Bài giảng Lý luận nhà nước và pháp luật - Chương 6: Nhà nước và pháp luật phong kiến cung cấp cho người học các kiến thức cơ bản về nhà nước phong kiến và pháp luật phong kiến. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1CH ƯƠ NG VI
Trang 21 NHÀ N ƯỚ C PHONG KI N Ế
1.1 C s kinh t xã h i và b n ch t c a nhà ơ ở ế ộ ả ấ ủ
n ướ c phong ki n ế
Nhà n ướ c phong ki n là ki u nhà n ế ể ướ c th hai ứ
ra đ i trên c s s s p đ c a xã h i chi m h u ờ ơ ở ự ụ ổ ủ ộ ế ữ
nô l , m t s qu c gia nhà n ệ ở ộ ố ố ướ c phong ki n là ế
ki u nhà n ể ướ c đ u tiên, ví d nh Vi t Nam, Tri u ầ ụ ư ệ ề Tiên
Xã h i phong ki n có k t c u giai c p khá ph c ộ ế ế ấ ấ ứ
t p. Trong xã h i có hai giai c p chính là ạ ộ ấ nông dân
và đ a ch ị ủ
Trang 3Ngoài hai giai c p c b n ấ ơ ả
là đ a ch và nông dân, xã ị ủ
nh ng t ng l p khác nhau: ữ ầ ớ tăng l , th th công, ữ ợ ủ
th ươ ng nhân, nô t ỳ
T ng l p nô t ch y u ầ ớ ỳ ủ ế
ph c v trong gia đình, ụ ụ không có v trí đáng k ị ể trong s n xu t ả ấ
* B n ch t c a nhà n ả ấ ủ ướ c
phong ki n ế
Nhà n ướ c phong ki n là ế công c chuyên chính ch ụ ủ
y u c a giai c p đ a ch ế ủ ấ ị ủ phong ki n đ ch ng l i ế ể ố ạ nông dân và nh ng ng ữ ườ i lao đ ng khác ộ
Trang 4Nhà n ướ c phong ki n duy trì đ a v kinh t c a ế ị ị ế ủ giai c p đ a ch phong ki n và th c hi n s th ng ấ ị ủ ế ự ệ ự ố
tr đ i v i toàn xã h i. ị ố ớ ộ
Quy n l c nhà n ề ự ướ c trong ch đ phong ki n là ế ộ ế quy n l c đ ề ự ượ c duy trì theo cách th c cha truy n ứ ề con n i ố
Ngoài tính giai c p, Nhà n ấ ướ c phong ki n cũng ế
có tính xã h i: ti n hành các ho t đ ng kinh t xã ộ ế ạ ộ ế
h i vì s phát tri n đ t n ộ ự ể ấ ướ c, vì l i ích c a nhân ợ ủ dân trong n ướ c.
Tuy nhiên, s quan tâm t i các ho t đ ng xã h i ự ớ ạ ộ ộ
c a nhà n ủ ướ c phong ki n ch a nhi u, ch a đúng ế ư ề ư
v i v trí vai trò c a nó trong xã h i ớ ị ủ ộ
Trang 51.2. Ch c năng c a nhà n ứ ủ ướ c phong ki n ế
1.2.1 Chức năng đối nội
- Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột của phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
B ng nhi u hình th c khác nhau, nhà n ằ ề ứ ướ c phong ki n b o v s đ c quy n chi m h u ru ng ế ả ệ ự ộ ề ế ữ ộ
đ t c a giai c p đ a ch phong ki n. ấ ủ ấ ị ủ ế
ph ng Tây, nhà n c quy đ nh ch t ch
quy n s h u t nhân c a các lãnh chúa phong ề ở ữ ư ủ
ki n v ru ng đ t thông qua ch đ đ ng c p. ế ề ộ ấ ế ộ ẳ ấ
Trang 6ph ng Đông, s h u t i cao v ru ng đ t
thu c v nhà n ộ ề ướ c, nh ng th c ch t quy n s ư ự ấ ề ở
h u ru ng đ t n m trong tay giai c p phong ki n ữ ộ ấ ằ ấ ế
mà đ ng đ u là nhà vua ứ ầ
Nông dân các n ở ướ c đ u ph i ch u c nh lao ề ả ị ả
d ch n ng n qua các hình th c tô thu do giai ị ặ ề ứ ế
c p phong ki n đ t ra (tô ti n, tô hi n v t, tô lao ấ ế ặ ề ệ ậ
d ch) ị
Trang 7 Ch c năng đàn áp s ch ng đ i c a nông dân và ứ ự ố ố ủ các t ng l p nhân dân lao đ ng khác ầ ớ ộ
Đ duy trì đ a v th ng tr c a mình, nhà n ể ị ị ố ị ủ ướ c phong ki n đ u đàn áp dã man các cu c kh i ế ề ộ ở nghĩa c a nông dân và nhân dân lao đ ng b ng ủ ộ ằ
Trang 8Chuy n sang th i k nhà n ể ờ ỳ ướ c phong ki n ế trung ươ ng t p quy n b máy đàn áp c a nhà ậ ề ộ ủ
n ướ c phong ki n càng tr nên phát tri n, ch c ế ở ể ứ năng này càng đ ượ c nhà n ướ c phong ki n th c ế ự
hi n tri t đ h n, ví d các cu c kh i nghĩa c a ệ ệ ể ơ ụ ộ ở ủ nông dân nh : kh i nghĩa X c xông Pháp, kh i ư ở ắ ở ở nghĩa S n Thành, Hoàng Sào Trung Qu c, kh i ơ ở ố ở nghĩa c a Nguy n H u C u Vi t Nam đ u b nhà ủ ễ ữ ầ ở ệ ề ị
n ướ c phong ki n các n ế ở ướ c đó đàn áp dã man.
Ch c năng đàn áp t t ứ ư ưở ng.
Các nhà n ướ c phong ki n dù ph ế ươ ng Đông hay
ph ươ ng Tây, nhìn chung đ u s d ng h t t ề ử ụ ệ ư ưở ng tôn giáo và t ch c tôn giáo ph c v cho m c đích ổ ứ ụ ụ ụ
nô d ch t t ị ư ưở ng.
Trang 91.2.2 Các chức năng đối ngoại của nhà nước
phong kiến
- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược.
Chiến tranh được nhà nước phong kiến sử dụng với tính chất là phương tiện phổ biến để giải quyết các mâu thuẫn, mở rộng lãnh thổ, tăng cường phạm vi ảnh hưởng của nhà nước mình ra bên ngoài
Trong thời kỳ cát cứ, mỗi lãnh chúa phong kiến
có quân đội riêng, có quyền tuyên chiến với các lãnh chúa phong kiến khác ở trong và ngoài nước (trừ tuyên chiến với vua hoặc quốc vương của mình) Khi vua hoặc quốc vương của mình tiến hành chiến tranh, lãnh chúa phong kiến có nghĩa vụ phải mang quân đến chi viện.
Trang 10Tới thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, chức năng này được các nhà nước phong kiến tiến hành thường xuyên hơn nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia, điều này dẫn đến tình trạng các nhà nước phong kiến thường xuyên ở trong tình trạng chiến tranh.
Trang 11- Chức năng phòng thủ chống xâm lược.
Cùng với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các nhà nước phong kiến đều thực hiện các công việc liên quan đến bảo vệ đất nước như: xây dựng pháo đài, thành luỹ, xây dựng quân đội thường trực để phòng thủ đất nước.
Để bảo vệ quyền, lợi ích của quốc gia, nhà nước phong kiến còn thực hiện nhiều hình thức và chính sách ngoại giao với các quốc gia láng giềng như chính sách thương mại, đối ngoại hoà bình
Trang 121.3 Hình thức nhà nước
phong kiến
* Về hình thức chính thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trung ương tập quyền, quân chủ đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến.
Trong hình thức nhà nước
quân chủ phân quyền cát cứ
thì quyền lực nhà nước bị phân tán, vua hoặc quốc vương không có toàn quyền, chỉ là “đấng thiêng liêng”, quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến.
Trong hình thức quân chủ
nhà nước trung ương được tăng cường trên cơ sở của
sự ủng hộ của các lãnh chúa phong kiến vừa và nhỏ, cũng như tầng lớp cư dân thành thị.
Trang 13Ở hình thức này, bên cạnh vua hoặc quốc vương còn
có cơ quan đại diện đẳng cấp, ví dụ như: Nghị viện ở Anh, Hội nghị quốc dân ở Nga, Hội nghị tam cấp ở Pháp Cơ quan đại diện này
có thẩm quyền hạn chế trong lĩnh vực thuế và tài chính.
Sự hiện diện của cơ quan này cũng làm hạn chế quyền lực của nhà vua, vì thế khi quyền lực của vua được tăng cường mạnh lên thì vua thường không tham dự hội nghị của cơ quan đại diện đẳng cấp nữa và tìm cách loại bỏ nó
Trang 14Chính thể quân chủ trung
là quyền lực nhà nước tập trung vào tay vua hoặc quốc vương Vua nắm toàn quyền nhưng trong hoạt động điều hành vua dựa vào triều đình
và bộ máy quan lại giúp việc
từ trung ương xuống đến địa phương Toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương tạo thành một thể thống nhất.
Trang 15Hình thức cộng hoà phong kiến tồn tại ở một số thành phố châu Âu (Phơlôrenxơ của Italia, Nốpgôrớt và Psơcốp của Nga ) sau khi giành được sự tự quản bằng các con đường khác nhau như: bỏ tiền ra mua sự tự trị
từ nhà nước phong kiến, đấu tranh vũ trang Quyền lực ở các thành phố đó tập trung trong tay giới quý tộc thành thị tập hợp trong Hội đồng thành phố được lập trên nguyên tắc bầu ra, chịu trách nhiệm điều hành các công việc và quan hệ của thành phố Chính ở các thành phố này đã sớm hình thành các quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa.
Trang 16Về hình thức cấu trúc: chủ yếu là cấu trúc đơn nhất (tập trung, đơn nhất chia lẻ) Đôi lúc cũng có cấu trúc liên bang: cộng hòa liên bang Gugenôtốp ở phía nam nước Pháp thế kỷ XVI.
Chế độ chính trị: biện pháp chủ yếu là lừa dối và bạo lực nhà nước phong kiến công khai và hợp pháp hóa việc sử dụng bạo lực để quản lý nhà nước.
Trang 172 Pháp luật phong kiến
2.1 Bản chất của pháp luật
phong kiến
Về mặt bản chất giai cấp, pháp luật phong kiến thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ, phong kiến, là phương tiện để bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến
Nó ghi nhận sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp khác nhau trong xã hội, sự lệ thuộc của nông dân vào giai cấp địa chủ, bảo vệ sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân
Trang 18Về phương diện xã hội, Trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể pháp luật phong kiến không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến mà còn phản ánh ý chí chung của toàn xã hội.
Ví dụ: Trong bộ Quốc triều hình luật của nhà Lê ngoài các quy định thể hiện ý chí, bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, ta còn gặp rất nhiều quy định mà mục đích là để thiết lập trật
tự xã hội như: Thể lệ chia ruộng đất công, quy định các vấn đề bảo vệ ruộng đất, quy định về vấn đề thừa kế
Trang 192.2 Những đặc điểm cơ bản của pháp luật phong kiến
- Pháp luật phong kiến là pháp luật đẳng cấp và đặc quyền
Pháp luật phong kiến công khai tuyên bố cho mỗi đẳng cấp có những đặc quyền riêng
Quyền lợi cao nhất trong
xã hội Phong kiến thuộc về vua, vua có toàn quyền, sau vua là các địa chủ lớn, tăng
lữ có rất nhiều quyền (quyền xét xử đối với nông dân, đặt
ra luật lệ, quyền thu thuế, quyền bắt nông dân phải lao dịch cho mình ).
Trang 20- Pháp luật phong kiến mang tính dã man, tàn bạo
Mục đích hình phạt của pháp luật phong kiến chủ yếu nhằm gây đau đớn về thể xác và tinh thần cho con người, làm nhục, hạ thấp danh dự, nhân phẩm của con người Chính vì vậy, các hình phạt được quy định trong pháp luật như: chém đầu, treo cổ, dìm nước, voi giày, tứ mã phanh thây, ném vạc dầu, thích chữ vào mặt được áp dụng rộng khắp ở các nhà nước phong kiến.
Trang 21- Pháp luật phong kiến là pháp luật của kẻ mạnh.
Pháp luật phong kiến hợp pháp hoá tính chất chuyên quyền và tuỳ tiện sử dụng bạo lực.
Ở giai đoạn đầu pháp luật phong kiến cho phép các lãnh chúa phong kiến có pháp luật của riêng lãnh địa mình Pháp luật cho phép sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp Ví dụ những quy định về đấu gươm, đấu súng
ở Châu Âu.
Mặt khác, Toà án phong kiến được quyền xét xử bất
kỳ vụ việc nào từ những lĩnh vực thuộc về nhà nước cho đến những việc thuộc về đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật
Trang 22- Pháp luật phong kiến liên quan mật thiết tới tôn giáo
và đạo đức phong kiến.
Ví dụ, ở các nước phương Tây, Toà án giáo hội can thiệp, xét xử cả những công việc không thuộc phạm vi tôn giáo Ở phương Đông như Việt Nam trong các quy định của pháp luật có nhiều quy định về nghi lễ tôn giáo, đạo đức, tập quán như quy định tại các Điều 511, Điều
504, Điều 543, Điều 642 của Quốc Triều Hình Luật.
Trang 232.3 Hình thức của pháp luật phong kiến
Hình thức phổ biến của pháp luật phong kiến là tập quán pháp.
Bên cạnh luật của nhà vua còn có luật, lệ riêng của lãnh chúa phong kiến.
Hình thức văn bản quy phạm pháp luật cũng phát triển với sự ra đời của nhiều
bộ luật công phu.
Ví dụ: Nhà nước phong kiến Việt Nam có bộ Quốc Triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) biên soạn năm 1483, Bộ Hoàng triều luật lệ (Luật Gia Long) biên soạn năm 1815