1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thăm dò và truyền đạo những hoạt động đầu tiên của các giáo sĩ phương tây tại tây nguyên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

10 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Thành Tâm Tóm tắt Nửa cuôĩ thế kỷ XIX, trong cơn lốc truy sát đạo của triều Nguyễn, một SỐ giáo s ĩ Pháp b ấ y g iờ đ ã tìm c á c h lá n h lê n Tây Nguyên và thực hiện sứ mệnh truyền

Trang 1

THĂM DÙ VÀ TRUYỀN ĐẠO: NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU

TIÊN CỦA CÁC 9IÁ0 s ĩ PHƯƠNG TAY TẠI TÂY NGUYÊN

CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THÊ KỶ XX

ThS Hồ Thành Tâm

Tóm tắt

Nửa cuôĩ thế kỷ XIX, trong cơn lốc truy sát đạo của triều Nguyễn, một SỐ giáo s ĩ Pháp b ấ y g iờ đ ã tìm c á c h lá n h lê n Tây Nguyên và thực hiện sứ mệnh truyền bá Thiên Chúa giáo tại đây, Sau nhiều phen tìm đường thất bại, năm 185Í, với sự giúp đõ của một giáo sĩ bản xứ, người Pháp đã lần đầu tiên đặt chân lên khu vực thuộc tình Kon Tum ngày nay, biến nơi đây thành trung tâm truyền giáo cho toàn khu vực người Thượng ở Tây Nguyên Sự kiện này đánh dâu một cột mốc hết sức quan trọng trong lịch sử vận động tương tác giữa các tộc người trong khu vực Lần đầu tiên, giao lưu và tiếp biên văn hóa Đông-Tây xuâ't hiện nơi các tộc người thiểu sô' Tây Nguyên, mở ra một chương mói vói những tác động toàn diện, nhiều chiều và kéo dài đến hiện nay Bên cạnh tiếp thu nhửng nét mới của nền văn minh phương Tây, cuộc tiếp xúc này cũng đổng thời gây ra nhiều xáo trộn nhất định trong đời sông của thế giói người Thượng, dẫn đêh sự bất mãn và chông đốỉ kéo dài của họ đôì với người Pháp Tuy nhiên, trong một môi trường tương đối khác biệt, cho đến thập niên 1940, các phong trào kháng Pháp của người Thượng vẫn có nhiều nét khác so vói các hình thức vận động giải phóng của người Việt vùng đổng bằng

Tử khỏa: Tây Nguyên, thế kỷ XIX, giáo sĩ phương Tây

Trang 2

Thăm dò và truỵền đạo: N hững hoạt động đầu tiên củ a c á c m.

Cho đến thế kỷ XIX, vùng Tây Nguyên vẫn còn khá "bí hiểm " trong nhận thức của người đương* thời Mặc dù các khôi cư dân ở đây

từ râ't sóm đã thiết lập những mối quan hệ giao lưu kinh tê' văn hóa vởi các khu vực xung quanh (Champa, Ai Lao, Đại Việt) (Nguyễn Tuâln Triết, 2007: 41-46), thế nhưng, ngoài một vài ghi chép ít ỏi có thể tìm

thây trong các bộ sử (Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất

thống chí ), n g ư ờ i ta h ầ u n h ư k h ô n g b iế t g ì th ê m v ề d iễ n trìn h lịc h s ừ ,

văn hóa của vùng đất này Tây Nguyên, như vậy, gần như đứng bên

lề của lịch sử, một "châu Mỹ tiền Colomb"

1 Quá trình tìm đường lên Tây Nguyên của các giáo sĩ Pháp

Kể từ phần tư thứ hai của thế kỷ XIX, chính sách của triều Nguyễn đối vói công cuộc truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây dần trở nên siết chặt hơn Thay vi giữ một thái độ ôn hòa như Gia Long, các vị vua về sau, đặc biệt là Thiệu Trị và Tự Đức, đã ban hành nhiều chỉ dụ để hạn chế, câm đoán và đàn áp các giáo sĩ người Pháp và cả các giáo dân người Việt (Nguyễn Văn Kiệm, 2001: 202-254; Mai Đức Vinh, 2013) Kế đó, khi phong trào Cần Vương (1885-1897) bùng nổ, giói giáo sĩ cũng bị đặt vào tầm ngắm của các thủ lĩnh nghĩa quân Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam không những bị thách thức ghê góm mà chính bản thân các giáo sĩ cũng bị đe dọa tính mạng Chính điều này buộc họ, trong khi tìm cách bảo toàn mạng sông, đồng thời nhằm duy trì và phát triển công cuộc truyền giáo, phải tìm nơi tạm lánh sự truy nã của triều đình Tây Ngu yên được nghĩ đến như một noi lý tưởng cho các mục đích trên1

Nỗ lực đầu tiên nhằm mở đường lên miên Thượng diễn ra vào năm

1842 do hai vị thừa sai tiên phong là Midhe và Duclos theo ngà Phú Yên nhưng bất thành (Doumes, 2013: 34-36) Một sô' cuộc thăm dò từ Quiảng Ngãi và Quảng Nam cũng chịu chung sô' phận Những lái buôn người Kinh

1 Tuy danh nghĩa thuộc về nhà Nguyễn, nhưng trong một thòi gian dài, triều (đình Huế vân chưa thể tổ chức một bộ máy quản lý chặt chẽ và hiệu quả trên khu vực Trường Sơn-Tây Nguyên Một số vị quan lại ớ Quảng Nam có trách nhiệm kiêm quản lý khu vực Tây Nguyên, và thông thường, họ sử dụng một sô' vị thủ lĩnh bản địa đế thực hiện quyền thu thuế, công vật (Li Tana, 1998:125-129).

Trang 3

ThS Hồ Thành Tâm

thường xuyên lui tới các làng Thượng để trao đổi hàng hóa chính là môì nguy hiểm đôi với các vị thừa sai1 Pháp luật nhà Nguyễn trong khi đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt đôi với sự giao thưang giữa người Kinh với người Thượng, thì cũng khép vào tội chết những giáo sĩ tìm cách xâm nhập lên Tây Nguyên như trường hợp hai vị Miche và Duclos kể trên2 Như vậy, cho đến giữa thếkỷ XIX, cánh cửa Tây Nguyên vẫn chưa được mờ

Tình trạng bế tắc này vẫn kéo dài đến năm 1848 khi vị giáo sĩ Nguyễn Do tô't nghiệp khóa đào tạo tại Pinang về Gò Thị (Quy Nhon) gặp linh mục Cuénot thì cánh cửa này mới mở ra Trong vai đầy tó cho một đoàn lái buôn, Nguyễn Do đã khai thông con đường từ An Sơn (An Khê) để đi đến khu vực hiện nay là huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai3 vào khoảng giữa năm 1849 Bằng thắng lợi này, Nguyễn Do đã quay lại Gò Thị để đón một sô' vị giáo sĩ Pháp tiếp tục đi xa hơn về phía Bắc và cuôi cùng đặt chân đến vùng đổng bằng Đak Bla, nơi tụ cư truyền thông của người Bahnar, vào giữa năm 1851 (Dourisbourre, 1972:63-64)

Như vậy, cho đến thời điểm 1851 các giáo sĩ Pháp, trong khi trôn tránh lệnh truy nã của triều đình, đã tìm được đường thâm nhập lên cực Bắc Tây Nguyên, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình vận động lịch sử-văn hóa của các tộc người khu vực này

1 Linh mục p Dourisbourre cho biết, các thương lái người Kinh thường xuyên lui tới buôn bán vói vùng người Thượng cũng không ngần ngại gì nếu phát hiện và bắt giữ những giáo sĩ đang lẩn lút trên đường của họ để mang về lĩnh thường (Dourisbourre, 1972: 6).

2 Hai vị thùa sai này bị giải vệ Huế Trong khi đang chờ ngày hành quyết thì họ được một chiên hạm của Pháp đến giải cứu kịp thời.

3 Kháo sát lộ trình mà đoàn Nguyễn Do, p Dourisboưrre đã đi, về cơ bản trùng vói con đượng quôc lộ 19 hiện nay Một điều cần lưu ý là An Sơn (An Khê) chính là trung tâm buôn bán lâu đời giữa vùng đổng bằng duyên hải vói miôn núi phía Tây Cuộc khởi nghĩa của anh em Tây Sơn cũng chính bắt ngiiổn từ khu vực này đẩu tiên (Tạ Chí Đại Trường, 2007: 59-60) Sau khi lên ngỏi, vì e ngại một "Tây Sơn thứ hai" có thể xảy ra, triều đình đặt lệnh câm người Việt và người Thượng vượt quá ranh giới An Sơn để tiến hành buôn bán (Dourisbourre, 1972:7).

Trang 4

Thăm dò ưà trtiyền đạo: Những hoạt động đầu tiên củ a các,

2 Các hoạt động truyền bá Thiên Chúa giáo đầu tiên tại Tầy Nguyên

Trong chiến lược truyền bá Thiên chúa giáo do vị linh mục Cuénot

vạch ra, sau khi xây dựng được một ca sở tại vùng đổng bằng Đ ã l Bla

(vùng thành phô' Kon Tum hiện nay), các giáo sĩ có nhiệm vụ biến nơi đây thành trưng tâm truyền giáo cho toàn khu vực Tây Nguyên, sarg cả Lào (Dourisbourre, 1972: 41)

Sau khi vượt An Sơn trót lọt và đặt chân đêh vùng Đăk Đoa, trong vòng 5 tháng, các giáo sĩ đã xây dụng một cơ sở đạo tại Kon Kơxâm (nay là Kon Bah, xã Hà Tây, huyện Chư Pah) (Nguyễn Thị Kim Vân, 2010:80) Tuy nhiên, trong thòi gian ngắn này, phần vì các giáo sĩ chưa muốn dừng lá khi chưa tìm thây vùng đổng bằng Đăk Bla, phần vì bất đổng ngôn ngữ cho nên chưa thể cải đạo cho một ngưòd Thượng nào về phía những người bản địa, một sô' tỏ ra bất ngờ, ngạc nhiên trước sự xuâ't hiện của những con người khác xa về mặt nhân chủng, thậm chí có người còn âm mưu hãm hại đoàn truyền giáo Do vậy, những hoạt động tôn giáo đầu tiên chỉ được xúc tiên sau khi các giáo sĩ đã tìm được đường đêh vùng Kon Tum

Một trong những trờ ngại lón ban đầu đối vói các giáo sĩ khi đặt chân đến khu vực cư trú của người Bahnar đó là vân đề ngôn ngữ Tâm tính người Thượng khá hiền lành và nhút nhát, nếu không hiểu ngôn ngữ của họ thì không thể tiến hành việc cải đạo được Cho nên, trong thơi gian đầu, bên cạnh ổn định chỗ ăn ở thì các giáo sĩ rất chú tâm học tập ngôn ngữ của người bản xứ Vị giáo sĩ Dourisboure thuật lại cách các ông học tiếng Bahnar như sau:

"Sáng sớm và chiều tôĩ, thời gian duy nhất trong ngày mà anh em Thượng rảnh rang ở nhà!, chúng tôi lên nhà rông học hỏi năm ba từ Mỗi người cầm tay khúc bút chì và một mảnh giây, và vừa khi mà mình tưởng

đã nắm được ý nghĩa của một tiêng, liêh vội vã ghi vào Đêh lúc anh em Thượng đã đi rẫy hoặc đi ngủ, thì ba chúng tôi tụ họp lại, so sánh nhữĩtg điểu đã ghi chú, và đúc kết lại những điều mà chúng tôi đã học được hoặc tường là đã học được Chúng tôi hay hỏi ông Hmur nhiêu nhâị ông thường thức với chúng tôi rất khuya Trong ngày thì chúng tôi lẩm bẩm, bắt trí nhớ tiếp nhận những từ ngữ thâu thập được hôm trước, và ngày nào củng vậy cả, Sau một tháng rưỡi ờ nhà ông Hmur, chúng tôi đã ghi được một quyên sô7bự những từ là từ (Dourisbourre, 1972:56-57)

Trang 5

Ths Hồ Thành Tâm

Công trình này về sau được Dourisboure hoàn thiện và cho xuâ't bản tại Hongkong vào năm 1885, vài năm trưóc khi ông qua đời (1890) Chính nhờ công trình này của Dourisboure mà người Bahnar là tộc người đầu tiên ở Tây Nguyên có được bộ chử viết hoàn chỉnh

Công việc cải đạo thực châ't là "nhổ" truyền thông đa thần giáo vôh

đã bám rễ sâu trong nền văn hóa của các tộc người Tây Nguyên hàng nghìn năm và giác ngộ đạo Thiên Chúa cho họ Ngay lập tức, các giáo sĩ vâp phải sự chống đôí từ phía đại diện cho những tín ngưởng cổ truyền

của người Thượng, đó là các bơịâu (pháp sư, thây cúng) và những con người trưng thành của Yang Phản ứng của giói bơịâu trươc việc các giáo

sĩ truyền đạo cho người Thượng có nhiều dạng khác nhau Một sô' bơịâu

đã tự động tìm đến giáo sĩ xin từ bò ma thuật đế tin theo Chúa Đó có thể là vì người thân của họ đã tin Chúa trưóc và thuyết phục họ tin

cùng, như trường hợp hai vợ chổng bơịân mà vị giáo sĩ p Dourisboure

đã kể trong hồi ký của mình (Dourisbourre, 1972: 120-122) Ngược lại,

cũng có trường hợp bơịâu tìm cách hãm hại các giáo sĩ, buộc họ phải tìm

cách đối phó Và vũ khí của các giáo sĩ chính là đánh vào uy tín của các

bơịâu, xoáy vào sự không hiệu quả của ma thuật trưóc thực tiễn, trong

đó có việc chữa bệnh cho người ốm

Bên cạnh việc đập tan uy tín của các bơịâu, để thu phục được sự

tin tưởng của người Thượng, các giáo sĩ còn ra sức tổ chức, cải thiện đòi sống của người bản xứ Chúng ta biết rằng, an ninh lương thực của đa sô' người Thượng phụ thuộc vào hình thức canh tác rẫy khô mà hiệu suất của loại hình canh tác này lại do thời tiết quy định Sau khi chặt, đô't nhũng khoảnh rừng lớn xong, người ta tiến hành chọc lỗ tra hạt và sau đó phó mặc mùa màng cho thời tiết: nhửng năm mưa gió điểu hòa thì được mùa và ngược lại Cho nên, mặc dù định cư gần

n g u ồ n n ư ớc (sông, SUÔI ) n h ư n g n g ư ờ i B ah n ar k h ô n g h ề b iế t sử dụng nguồn nưóc đó để phục vụ sản xuất nông nghiệp1 Mâ't mùa, đói

1 Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi có ghi lại lời khấn của một người Bahnar trước khi làm lễ tria lúa như sau: "Hôm nay chúng tôi trỉa lúa, chúng tôi xin thần sấm sét, thần ya Pôm, thần lúa, thần núi, thần cây, thẩn đá đến ăn ucYng rượu, gan gà Các ông hãy thương chúng tôi, cho nhiều lúa gạo để

Trang 6

Thăm dò và truyền đạo: N hững hoạt động đầu tiên củ a các.*.

kém, do vậy luôn luôn là môi đe dọa thường trực đôì vói các tộc người Tây Nguyên Bằng kiến thức uyên bác cũng như kinh nghiệm học tập được từ những người nông dân Việt Nam, các giáo sĩ đã nhanh chóng nhận ra tiềm năng của vùng đổng bằng Đăk Bla màu mỡ, noi mà người Bahnar đã không biết khai thác Các giáo sĩ đã cử người đi mua trâu bò, nông cụ và hướng dẫn cho các giáo dân thực hành canh tác ruộng nưóc Phương thức canh tác mới trên vùng đổng bằng Đăk Bla

đã nhanh chóng phát huy được tác dụng của nó: vụ mùa 1867 tại làng

Jơri Kông "quá tốt đẹp ", không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu lương thục cho

ngươi dân mà còn được mang đi đổi lây muôi và các vật phẩm cần thiết tại vùng đổng bằng (Dourisbourre, 1972: 206-207) Người Bahrtar

ở các làng lân cận nhanh chóng bị thuyết phục bởi tính hiệu quả của phương thức canh tác mói, đã xin gia nhập vào làng Jơri Kông (Dourisbourre, 1972:201-202)1 và các nơi khác cũng bắt chước 101 canh tác mới này2

Chính nhò những hoạt động trên mà uy tín của các giáo sĩ trong lòng người Thượng ngày một trở nên lớn hơn và do đó, họ dễ tin tlheo hơn Tháng 10-1853, hai năm sau khi đặt chân đên vùng người Bahirtar, giáo sĩ Dourisbourre cải đạo được cho 3 tín đổ đầu tiên (2 em bé người

chúng tôi mua được chiêng, được ghè satôk" (Nguyễn Kinh Chi, Nguiyễn Đổng Chi, 2011:242) Điều thú vị trong lời khân trên đây là, người k h â n k ể tên một loạt các vị thần phù hộ cho nông nghiệp (thần sấm sét cũng có thể suy rộng ra là mưa) nhưng lại không kể tên thần Nước (yang Dak) Điều này cho thây phương thức canh tác cổ truyền của người Bahnar không đặt nặng vâh

đề phải ở gần nguồn nước (sông) Trong tác phẩm Đất nưóc đứrg lên, Nguyên Ngọc có đề cập đến chi tiết Núp đã "cả gan" múc nưóc suôi 7hi'-om tưới lúa chông hạn, điều mà người Bahnar từ xưa đến giờ chưa bao giờ llàm, khiến cho mọi người trong làng râ't sợ (Nguyên Ngọc, 2013:174-175).

1 Dourisboure đã hình dung các làng mới này giông như những "nông trại kiểb miẫu

2 Cho nên, năm 1933, khi hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đống Chi ỉên Kon Tum nhìn thây người Thượng cũng biết dùng cày cày ruộng, dã tấm

tắc khen đấy ỉà nơi “đô hội lớn" (Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đ ổr^ 'Chi,

2010:147, 153).

Trang 7

T hs Hồ Thành Tâm

Seclang và một người Bahnar) (Dourisbourre, 1972:101-105) V Tốc độ phát triển của Thiên Chúa giáo trong vùng đổng bằng Đăk Bla khá ân tưọng: năm 1870 đã có đến 800 tín đổ người Bahnar Do sô' lượng tín đổ ngày một đông, các giáo sĩ ở đây đã tìm những địa điểm thích hợp trong vùng đồng bằng Đăk Bla để lập nên những làng mói, những làng toàn tòng mà thành phẩn của chúng thường là những người Kinh nô lệ được chuộc lại và một sô' người Bahnar tình nguyện rời làng cũ Cho đêh năm 1932 khi giáo phận Kon Tum, giáo phận đầu tiên trên Tây Nguyên, được thành lập thì ở đây đã có đêh 23.000 tín đồ Thiên Chúa giáo, 24 linh mục với 4 trung tâm truyền giáo trong khu vực các tộc người Sedang, Bahnar và Jarai (Tòa giám mục Kon Tum)

3 Thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị trên Tây Nguyên

Như trên đă trình bày, trong suô't một thòi gian dài, nhà Nguyễn

đã không thể thiết lập một bộ máy hành chính vững chắc trên Tây Nguyên Khu vực này rơi vào tinh trạng hỗn loạn bởi tệ chiến tranh cưóp bóc nô lệ diễn ra liên miên giữa các bộ lạc Thượng và nguy hiêm hơn là ý đổ lãnh thổ của nước Xiêm đôì vơi khu vực này (Maitre, 2008:242-252) Dưới thời trị vì của vua Chulalongkorn (1873- 1910), Xiêm là một quốc gia khá hùng mạnh trong khu vực và đã có nhừng tranh châp vói Pháp về chủ quyền ở khu vực trung lưu sông Mékong (Hall, 1997:987-1006) Năm 1886, người Xiêm yêu cầu một đường biên giói chung vói Đông Dương thuộc Pháp mà theo đó, vùng Kon Tưm, toàn bộ lưu vực sông Sésan và phần lớn lưu vực sông Srépok trở thành lảnh thổ thuộc Xiêm (Maitre, 2008:297) Một vài vụ xung đột giữa hai bên đã nổ ra tại khu vực tranh chấp này (Maitre, 2008:303-317)2

1 Henri Maitre cũng có nhắc đêh một giáo đường Tinh-Ju (Tinh Sư?) nằm trong khu vực người Mnông (tinh Đăk Nông hiện nay) cũng được dựng nên trong khoảng nưa sau thập niên 1850 nhưng đã bị mât dấu vào đầu thập niên 1910 (Maitre, 2008:294).

2 Tại khu vực giáp với Việt Nam, người Xiêm buộc các chủ làng không được buỏrrbán với người Việt và phải nộp thuế cho quân đội Xiêm (Fbur, 1932:6).

Trang 8

Thăm dò và truyền đạo: N hững hoạt động đầu tiên củ a c á :

Phát kiến của linh mục Nguyễn Do đã mở đường lên Tây Ngiuỹên cho các giáo sĩ Pháp, đồng thời cũng là những nhà khoa học, có đầu óc

tổ chức và, điều này rất quan trọng, được sự ủng hộ của quân đội Phíp,

để đối phó với những cuộc hành quân lân chiếm của người Xiêm., Một trong những vị giáo sĩ có công đầu trong việc này đó là Gue rlach (Cảnh) Guerlach đến Kon Tum ngày 8-1-1883, nơi ông đã gây được uy tín lớn khi tổ chức người Bahnar chống lại những cuộc cướp bóc thường xuyên của các bộ lạc Jarai vào năm 1888 (Maitre, 2008:299)

Để đổi phó với mưu đổ lãnh thổ của người Xiêm, chinh phủ Pháp

đã quyết định thực hiện một loạt các cuộc thám sát nhằm đo đạc, vẽ bản

đồ vùng lưu vực sông Mékong và trung Đông Dương, về sau trở nên

nổi tiếng với tên gọi Phái bộ Pavie (1879-1895) Các chuyến khảo sát tại

khu vực Kon Tum lúc này do viên đại úy Cupet đảm nhận (1891) (Dournes, 2013:51-58) Để thực hiện nhiệm vụ, Cupet đã tìm kiêin sự giúp đỡ từ hội truyền giáo Kon Tum

Sự giúp đỡ của linh mục Guerlach và hội truyền giáo Kon Tum đổi với sứ mệnh của Cupet thể hiện ở ba điểm sau:

- Hỗ trợ hậu cần: trung úy Dugast, một thành viên của nhóm Cupet, trong khi từ An Khê lên Kon Tum đã buộc phải bỏ lại hành lý do các phu của ông bỏ trôn Những tổn thất này đã được hội truyền giáo Kon Tum tái trang bị cho đoàn

- Cung cấp thông tín và dẫn đường: các giáo sĩ có nhiều năm hoạt động truyền giáo ở Tây Nguyên, nắm được nhiều thông tin quan trọng Chính họ đã giúp Cupet nhận ra tầm quan trọng chiến lược của vùng

đổng bằng Reungao “một mặt nó không chếAttopeu, một mặt khác lại khôhg

chê'vùng người Ịarai và các lôĩ dẫn tới sông Srépok" để đưa tới việc lây nơi

đây làm căn cứ hành quân (Maitre, 2008:306) Hội truyền giáo còn cho phái đoàn mượn đoàn voi - phương tiện vận chuyển thuận tiện và quý báu trong các chuyến khảo sát

- Phôi hợp hành quân: Henri Maitre chi ra một sô' cuộc hành quân của Cupet có sự tham gia của linh mục Guerlach vào tháng 4-1891 đã đẩy lùi được sự chiếm đóng của người Xiêm tại Dak Réde (?) (Maitre, 2008: 308-310)

Trang 9

ThS t i ồ Thành Tâm

Cá Cupet lẫn Henri Maitre đều đánh giá râ't cao tác dụng của sự giúp đíõ của hội truyền giáo Kon Tum và sự tận tâm của Guerlach:

"Người Xiêm hoàn toàn thất bại; hoạt động của các sĩ quan chúng ta, sự tận tụy cùa Cha Guerlach, sự hỗ trợ tinh thần và vật chất của hội truyền giảo Kontum đã ngăn chặn sự chiêhí đóng thực tếvùng hinterland; mối hiểm nguy

đè nặng lên các làng mọi uy hiếp và sẵn sàng chiến đấu, được xua tan "

(Maitre, 2Q08: 310)

Như vậy, trong bôì cảnh tranh chấp Pháp - Xiêm về mặt biên giói vùng tirung lưu Mékong, các giáo sĩ thuộc hội truyền giáo Kon Tum đẵ

có những đóng góp nhất định giúp bảo toàn được vùng Tây Nguyên vẫn thưộc phạm vi Đông Dương thuộc Pháp Trong khi vẫn còn đang bận tay đối phó vơi phong trào nổi dậy của các văn thân sĩ phu miền đổng b ằng, thực dân Pháp đã nhanh chóng bắt tay vói các giáo sĩ, trao cho họ quyền quản lý hành chính các khu vực rừng núi hiểm trở trên Tây Nguyên mà bàn tay của chính quyền thực dân chưa chạm tói được

*

Năm 1851, các giáo sĩ Pháp lần đầu tiên khai thông được con đường tiến lên vùng Tây Nguyên, sự kiện này đánh dấu cột môc hết sức quan trọng trong lịch sử vận động tương tác giữa các tộc người trong khu vực Đây là những người đầu tiên có công truyền bá Thiên Chúa giáo lên vùng các tộc người thiểu sô' ở Tây Nguyên Tôn giáo mới

mẻ này, một sản phẩm của nền văn minh phương Tây phát triển cao độ,

đã nhanh chóng thể hiện được sức sông mạnh mẽ của nó ngay trong lòng xã hội Tây Nguyên lúc bây giờ vẫn còn đang dẫm chân ở chế độ thị tộc Cùng vói Thiên Chúa giáo, ảnh hưởng của thực dân Pháp, thông qua các giáo sĩ, cũng lan đến và dẩn thiết lập nên sự hiện diện của mình

ở khu vực này Lần đầu tiên, giao lưu và tiếp biến văn hóa Đông-Tây xuât hiện nơi các tộc người thiểu sô' Tây Nguyên, mở ra một chương mói với những tác động toàn diện, nhiều chiều và kéo dài đến hiện nay

Trang 10

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

1 Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi 2011 Người Ba-na ỞKon

Tum NXB Tri thức, Hà Nội.

2 Dournes, Jacques 2013 Potao một lý thuyết về quyền lực ở ngưòi Jorai Đông Dương NXB Tri thức, Hà Nội

3 Dourisbourre, p 1972 Dân làng hô\ Sài Gòn.

4 Fbur, Mon 1932 Monographỉa de la provinnes du Darlak Bản

dịch của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Đăk Lăk

5 Hall, D G E 1997 Lịch sử Đông Nam Á NXB Chính tri quốc gia,

Hà Nội

6 Nguyễn Văn Kiệm 2001 Sự du nhập của Đạo Thiên Chúa giáo

vào Việt Nam từ thếkỷ XVII đêh thếkỷ XIX Hội Khoa học lịch sử

Việt Nam, Trung tâm UNESCO tại Việt Nam xuất bản, Hà Nội

7 Li Tana 1998 Nguyễn Cochinchina Sourthern Vietnam in the

seventeenth and eighteenth century Southeast Asia Program

Publicatìon, Ithaca, New York

8 Maitre, Henri 2008 Rừng người Thượng NXB Tri thức, Hà Nội.

9 Nguyên Ngọc 2013 Đàĩ nước đứng lên NXB Kim Đổng, Hà Nội.

10 Tạ Chí Đại Trường 2007 Việt Nam thời Tây Sơn Lịch sứ nội chiến 1771-1802 NXB Công an nhân dân

11 Nguyễn Tuârt Triết 2007 Tây Nguyên những chặng đường lịch sử

văn hóa NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

12 Tòa Giám mục Kon Tum, Lược sử giáo phận Kon Tum

13 Nguyễn Thị Kim Vân 2010 Địa danh và di tích Gia Lai từ góc nhìn lịch sử - văn hóa NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

14 Mai Đức Vinh 2013 Các văn kiện câm đạo truy cập tư http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/GiaoHoiVN/LichSu /22VaKienCamDao.htm (ngày 10 tháng 10 năm 2013)

Ngày đăng: 22/09/2020, 21:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w