nhóm thuốc tim mạch, NSAIDs, thuốc tác động vào hệ nội tiết Trong năm 2017, tại Bệnh viện phụ sản Trung ương, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn và nhóm thuốc tác động trên đường hô hấp là 2 nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất về giá trị sử dụng, lần lượt chiếm 24,45 và 20,05 (tương ứng với 16,7 tỷ đồng và 13,7 tỷ đồng) [21]
Báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy r ng kháng sinh là nhóm thuốc chiếm tới 36% tổng kinh phí cho thuốc và hóa chất Trong
số 100 bệnh viện được khảo sát, các bệnh viện tuyến trung ương đã chi khoảng 26% tổng kinh phí về thuốc nói chung cho kháng sinh trong đó một số bệnh viện có tỷ lệ cao như Bệnh viện Nhi thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 89% [22] Một nghiên cứu
về thực trạng thanh toán thuốc BHYT toàn quốc năm 2010 cho thấy chiếm 1/3 trong
số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán nhiều nhất là kháng sinh [26] Việc nhóm kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lượng cũng như tiền thuốc sử dụng tại các bệnh viện là một thực trạng đáng lo ngại vì hiện nay đã xuất hiện nhiều trường hợp bệnh nhân bị nhiềm khuẩn đã kháng cả colistin (loại kháng sinh gần như là mạnh nhất hiện nay và chỉ được sử dụng khi các kháng sinh khác điều trị thất bại)
Vitamin cũng là một loại hoạt chất thường được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng vì thói quen sử dụng quá liều được khuyến cáo Nhóm thuốc này cũng chiếm tỷ
lệ kinh phí không nhỏ tại nhiều bệnh viện Bên cạnh vitamin, một số loại thuốc có tác dụng hỗ trợ nhưng hiệu quả điều trị còn chưa rõ ràng cũng đang được sử dụng khá phổ biến tại các bệnh viện
Cơ cấu danh mục thuốc bệnh viện theo phương pháp ABC/VEN: Trong danh
mục thuốc sử dụng tại bệnh viện, các thuốc nhóm A chiếm tỷ lệ khá cao về số khoản
Trang 25mục, là nhóm thuốc chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số khoản mục nhưng lại có giá trị sử dụng lớn trong danh mục thuốc bệnh viện Trong nhóm A, tại nhiều bệnh viện, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm phần lớn giá trị sử dụng Tại Bệnh viện Quân Y 7B tỉnh Đồng Nai, thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm 1/3 số thuốc nhóm A, tương ứng chiếm 44,5% tổng chi phí về thuốc nhóm A Nhóm NSAIDs và các thuốc điều trị bệnh xương khớp cũng là một nhóm thuốc có chi phí cao thuộc nhóm A tại bệnh viện này [20] Tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn cũng là nhóm thuốc chiếm phần lớn giá trị sử dụng trong nhóm A (với 32%), nhóm thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, y học cổ truyền chiếm 26% [13]
Khi phân tích ma trận ABC/VEN, A-N là phân nhóm cần được xem xét khi sử dụng nhất vì các thuốc thuộc phân nhóm này không những không thật sự thiết yếu mà lại còn có chi phí cao, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn chi tiêu tiền thuốc bệnh viện Trong năm 2015, tại Bệnh viện Quân y 7B tỉnh Đồng Nai, 3 thuốc được xếp vào phân nhóm A-N đều là các vitamin và khoáng chất với tổng kinh phí lên đến 830 triệu đồng [20] Tại Trung tâm Y tế thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước, có 4 thuốc A-N với tổng kinh phí là 358 triệu đồng trong năm 2015, chủ yếu là vitamin và thuốc có nguồn gốc
từ dược liệu [28]
Về thuốc YHCT: Thuốc YHCT luôn chiếm một phần kinh phí không nhỏ trong
tổng chi tiêu tiền thuốc của bệnh viện Đặc biệt là ở các bệnh viện YHCT, thuốc YHCT sẽ chiếm tỷ lệ rất cao cả về số khoản mục lẫn giá trị sử dụng Ví dụ như trong năm 2017, tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Tây Ninh, gần 70% số khoản mục thuốc là thuốc YHCT, tương ứng chiếm hơn 95 tổng giá trị sử dụng [16].Tại Hưng Yên năm
2013, theo nghiên cứu thực trạng YHCT và hiệu quả can thiệp tăng cường hoạt động KCB tại BV YHCT tỉnh của tác giả Phạm Việt Hoàng, tỷ lệ dùng thuốc YHCT tới 99,8% [19]
Một vấn đề quan trọng trong việc sử dụng thuốc YHCT tại các bệnh viện đó là nhiều thuốc YHCT được xếp vào nhóm N (các thuốc không thiết yếu) nhưng lại được
sử dụng với kinh phí lớn Điều này dẫn đến việc khi phân tích ABC/VEN, nhiều thuốc trong phân nhóm A-N là thuốc YHCT Nhưng tùy thuộc vào mô hình bệnh tật và đặc
Trang 26thù của bệnh viện mà phân chia các thuốc nhóm N khác nhau Bệnh viện YHCT thì các thuốc N nên xem xét kĩ lưỡng theo danh mục thuốc thiết yếu YHCT Ví dụ như trong năm 2016, Bệnh viện đa khoa huyện Nghi Lộc có tới 16 thuốc thuộc nhóm A-N, tương ứng với 18,1% tổng giá trị sử dụng, chủ yếu là thuốc có nguồn gốc từ dược liệu, thuốc y học cổ truyền [23] Trong năm 2017, Bệnh viện 108 cũng có 3 thuốc thuộc nhóm A-N là thuốc YHCT [33]
Về thuốc dùng thủy châm tại các bệnh viện YHCT: Thủy châm là phương pháp
chữa bệnh kết hợp nguyên lý châm kim theo học thuyết kinh lạc trong YHCT với tác dụng chữa bệnh của thuốc tiêm theo Y học hiện đại, kết hợp với học thuyết PavLov về hoạt động thần kinh Theo đó, thủy châm tác động đến 12 kinh lạc nối với 12 tạng phủ bên trong và các khớp chân tay bên ngoài, tác động đến các điểm huyệt kích thích vỏ não phản xạ đến hệ thần kinh và nội tạng Thủy châm phù hợp điều trị nhiều bệnh nan
y, mãn tính mà các phương pháp không điều trị nổi Thủy châm được chỉ định trong điều trị: thiểu năng tuần hoàn não, đau nửa đẩu mãn tính, mất ngủ; viêm thần kinh hông to; các cơn đau cấp; đau dây thần kinh ngoại biên… Tại bệnh viện Y học cổ truyền trung ương năm 2016 sử dụng 300 triệu, năm 2017 sử dụng đến 500 triệu tiền thuốc tiêm thần kinh để thủy châm, năm 2018 tăng đến hơn 600 triệu thuốc thủy châm
và dự báo có sự gia tăng cao trong những năm tiếp theo Đặc biệt trong giai đoạn tự chủ hiện nay, các bệnh viện nên phát huy các thế mạnh, tại các bệnh viện YHCT ngoài sản xuất các thuốc cổ truyền theo tiêu chuẩn cơ sở thì thủy châm, châm cứu là thủ thuật đặc thù, một trong những cơ hội sẵn có của YHCT
Một số vấn đề của danh mục thuốc đã sử dụng: Vấn đề đầu tiên đó là các thuốc
n m trong danh mục thuốc đã trúng thầu nhưng lại không được bệnh viện sử dụng và một số thuốc được sử dụng lại không n m trong danh mục thuốc trúng thầu Bên cạnh
đó, các thuốc đã trúng thầu không được sử dụng với số lượng cũng như giá trị cũng là một vấn đề cần xem xét Trong năm 2016, Bệnh viện đa khoa huyện Nghi Lộc có đến 25% số khoản mục thuốc đã trúng thầu nhưng không được sử dụng, tương ứng với 35,7% giá trị thuốc trúng thầu 15 khoản mục thuốc được bệnh viện sử dụng n m ngoài danh mục thuốc trúng thầu Có đến hơn 58 số khoản mục thuốc mà số lượng
sử dụng thực tế thấp hơn 80 số lượng đã trúng thầu, trong đó 109 khoản mục thuốc
Trang 27trúng thầu mà không sử dụng [23] Trong khi đó, ở Bệnh viện sản nhi Bắc Ninh năm
2017, hơn 34 số khoản mục thuốc trúng thầu được sử dụng dưới 80% số lượng trúng thầu [29] Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và được nhà nước hỗ trợ nhưng thuốc sản xuất trong nước vẫn chiếm tỷ trọng thấp so với thuốc nhập khẩu, thuốc nhập khẩu chiếm hơn 60 so với tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam [27] Theo Ngô Thanh Tịnh nghiên cứu tại Bệnh Viện Tai Mũi Họng Trung ương cho thấy bệnh viện đã sử tiền thuốc nhập khẩu chiếm 95% về giá trị và số khoản mục thuốc nhập khẩu được sử dụng gấp 3 lần thuốc sản xuất trong nước [30] Tại Việt Nam, thuốc Generic được ưu tiên toàn diện từ đăng ký, lưu hành, sản xuất, xuất – nhập khẩu, cung ứng và sử dụng Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2015 BDG chỉ chiếm 1/3 số khoản mục nhưng chiếm hơn một nửa về giá trị [30] Năm 2016 tại Bệnh viện Bạch Mai, tỉ lệ sử dụng BDG cũng chỉ chiếm 1/3 số khoản mục nhưng lại chiếm với 61,0% về giá trị [24]
1.3.3 Tiêu chí đánh giá nguồn gốc, chất lƣợng của thuốc YHCT tại Việt Nam
Hiện nay vấn đề kiểm soát nguồn gốc , chất lượng của thuốc YHCT tại Việt Nam còn nhiều kẽ hở Nhiều thuốc đi theo con đường không chính thống vào Việt Nam, ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng khám chữa bệnh Theo những số liệu thống kê gần đây, hàng năm cả nước sử dụng khoảng 59.000 tấn dược liệu trong đó để sử dụng cho
hệ thống KCB b ng YHCT khoảng 18.500 tấn Trong khi tổng sản lượng dược liệu trồng trong nước hàng năm vào khoảng 3000 - 5000 tấn [4] Với số lượng sử dụng nhiều như thế nếu không có văn bản quy định rõ ràng trong vấn đề nhập thuốc YHCT tại Việt Nam sẽ dẫn đến sự suy thoái về vấn đề chữa bệnh tại các bệnh viện YHCT Trước tình hình đó Bộ Y Tế đã đưa ra quy định về các tài liệu liên quan đến vấn
Trang 28- Tài liệu chứng minh nguồn gốc đối với dược liệu được cơ sở trong nước nuôi trồng, thu hái dược liệu hoặc khai thác dược liệu tự nhiên đạt Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu, khai thác thác dược liệu tự nhiên (GACP), bao gồm: Tài liệu chứng minh cơ sở đạt Thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu, khai thác dược liệu
tự nhiên (GACP) [10]
Về chất lượng dược liệu hiện nay được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn dược điển Việt Nam V, với tiêu chí chủ yếu: đúng chủng loại, độ ẩm, định tính, định lượng hoạt chất… Chất lượng dược liệu giảm sút thể hiện
+ Dược liệu bị nhầm lẫn, làm giả, không đúng tên trong dược điển
+ Dược liệu không đảm bảo tính sạch và tinh khiết
Tại Bệnh viện YHCT trung Ương, hàng năm bệnh viện tổ chức đấu thầu rộng rãi gói thuốc YHCT, số khoản mục và khối lượng mỗi vị thuốc được xây dựng dựa trên
mô hình bệnh tật cũng như số lượng dự trù từ các khoa lâm sàng Khâu thẩm định cũng như kiểm tra chất lượng mẫu của các nhà thầu tham dự được chấm rất khắt khe Trước khi thuốc được nhập tạm vào kho, sẽ có tổ kiểm nhập gồm các chuyên gia, dược
sĩ cung ứng, thủ kho của bệnh viện kiểm tra giấy tờ CO/CQ/GACP, phiếu kiểm nghiệm lô thuốc mà nhà cung cấp giao hàng Sau đó, đội ngũ kiểm nghiệm của bệnh viện lấy mẫu để kiểm tra chất lượng vị thuốc định tính, định lượng, kiểm tra độ ẩm, tạp chất Sau khi có phiếu đạt của lô thuốc nhập mà bệnh viện kiểm tra, thủ kho sẽ xuất số
lô thuốc đó cho các bộ phận liên quan để chế biến vị thuốc Vị thuốc được đóng gói và hút chân không để đảm bảo quá trình bảo quản không bị hư hao nhiều Dựa vào nhu cầu sử dụng vị thuốc của tổ sản xuất các thuốc cổ truyền và quầy thuốc để bốc thuốc thang cho bệnh nhân mà hàng năm bệnh viện sẽ thống kê được số lượng thuốc để bốc thang là bao nhiêu %, số lượng thuốc dùng để sản xuất chiếm bao nhiêu % Mỗi hoạt động sử dụng vị thuốc đều có ưu điểm riêng, nhưng để đáp ứng kịp thời nhu cầu của bệnh nhân, của khách hàng bệnh viện đang dần đầu tư nhiều máy móc hiện đại để ra sản lượng thuốc cổ truyền lớn hơn nữa nhất là trong giai đoạn tự chủ này Ngoài máy móc phục vụ cho sản xuất thì đầu tư trang thiết bị cho hoạt động kiểm nghiệm cũng được ban Giám Đốc rất coi trọng, vì nó liên quan đến hình ảnh của bệnh viện trong
Trang 29mắt bệnh nhân nếu vị thuốc nhập vào bệnh viện có chất lượng cao Hàng năm sẽ thống
kê được sẽ có bao nhiêu mẫu vị thuốc không đạt, từ đó bệnh viện sẽ đặc biệt lưu tâm trong quá xây dựng danh mục vị thuốc trong thầu tới nhất là ddiemr kĩ thuật Những nhà cung cấp nào không đủ điều kiện sẽ loại ra để tìm nhà cung cấp khác có năng lực tốt hơn Với tiêu chí “Chất lượng thuốc là thước đo cho sự phát triển của bệnh viện’’
1.4 ĐÔI NÉT VỀ BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TRUNG ƢƠNG
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương nguyên là Viện nghiên cứu Đông y được thành lập ngày 7 tháng 6 năm 1957 theo quyết định số 238/Ttg của Thủ tướng Chính phủ Ngày 18 tháng 6 năm 2003 đổi tên thành Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương Cơ sở đặt tại số nhà 26, 27, 28, 29 phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Nguyễn
Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương là bệnh viện đầu ngành về Y học cổ truyền - Trung tâm hợp tác về y học cổ truyền (YHCT) của Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam Bệnh viện có 34 khoa phòng và trung tâm được chia thành 4 khối: lâm sàng, cận lâm sàng, các trung tâm và khối các phòng ban chức năng Bệnh viện có 500 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong
đó có 05 Phó Giáo sư, 16 Tiến sĩ, 51 Thạc sĩ, 17 Bác sĩ chuyên khoa cấp II, 10 Bác sĩ chuyên khoa cấp I, 38 Bác sĩ, 03 Dược sĩ Chuyên khoa I, 11 Dược sĩ đại học, 35 Dược
sĩ trung cấp, 37 cử nhân điều dưỡng, 07 điều dưỡng cao đẳng, 114 điều dưỡng trung học, 03 KTV CĐ, 17 ĐH, 11 KTVTH 1/2 cán bộ đại học và trên đại học Với đội ngũ các giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa II, chuyên khoa I và các bác sĩ giàu kinh nghiệm, bệnh viện là cơ sở điều trị, nghiên cứu, và giảng dạy về YHCT lớn nhất trong cả nước
Bệnh viện có 630 giường bệnh, có các khoa lâm sàng Nội, Ngoại, Phụ, Nội Nhi, Châm cứu dưỡng sinh, Lão, Hồi sức cấp cứu, Da liễu, Kiểm soát và Điều trị Ung bướu, Khám chữa bệnh tự nguyện chất lượng cao, Khoa khám bệnh, Khoa thận tiết niệu và nam học, Khoa đa khoa ngũ quan, Khoa cơ xương khớp; với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại để phục vụ cho chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu khoa học
Kể từ khi thành lập, với chức năng và nhiệm vụ chính là kế thừa, phát huy và phát triển YHCT, kết hợp YHCT với y học hiện đại trong điều trị và dự phòng, bệnh
Trang 30viện đã đạt được rất nhiều thành tựu trong phát triển YHCT Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và cơ sở nh m đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc YHCT, nghiên cứu xây dựng quy trình bào chế và tiêu chuẩn hóa thuốc YHCT, nghiên cứu ứng dụng các phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc YHCT trong điều trị và dự phòng các bệnh thường gặp, các bệnh mạn tính, khó chữa
đã được thực hiện và được đánh giá cao tại nhiều hội nghị YHCT trong nước và quốc
tế
Với vai trò là trung tâm trao đổi thông tin trong và ngoài nước, hàng năm bệnh viện YHCT Trung ương xuất bản và phát hành tạp chí nghiên cứu Y dược học cổ truyền Các chuyên gia và các bác sĩ của bệnh viện thường xuyên được cử đi nước ngoài để tham dự các hội nghị, hội thảo, giảng dạy, và nghiên cứu chuyên sâu Bệnh viện cũng thường xuyên có nhiều chuyên gia, học sinh nước ngoài đến trao đổi kinh nghiệm, học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về YHCT Việt Nam
Trong tiến trình phát triển, hội nhập YHCT với các nước trong khu vực và thế giới, bệnh viện đang từng bước hiện đại hóa trên cơ sở giữ vững bản sắc của YHCT, kết hợp tinh hoa của hai nền YHCT và y học hiện đại góp phần phục vụ cho sức khỏe cộng đồng ngày một tốt hơn
1.5 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Là cơ sở điều trị, nghiên cứu và giảng dạy về YHCT lớn nhất cả nước, Bệnh viện YHCT Trung ương đã có nhiều đóng góp to lớn cho ngành y dược Việt Nam Trong những năm qua, chi phí tiền thuốc của Bệnh viện YHCT Trung ương tăng nhanh do lượng bệnh nhân đến với bệnh viện ngày một nhiều Với mô hình bệnh tật đa dạng và đặc thù sản xuất các thuốc cổ truyền theo tiêu chuẩn cơ sở khiến công tác cung ứng thuốc gặp không ít những áp lực nhất là trong giai đoạn tự chủ của bệnh viện làm thế nào vừa cung ứng kịp thời , đầy đủ, phù hợp cả thuốc tân dược cũng như thuốc YHCT Để tháo gỡ được vấn đề đó thì bệnh viện cần có Danh mục thuốc hợp lí, an toàn và hiệu quả, đây chính là tiền đề cơ bản và quan trọng nhất Thực tế việc xây dụng DMT còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào DMT sử dụng năm trước đó do thiếu thông tin phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc để làm căn cứ Nghiên cứu về danh mục thuốc của bệnh viện gần đây nhất được tiến hành vào năm 2015 tuy nhiên chỉ tập
Trang 31trung vào mô tả cơ cấu danh mục thuốc và vận dụng các phương pháp phân tích dữ liệu thuốc sử dụng chứ chưa đi sâu vào xem xét các vấn đề còn tồn đọng trong danh
mục thuốc sử dụng Do đó, đề tài “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện
Y học cổ truyền Trung ƣơng năm 2018” được tiến hành với mục đích chỉ ra một số
vấn đề bất cập trong danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng DMT những năm tiếp theo
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện
- Danh mục thuốc bệnh viện đã sử dụng
Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương
- Thời gian nghiên cứu: từ 01/01/2018 đến 31/12/2018
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
TT Tên biến Khái niệm/định nghĩa
Cách thu thập
1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2018
Dạng số
Dữ liệu sẵn có: Báo cáo Tài chính
Phân loại: các nhóm thuốc trong TT 05/2015
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
Phân loại: các nhóm thuốc theo TT 40
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
4
Chất lượng vị
thuốc Được đánh giá theo tiêu
chuẩn dược điển V
ĐYTN của bệnh viện
Trang 33Phân loại:
- Kê đơn thuốc thang
- Sản xuất thuốc cổ truyền
- …
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
Phân loại:
- Đơn thành phần
- Đa thành phần
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
- Thuốc nhập khẩu
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
8
Thuốc cổ
truyền
-Thuốc cổ truyền do Bệnh viện tự sản xuất
-Thuốc cổ truyền do các công ty dược phẩm trong nước và
các công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
DMT sử dụng năm 2018
- Thuốc tiêm, tiêm truyền
- Đường khác
Dữ liệu sẵn có: DMT sử dụng năm 2018
2 Xác đinh một số bất cập của danh mục thuốc đã sử dụng trong năm 2018 tại Bệnh
viện Y học cổ truyền Trung ƣơng
05/2015 TT-BYT
DMT sử dụng năm 2018
Trang 3413 Thuốc sử
dụng
Thuốc sử dụng so với trúng thầu tương ứng với tỷ lệ:
14 BDG còn/hết
hạn bảo hộ
-Thuốc BDG không có trong “Danh mục thuốc Biệt dược gốc đã hết hạn bảo hộ, có nhiều thuốc nhóm 1 được cấp giấy đăng
ký lưu hành đáp ứng yêu cầu điều trị”
-Thuốc BDG có trong
“Danh mục thuốc Biệt dược gốc đã hết hạn bảo
hộ, có nhiều thuốc nhóm 1 được cấp giấy đăng ký lưu hành đáp ứng điều trị”
Biến phân loại:
-BDG hết hạn bảo
hộ -BDG chưa hết hạn bảo hộ
Phân loại:
- Thuốc BDG hết hạn bảo hộ không có thuốc thay thế
-Thuốc BDG hết hạn bảo hộ có thuốc thay thế
DMT sử dụng
và DMT trúng thầu
16 Thuốc dùng
để thủy châm
Thuốc tiêm vào huyệt
nh m làm tăng thêm diện tích kích thích, cường độ kích thích và thời gian kích thích trong khi chữa bệnh
Ví dụ: Thuốc thủy châm milgama,ecomin,vitamin
Phân loại
Báo cáo sử dụng thuốc tại Khoa Dược của Bệnh viện
Trang 352.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang thông qua việc hồi cứu số liệu sẵn có của Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương trong năm 2018
Nội dung nghiên cứu được tóm tắt ở Hình 2.2
Hình 2.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Phân tích danh mục thuốc sử dụng của
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung
ương năm 2018
Xác định một số vấn đề bất cập của danh mục thuốc đã sử dụng trong năm 2018 tại Bệnh viện
- Kinh phí mua thuốc trong năm 2018
- Cơ cấu về số lượng và giá trị của DMT sử dụng
tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018
- Cơ cấu về danh mục thuốc hóa dược, thuốc cổ
truyền sử dụng theo các nhóm tác dụng dược lý
- Cơ cấu thuốc đơn thành phần và đa thành phần
- Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc
- Vấn đề sử dụng thuốc nhập khẩu có hoạt chất trong thông tư 03
- Vấn đề trong sử dụng thuốc BDG, BDG hết hạn bảo hộ
- Vấn đề sử dụng thuốc cổ truyền tại bệnh viện
- Vấn đề sử dụng thuốc để thủy châm
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ƣơng năm 2018
Trang 362.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua các tài liệu sẵn có trong năm 2018
- Tại khoa Dược: danh mục thuốc đã trúng thầu, danh mục thuốc sử dụng,danh mục thuốc mua theo hình thức khác, biên bản họp hội đồng thuốc và điều trị, các công văn không cung ứng được hàng, công văn thu hồi thuốc không đạt chất lượng năm
2018 của Cục quản lý Dược
- Tại các khoa phòng khác: Các nghiên cứu về mô hình bệnh tật lưu tại Phòng
kế hoạch tổng hợp, các báo cáo sử dụng thuốc, kinh phí mua thuốc, lưu tại Phòng tài chính kế toán
2.2.4 Xử lý và phân tích số liệu
a Xử lý số liệu:
Số liệu sau khi được thu thập tại Khoa Dược dưới sự hỗ trợ của phòng công nghệ thông tin của bệnh viện sẽ được xử lý như sau:
- Xử lý trước khi nhập liệu: làm sạch số liệu, loại bỏ những số liệu ngoại lai
- Nhập liệu vào phần mềm excel (Phần mềm excel là công cụ hỗ trợ xử lý số
liệu)
- Xử lý sau khi nhập liệu
Ba bước trên mục đích xử lý thô số liệu
- Kiểm tra giá trị ngoại lệ nếu có
b Phân tích số liệu:
- Phương pháp tỷ trọng:
Là phương pháp tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu của một hoặc một nhóm đối tượng với số liệu nghiên cứu trong tổng số, được sử dụng để mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2018 tại Bệnh viện theo các nội dung sau:
+ Kinh phí mua thuốc
+ Cơ cấu thuốc theo đường dùng
+ Cơ cấu về số lượng và giá trị của DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT TW năm 2018
+ Cơ cấu thuốc biệt dược gốc – thuốc generic
Trang 37+ Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
+ Cơ cấu thuốc biệt dược đơn thành phần - đa thành phần
+ Cơ cấu thuốc theo các nhóm tác dụng dược lý…
Tính tỷ lệ phần trăm theo số khoản mục thuốc và giá trị sử dụng
- Phương pháp phân tích ABC:
+ Bước 1: Liệt kê các sản phẩm (N sản phẩm)
+ Bước 2: Điền thông tin cho mỗi sản phẩm gồm đơn giá (gi) và số lượng sản phẩm (ni) (I = 1, 2, 3… N)
+ Bước 3: Tính giá trị thành tiền cho mỗi sản phẩm b ng cách nhân đơn giá với
số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ b ng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm
+ Bước 4: Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm b ng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền
+ Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần + Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (ki), bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
+ Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
- Nhóm A: bao gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80 % tổng giá trị tiền (khoảng 10- 20 tổng sản phẩm)
- Nhóm B: bao gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền (khoảng 10- 20 tổng sản phẩm)
- Nhóm C: bao gồm những sản phẩm còn lại chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền (khoảng 60 - 80 tổng sản phẩm)
- Phương pháp phân tích nhóm điều trị:
Các bước tiến hành:
+ Tiến hành 3 bước đầu tiên của phân tích ABC để thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị tiêu thụ
+ Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo thông tư số 40/2014/TT-BYT của
Bộ Y tế về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc
Trang 38phạm vi thanh toán của quỹ Bảo hiểm Y tế và thông tư số 36/2015/TT-BYT sửa đổi,
bổ sung một số điều của thông tư số 40/2014/TT-BYT
+ Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất
- Phương pháp phân tích VEN:
Tùy thuộc vào mô hình bệnh tật và đặc thù của từng bệnh viện mà các thuốc trong danh mục thuốc được phân chia vào các nhóm V,E,N khác nhau Hiện nay, đa số các bệnh viện Tây y không khuyến khích sử dụng thuốc cổ truyền vì theo lập luận của Tây y những thuốc đó chỉ bổ trợ và có cũng được không có cũng không sao nên thường xếp vào nhóm N (thuốc điều trị bệnh nhẹ) Ngược lại các bệnh viện YHCT lại
có đặc thù về sản xuất thuốc cổ truyền, và các chế phẩm này đều được phát triển sản xuất từ các bài thuốc cổ truyền của các chuyên gia để lại nên tác dụng điều trị của nhóm thuốc này rất tốt, sử dụng thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền là đầu tay trong đơn thuốc bác sĩ kê cho bệnh nhân Vì vậy thuốc cổ truyền trong bệnh viện YHCT không thể xếp hết vào nhóm N, các thuốc dạng tiêm, thuốc cấp cứu cần gấp như thuốc chống sốc phân loại V, hay cùng 1 hoạt chất thuốc tiêm phân loại vào V, thuốc tiêm phân loại E Thuốc E là các loại thuốc viên: kháng sinh, tim mạch Các thuốc nhóm N: Các loại vitamin… có cũng được không có cũng được
Sau khi xác định được đặc thù cũng như mô hình bệnh tật của bệnh viện và dựa vào danh mục thuốc thiết yếu Bộ Y tế ban hành, từ danh mục thuốc bệnh viện:
+ Phân loại danh mục thuốc bệnh viện vào nhóm V, E, N tại khoa Dược sau đó trình lên hội đồng thuốc và điều trị phê duyệt (đặc điểm về từng nhóm V,E,N đã được trình bày phần phương pháp phân tích VEN)
+ Tính tỷ lệ % số lượng của các nhóm (VEN)
+ Tính tỷ lệ % giá trị của các nhóm (VEN)
Trang 39tương tự với nhóm B và C thu được ma trận ABC-VEN Kết hợp phân tích các phân nhóm AV, AE, AN và nhóm điều trị để phân tích danh mục thuốc, đặc biệt là phân nhóm A-N
c Các bước xử lý và phân tích số liệu
Mục tiêu 1: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền trung ương năm 2018
Bước 1: Sau khi chiết xuất số liệu từ khoa dược, điền thông tin vào biểu mẫu (phụ lục 1)
Bước 2: Phân tích số liệu theo các chỉ tiêu của mục tiêu đề ra
- Kinh phí mua thuốc trong năm 2018: Dựa vào báo cáo tài chính của Bệnh
viện: Kinh phí mua thuốc và kinh phí khác
- Cơ cấu về số lượng và giá trị của DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT trung ương năm 2018: Dựa vào DMT sử dụng của từng gói thầu (tân dược, thuốc
đông y, vị thuốc YHCT)
+ Giá trị của vị thuốc YHCT: xác định từ chỉ tiêu trên “cơ cấu về số lượng và
giá trị của DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT trung ương
+ Cơ cấu vị thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý: dựa vào tên vị thuốc
sau đó tra theo thông tư 05 của bộ y tế, xác định vị thuốc theo nhóm dược lý nào
+ Quy trình kiểm tra chất lượng của vị thuốc trước khi sử dụng bốc thuốc
cũng như sản xuất: Dựa vào phiếu kiểm nghiệm thu thập tại khoa đông y thực
nghiệm của bệnh viện, xác định bao nhiêu phiếu đạt, phiếu không đạt
+ Hoạt động sử dụng vị thuốc YHCT tại bệnh viện: Thu thập khối lượng vị
thuốc dùng để sản xuất cũng như dùng để bốc thuốc thang tại kho chín của Khoa Dược
- Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược, thuốc cổ truyền
+ Theo các nhóm tác dụng dược lý: dựa vào hoạt chất của từng thuốc sau đó
dựa vào thông tư 40 (tân dược) và thông tư 05 (thuốc cổ truyền) của bộ y tế rà
soát phân chia theo các nhóm TDDL khác nhau
Trang 40+ Theo thành phần: dựa cột hoạt chất của từng thuốc (phụ lục 1), chia 2 nhóm:
thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần
+ Theo nguồn gốc xuất xứ: dựa vào nước sản xuất của từng thuốc (phụ lục 1),
chia 2 nhóm: nhóm thuốc SXTN và nhóm thuốc NK
+ Cơ cấu danh mục thuốc thuốc cổ truyền sử dụng tại bệnh viện: gồm thuốc
sản xuất theo tiêu chuẩn cơ sở của bệnh viện và thuốc mua theo hình thức đấu thầu từ các công ty
+ Cơ cấu danh mục thuốc theo thuốc biệt dược gốc, thuốc generic: dựa vào
tên thuốc của từng thuốc (phụ lục 1), chia 2 nhóm: thuốc BDG và thuốc Generic
+ Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng: dựa vào đường dùng
của từng thuốc (phụ lục 1), chia thành: Đường tiêm, tiêm truyền; đường uống; đường dùng khác
trung ương năm 2018
Tỷ lệ % chất lượng của vị thuốc
Tỷ lệ % SKM: Tỷ
lệ
% thuốc từng nhóm
= Số thuốc mỗi nhóm/ Tổng số thuốc đã sử dụng* 100%
Kinh phí sử dụng:
Tỷ lệ giá trị sử dụng mỗi nhóm = (Tổng giá trị sử dụng của nhóm/ Tổng giá trị sử dụng của toàn viện)*100%
Tỷ lệ % vị thuốc sử dụng để bốc thuốc và sản xuất
Tỷ lệ % tiền thuốc sử dụng trong năm
Tỷ lệ % SKM và kinh phí thuốc
sử dụng theo tác dụng dược lý
Tỷ lệ % SKM và kinh phí sử dụng theo thuốc tân dượccổ truyền, vị thuốc cổ truyền
Tỷ lệ % SKM và kinh phí sử dụng theo thành phần thuốc
Tỷ lệ % SKM và kinh phí sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất
xứ
Tỷ lệ % SKM và kinh phí sử dụng thuốc cổ truyền do bệnh viện pha chế (sản xuất theo tiêu chuẩn cơ sở) và mua từ các công
ty ngoài