.Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn quan niệm Nguyễn Du chỉ bỏ bớt đi những phần không quan trọng, còn thì theo đúng Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để "diễn âm" chữ của Mai
Trang 1TRUYỆN KIỀU NÊN ĐỌC NHƯ THẾ NÀO?- kì 1
(Lê Quế hồi đáp bài “Xin đừng hiệu đính truyện Kiều như thế” của nhà thơ Vương
Trọng)
“So sánh dị bản truyện Kiều” là cuốn thứ hai trong bộ sách nghiên cứu tổng hợp
về truyện Kiều của chúng tôi Vừa rồi nhà thơ Vương Trọng có bài “Xin đừng hiệu đính truyện Kiều như thế” bình luận về cuốn sách này Nay xin hồi đáp nhà thơ
1.Về việc nhà thơ tỏ ra nghi ngờ phương pháp hiệu đính của chúng tôi: “Ở phần
"Phương pháp hiệu đính", soạn giả đã nêu ra bảy tiêu chí để "Kết quả hiệu đính phải đạt được một văn bản cân đối hài hòa về mọi phương diện, không còn tồn tại bất cứ một nghi vấn nào" Nếu ông Lê Quế làm được như vậy thì từ nay về sau, về mặt văn bản của "Truyện Kiều" coi như đã hoàn toàn được giải quyết Bây giờ ta xem ông Quế hiểu "Truyện Kiều" và đã hiệu đính như thế nào?”
Từ trước đến nay, giới nghiên cứu vẫn sử dụng phương pháp Bản trục để hiệu đính truyện Kiều Nhưng chúng tôi thấy phương pháp Bản trục thiếu thực tế, mang nặng tính chủ quan, áp đặt nên không giúp người hiệu đính đạt được kết quả khả quan Bởi thế chúng tôi đã xây dựng nên phương pháp và mục tiêu hiệu đính mới Phương pháp của chúng tôi không những có quan điểm và cách tiến hành khác mà thậm chí còn ngược hẳn lại so với quan điểm và cách tiến hành của phương pháp Bản trục Nay xin trình bày sơ lược về sự khác nhau giữa 2 phương pháp qua những nét chính
để nhà thơ và bạn đọc cùng tham khảo:
a.Phương pháp “Bản trục” được xây dựng trên một thuyết sai lầm về nguồn gốc
các bản là thuyết “Lời truyền” Suốt gần trăm năm qua, thuyết “Lời truyền” được các nhà nghiên cứu sử dụng để hiệu đính truyện Kiều và đã bộc lộ nhiều bất ổn Những công trình nghiên cứu theo phương pháp này chỉ thu được kết quả hạn chế, không làm thỏa mãn bạn đọc và ngay cả người hiệu đính Sang đầu thế kỷ XXI, hai văn bản truyện Kiều có niên đại trước năm 1871 (mốc quan trọng của thuyết Lời truyền và thuyết Đào Thái Tôn) đã được sưu tầm và công bố Đó là bản Lâm Nọa Phu (Nguyễn Hữu Lập) 1870 (do Nguyễn Quảng Tuân công bố năm 2003) và bản Liễu Văn Đường 1866 (do ?) Việc công bố 2 bản Kiều này, đặc biệt là bản Lâm Nọa Phu 1870 là bằng chứng bác bỏ thuyết “Lời truyền” Thực tế đó buộc các nhà nghiên cứu truyện Kiều theo thuyết “Lời truyền” phải xem lại những kết luận của
họ
Còn với chúng tôi, từ nhiều năm trước đó chúng tôi đã chứng minh sự sai lầm của thuyết “Lời truyền” và tìm đến một phương pháp hiệu đính mới với 7 tiêu chí theo yêu cầu logic Bởi thế sự xuất hiện bản Lâm Nọa Phu 1870 không những không ảnh hưởng gì mà trái lại càng khẳng định sự đúng đắn trong phương pháp của chúng tôi Nhờ có lý thuyết được thiết lập từ trước, chúng tôi tiến hành thẩm định bản Lâm Nọa Phu 1870 chỉ trong thời gian ngắn và bổ sung vào bản thảo “So sánh dị bản truyện Kiều” trước khi xuất bản Kết quả hiệu đính cho thấy bản Lâm Nọa Phu thuộc nhóm 6 bản Kiều giá trị nhất Chúng tôi đã sử dụng tới 46 câu của bản Lâm Nọa Phu, 95 câu của bản Kinh theo chú thích của Kiều Oánh Mậu và Bùi Kỷ- Trần
Trang 2Trọng Kim, 16 câu của bản Trương Vĩnh Ký, 9 câu của bản Liễu Văn Đường, 7 câu của bản Kiều Oánh Mậu, 17 câu của bản Thiên Khẩu Thủy, 4 câu từ truyền miệng,
13 câu từ các bản khác, đồng thời khôi phục 15 câu Tổng cộng 222 câu Việc bổ sung tới 222 câu Kiều hợp lý như vậy đã tạo cho văn bản truyện Kiều 2006 do chúng tôi hiệu đính hoàn chỉnh hơn bất cứ bản nào trước đó Nhờ có quan điểm nghiên cứu hợp lý, chúng tôi đã thẩm định được nội hàm của bản Lâm Nọa Phu nói riêng và các bản Kinh nói chung cùng bản Thiên Khẩu Thủy Chúng tôi đã khẳng định vị trí không thể thay thế của các bản này trong hệ thống tư liệu truyện Kiều Trong lúc cho đến nay, các nhà nghiên cứu theo thuyết Lời truyền (kể cả Đào Thái Tôn) vẫn đang loại bỏ thẳng thừng bản Kinh và bản Thiên Khẩu Thủy Họ mới chỉ tranh luận về tờ bìa của bản Lâm Nọa Phu và đành dừng lại ở việc nghiên cứu tờ bìa với mối nghi ngờ mà chưa đưa ra được một kết luận cụ thể nào Theo chúng tôi, nguyên nhân chính hạn chế kết quả nghiên cứu của các nhà văn bản học theo phương pháp Bản trục là do họ theo thuyết “Lời truyền” Nhãn quan của thuyết Lời truyền không đủ tầm để bao quát toàn bộ những tài liệu thu thập được, nó ràng buộc nhà hiệu đính quanh quẩn ở bản Phường Mà theo kết luận của chúng tôi trong cuốn
“So sánh dị bản truyện Kiều” thì: “bản Phường là bản đã bị sửa chữa nhiều nhất và thô bạo nhất nên xa với nguyên tác nhất”
b.Phương pháp “Bản trục” dựa trên sự đánh giá thiếu chính xác về những đặc
điểm của văn chương truyện Kiều thể hiện ở hai luận điểm chính: Truyện Kiều là tác phẩm dịch thuật hay sáng tác? Trong truyện Kiều có hay không các yếu tố bình dân
và tiếng địa phương?
.Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu vẫn quan niệm Nguyễn Du chỉ bỏ bớt đi những phần không quan trọng, còn thì theo đúng Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để "diễn âm" (chữ của Mai Quốc Liên) thành truyện Kiều Theo chúng tôi được biết thì quan niệm này rút ra từ những nhận xét sơ lược chứ chưa phải từ những nghiên cứu mang tính khoa học Thực ra lĩnh vực này cũng đã có một nghiên cứu của nhóm Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan và Lô Úy Thu với kết quả ngược lại nên không ai theo Người ta vẫn theo quan niệm có tính cảm nhận chủ quan đó Từ quan niệm đó, cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân được gọi là “nguyên truyện” và được lấy làm mục tiêu cho việc hiệu đính tác phẩm của Nguyễn Du Thậm chí quan niệm đó đã trở thành cách hiểu tự nhiên của không chỉ người hiệu đính mà cả người đọc Kiều Họ đọc chữ Nguyễn Du trong truyện Kiều nhưng lại hiểu theo ý của Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện (“đọc chữ”) Có thể người đầu tiên đọc Kiều theo cách đó là vua Minh Mệnh Bài
“Tổng thuyết” của nhà vua viết năm Canh thìn (1830) cho thấy khá rõ Rồi về sau nhiều người, chủ yếu là các văn sĩ cũng đọc theo cách đó và biến thành một thứ luật bất thành văn chưa ai dám trái Hình như khi nói đến truyện Kiều mà không nhắc đến Thanh Tâm Tài Nhân là họ thấy chưa đủ
Tuy nhiên chúng tôi lại thấy đó là một quan niệm sai lầm dẫn đến cách đọc sai lầm Trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi đã đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể để chỉ ra cái sai của cách đọc đó nhưng nhà thơ đã tỏ ra nghi ngờ Nay xin bàn thêm cho rõ
Trang 3Nếu với cách đọc đó thì Nguyễn Du chỉ là người dịch hay lược dịch chứ không phải là người sáng tác Nhưng khi so sánh Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, ta thấy Nguyễn Du không chỉ
bỏ bớt nhiều đoạn mà còn thêm vào nhiều đoạn Theo nghiên cứu của nhóm Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan và Lô Úy Thu thì Nguyễn Du đã bỏ đi tới 2/3 số ý và chuyển đổi 15 ý khác của Thanh Tâm Tài Nhân Cụ thể Nguyễn Du đã sáng tạo thêm 1941 câu, chiếm khoảng 60% tác phẩm Ai cũng biết trong văn chương chỉ cần thêm bớt một câu, nhiều khi một chữ, thậm chí chỉ cần đổi một vài cái dấu thôi là đã khiến tác phẩm thay đổi hẳn (Chẳng hạn dẫn chứng mà các học sinh cơ sở đều biết:
“Tôi đang ăn Con mèo nhảy qua bàn đuổi con chuột” Khác hẳn với câu: “Tôi đang
ăn con mèo, nhảy qua bàn đuổi con chuột”) Vậy thì có thể cho rằng Nguyễn Du
thay đổi tới 2/3 số ý với 60% số câu của tác phẩm mà vẫn trung thành với nguyên tác được không?
Một bản dịch trung thành với nguyên tác thì phải chuyển tải chính xác tư tưởng của tác giả Nếu truyện Kiều chỉ là một bản “diễn âm” tức một bản dịch thì trong truyện Kiều chỉ có tư tưởng của Thanh Tâm Tài Nhân Vậy thì việc nghiên cứu tư tưởng Nguyễn Du liệu có còn cần thiết không?
Và ngay cả nếu Đoạn trường tân thanh đúng là bản dịch thì người đọc cũng chỉ cần đọc nó là đủ Chỉ khi nghi ngờ chất lượng bản dịch thì mới phải đối chiếu với bản gốc để chỉnh sửa những chỗ dịch sai Sai nhiều quá thì dịch lại Đằng này người ta không bỏ mà cũng không theo hẳn bản được gọi là “diễn âm” của Nguyễn Du Họ đọc một lúc cả hai tác phẩm bằng cách chỉ ngâm nga chữ của Nguyễn Du còn tất cả các ý tứ lại hiểu theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Làm thế có khác nào họ đã coi Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du tuy có ngôn từ đẹp đẽ nhưng chỉ là một bản dịch tồi, là một cuốn sách chưa hoàn chỉnh về ý tứ, không tự thể hiện được bằng chính ngôn từ của nó buộc người đọc phải tra cứu từng chi tiết của “nguyên truyện” mới hiểu nổi? Chúng tôi cho rằng cách đọc lắp ghép như vậy chỉ có thể tạo ra một hình nhân không bản sắc theo kiểu “hồn Trương Ba da hàng thịt” mà thôi Đó là cách đọc bất ổn
Bởi thế chúng tôi không đồng ý với cách đọc gò cho chữ của Nguyễn Du phải thể hiện được ý của Thanh Tâm Tài Nhân, bắt chữ Nguyễn Du phải tải đạo của Thanh Tâm Tài Nhân như vậy Chúng tôi thấy chính cách đọc Kiều theo lối lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia đó đã tạo ra những nghi vấn phức tạp chứ không phải bản thân truyện khó hiểu Truyện Kiều là tác phẩm hoàn chỉnh được xây dựng rất công phu nên chúng tôi chỉ đọc và hiểu trên chính những từ ngữ của Nguyễn Du với niềm tin rằng chỉ có như thế mới hiểu đúng những gì tác giả muốn thể hiện (“đọc nôm”) Về các yếu tố bình dân trong truyện Kiều Các nhà hiệu đính và chú giải truyện Kiều trước đây đều cho rằng: Nguyễn Du là nhà hàn lâm nên chữ nghĩa truyện Kiều cũng thuần túy hàn lâm Trong truyện Kiều không có các yếu tố bình dân và tiếng địa phương, hoặc nếu có thì cũng không đáng kể và do người đời sau thêm vào chứ không phải chủ ý của Nguyễn Du Với quan niệm đó, họ chỉ tra cứu trong các kho thư tịch cổ Trung Hoa để tìm lời giải đáp cho các câu chữ của Nguyễn Du, kể cả những chữ thuần túy tiếng địa phương Nghệ Tĩnh Cho đến nay, các kho thư tịch cổ Trung Hoa vẫn là nguồn tài liệu duy nhất của họ Tất nhiên những từ ngữ đó không
Trang 4có trong các kho thư tịch cổ Trung Hoa nên họ không thể tìm thấy điều cần tìm Kết quả là các yếu tố bình dân trong truyện Kiều đã bị bỏ qua, các chữ thuần túy tiếng địa phương đã bị biến đổi như “người đời sơ” thành “người đời xưa”, “giữa vời” thành “nửa vời”… hoặc giải thích sai lạc đến mức hài hước như “đãi đằng” là “la hét”, “đề huề” là “mang xách”…
Đáng chú ý là các yếu tố bình dân đều được tác giả lựa chọn với mục đích rõ ràng chứ không tùy tiện hay vì bí mà phải dùng Đó là những yếu tố có nguồn gốc bình dân nhưng không thô thiển mà rất tinh tế Việc sử dụng các yếu tố đó vào truyện Kiều cho thấy Nguyễn Du có ý thức chắt lọc những tinh hoa văn hóa dân gian để bổ sung cho văn chương hàn lâm thêm phong phú Mọi tầng lớp người Việt Nam đọc Kiều đều thấy truyện gần gũi, quen thuộc là bởi truyện đầy ắp các yếu tố dân gian này Tuy nhiên các yếu tố này đã bị các nhà hiệu đính trước đây do nhãn quan sai lầm làm cho khuất lấp ít nhiều
Chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ trở lại vấn đề này trong cuốn “Tìm hiểu truyện Kiều”, nhà xuất bản Nghệ An, năm 2004 (giới thiệu trên “Diễn đàn truyện Kiều” với
ký hiệu từ A1 đến A7) Tiếp đến trong cuốn “So sánh dị bản truyện Kiều”, chúng tôi
tiến hành khảo cứu các dị bản và chú thích với tinh thần chú ý đúng mức đến sự có mặt của các yếu tố bình dân trong tác phẩm
Với 2 luận điểm cơ bản quyết định đến mục tiêu và đường hướng nghiên cứu này, công trình nghiên cứu truyện Kiều của chúng tôi mở ra một hướng tiếp cận mới chưa có tiền lệ Chúng tôi muốn trả lại cho Đoạn trường tân thanh những gì vốn có của nó nhưng đã bị các nhà hiệu đính trước đây tước bỏ
c.Phương pháp bản trục không theo quy trình nghiên cứu khoa học Thể hiện ở hai
điểm sau
Thứ nhất, hiện có đến mấy chục bản Kiều đã sưu tầm được, trong đó có đến hàng ngàn dị bản cần phân định Nhưng các tác giả hiệu đính truyện Kiều theo phương pháp Bản trục lại không phân loại dị bản Được biết việc phân loại tư liệu trong nghiên cứu khoa học (cũng như phân loại đối tượng trong quản lý) là rất quan trọng Đôi khi chỉ bằng việc phân loại chính xác, người nghiên cứu đã tìm thấy kết quả Nhưng vì không phân loại dị bản nên họ không xác định được đâu là điểm trọng
Trang 5yếu, thứ yếu Từ đó công việc hiệu đính của họ chỉ tập trung vào những dị bản thứ yếu, trong lúc các dị bản thuộc loại quan trọng ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thì lại bỏ qua Việc hiệu đính như vậy chỉ mới ở dạng rất sơ lược, chưa đi vào trọng tâm nên chưa giải quyết được vấn đề theo yêu cầu đặt ra một cách thỏa đáng
Trái lại, họ đã xử lý văn bản theo một quy trình ngược Họ chọn lấy ngay từ đầu một hoặc vài ba bản mà họ cho là có giá trị hơn cả để làm bản trục Tức là họ đã chọn kết quả trước khi nghiên cứu (thường là theo thói quen, theo cảm tính hoặc theo những đặc điểm bên ngoài của văn bản) Để rồi thực chất quá trình hiệu đính của họ chỉ là tìm cách hợp lý hóa sự chọn trước đó Đồng thời họ cũng loại bỏ ngay
từ đầu nhiều bản Kiều theo họ là không có giá trị chỉ với những nhận xét sơ lược mà chưa có bất cứ một thẩm định khoa học nghiêm túc nào (Người làm khoa học đúng nghĩa thì không bỏ qua bất cứ một dấu vết nào dù là nhỏ nhất liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu một khi chưa khảo sát kỹ càng) Cách thức xử lý tài liệu như vậy cho thấy phương pháp Bản trục phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan của người hiệu đính (đôi khi có tính định kiến, tính gia truyền hoặc tâm lý đám đông) nên thiếu tính khách quan, khoa học
Thứ hai, các nhà Bản trục không có những nghiên cứu cụ thể về cấu trúc và phong cách văn chương của tác phẩm để rút ra những đặc trưng cơ bản của văn Kiều làm
cơ sở cho việc hiệu đính Họ chỉ dựa vào cảm nhận mang tính chủ quan về phong cách Nguyễn Du, nhưng không chỉ ra được dù chỉ một vài đặc trưng cụ thể của phong cách đó để người đọc cũng có thể lĩnh hội hoặc bác bỏ Từ đó việc hiệu đính của họ thường dựa trên cảm tính hoặc căn cứ vào những dấu hiệu bên ngoài (như bản đó do yếu nhân nào sưu tầm, do thư viện nước ngoài nào tàng trữ…) thậm chí
họ chiều theo thói quen người đọc
Để tránh cách làm sai lầm đó, chúng tôi coi các tài liệu thu thập được đều có giá trị ngang nhau tức là đều đáng tin và đáng ngờ như nhau Tiếp theo chúng tôi tiến hành phân loại tất cả các dị bản, không ưu tiên hay gạt bỏ một bản nào Nhờ việc phân loại dị bản một cách khách quan như vậy nên chúng tôi đã phân biệt được đâu là những dị bản ít quan trọng thường xuất hiện ngẫu nhiên trong quá trình truyền bản (loại dị bản này rất dễ nhận thấy và cũng dễ khôi phục Đa số 17 chữ trong 15 câu do chúng tôi khôi phục đều thuộc loại này) và đâu là những dị bản đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật tác phẩm xuất hiện do sự sửa chữa cố ý Chúng tôi đặt trọng tâm vào việc hóa giải các dị bản đặc biệt quan trọng (nhưng chưa được khảo sát) này
Để làm được điều đó, trước khi hiệu đính chúng tôi đã có một công trình nghiên
cứu về văn chương truyện Kiều Đó là cuốn “Tìm hiểu truyện Kiều”, nhà xuất bản
Nghệ An năm 2004 Trong đó chúng tôi đã tìm hiểu về cấu trúc và phong cách tác phẩm Đoạn trường tân thanh, chỉ ra những đặc trưng cụ thể của văn Kiều Chúng tôi cũng chứng minh sự có mặt của các yếu tố bình dân trong tác phẩm, đặc biệt là tiếng địa phương Nghệ Tĩnh và đã được nhà xuất bản Nghệ An thẩm định Những kết quả nghiên cứu đó chính là cơ sở, là phương tiện hữu hiệu để chúng tôi tiến hành so sánh tất cả các dị bản một cách chi tiết, đi sâu vào ruột chữ, khảo sát gen văn của truyện
Trang 6Kiều để chỉ ra những sự khác biệt dù là rất nhỏ giữa các dị bản đó, chỉ ra cái đúng cái sai và chọn lấy cái đúng nhất, hay nhất
d.Phương pháp Bản trục đặt ra những tiêu chí khá mơ hồ như chọn câu chữ hợp lý,
hợp phong cách Nguyễn Du hoặc hợp với thói quen sử dụng của công chúng trong lúc nhà nghiên cứu lại chưa định rõ thế nào là hợp lý, thế nào là phong cách Nguyễn
Du Bởi thế các nhà Bản trục học thường chỉ trình bày cụ thể cách chọn đối với vài
ba câu, chữ điển hình để làm ví dụ trước khi công bố văn bản do họ hiệu đính Còn toàn bộ quá trình chọn từng câu, chữ như thế nào thì họ không trình bày nên người khác không có cơ hội tham khảo và kiểm định Chỉ có Nguyễn Quảng Tuân là người đầu tiên đã bàn luận về khá nhiều câu, chữ (khoảng trên dưới 100 câu) một cách chi tiết trong cuốn “Chữ nghĩa truyện Kiều” năm 1991 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu dị bản truyện Kiều một cách chi tiết, công phu và trình bày công khai để mọi người cùng tham khảo và thẩm định Tuy nhiên Nguyễn Quảng Tuân chỉ mới phân tích các dị bản để tranh biện với từng bản Kiều trước đó chứ chưa đặt thành vấn đề khảo sát toàn bộ các dị bản một cách hệ thống để tìm đến một văn bản hoàn chỉnh Chúng tôi cũng theo cách đó nhưng đã tiến hành khảo sát một cách có hệ thống tất cả các dị bản quan trọng, tức dị bản về ý của tác phẩm Để đạt đến một văn bản tối ưu, chúng tôi đặt ra những tiêu chí rất rõ ràng mà cũng rất khắt khe Sau hết
để bạn đọc có cơ sở giám sát và góp ý, chúng tôi trình bày cả quá trình chọn câu chữ của mình (tất cả 340 câu thuộc loại dị bản quan trọng), chỉ ra những cái sai, cái đúng, cái hay, cái chưa hay của từng dị bản Như vậy công việc hiệu đính truyện Kiều của chúng tôi khác hẳn việc hiệu đính của các tác giả trước đây từ lý thuyết, phương pháp cho đến thao tác tiến hành và cách công bố kết quả
Vì theo một thuyết sai lầm dẫn đến một phương pháp thiếu chuẩn xác nên các nhà nghiên cứu truyện Kiều theo thuyết Lời truyền và phương pháp Bản trục đều đi đến cùng một kết quả: Nhiều từ ngữ bị giải thích hoặc phiên âm sai lạc Tác phẩm tồn tại nhiều bất hợp lý đến mức không hóa giải nổi Tính cách nhân vật và tư tưởng tác giả thiếu rõ ràng Họ thường phải cưỡng giải để cố hợp lý hóa những bất ổn do cách hiệu đính sai lầm của họ tạo ra nhưng rồi lại tạo ra những bất ổn mới khiến tình hình ngày càng phức tạp, càng gỡ càng rối Ngoài ra cũng còn phải kể đến hệ quả xấu do lối cưỡng giải của họ vô tình tạo ra đối với ngôn ngữ và phong tục Tóm lại cho đến nay có thể nói, phương pháp Bản trục đã bất lực trong việc hiệu đính truyện Kiều Lời tâm sự sau đây của một nhà Kiều học, GSTS Đào Thái Tôn là một ví dụ:
“Tôi đã thống kê 1100 câu thơ, tức xác suất 1/3 Truyện Kiều (7700 chữ) thì thấy
hệ Huế (bản Kinh) lệch hơn ba trăm chữ so với hệ Thăng Long (bản Phường) Vậy tất cả nguyên tác Truyện Kiều cũng chỉ nằm ở khoảng ba trăm chữ này thôi, cứ thế
mà nhân ba lên, là 1500 chữ, thì cũng rất ít Ít nhưng đến đời con tôi cũng không lần
mò được hết những chữ đích thực của Nguyễn Du Nhưng mà, sinh ra nghề thì phải làm thế thôi…” (xem bài: “Tìm nguyên tác truyện Kiều không tưởng”)
Đào Thái Tôn làm nghề tìm chữ Nguyễn Du ăn lương nhà nước hẳn hoi chứ không phải là dân tài tử ăn lương vợ như chúng tôi Vậy thì với 1500 chữ, giả dụ cứ mỗi ngày lần tìm lấy một chữ thôi, cũng chỉ mất dăm năm là xong Nhưng vì không có được một phương pháp đủ độ tin cậy để phân biệt đâu là chữ Nguyễn Du nên sau hàng chục năm làm nghề ông vẫn tỏ ra bất lực và bi quan như vậy
Trang 7Thực ra như đã phân tích, mấu chốt của vấn đề nằm ở việc trả lời 2 câu hỏi không đến nỗi quá khó: Truyện Kiều của Nguyễn Du là một bản dịch hay một sáng tác? Trong truyện Kiều có yếu tố bình dân hay chỉ thuần túy hàn lâm? Chỉ cần trả lời 2 câu hỏi này (thậm chí chỉ cần trả lời câu đầu) một cách dứt khoát theo lối trắc nghiệm là “có” hay “không” thì mọi việc sẽ sáng tỏ ngay thôi Khi đó người nghiên cứu sẽ dễ dàng tìm ra phương hướng mà không phải mò mẫm nữa Nhưng nhà làm nghề tìm chữ Nguyễn Du với đủ chức danh chức vụ học hàm học vị đó lại tiến hành nghiên cứu theo một quy trình ngược nên đã xác định sai phương hướng nghiên cứu, nói nôm na là ông bị lạc đường Mà lạc đường thì không đến được đích là phải rồi Đào Thái Tôn cũng như các nhà Bản trục luôn lãng tránh 2 vấn đề mấu chốt nói trên
Họ nói một đằng làm một nẻo Họ tuyên bố tôn trọng chữ của Nguyễn Du, tôn trọng thậm chí là sùng bái sự sáng tạo của Nguyễn Du nhưng trong hành động thực tế thì lại tìm cách gò cho chữ Nguyễn Du phải tải đạo Thanh Tâm Tài Nhân Như thế có khác nào họ tìm cách làm mất đi những sáng tạo của Nguyễn Du, vứt đi chính cái họ muốn tìm! Cứ như vậy thì đến đời cháu, đời chắt họ cũng không thể tìm ra chữ Nguyễn Du chứ đừng nói đời con
Trái lại quan niệm và phương pháp chúng tôi trình bày trong 2 cuốn: “Tìm hiểu truyện Kiều” và “So sánh dị bản truyện Kiều” đã trở thành phương tiện hữu ích, đủ
độ tin cậy giúp chúng tôi tìm đến một bản Kiều cân đối, hài hòa và hợp lý về mọi
phương diện (Bản 2006) Kết quả đó cho thấy đến nay những văn bản truyện Kiều
thu thập được là khá đủ để chúng ta có một bản Kiều thỏa mãn yêu cầu hiệu đính khắt khe nhất (chỉ cần khôi phục 17 chữ trong 15 câu) Những kết quả đạt được là tốt đẹp và thú vị đến mức bất ngờ Chẳng hạn, chúng tôi tìm ra một mạch thời gian chính xác đến từng ngày, có khi từng giờ Những câu miêu tả thời gian được thể hiện rất hào hoa phong nhã khiến 200 năm qua, nhiều người đã thuộc lòng truyện Kiều mà vẫn không nhận ra Họ vẫn ngỡ đó chỉ là những câu tả cảnh, tả tình hoặc để mào đầu hoặc để lấp chỗ trống mà không ngờ đó lại là những miêu tả rất khoa học
về một mạch thời gian có độ chính xác khá cao Kết quả đó cũng chứng minh khả năng diễn đạt chuẩn xác của ngôn ngữ Việt, điều mà ngày nay các nhà lập pháp và các nhà kinh doanh rất cần để sử dụng trong các văn bản pháp quy, các hợp đồng kinh tế
Chúng tôi cũng như mọi người đương thời đều chỉ được học Kiều theo cách đọc chữ, không thấy ai nói đến cách đọc nôm cho mình có chút khái niệm ban đầu Nhưng rồi khi biết độc lập suy nghĩ thì mới ngộ ra nhiều thứ, mới thấy rằng cách đọc chữ có vẻ tài hoa, bác học đó thực ra là không đúng, nó tạo nên cho truyện Kiều nhiều cái ngớ ngẩn Rồi chúng tôi thử tiếp cận truyện Kiều theo cách đọc nôm, tức là chỉ đọc chữ của Nguyễn Du và tư duy trên nền những phong tục tập quán đã trở thành truyền thống Theo cách này, chúng tôi như lạc vào một thế giới mới hết sức thú vị trong chính cái tác phẩm cổ điển mà cách hiểu được coi đã ổn định này, y như
từ trước đến nay mình chưa hề đọc đến vậy Tất nhiên đầu tiên chúng tôi cũng chưa dám tin vào những phát hiện của mình và ngờ rằng đó có thể chỉ là ngẫu nhiên, là vô tình Nhưng càng suy ngẫm chúng tôi càng tin rằng chỉ có lao động nghiêm túc, cần mẫn và sáng tạo mới sáng tác được một tác phẩm kỳ diệu như vậy Chúng tôi ngày càng tin tưởng vào sự đúng đắn của cách đọc nôm, muốn qua công trình nghiên cứu của mình chia sẻ với bạn đọc những cảm nhận thú vị đó
Trang 8Sau đây là những câu, chữ cụ thể nhà thơ Vương Trọng đã bàn
2 Khách viễn phương làm gì ?:
Đây là đoạn từ câu 61 đến câu 80, Vương Quan kể về nàng kỹ nữ Đạm Tiên như
sau:
61 Vương Quan mới dẫn gần xa:
“Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi
Nổi danh tài sắc một thì
Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh
65 Kiếp hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương
Có người khách ở viễn phương,
Xa nghe nức tiếng đánh đường tìm chơi
Thuyền tình vừa ghé tới nơi,
70 Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ
Buồng không lặng ngắt như tờ,
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh
Khóc than khôn xiết sự tình:
"Khéo vô duyên bấy là mình với ta
75 Đã không duyên trước chăng mà,
Thì chi chút ước gọi là duyên sau."
Sắm sanh nếp tử xe châu
Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa
Trải bao thỏ lặn ác tà,
80 Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!”
Đoạn này không có dị bản (trừ bụi hồng/vùi nông) nên việc hiệu đính ở đây chủ
yếu là tìm cách hiểu hợp lý
Trang 9Dĩ nhiên đoạn này cũng được các nhà chú giải trước đây giải nghĩa theo cách “đọc
chữ” tức là bắt chữ Nguyễn Du phải diễn đạt được ý của Thanh Tâm Tài Nhân như nhà thơ Vương Trọng trích dẫn:
Trong "Kim Vân Kiều truyện", Vương Quan giải thích cho Thúy Kiều như sau:
"Đấy là mộ Lưu Đạm Tiên, danh kỹ đệ nhất đất Bắc Kinh này Lúc nàng sống có một hồi đã vang động tiếng tăm Sau khi chết, mụ dầu (chủ chứa) bất nhân định vứt
bỏ xác nàng ra khe suối, may gặp người khách ở xa tới thăm, thấy nàng đã chết thì nức nở khóc than Thế rồi người khách sắm xiêm áo quan quách khâm liệm chôn nàng ở đây Là nấm mồ cô đơn vô chủ thì còn ai lui tới viếng thăm?"
Nhà thơ Vương Trọng không quan tâm đến lời chàng Vương Quan của Nguyễn
Du mà chỉ chú ý đến lời chàng Vương Quan của Thanh Tâm Tài Nhân Nhà thơ lấy
ý của Thanh Tâm Tài Nhân là “người khách viễn phương chôn Đạm Tiên” để áp vào cho Nguyễn Du và phản bác lại cách “đọc nôm” mà chúng tôi đã trình bày
Trong cuốn “So sánh dị bản truyện Kiều”, chúng tôi đã chỉ ra những cái bất ổn
trong việc buộc lời văn của Nguyễn Du phải diễn đạt được ý của Thanh Tâm Tài Nhân là “người khách viễn phương chôn Đạm Tiên” (Trên diễn đàn truyện Kiều là bài B11- Chọn dị bản câu 32- 96) Nay chúng ta sẽ lần lại theo những miêu tả của Nguyễn Du để thấy rõ hơn (Lưu ý phong cách dẫn truyện của Nguyễn Du là chậm rãi, rõ ràng, chính xác và mạch lạc Bởi thế người đọc cũng phải cẩn trọng lắng từng lời, từng ý của ông mới hiểu được Đọc vội vàng khó hiểu thấu văn Kiều):
Câu 69, 70: “Thuyền tình vừa ghé tới nơi Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ”
“Trâm gãy bình rơi” là cách nói hình ảnh để chỉ việc Đạm Tiên chết Khi người
khách đến thì Đạm Tiên đã chết từ bao giờ rồi Bởi thế người khách thấy:
Câu 71: “Buồng không lặng ngắt như tờ” “Buồng không” là căn phòng lúc đó
không có người, Đạm Tiên không ở trong phòng (vì ngay cả nếu còn cái xác Đạm Tiên ở đó thì cũng không thể gọi là buồng không được) Như vậy câu này xác nhận việc Đạm Tiên chết miêu tả ở câu trên Thiết nghĩ đối với người đọc thì như thế là rõ rồi Tất nhiên với người khách viễn phương thì anh ta chưa thể biết được tại sao buồng của Đạm Tiên lại là “buồng không lặng ngắt” như vậy, hay có thể nàng đi vắng? Cho nên Nguyễn Du tả tiếp:
Câu 72: “Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh” Người khách sau khi vào phòng không
gặp một ai thì quay ra, ngờ ngợ nên mới quan sát và thấy cái sân đã lên rêu lờ mờ xanh Lớp rêu mới mọc đều trên dấu xe ngựa thông báo cho người khách biết rằng, ở đây đã lâu không có người qua lại, nhà vắng chủ đã lâu Dĩ nhiên khi đó người khách sẽ từ dấu tích trên hiện trường đó để suy ra thời gian Đạm Tiên đã chết không mấy khó khăn
Định đến với Đạm Tiên nhưng nàng đã chết từ lâu, người khách mới tính rằng:
Câu 75, 76: “Đã không duyên trước chăng mà Thì chi chút ước gọi là duyên sau”
“Chút” là vật có giá trị nhỏ “Chút ước” là vật mọn tượng trưng cho ước nguyện của người đó về cái “duyên sau” với Đạm Tiên Rồi anh ta đi mua sắm
Trang 10Câu 77: “Sắm sanh nếp tử xe châu” Thế thì “nếp tử xe châu” chỉ có thể là những
thứ để làm lễ cúng tuần cho Đạm Tiên chứ không thể là những thứ để chôn Đạm
Tiên được Vì Đạm Tiên chết đã mấy tháng rồi Cụ thể “nếp tử xe châu” chỉ là
những đồ táng giấy (gồm nếp nhà táng giấy và cỗ xe châu cũng bằng giấy Đúng là những vật mọn) để hóa cho người chết Bằng những lễ vật cúng tế đó, người khách muốn hẹn với Đạm Tiên rằng, kiếp sau anh ta sẽ đón dâu nàng bằng cỗ xe châu đó,
về nếp nhà nho nhỏ đó để sống cùng nhau (theo kiểu như ngày nay ta gọi là: Một
mái nhà tranh hai trái tim vàng) Cái “Chút ước gọi là duyên sau” của anh ta đơn giản chỉ có vậy Còn nếu hiểu “nếp tử” là cỗ quan tài và “xe châu” là cái xe tang như
chú giải của các bản Kiều trước đây thì chẳng lẽ cỗ quan tài và cái xe tang lại là vật ước cho cái "duyên sau" của người khách đó ư?
Nhưng dù sao đó cũng là cái lễ cúng duy nhất cho Đạm Tiên Rồi từ đó ngôi mộ nàng không được chăm sóc hương khói, bị bỏ mặc cho hoa cỏ mọc hoang, không
người thăm viếng: “Bụi hồng một nấm mặc dầu cỏ hoa Trải bao thỏ lặn ác tà Ấy
mồ vô chủ ai mà viếng thăm…”
Đó là những gì chúng tôi đọc được trong đoạn thơ đó, tuyệt nhiên không thấy bất
cứ một chi tiết nào dù là rất nhỏ để chứng tỏ có việc chôn Đạm Tiên
Thế nhưng các bản Kiều trước đây đều chú thích theo ý của Thanh Tâm Tài Nhân
là người khách chôn Đạm Tiên bằng cách gò ép các tình tiết một cách khiên cưỡng
và giải thích sai lạc nghĩa chữ của Nguyễn Du (cưỡng giải) Nói thẳng ra là họ đã bóp méo những miêu tả của Nguyễn Du để đạt được mục đích là có sự chôn Đạm Tiên Bởi thế chúng tôi đã chỉ ra những gò ép sai lạc trong các cưỡng giải đó gồm: Hình ảnh rêu lờ mờ xanh chứng tỏ Đạm Tiên chết đã mấy tháng rồi nên không còn việc chôn nữa Chữ “nếp” không ai dùng để chỉ cái quan tài Xe tang thì người ta dùng chung của cộng đồng hoặc đi thuê chứ không ai “sắm sanh” vì đó là điều kiêng
cữ Việc dùng gỗ “tử” tức gỗ thị để đóng quan tài là bất ổn Và việc dùng “xe châu”
để đưa ma là trái với phong tục tập quán
Nhà thơ Vương Trọng không nhắc đến việc dùng chữ “nếp” và việc “sắm” xe tang, chỉ phản bác chúng tôi về 3 ý: Hình ảnh rêu lờ mờ xanh, việc đóng quan tài bằng gỗ thị và việc dùng xe châu để đưa ma Nay xin bàn lại cho rõ
.Về hình ảnh “rêu lờ mờ xanh” trên dấu xe ngựa Chúng tôi cho rằng đây là cách
Nguyễn Du miêu tả để giúp người đọc luận ra khoảng thời gian Đạm Tiên chết Tuy nhiên để hợp lý hóa hình ảnh “rêu lờ mờ xanh” nhằm bảo vệ quan điểm người khách chôn Đạm Tiên, nhà thơ Vương Trọng đưa thêm tình tiết “Đạm Tiên ốm” như sau:
"Liệu ông có biết Đạm Tiên ốm trong bao lâu không, và khi Đạm Tiên ốm thì chắc không "Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh" chứ? Ca kỹ như Đạm Tiên, người ta chỉ ghé thăm khi xinh đẹp, còn khi ốm đau bệnh tật là không ai đoái hoài, dấu xe ngựa tha hồ lên rêu xanh, chứ không chỉ đợi đến khi nàng chết đâu Bởi vậy không thể dùng hiện tượng rêu lên xanh để tính thời gian Đạm Tiên đã chết trước khi người khách phương xa đến được."
Trang 11Chúng tôi thấy lập luận trên bất ổn Bởi việc “Đạm Tiên ốm” là do nhà thơ sáng tác thêm ra chứ không có trong miêu tả của Nguyễn Du Nguyễn Du không có bất cứ một miêu tả nào dù là thoảng qua để nhà thơ có thể từ đó suy ra việc Đạm Tiên ốm
Dĩ nhiên nghiên cứu là phải suy luận, nhưng người nghiên cứu khách quan thì phải giới hạn suy luận chỉ trên những gì tác giả viết để rút ra một kết quả chính xác và duy nhất Người đọc chỉ có thể dựa trên những miêu tả hiện tượng để tìm ra bản chất
sự việc, chứ không phải là xuất phát từ một sự việc này để suy luận thêm ra sự việc khác (nếu cứ giải thích theo cách từ việc sau suy ra việc trước như vậy thì có thể suy miết về tận lúc Đạm Tiên mới sinh) Như thế là sáng tác thêm, là vẽ rắn thêm chân, một điều tối kị trong việc nghiên cứu vì rất dễ bị chệch hướng Thật vậy, sự việc do nhà thơ suy luận thêm này sẽ tạo ra những bất hợp lý mới nữa Chẳng hạn: Có phải
ai chết cũng là do ốm cả đâu? Rồi căn phòng có người ốm đang nằm thì có thể gọi là
“buồng không” được không? Rồi việc chôn Đạm Tiên cho khỏi thối mà mụ chủ cũng không chôn Vậy khi Đạm Tiên ốm lâu đến hàng tháng như thế ai nuôi? Rồi nếu có người nuôi Đạm Tiên thì họ cũng phải đi qua cái sân đó để đưa cơm nước thuốc thang chứ, sao không để lại dấu chân trên rêu? Và nếu ai đó có lòng tốt mà bỏ công, bỏ của ra nuôi Đạm Tiên thì khi nàng chết sao lại không chôn? Rồi nếu người khách đó đã quan tâm đến Đạm Tiên một cách tận tình, không quản tốn kém, đóng
"quan tài bằng gỗ tử", "sắm sanh" hẳn một cỗ xe tang để đưa ma thì sao không mua
luôn ít gạch về xây cho nàng một nấm mộ, lại còn tiếc mấy cục đất mà không đắp
cho mộ cao lên, để đến nỗi phải "sè sè nấm đất bên đàng" như vậy? Rõ là luẩn
quẩn
Cách cưỡng giải vẽ rắn thêm chân để gò cho lời của Nguyễn Du phải diễn đạt được ý của Thanh Tâm Tài Nhân đã tạo ra một người khách viễn phương vừa ngớ ngẩn vừa ngông nghênh trái thói thường và tạo nên rất nhiều những bất hợp lý mới
Và để hợp lý hóa, chắc chắn nhà thơ lại phải vẽ thêm vây thêm cánh cho con rắn đó nữa làm cho sự việc cứ càng ngày càng thêm phức tạp, càng gỡ càng rối Điều này
đã từng xảy ra với nhiều nhà nghiên cứu trước đây Nói chung tình hình phức tạp chung quanh cách hiểu truyện Kiều hiện nay đa phần là do cách đọc sai rồi cố hợp lý bằng cái sự vẽ rắn thêm chân này tạo ra
Cách suy luận của nhà thơ khác xa với việc chúng tôi từ các dấu tích được tác giả
mô tả để suy ra bản chất sự việc mà tác giả muốn thể hiện với một kết quả duy nhất Khi khảo sát phong cách, chúng tôi thấy những bài toán tình huống do Nguyễn Du
ra đề luôn đảm bảo 2 yếu tố cần và đủ để cho duy nhất một kết quả mà không phát sinh thêm bất cứ hệ quả nào Từ đó chúng tôi xây dựng nên phương pháp hiệu đính của mình Đó là phương pháp tìm hiểu, suy ngẫm để lắng lọc lấy ý Nguyễn Du chứ không áp đặt theo ý của Thanh Tâm Tài Nhân và cũng không sáng tác thêm văn cảnh để hợp lý hóa cái không hề có như nhà thơ đang làm
Trái lại trước đó Nguyễn Du đã nói rõ là Đạm Tiên không ốm Thật vậy, ngay từ
câu 66, tác giả kể về cái chết của Đạm tiên là: "Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương"
"Nửa chừng xuân” là đang xuân xanh, trẻ đẹp và khỏe mạnh
“Gẫy cành thiên hương" là chết
Trang 12Còn "thoắt" là Đạm Tiên chết đột ngột, chết bất đắc kỳ tử chứ không đau lâu ốm
dài Theo quan niệm dân gian, người chết đột ngột lúc đang khỏe mạnh như vậy thì
"khỏe ma", thì thành ma thiêng chứ không phải là ma ốm, ma đói Sau này tính cách nhân vật Đạm Tiên cũng được Nguyễn Du cho phát triển đúng như giới thiệu mở đầu này, là một con ma thiêng
Như vậy là bằng một chữ “thoắt” Nguyễn Du đã nói rõ với người đọc rằng, Đạm
Tiên không hề ốm Nàng chết đột ngột Cho nên hình ảnh “Dấu xe ngựa đã rêu lờ
mờ xanh” không phải để chỉ thời gian Đạm Tiên ốm như nhà thơ biện bạch mà chỉ
thời gian Đạm Tiên chết như chúng tôi đã trình bày
Khi so sánh tác phẩm của Nguyễn Du với Thanh Tâm Tài Nhân, nhiều nhà nghiên cứu đều thấy Nguyễn Du đã làm giảm mức độ man rợ đi nhiều (như các cảnh đánh đập, tra khảo, hành hình…) Riêng đối với văn cảnh này để tả cái bạc mệnh, đau khổ của Đạm Tiên sau khi chết, quan điểm của Nguyễn Du cũng khác hẳn so với Thanh Tâm Tài Nhân Cùng tả về cái khổ của Đạm Tiên nhưng Thanh Tâm Tài Nhân thiên
về cái khổ thể xác: chết mà bị vứt xác xuống rãnh, không chôn Còn Nguyễn Du lại thiên về cái khổ tinh thần: chết mà không được hương khói (cho thấy Nguyễn Du thật tinh tế, nhạy cảm) Bởi thực ra người khách phương xa của Nguyễn Du không
làm tuần cho Đạm Tiên Đó chỉ là lễ cúng để anh ta bày tỏ “chút ước gọi là duyên sau" của chính anh ta với Đạm Tiên mà thôi Đó là cái đau đớn tột cùng của một hồn
ma Vì theo quan niệm dân gian, một người chết mà không được phụng thờ hương khói là điều bất hạnh lớn nhất Rõ ràng Nguyễn Du đã sáng tác với tư tưởng khác hẳn tư tưởng của Thanh Tâm Tài Nhân chứ không phải là dịch thuật như nhiều người áp đặt
.Về việc dùng gỗ thị để đóng quan tài Nhà thơ viết: "Ông Quế bảo xưa nay không
ai dùng gỗ thị để đóng quan tài, điều đó có thể đúng với vùng quê ông sinh sống, nhưng "Truyện Kiều" là kể chuyện thời "Gia Tĩnh triều Minh" bên Trung Hoa, cách đây hơn 500 năm chứ đâu phải chuyện ở Việt Nam hôm nay Ai dám bảo đảm thời
đó không ai dùng gỗ thị đóng quan tài?"
Chúng tôi không bảo: “xưa nay không ai dùng gỗ thị để đóng quan tài” Về điểm này, nhà thơ đã tóm tắt thiếu chính xác dễ gây hiểu nhầm Cho nên câu hỏi: “Ai dám bảo đảm thời đó không ai dùng gỗ thị đóng quan tài?" không thuộc phạm vi trả lời
của chúng tôi
Tuy nhiên theo chỗ chúng tôi biết thì người ta có thể dùng đủ thứ vật liệu để đóng quan tài Việc dùng vật liệu gì để đóng quan tài không những phụ thuộc vào thời mà còn tùy thế tức là tùy từng hoàn cảnh cụ thể nữa Hoàn cảnh cụ thể ở đây là người khách từ phương xa đến Anh ta không thể về quê để chặt thị nhà mà phải tìm mua
cây thị ở ngay tại “thành phố thủ đô Bắc Kinh”, đó là một việc không dễ Cho nên chúng tôi đã đặt câu hỏi nguyên văn như sau: “Nhưng trên thực tế, thị là cây ăn trái,
gỗ thị có chất lượng rất xấu, hiếm cây thẳng, lại lắm mắt rất khó cho thợ mộc cưa bào Đặc tính sinh học của giống thị là dẫu có trồng cả trăm năm cũng không có cây đủ lớn để đóng quan tài Hơn nữa, thời đó còn nhiều rừng, lắm cây to vừa tốt vừa rẻ sao không dùng, lại chặt cây thị để lấy gỗ đóng quan tài?”