1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Công nghệ môi trường nước và nước thải: Xây dựng các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để đảm bảo hoạt động bền vững của nhà máy xử lý nước

27 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 921,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án với mục tiêu xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự hoạt động bền vững của nhà máy xử lý nước thải đô thị. Áp dụng các tiêu chí để đánh giá và chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để đảm bảo sự bền vững trong hoạt động đối với nhà máy xử lý nước thải thành phố Bắc Ninh.

Trang 1

Đỗ Thị Minh Hạnh

XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ CHỈ TIÊU KINH

TẾ KỸ THUẬT ĐỂ ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG BỀN VỮNG CỦA NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ

Chuyên ngành: Công nghệ môi trường nước và nước thải

Mã số: 9520320-2

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ

Hà Nội - Năm 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS.Trần Đức Hạ

Người hướng dẫn khoa học 2: TS.Phạm Tuấn Hùng

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến

Vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu thêm luận án tại thư viện Trường Đại học Xây Dựng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á [25] Tốc

độ đô thị hóa tại Việt Nam đang diễn ra một cách nhanh chóng, với dự báo mỗi năm thêm một triệu cư dân đô thị mới Tính đến hết ngày 4/12/2018, cả nước có 819 đô thị, bao gồm: 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố (ThP) Hồ Chí Minh, 19 đô thị loại I, 26 đô thị loại II,

46 đô thị loại III, 83 đô thị loại IV, 645 đô thị loại V Ước tính đến năm

2020, dân số đô thị khoảng 44 triệu người, chiếm 45% dân số đô thị cả nước, năm 2025, tổng số đô thị cả nước khoảng 1000 đô thị, trong đó,

đô thị từ loại I đến đặc biệt là 17 đô thị, đô thị loại II là 20 đô thị; đô thị loại III là 81 đô thị; đô thị loại IV là 122 đô thị còn lại là các đô thị loại V[30]

Trong khi đó hệ thống thoát nước (HTTN) và vệ sinh đô thị ở nước ta với cơ sở vật chất kỹ thuật không đảm bảo về số lượng và chất lượng nên phạm vi phục vụ rất hạn chế Hệ thống cống thoát nước mới chỉ đáp ứng 50-60% dân số đô thị ở các thành phố lớn và 30-40% ở các thành phố vừa và nhỏ Số lượng các nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT) đã xây dựng rất ít và hoạt động không hiệu quả nên lượng nước thải đô thị

xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường không đáng kể Theo Hội Cấp thoát nước Việt Nam (2019), 37/63 địa phương có NMXLNT và 5 địa phương đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT) sinh hoạt tập trung [16] Tuy nhiên, phần lớn, các NMXLNT đang hoạt động dưới 50% công suất thiết kế và xây dựng Thậm chí có NMXLNT đã xây xong nhưng đến nay vẫn không có nước thải để xử lý Một trong những nguyên nhân của sự bất cập này là các dự án thoát nước và xử lý nước thải (XLNT) tập trung có chung các khó khăn trong lựa chọn công nghệ

và đấu nối nước thải [11]

Hiện nay, ở các đô thị Việt Nam, doanh thu từ các hoạt động nước thải được tạo ra bằng cách áp dụng một khoản phần trăm thu phí đối trên tất

cả khách hàng tiêu thụ nước dựa vào Nghị Định 154/2016/NĐ-CP hoặc giá dịch vụ thoát nước theo Nghị Định 80/2014/NĐ-CP Theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% giá nước sạch là không đáp ứng được nhu cầu quản lý và vận hành HTTN Cũng đã có một số đô thị hiện đã áp dụng giá dịch vụ thoát nước theo Nghị Định 80/2014/NĐ-CP

để huy động sự đóng góp của người sử dụng dịch vụ, giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước Mức giá dịch vụ thoát nước các đô thị đang áp dụng cho hộ gia đình cao hơn mức phí môi trường và dao động từ

Trang 4

khoảng 1.000 đồng – 2.600 đồng [34] Giá dịch vụ thoát nước dù có cao nhưng hiện vẫn thấp hơn mức giá thành XLNT khá nhiều

Chi phí thực tế của hoạt động cần được trợ cấp từ ngân sách địa phương

do phí thu gom nước thải không thể đáp ứng chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M) Thực tế hiện nay kinh phí cho công tác quản lý vận hành HTTN chủ yếu phụ thuộc vào kinh phí hàng năm do UBND tỉnh/ thành phố cấp qua sở Tài chính và phân bổ về sở Xây dựng Doanh thu của công ty cấp nước nằm trong hóa đơn của khách hàng tiêu thụ nước, với doanh thu thường được tổ chức bởi cấp ThP hoặc cấp tỉnh để phân phối lại tới các doanh nghiệp nước thải dựa vào ngân sách phê duyệt hàng năm

Ở các đô thị Việt Nam chỉ mới có 46 nhà máy XLNT (tính đến cuối năm 2019) nhưng nhiều nhà máy hoạt động không ổn định và không hiệu quả (mặc dù phần lớn mới được xây dựng gần 10 năm trở lại đây) do nhiều nguyên nhân khác nhau Các nghiên cứu và đánh giá về tình trạng này còn rất hạn chế và chưa đầy đủ Vì vậy cần thiết phải phải xây dựng các tiêu chí đánh giá sự hoạt động bền vững của các nhà máy đó Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá và để giúp cho việc đưa ra giải pháp đảm bảo cho các nhà máy XLNT hoạt động bền vững thì cần thiết phải xây dựng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (KT-KT)

NMXLNT ThP Bắc Ninh được xây dựng theo nguồn vốn vay KFW (CHLB Đức) và đưa vào vận hành vào năm 2013 Sau 5 năm hoạt động, nhà máy đã góp phần lớn trong việc XLNT và cải thiện môi trường nước ThP Bắc Ninh Để đảm bảo độ tin cậy và khả năng ứng dụng, các

số liệu thu thập về quản lý và vận hành NMXLNT ThP Bắc Ninh được đánh giá theo các tiêu chí và chỉ tiêu KT-KT đề xuất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-   Đối tượng nghiên cứu: Quản lý, vận hành và bảo dưỡng

NMXLNT đô thị

-   Phạm vi nghiên cứu: Các NMXLNT đô thị ở Việt Nam

4 Cơ sở khoa học của luận án:

Trang 5

Thông qua nghiên cứu lý thuyết về tính bền vững của NMXLNT; thu thập, phân tích số liệu, tham vấn chuyên gia về hoạt động của NMXLNT đô thị từ đó đề xuất các tiêu chí đánh giá sự hoạt động bền vững của NMXLNT đô thị Trên cơ sở các tiêu chí và tầm quan trọng của từng tiêu chí đó, xây dựng các chỉ tiêu KT-KT để đảm bảo cho sự hoạt động bền vững của các NMXLNT đô thị Chỉ tiêu KT-KT giúp cho các nhà vận hành xây dựng các giải pháp để đảm bảo cho NMXLNT hoạt động bền vững là ý nghĩa thực tiễn của luận án

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu đề ra, luận án đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

-   Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khi lập dự án đầu tư và tình hình quản lý vận hành các NMXLNT

đô thị hiện nay tại Việt Nam;

-   Phân tích và đánh giá các tiêu chí kinh tế kỹ thuật của NMXLNT đô thị;

-   Xây dựng bộ câu hỏi và tham vấn ý kiến các chuyên gia, các cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên môn XLNT đô thị;

-   Áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy Process-AHP) kết hợp với tham vấn chuyên gia để phân tích các tiêu chí đánh giá và xây dựng các chỉ tiêu KT-KT đảm bảo sự hoạt động bền vững của NMXLNT đô thị

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, nội dung và phương pháp mà nghiên cứu sinh thực hiện được tóm tắt trên Hình 0.1

Trang 6

-   Ứng dụng phương pháp AHP kết hợp với tham vấn chuyên gia

để đề xuất và xác định trọng số của các tiêu chí đánh giá tính bền vững trong hoạt động của các nhà máy XLNT

-   Trên cơ sở các chỉ tiêu KT – KT được xây dựng đề xuất các giải pháp đảm bảo sự hoạt động bền vững của NMXLNT thành phố Bắc Ninh

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục, danh mục các công trình đã công bố, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (40 trang)

Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu (30 trang) Chương 3: Xây dựng các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu KTKT để đảm bảo sự hoạt động bền vững của các NMXLNT đô thị ở Việt Nam (55 trang)

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1   Đặc điểm nước thải đô thị và hoạt động của nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung

1.1.1   Thành phần và tính chất của nước thải đô thị

Nước thải đô thị là nước thải phát sinh từ các đô thị, có sự pha trộn giữa nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất từ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ trong đô thị và nước mưa chảy tràn Trong nước thải đô thị Việt Nam, lượng nước thải sinh hoạt chiếm từ 67 đến 85% [2] Lượng nước thải sinh hoạt ở các nước đang phát triển ước tính bằng 80% lượng nước cung cấp tại các vùng có mức độ phát triển bình thường và bằng 90% tại các vùng phát triển mạnh [9]

1.1.2   Tổ chức thoát nước đô thị và quá trình xử lý trong nhà máy

xử lý nước thải đô thị tập trung

Hiện nay, có 3 mô hình tổ chức thoát nước đô thị như sau: Thoát nước XLNT tập trung; Thoát nước và XLNT phân tán; và Thoát nước và XLNT tại chỗ

1.2   Đánh giá hiện trạng hoạt động của các nhà máy xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam

Trang 7

1.2.1   Hiện trạng hoạt động các nhà máy xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam

Số lượng các công trình XLNT đã xây dựng rất ít và hoạt động không hiệu quả nên lượng nước thải đô thị xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường không đáng kể Theo Hội Cấp thoát nước Việt Nam, 2018, trên toàn quốc mới có 41 NMXLNT đô thị đã đi vào vận hành với tổng công suất khoảng 950.000 m3/ngày và 28 nhà máy khác đang được xây dựng Tuy nhiên, phần lớn, các NMXLNT đang hoạt động dưới 50% công suất thiết kế Thậm chí có NMXLNT đã xây xong nhưng đến nay vẫn không

có nước thải để xử lý

1.2.2   Đánh giá hiệu quả hoạt động các nhà máy xử lý nước thải đô thị hiện có

a) Hiệu quả hoạt động của các NMXLNT

Các dự án thoát nước và XLNT tập trung có các khó khăn trong lựa chọn công nghệ, chất lượng thiết kế và thi công công trình, quy trình thẩm định, tỉ lệ đấu nối hộ gia đình, tài chính, năng lực vận hành, theo dõi và kiểm soát của địa phương, quan trắc môi trường trong quá trình triển khai dự án,… Với nồng độ hữu cơ đầu vào thấp, ở các NMXLNT

đô thị, cần áp dụng các công nghệ phù hợp với chi phí thấp hơn và cho phép nâng cấp trong tương lai nếu như đặc tính nước thải hay lưu lượng nước thải đầu vào được cải thiện Việc tiết kiệm hay giảm tiêu thụ năng lượng, tận thu tài nguyên từ bùn thải hoặc tái sử dụng nước thải sau xử

lý chưa được chú trọng và chưa được ưu tiên thực hiện

b) Hiệu quả xử lý bùn thải và mùi

Một số dự án chỉ chú trọng vấn đề XLNT mà ít quan tâm đến xử lý bùn thải và mùi Công nghệ xử lý bùn chủ yếu hiện nay vẫn là tách nước và làm khô bùn thải chưa được ổn định Việc xử lý bùn không hợp lý tạo ra mùi hôi trong khu vực và trong toàn bộ nhà máy

1.3   Các nguyên nhân chính của việc các nhà máy xử lý nước thải đô thị hoạt động không bền vững

1.3.1   Nguyên nhân về thể chế

a   Các văn bản pháp luật

Các vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên nước đều được nêu trong Luật Bảo

vệ môi trường (BVMT), Luật Tài nguyên nước Hướng dẫn thực thi luật như là: Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và XLNT và Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải, tuy nhiên vẫn

có sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật này, đặc biệt

là vấn đề về giá dịch vụ thoát nước và phí BVMT

Trang 8

Hiện nay quy chuẩn xả nước thải đô thị ra nguồn nước mặt vẫn chưa có

mà phải áp dụng giá trị các thông số trong QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp hoặc QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt (áp dụng cho các đối tượng quy mô nhỏ không qua hệ thống thoát nước tập trung xả nước thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài) làm điều kiện

vệ sinh để xả thải nước thải đô thị ra nguồn tiếp nhận

b   Cơ chế chính sách quản lý đầu tư và vận hành HTTN và các NMXLNT

Việc thực hiện cơ chế chính sách liên quan đến thoát nước còn có những hạn chế như: triển khai thực hiện chậm, áp dụng còn lúng túng và vướng mắc do hạn chế về nguồn nhân lực cũng như năng lực và trình độ của cán bộ tại các cơ quan quản lý địa phương Mặt khác nhiều địa phương còn chưa quan tâm đúng mức đối với lĩnh vực thoát nước và XLNT đô thị và KCN

1.3.2   Quản lý tài sản và nguồn nhân lực

a Quản lý tài sản và vận hành HTTN và XLNT đô thị

Về tổ chức hoạt động đầu tư, quản lý vận hành, cung cấp dịch vụ thoát nước, thu gom và XLNT ở các địa phương, Nghị định số 80/2014/NĐ-

CP hiện nay đã phân rõ chủ sở hữu tài sản HTTN và đơn vị quản lý vận hành Tuy nhiên tại nhiều địa phương vẫn thành lập ban quản lý dự án trong các doanh nghiệp quản lý vận hành thoát nước

b Nguồn nhân lực

Việt Nam đang tiếp cận và sử dụng công nghệ tiên tiến trên thế giới trong lĩnh vực thoát nước và XLNT nhưng còn thiếu các trung tâm đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này Các cơ sở đào tạo hiện có chưa đủ cơ sở vật chất như đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thư viện,… Sự kết nối giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cấp thoát nước với các cơ sở đào tạo còn hạn chế

c Thông tin truyền thông và giáo dục cộng đồng

Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường tới cộng đồng dân cư còn hạn chế; việc thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa nghiêm, hiệu lực, hiệu quả chưa cao Các công ty thoát nước và XLNT nhiều khi chưa thấy được lợi ích của việc nâng cao nhận thức cộng đồng khi thực hiện các hoạt động quản lý nước thải

1.3.3   Kinh phí vận hành và bảo trì

Chi phí thực tế của hoạt động cần được trợ cấp từ ngân sách địa phương

do phí thu gom nước thải không thể đáp ứng chi phí O&M Chi phí

Trang 9

O&M của NMXLNT đô thị phụ thuộc vào công suất và công nghệ xử lý được nêu trong Quyết định số 451:2015/QĐ-BXD Thực tế hiện nay kinh phí công tác quản lý vận hành HTTN chủ yếu phụ thuộc vào kinh phí hàng năm do UBND tỉnh/ thành phố cấp qua sở Tài chính và phân

bổ về sở Xây dựng Trong hóa đơn của khách hàng tiêu thụ nước có phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Từ doanh thu cấp nước phần phí này nộp lại ngân sách cấp thành phố hoặc cấp tỉnh để phân phối lại tới các doanh nghiệp thoát nước hàng năm

1.3.4   Các vấn đề công nghệ và kỹ thuật

a Công nghệ thoát nước và XLNT

Hiện nay vẫn chưa có được các tiêu chí thống nhất và quy trình thực hiện để đánh giá và lựa chọn công nghệ thoát nước và XLNT cho đô thị, khu công nghiệp và bệnh viện Các công nghệ thích hợp như: kết hợp giữa thu gom và XLNT tập trung với thu gom và XLNT phân tán, từng bước nâng cấp chất lượng nước sau xử lý, đảm bảo được khả năng chi trả của người sử dụng dịch vụ, nhiều khi chưa phải là những ưu tiên của những chuyên gia tư vấn và những người có quyền ra quyết định

b Các vấn đề về kỹ thuật

Các phân tích trên đây cho thấy: điều kiện kỹ thuật, tài chính phục vụ nghiên cứu triển khai công nghệ thoát nước, xử lý XLNT còn rất hạn chế; còn thiếu các giải pháp, kỹ thuật công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường phù hợp với điều kiện vùng, miền địa phương hoặc tại các lưu vực sông cũng như khả năng ứng phó với BĐKH và nước biển dâng trong các hoạt động thoát nước và XLNT

1.4   Thực trạng về đảm bảo hoạt động bền vững của các nhà máy xử lý nước thải đô thị trên thế giới

1.4.1   Thực trạng quản lý nước thải và hoạt động của các nhà máy

xử lý nước thải đô thị một số nước trên thế giới

Các nguyên nhân HTTN hoạt động không hiệu quả có thể do các vấn đề như: tình trạng xuống cấp của cơ sở hạ tầng, trạm bơm không hoạt động, đường ống bị rò rỉ và các công trình XLNT hoạt động không đúng chức năng Nhiều nhà máy cũng đã bị bỏ (hoặc không hoạt động) vì thiếu kinh phí O&M hoặc thiếu năng lực kỹ thuật để thực hiện các nhiệm vụ, đặc biệt là ở cấp địa phương và khi điều hành bởi các hệ thống quản lý hạn chế

1.4.2   Tổng quan về cơ chế chính sách và quản lý tài chính đảm bảo các nhà máy xử lý nước thải hoạt động bền vững trên thế giới

Trang 10

Để tăng cường hiệu quả hoạt động và quản lý nước thải không phải là đơn giản và có một số vấn đề (như quản lý thải nước, các khía cạnh tài chính,…) cần phải giải quyết

1.4.3   Thực trạng về đánh giá hoạt động bền vững của nhà máy xử

lý nước thải trên thế giới

1.4.3.1   Đánh giá hoạt động bền vững của NMXLNT của Hy Lạp

Mục đích đánh giá hoạt động bền vững của các NMXLNT là xây dựng phương pháp và áp dụng phương pháp đó để đánh giá đối với 14 NMXLNT tại Hy Lạp trong điều kiện không chỉ tuân thủ mà còn xem xét một số khía cạnh riêng biệt có liên quan đến các vấn đề khác như môi trường, kỹ thuật, kinh tế và xã hội và do đó mới đánh giá được sự bền vững của mỗi nhà máy [44]

Dựa trên cơ sở các câu hỏi điền vào bảng tham vấn về chất lượng hoặc

số lượng được đưa ra cho mỗi tiêu chí Kết quả của việc đánh giá các tiêu chí này được sử dụng cho việc tiêu chuẩn hoá sau này và có giá trị

là tiêu chuẩn để tham chiếu trong hệ thống các NMXLNT

1.4.3.2   Đánh giá bền vững XLNT tại Thụy Điển

Để minh họa cho tính bền vững của hệ thống thoát nước và XLNT, trong ba hoàn cảnh khác nhau đã sử dụng ba ví dụ minh họa để so sánh

từ ba nước khác nhau: Thụy Điển, Nam Phi và Mexico và được đánh giá bằng một phương pháp so sánh tổng hợp [72]

Sau khi so sánh giữa ba nước Thụy Điển, Nam Phi và Mexico cho thấy, các hệ thống khác nhau được đánh giá có ưu và nhược điểm của từng hệ thống trong các thiết lập tương ứng của nó Nó cũng cho thấy rằng các kết quả đánh giá phụ thuộc vào hoàn cảnh của ba nước này

Các nội dung nghiên cứu trong chương 1:

Trong nhiều năm qua, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, Nhà nước đã tập trung đầu tư nhiều trong lĩnh vực thoát nước và vệ sinh môi trường cho các đô thị Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân kỹ thuật như là công nghệ XLNT chưa phù hợp, các hạng mục đầu

tư của dự án thoát nước chưa đồng bộ, trình độ vận hành không đảm bảo, tỉ lệ đấu nối nước thải thấp… là những yếu tố làm cho các HTTN

và XLNT đã được đầu tư nhưng hoạt động không hiệu quả Các tác động tiêu cực của BĐKH ngày càng biểu hiện rõ rệt đối với Việt Nam

và thoát nước, XLNT đô thị là một trong những hoạt động bị gánh chịu nặng nề

Yếu tố chính để đảm bảo một NMXLNT đô thị hoạt động bền vững là công nghệ xử lý và tổ chức quản lý vận hành phải phù hợp Sự phù hợp này phải được đánh giá dựa theo các tiêu chí liên quan đến các yếu tố

Trang 11

về: kỹ thuật, môi trường, kinh tế và xã hội Chính vì vậy, cần phải phân tích, lựa chọn và định lượng được các tiêu chí này theo phương pháp khoa học và phù hợp, kết hợp với tham vấn các chuyên gia, các nhà quản lý,… có kinh nghiệm trong lĩnh vực thoát nước và XLNT

Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, thấy rằng việc đánh giá tính bền vững của NMXLNT phải có cái nhìn tổng quan về việc xét các tiêu chí trong mọi khía cạnh khác nhau: kinh tế, kỹ thuật, môi trường và văn hóa-xã hội và cần thiết phải xác định tầm quan trọng của các tiêu chí ứng với các quan điểm khác nhau: môi trường, kinh tế, …

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1   Cơ sở khoa học để xây dựng các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu

đảm bảo tính bền vững của NMXLNT đô thị

2.1.1   Khái niệm chung

Các khái niệm: Bền vững; tiêu chí; chỉ tiêu; chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật; bộ chỉ tiêu

2.1.2   Hoạt động bền vững của nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung

2.1.2.1   Tính bền vững của NMXLNT đô thị

Một NMXLNT phù hợp để phát triển bền vững là khi có chi phí đầu tư

và vận hành phù hợp, sự hoạt động của nó đảm bảo được trong thời gian dài về mặt kỹ thuật, pháp lý, hiệu quả xử lý ô nhiễm và được cộng đồng chấp nhận

2.1.2.2   Tính bền vững của NMXLNT đô thị tập trung trong bối cảnh Biến đổi khí hậu

Tính thích ứng với các tác động của BĐKH của các tiêu chí kỹ thuật thể hiện: dây chuyền công nghệ XLNT được lựa chọn có khả năng phòng chống việc xâm nhập mặn khi xảy ra triều cường, mưa lớn trên các đô thị duyên hải Các công trình bố trí trong NMXLNT phải có khả năng

xử lý thích ứng với việc biến thiên hàm lượng BOD, muối, trong nước thải cũng như có khả năng chống lại oxy hóa vật liệu cao NMXLNT phải đặt ở nơi có địa hình cao, các công trình có thể làm việc tốt trong điều kiện hàm lượng muối cao NMXLNT phải có khả năng giữ nước trong một thời gian dài

2.1.3   Các tiêu chí đánh giá tính bền vững nhà máy XLNT đô thị

Các tiêu chí đánh giá công nghệ XLNT được đề xuất trong Bảng 2.2 như sau:

Trang 13

2.1.4   Các chỉ tiêu KT-KT đảm bảo tính bền vững nhà máy XLNT đô thị

Trên cơ sở 6 nhóm tiêu chí đã lựa chọn và áp dụng phương pháp phân tích phù hợp có thể xây dựng nên bộ chỉ tiêu KT-KT nhằm đảm bảo sự bền vững và ổn định về hoạt động của một NMXLNT Các chỉ tiêu KT-KT được đề xuất được thể hiện trong Bảng 2.3:

Mỗi một nhóm chỉ tiêu có thể dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, các nhóm chỉ tiêu khác nhau có thể có chung với nhau ở một vài tiêu chí, chúng tạo thành ma trận đan xen lẫn nhau được thể hiện Hình 2.4

Ngày đăng: 23/09/2020, 12:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w