Nhận thức được vai trò của tri thức với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta, trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới sự nghiệp g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Phúc
Hà Nội 2004
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1: NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI
VỚI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Nguồn nhân lực và những nhân tố quy định chất lượng nguồn
nhân lực
1.2 Vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
Chương 2: THỰC TRẠNGVAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY NHỮNG VẤN
ĐỀ ĐẶT RA.
2.1 Thực trạng vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
ở nước ta hiện nay
2.2 Những vấn đề đặt ra về chất lượng nguồn nhân lực từ bình diện
tri thức
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA
TRI THỨC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG NGUỒN
NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1 Đổi mới sự nghiệp giáo dục-đào tạo là yếu tố trực tiếp đóng vai
trò quyết định đối với việc phát triển tri thức nguồn nhân lực
3.2 Tạo lập những điều kiện kinh tế-xã hội thuận lợi cho việc phát
huy vai trò của tri thức đối với việc phát triển chất lượng nguồn nhân
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thời đại ngày nay là thời đại các nước phát triển đang chuyển dần từ nền kinh tế công nghiệp có đặc trưng chủ yếu là sản xuất bằng công cụ máy móc và tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế tri thức Ở giai đoạn này, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vì nó trực tiếp tạo ra sản phẩm và có vị trí quan trọng hàng đầu
Đúng như từ thế kỷ XIX C.Mác đã dự báo và khẳng định, “tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”, “khoa học trực tiếp sẽ làm ra sản phẩm”, “ xuất hiện công nhân khoa học”, “giá trị của lao động cơ bắp trong sản phẩm làm ra s ẽ còn là cực nhỏ”… Những dự báo đó đang được thực tế chứng minh Cho nên ngày nay khoảng cách về phát triển chính là do khoảng cách về tri thức quyết định Bởi vậy nhiều nước đã đề ra chiến lược “đi tắt”, “đón đầu” vào kinh tế tri thức, chiến lược công nghiệp hoá dựa vào tri thức, sử dụng tri thức cho phát triển
Từ một nước nghèo nàn lạc hậu đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cái thiếu nhất đối với nước ta là cơ sở vật chất-
kỹ thuật của nền sản xuất tiên tiến, hiện đại và một đội ngũ nhân lực đáp ứng các yêu cầu của nền sản xuất đó Vì vậy, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ là phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Với mục tiêu, nhiệm vụ đề ra hiện nay, việc phát triển nguồn nhân lực con người được đặt ra như một vấn đề cấp bách Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực trí tuệ chính là đầu tư cơ bản nhất, đầu tư theo chiều sâu cho sự phát triển nhanh và bền vững Vì vậy, để đẩy mạnh quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, cần phải nâng đội ngũ những người lao động lên một bước với chất lượng mới
Trang 4Thực hiện chiến lược phát triển con người, xây dựng nguồn nhân lực phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện đại như một cuộc cách mạng- cách mạng về con người Chính cuộc cách mạng về con người này sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững, thúc đẩy quá trình đổi mới toàn diện đất nước
Tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII), Đảng ta khẳng định, nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp
Nhận thức được vai trò của tri thức với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta, trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới sự nghiệp giáo dục đào tạo, coi giáo dục và đào tạo là động lực, là chìa khoá cho sự phát triển kinh tế-xã hội Tại Đại hội lần thứ VIII (1996), Đảng ta đã khẳng định: “nâng cao dân trí, bồi dưỡng phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”[22, tr.21] và xác định nhiệm vụ của giáo dục đào tạo là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội
IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh nhiệm vụ của giáo dục đào tạo là
“đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước, cần tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục đào tạo”[24,tr.293]
Như vậy việc phát huy vai trò tri thức đối với phát triển chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, vừa có ý nghĩa cấp bách vừa có ý nghĩa lâu dài,
và trở thành một trong những vấn đề cốt tử của cách mạng nước ta hiện nay
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, vấn đề nguồn nhân lực đã thu hút sự chú ý của nhiều học giả trong nước Chẳng hạn, tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn khi phân tích nguồn nhân lực trong quan hệ với các nguồn lực khác đã khẳng định, nguồn
Trang 5lực quan trọng nhất chỉ có thể là nguồn lực con người Từ đó tác giả đề cập đến một số yếu tố cần thiết để kích thích tính tích cực của con người, khai thác tốt nhất
nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước’’ ,
Tạp chí Triết học, số 3-1994 “Tạo dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước’’, Tạp chí Cộng sản, số (14-2001) Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm nhấn mạnh: Trí tuệ là nguồn lực vô tận và có sức mạnh to lớn đối với sự phát triển
xã hội “Trí tuệ-nguồn lực vô tận cho sự phát triển xã hội ’’ Tạp chí Triết học số
1-1993
Tác giả Phạm Văn Đức trong bài viết “ Một số giải pháp nhằm khai thác có
hiệu quả nguồn lực con người’’ đăng trên tạp chí Triết học 6-1999 cho rằng, để
khai thác có hiệu quả nguồn lực con người, phải thực hiện nhiều giải pháp, trong
đó việc tạo ra cơ hội có việc làm là một giải pháp quan trọng và được sử dụng như một công cụ quản lý hữu hiệu Tác giả Nguyễn Duy Quý nhấn mạnh đến sự cần thiết phát triển con người, và phát triển con người thực chất là phát triển và hoàn thiện nhân cách con người theo yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (“Phát triển con người, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta’’, Tạp chí cộng sản, số 19-1998) Đề cập yếu tố phát triển nguồn lực có chất lượng cao, các tác giả Nguyễn Văn Hiệu, Phạm Tất Dong đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục- đào tạo trong việc bồi dưỡng nhân tài
Ngoài các bài viết đăng trên tạp chí còn có các ấn phẩm dưới dạng sách như
“ Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” , Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, HN1996 “Phát triển nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước’’, Nguyễn Thanh Nxb Chính trị quốc gia, HN 2002 “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước’’ Nguyễn Văn Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, HN2002
“Nguồn nhân lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam’’, Bùi Thị Ngọc Lan Nxb Chính trị quốc gia HN2002…Cùng với những nghiên cứu về nguồn nhân lực,
Trang 6những nghiên cứu về kinh tế tri thức cũng thu được nhiều kết quả Cụ thể như đề
tài “Những vấn đề về kinh tế tri thức’’, Phạm Quang Phan (chủ nhiệm đề tài)-
Trường Đại học kinh tế quốc dân, HN 2002 Tác giả Nguyễn Cảnh Hồ “Bàn về thực chất của kinh tế tri thức’’ Tạp chí Cộng sản, số 22-2000 Tác giả Tương Lai “ đối diện với nền kinh tế tri thức, thách thức và cơ hội’’ Tạp chí Cộng sản, số 21-
2000 Trong các công trình đó, các tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò của tri thức đối với sự phát triển của kinh tế-xã hội
Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một công trình chuyên khảo nào tập trung đi sâu nghiên cứu vai trò của tri thức đối với sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực, trong khi đây lại là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
-Mục đích của luận văn là luận chứng cho vai trò của tri thức đối với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực; từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của tri thức đối với sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
-Nhiệm vụ của luận văn là:
Thứ nhất: Làm rõ vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực Thứ hai: Phân tích thực trạng vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò của tri thức đối với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu luận văn
Vai trò của tri thức đối với sự phát triển kinh tế-xã hội được thể hiện trên nhiều bình diện Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, tôi tự giới hạn ở vấn
đề vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 7-Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
Hồ Chí Minh và của Đảng ta
-Nguồn tài liệu là các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng cùng các bài viết đăng trên các báo và tạp chí
-Luận văn sử dụng các phương pháp: Phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgic và lịch sử …
6 Đóng góp của luận văn
Góp phần luận chứng một cách có hệ thống, về vai trò của tri thức đối với sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực
Trên cơ sở phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của tri thức, đối với việc phát triển chất lượng nguồn lực con người ở nước ta hiện nay
7.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo , luận văn bao gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1
Trang 8NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.1 Nguồn nhân lực và những nhân tố quy định chất lượng nguồn
nhân lực
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Bất cứ một quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại cũng cần phả i dựa vào các nguồn lực Nó được coi như một nhân tố tất yếu để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế- xã hội Nguồn lực là toàn bộ những yếu tố vật chất, tinh thần, tạo nên sức mạnh cho sự phát triển, trong những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể, có khả năng thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một đất nước Khái niệm nguồn lực không chỉ nói lên sức mạnh, mà nó còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi khởi nguồn tạo nên sức mạnh đó, bởi vậy nguồn lực là một khái niệm rộng lớn
Theo tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn xuất phát từ các tiêu chí khác nhau, người ta có thể đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau về nguồn lực Chẳng hạn, theo cách chung nhất, đó là nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; theo quan
hệ bên trong và bên ngoài thì đó là nguồn lực bên trong (con người, vốn trong nước, cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện có, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên) và nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường …); theo quan hệ chủ thể khách thể đó là nguồn lực chủ quan (con người) và nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, các nguồn vốn …); theo tầm quan trọng và thời điểm phát sinh, đó là nguồn lực cơ bản và nguồn lực phát sinh [ 13, tr.18 ]
Tuy nhiên, việc phân chia các loại nguồn lực chỉ có tính chất tương đối, vì bản thân chúng đều có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau Kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp mới ở Châu Á cho thấy rằng, không chỉ tất cả các nguồn lực đều có vai trò quan trọng kể từ nguồn lực tự nhiên, vốn, nguồn nhân lực, mà ngay cả việc kết hợp các nguồn lực
đó một cách khoa học cũng có vai trò hết sức quan trọng Vì rằng các nguồn lực
Trang 9như : vốn, điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, chỉ tồn tại với tính cách như một tiềm năng Chúng chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người với đầy đủ sức mạnh tri thức và nhân cách của họ Chính vì thế, có những nước rất giàu về tài nguyên thiên nhiên, nhưng lại là nước có tốc độ phát triển thấp Ngược lại, có những nước rất nghèo về tài nguyên nhưng biết cách đầu tư vào nguồn lực con người nên đã tạo ra bước phát triển thần kỳ và trở thành những hiện tượng lạ trong nền kinh tế thế giới
Thực tế đó đã chứng minh dù có được các nguồn lực tự nhiên, dù có cơ sở vật chất kỹ thuật được tạo ra từ giai đoạn trước đó, hay các nguồn lực từ bên ngoài dưới dạng vốn, viện trợ hay kinh nghiệm quản lý …thì nguồn lực lâu bền nhất và quan trọng nhất đối với mọi sự phát triển của các quốc gia, chỉ có thể là nguồn lực con người Đó là con người với tri thức và kinh nghiệm lao động, có đủ khả năng khai thác nguồn lực khác mà mỗi quốc gia có được cùng với môi trường kinh tế–chính trị xã hội, tâm lý và dư luận xã hội thuận lợi cho con người hành động Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ những năm 60 (thế kỷ XX ) ở các nước phát triển Ở nước ta, các nhà khoa học đã có nhiều công trình và các chuyên khảo khoa học nghiên cứu về nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Với phương pháp và các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã trình bày về nguồn nhân lực Trong đề tài cấp nhà nước “ Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ năng lực và phẩm chất ” [31, tr.328] Trong bài viết đăng trên báo Nhân Dân, ngày 11 tháng 1 năm 1998 Thủ tướng Phan Văn Khải viết : “nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống dân tộc ta ’’ [xem,39] Tác giả Hoàng Chí Bảo :
“Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển con người’’ [7, tr.14]
Trang 10Theo Tác giả Phạm Văn Đức thì nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động, “đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn,
mà còn cả trình độ văn hoá, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động’’ [29, tr.14] Như vậy, bản thân nguồn nhân lực, được các tác giả coi như là yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất và là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội Mặt khác, nguồn nhân lực được đề cập đến như một loại vốn “vốn người” (bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng công
nghệ ) cùng với các vốn vật chất khác: vốn tiền, vốn tài nguyên Nguồn nhân lực
có thể hiểu đó là nguồn lực con người, là tập hợp các yếu tố như cơ cấu dân số và nhất là chất lượng nguồn nhân lực với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong
sự phát triển xã hội Nguồn nhân lực được thể hiện trên các bình diện sau:
- Trước hết nói nguồn nhân lực tức là nói đến người lao động, lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, những người sắp bổ sung cho nguồn lao động, và phải kể đến những người đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn có nhiều khả năng đóng góp cho xã hội) cho nên trong thực tế để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trước tiên phải tạo việc làm và khai thác hợp lý nguồn lao động để
có thể phát triển nền sản xuất
- Mặt khác nguồn nhân lực còn phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế cũng như trình độ nguồn nhân lực, độ tuổi trong lực lượng lao động cũng như nguồn lao động trong tương lai Bởi vì các yếu tố trong cơ cấu dân cư và lao động có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh nguồn nhân lực
- Khái niệm về nguồn nhân lực còn phản ánh phương diện chất lượng dân
số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tương lai được thể hiện qua hàng loạt yếu tố như : sức khoẻ, mức sống, đạo đức, văn hoá và chuyên môn nghề nghiệp cũng như khả năng thích ứng Đây là phẩm chất tạo nên
Trang 11nhân cách con người , mà nói tới chất lượng nguồn nhân lực thì rất cần những phẩm chất đó
- Nguồn nhân lực còn chỉ ra rằng, con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực nội tại cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội Nhưng khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực vừa đóng vai trò như là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, lại vừa là khách thể của các quá trình kinh tế- xã hội, là đối tượng mà chính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục vụ Nghĩa là, nếu như các nguồn lực khác chỉ là phương tiện của sự phát triển
xã hội, thì nguồn lực con người lại vừa là phương tiện (phương tiện đặc biệt) vừa
là mục tiêu của chính sự phát triển xã hội”[xem 38]
Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực và vai trò của nó, ta phải xem xét con người vừa là tư cách chủ thể, vừa với tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế
xã hội Là chủ thể, con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác hiện có; đồng thời qua đó góp phần tạo ra nguồn lực mới, để duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về thể lực và trí lực cho mục tiêu phát triển xã hội Trong quá trình vận động, hai tư cách này tồn tại không tách rời nhau, mà chúng tác động qua lại với nhau Do vậy, nguồn nhân lực giữ vị trí trung tâm, không chỉ trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển
xã hội mà còn của chính sự phát triển xã hội
Ngày nay, với sự ra đời của kinh tế tri thức, khi nói đến nguồn nhân lực, người ta thường chú ý đến chất lượng của nguồn nhân lực Mà nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ trong đó người lao động có trí tụê cao,
có tay nghề thành thạo, có đạo đức tốt đẹp Theo quan điểm của Đảng ta thì
“nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, nguồn lực con người có trí tuệ là tài nguyên quý giá nhất cho nên, muốn thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người Với ý nghĩa như vậy, con người vừa là chủ thể, vừa là
Trang 12khách thể, đồng thời vừa là động lực và mục tiêu của các quá trình phát triển xã hội Đảng ta khẳng định, “ lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [22, tr.85]
Tóm lại “Nguồn nhân lực” là một khái niệm rộng, không thể giải quyết bằng một định nghĩa ngắn gọn mà phải đi sâu xem xét tất cả các mặt, các khía cạnh, vả lại như Ph.Ăngghen nói “Mọi định nghĩa đều có giá trị nhỏ thôi” Những nội dung
đã trình bày và phân tích trên đây cho thấy nguồn nhân lực là một dạng vật chất xã hội đặc biệt, nó chính là con người là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất, bao gồm số lượng, chất lượng, năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức truyền thống văn hoá được kết tinh trong người lao động Chính yếu tố hiện hữu tồn tại trong mỗi cá nhân kết hợp lại tạo nên nguồn nhân lực cho quá trình sản xuất vật chất, chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao sẽ đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất và đời sống, ngược lại xã hội càng phát triển sẽ tạo đầy đủ các yếu tố cho sự phát triển mỗi cá nhân và con người
Thực tiễn quá trình đổi mới ở nước ta những năm qua, ngày càng khẳng định
sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vị trí vai trò to lớn của con người trong sự phát triển xã hội Sự thành công của nền kinh tế các nước trên thế giới và trong khu vực, là ở chỗ trước hết họ đã có một chiến lược nhằm nâng cao chất lượng con người, phát triển nguồn nhân lực và đầu
tư mọi mặt cho nguồn tài nguyên vô giá ấy, coi đó như đòn bẩy cho mọi quá trình phát triển đất nước Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã thu được thành tựu bước đầu rất quan trọng, chứng tỏ Đảng
ta ngày càng nhận thức đúng đắn về vị trí và sức mạnh to lớn của nguồn nhân lực đặc biệt là trong điều kiện nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp
Bởi vậy để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đưa sự nghiệp đó đến thành công, trong điều
Trang 13kiện hiện nay ở nước ta, thì vấn đề đặt ra là phải phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng
1.1.2 Những nhân tố quy định chất lượng nguồn nhân lực
Như phần trên đã nêu, nói tới nguồn nhân lực, trước hết cần hiểu đó là toàn
bộ những người lao động có khả năng, đang tham gia vào quá trình sản xuất trực tiếp phát triển kinh tế-xã hội và thế hệ những người lao động sẽ tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội Con người đóng vai trò chủ động, sáng tạo, với mục đích hướng hoạt động của mình vào mục tiêu đã lựa chọn, cho nên khi nói nguồn nhân lực, chúng ta không chỉ đơn thuần thống kê về mặt số lượng Điều quan trọng hơn là chất lượng người lao động bao gồm một tổng thể các yếu tố như thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mỹ Mỗi yếu tố đều có vị trí, vai trò nhất định, trong cấu trúc của nguồn nhân lực Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, tạo nên sự phát triển toàn diện nguồn
nhân lực Trong các yếu tố quy định chất lượng nguồn nhân lực thì trí tuệ được
xem là một trong những phẩm chất quan trọng nhất và quý giá nhất hiện nay Nó giữ vị trí trung tâm, chỉ đạo mọi hành vi và quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người Các nhà kinh điển chỉ ra rằng tất cả những gì thúc đẩy con người hành động, tất yếu phải thông qua đầu óc của họ
Bởi vậy, người lao động, phải có năng lực sáng tạo và khả năng áp dụng những thành tựu của khoa học, để sản xuất sáng chế ra kỹ thuật tiên tiến đồng thời biết tiếp nhận và xử lý thông tin một cách nhanh nhạy, chính xác, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Đồng thời, người lao động phải tinh thông nghiệp vụ, chuyên môn của mình và nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội Mặt khác, người lao động còn phải có năng lực hoạt động thực tiễn, khả năng thích ứng nhanh nhạy với nền kinh tế thị trường và tham gia vào quá trình phân công, lao động hợp tác quốc tế, biết chấp nhận cạnh tranh, quyết đoán,
Trang 14biết hy sinh lợi ích trước mắt vì mục đích lâu dài, toàn cục Để có được những năng lực trên đòi hỏi người lao động phải có năng lực, phải có trí tuệ
Khi đánh giá vai trò của lao động trí tuệ đối với sự phát triển xã hội và so sánh tính phức tạp, cũng như hiệu quả giữa lao động trí tuệ với lao động giản đơn, C.Mác khẳng định: “lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên thành luỹ thừa” [49,tr.75] Qua đó C.Mác muốn khẳng định tính nổi trội hơ n hẳn của lao động phức tạp với lao động giản đơn C.Mác còn đưa ra dự báo “khoa học
sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” , nhưng muốn để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nhất thiết phải thông qua hoạt động sáng tạo, tự giác có tổ chức của con người
Ngày nay, nhờ áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, con người đã tạo ra sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao và năng suất lao động tăng gấp bội Nếu ở những năm đầu của thế kỷ XX, tỉ lệ lao động cơ bắp trong sản phẩm là 9/10 thì vào những năm 1990 tỉ lệ này đã giảm chỉ còn 1/5, nhưng khối lượng sản phẩm đạt được lại tăng gấp 50 lần so với 80 năm về trước Theo dự tính đến năm 2010 phần
tỉ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn 1/10” [58, tr.14] Điều đó có nghĩa
là trí tuệ hoá lao động đang trở thành xu thế tất yếu của loài người Chính vì vậy,
để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết phải tập trung phát triển trí tuệ, phát huy hết mọi tiềm lực của nguồn lao động trí tuệ Muốn vậy, phải nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, quan tâm đặc biệt đến đội ngũ lao động bằng chất xám khai thác và sử dụng tốt thành tựu trí tuệ của thời đại
Như vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện ngày
nay, đòi hỏi người lao động phải có năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi nhanh
và kỹ năng lao động giỏi, đó là yêu cầu chung đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Điều quan trọng rất lớn là hình thành cho được đội ngũ nhân lực,
có trình độ năng lực cao trong từng lĩnh vực kinh tế- xã hội khác nhau Đây chính
là lực lượng xung kích, trong việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến ứng
Trang 15dụng vào quá trình sản xuất ở nước ta, là hạt nhân trong việc đưa hoạt động kinh tế
xã hội nơi họ lao động đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mặt khác, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ thoả đáng và tạo điều kiện bồi dưỡng, đào tạo, các nhà khoa học, nhất là đối với các nhà khoa học trẻ, nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu
so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Một yếu tố không thể thiếu được, đối với chất lượng nguồn nhân lực đó
là sức khoẻ Mặc dù “trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản Nhưng chính sức khoẻ là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó và là một trong những phương tiện để vật hoá sức mạnh của trí tuệ trong quá trình hoạt động thực tiễn” [54, tr.92] Đối với mỗi người sức khoẻ là vốn quý nhất, là cội nguồn hạnh phúc Thể lực không khoẻ mạnh, sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển của trí lực, trí tuệ cá nhân và của cả cộng đồng xã hội Sức khoẻ còn là phương tiện tất yếu để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Một cơ thể không khoẻ mạnh, thiếu dẻo dai, linh hoạt, thì sẽ gặp khó khăn trong hoạt động trí tuệ và thực tiễn Ngược lại, một cơ thể khoẻ mạnh về cơ bắp, dẻo dai về hệ thống thần kinh, sẽ là điều kiện vật chất, để hoạt động trí tuệ và thực tiễn mang lại kết quả Do đó càng nâng cao khả năng thích nghi và khả năng cải biến tự nhiên, xã hội của con người
Như vậy, nói đến sức khoẻ, không chỉ hiểu là người đó không có bệnh tật,
mà sức khoẻ còn là sự hoàn toàn thoải mái về tư tưởng, hoàn thiện về thểchất, có sức khoẻ tâm thần tốt Để có một sức khoẻ tâm thần tốt họ phải có sức khoẻ cơ thể tốt yếu tố quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người
Trong yếu tố tạo nên chất lượng nguồn nhân lực thì đạo đức cũng góp phần
quan trọng, trong việc hình thành nhân cách người lao động mới Qua
phân tích yếu tố trí tuệ tạo nên chất lượng nguồn nhân lực, ta thấy đó là yếu tố quan trọng hàng đầu, trực tiếp quyết định chất lượng nguồn nhân lực cũng như đóng vai trò tất yếu tới sự phát triển của xã hội Chẳng thế mà từ xa xưa ông cha ta
Trang 16đã coi tri thức, trí tuệ, các bậc hiền tài là tài sản vô giá của đất nước, khi đánh giá con người thì thường coi đức và tài luôn gắn kết với nhau Trong đó tài là một trong những yếu tố cùng với đức tạo thành nhân cách con người hoàn chỉnh Cho nên khi xem xét con người mà chỉ thấy tài (trí lực) mà không thấy được mối liên hệ giữa tài và các yếu tố khác thì sẽ là không đầy đủ, không biện chứng Bởi vậy, trong cấu trúc nhân cách đạo đức (đức) và năng lực ( tài) thường đi liền với nhau Bác Hồ đã khẳng định “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Vì vậy, đạo đức thường được xem là cái gốc,
là nền tảng tạo nên nhân cách con người, là cơ sở hình thành thế giới quan và nhân sinh quan của mỗi người Nó góp phần định hướng, tạo điều kiện để phát triển những năng lực bản chất người, ở trình độ ngày càng cao, đặng góp phần sáng tạo
ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Đến lượt mình, sự phát triển năng lực trí tuệ lại tạo điều kiện và khả năng thực tế, để con người vươn tới các chuẩn mực đạo đức mới, mà từ đó hoàn thiện nhân cách văn hoá của chất lượng nguồn nhân lực Chính vì vậy, giữa đạo đức và năng lực có thể “ hoà quyện vào nhau, thẩm thấu sang nhau, chi phối điều chỉnh lẫn nhau, tạo ra khung cấu trúc của nhân cách cá nhân Chúng là sự phản ánh tập trung và tiêu biểu cho một chất lượng nhân cách chỉ khi mà đạo đức và năng lực đó biểu hiện ra trong hoạt động, trong trạng thái vận động của đời sống cá nhân vươn tới khả năng tác động và gây được ảnh hưởng tới người khác tới xã hội.” [8, tr.10]
Do vậy, muốn phát triển năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân và phát triển nguồn lực trí tuệ của toàn xã hội, thì không chỉ chăm lo trí tuệ của cá nhân ấy Mà quan trọng hơn là phải biết vun đắp cho cái gốc đó là đạo đức, vì đạo đức là nền tảng văn hoá của xã hội, là cơ sở để mọi người sống vị tha, chân thành và bao dung Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội, cũng như sản xuất và kinh doanh là vô cùng cần thiết và quan trọng, là cơ sở đảm bảo để xây dựng xã hội phát triển ổn định bền
Trang 17vững bởi vì “đạo đức là gốc của người cách mạng” Hay như Rabơle (1494-1553) khẳng định, khoa học mà không lương tâm chỉ đưa đến sự phá hoại tâm hồn
Cùng với trí tuệ, sức khoẻ, đạo đức, thẩm mỹ cũng là một thành tố không thể
thiếu tạo nên chất lượng nguồn nhân lực Đó là khả năng của con người trong việc lĩnh hội những giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống và nghệ thuật, từ đó hình thành quan niệm và lý tưởng thẩm mỹ, hình thành năng lực hoạt động theo quy luật cái đẹp Nói cụ thể hơn, con người phát triển về mặt thẩm mỹ là con người luôn biết vươn tới cái đẹp, xây dựng cuộc sống và sáng tạo theo tiêu chuẩn của cái đẹp Sự phát triển năng lực thẩm mỹ sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trình độ cao Đặc biệt, nó có giá trị định hướng cho các hoạt động trí tuệ, cho việc sử dụng các thành tựu của trí tuệ, của khoa học vào mục đích nhân văn, tiến bộ xã hội và cuộc sống hạnh phúc của con người
Qua phân tích những nhân tố quy định chất lượng nguồn nhân lực, chúng tôi thấy đó là sự kết hợp, là sự hội tụ của những yếu tố cần và đủ, những yếu tố đó thâm nhập, thẩm thấu vào nhau để làm nên chất lượng người, chất lượng nguồn nhân lực Đó cũng chính là mục tiêu, đã được Đảng ta xác định tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (Khoá VIII) “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào
tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học- công nghệ hiện đại” [22, tr.9]
1.2.Vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
1.2.1 Khái niệm tri thức và cấp độ của nó
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, coi vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong đầu óc con người và được cải biến ở trong đó Cho nên ý thức chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy là sự phản ánh thế giới khách quan nhưng không phải là sự phản ánh có tính chất giản đơn, thụ động, máy móc mà sự
Trang 18phản ánh của ý thức là sự phản ánh một cách sáng tạo và năng động theo nhu cầu của thực tiễn, xã hội
Như vậy, ý thức ra đời gắn liền với quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động sản xuất- là thực tiễn xã hội Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Bởi vậy ý thức là một hiện tượng xã hội và mãi mãi là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài người Ý thức là một hiện tượng tâm lý- xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ mật thiết với nhau Tuỳ theo cách tiếp cận mà người ta có thể chia cấu trúc ý thức theo lát cắt chiều ngang và chiều dọc Trong lát cắt chiều ngang tri thức là yếu tố cơ bản cốt lõi nhất; vậy tri thức là gì?
Theo từ điển Triết học giản yếu: “ Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc hệ thống ký hiệu khác” [56, tr 471] Như vậy, tri thức có được là nhờ kết quả của quá trình nhận thức, là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người, quá trình nhờ
đó tư duy mãi mãi và không ngừng tiến gần đến khách thể Nhận thức được bắt đầu
từ trực quan sinh động tức là từ nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu tượng) các hình ảnh cảm tính là nguồn gốc của sự hiểu biết của chúng ta về thế giới bên ngoài, là hình ảnh trực tiếp về thế giới khách quan Nhận thức cảm tính đã bao gồm
cả cái bản chất lẫn cái không bản chất, cả cái tất yếu và ngẫu nhiên, cả cái bên trong và bên ngoài Trong nhận thức cảm tính, con người chưa phân biệt được cái
gì là bản chất, cái gì không phải là bản chất, cái gì là tất yếu và ngẫu nhiên, đâu là cái bên trong đâu là cái bên ngoài Mà yêu cầu của nhận thức, đòi hỏi phải tách ra
và nắm lấy cái bản chất, tất yếu, bên trong, điều đó chỉ có thể có được khi nhận thức con người ở giai đoạn nhận thức lý tính, giai đoạn tư duy trừu tượng (khái
Trang 19niệm, phán đoán, suy lý) Với tư duy trừu tượng, con người chuyển từ nhận thức hiện tượng đến nhận thức bản chất, từ nhận thức cái riêng đến nhận thức cái chung,
từ nhận thức các đối tượng riêng biệt đến nhận thức mối liên hệ và các quy luật phát triển của chúng Toàn bộ quá trình đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng chỉ trong hoạt động thực tiễn, con người mới kiểm tra được mức độ đúng đắn các kết quả nhận thức của mình Các kết quả đó ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, bao giờ cũng là một sự phản ánh gần đúng của tri thức con người về thế giới khách quan
Tri thức là kết quả nhận thức của con người về các lĩnh vực tự nhiên- xã hội
và về con người Nhưng những tri thức đó không giống nhau, điều đó phụ thuộc vào khả năng nhận thức của con người Bởi vậy tri thức của con người cũng được chia thành các cấp độ khác nhau: đó là tri thức thông thường và tri thức khoa học
Tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân, nó mang tính trực tiếp, bên ngoài và rời rạc, cho nên nó chưa được hệ thống hoá và khái quát hoá, nhưng nội dung mà nó phản ánh lại mang tính phong phú, đa dạng của cuộc sống hàng ngày của xã hội và của con người
Tri thức khoa học phản ánh trình độ con người đi sâu nhận thức thế giới hiện thực, từ đó rút ra bản chất của các sự vật, tìm ra được quy luật vận động của chúng Cùng là tri thức khoa học nhưng người ta phân chia ra tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận Đây là hai bậc thang nhận thức khác nhau về đối tượng, tính chất, chức năng cũng như hình thức và trình tự phản ánh của nó
Tri thức kinh nghiệm được hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, trong đời sống hiện thực, hoặc trong thí nghiệm khoa học Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm là kết quả của sự quan sát trực tiếp, sự tác động trực tiếp, nhưng không phải vì thế mà nó ít có giá trị khoa học
Mà ngược lại bản thân nó cũng chứa đựng những giá trị khoa học, nhưng những tri
Trang 20thức đó mới chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm khoa học (loại tri thức này thu được từ sự khảo sát và rút ra từ thí nghiệm khoa học)
Còn tri thức lý luận là tri thức có tính gián tiếp trừu tượng khái quát về bản chất và các quy luật của các sự vật, hiện tượng Tri thức lý luận được hình thành, phát triển, trên cơ sở các kết quả của tri thức kinh nghiệm, do vậy nó mang tính trừu tượng thể hiện bản chất, quy luật vận động của sự vật hiện tượng thể hiện chân lý sâu sắc
Tuy là hai loại tri thức, phản ánh cấp độ khác nhau của quá trình nhận thức, nhưng giữa chúng có mối quan hệ gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó, tri thức kinh nghiệm là cơ sở của tri thức lý luận nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể, nó gắn chặt, trực tiếp với thực tiễn, tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, bổ sung và hoàn thiện lý luận Tuy vậy, tri thức kinh nghiệm bản thân nó đã bộc lộ những hạn chế, đó là mới chỉ dừng lại ở miêu tả các dữ kiện thu được từ thực tiễn và từ thực nghiệm khoa học Bởi vậy, kiến thức mà tri thức kinh nghiệm thu được cũng rời rạc chưa đi sâu phản ánh bản chất sự vật hiện tượng do vậy tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng, mặc dù tri thức lý luận có nguồn gốc và được hình thành từ tri thức kinh nghiệm, nhưng tri thức lý luận không phải là phép cộng giản đơn từ tri thức kinh nghiệm, mà do tính độc lập của
nó, tri thức lý luận bằng sức mạnh của sự trừu tượng nó có thể đi trước, vượt trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm
có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn, góp phần làm biến đổi đời sống xã hội và con người Thông qua đó, nó nâng những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất, trở thành cái chung cái khái quát và cái phổ biến
Ở một cấp độ khác, người ta có thể phân chia tri thức thành tri thức hiện và tri thức ngầm Tri thức hiện là tri thức có thể được biểu thị trong các tài liệu và do
Trang 21đó nó được chuyển giao với độ chính xác Còn tri thức ngầm (tức là tri thức tiềm ẩn) là tri thức thu được từ kinh nghiệm thay vì học hỏi qua giáo dục và đào tạo chính quy Sự phân biệt giữa tri thức ngầm và tri thức hiện có ý nghĩa quan trọng khi xét khả năng chuyển giao tri thức từ người có kiến thức đến người cần kiến thức Để thực hiện sự chuyển giao này tri thức ngầm cần được điển chế hoá tức là chuyển nó thành tri thức hiện (khi đó được gọi là thông tin) và nếu tri thức vẫn ở dạng tri thức ngầm thì khó có khả năng chuyển được ra khỏi phạm vi tổ chức kinh tế- xã hội để nghiên cứu triển khai Vả lại nếu như toàn bộ tri thức đều chuyển thành thông tin, để tất cả mọi người đều dễ dàng tiếp cận tới thì khoảng cách tri thức, khoảng cách công nghệ giữa các khu vực và quốc gia sẽ được thu hẹp lại Ngày nay, do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tri thức hiện( thông tin) đã trở nên dễ dàng có hơn và cũng rẻ hơn rất nhiều
Hiện nay, vai trò động lực của tri thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội trở nên rõ ràng, nổi bật Vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức Từ cách đây hơn mười nghìn năm loài người đã phát triển kinh tế nông nghiệp và cách đây hơn ba trăm năm đã phát triển kinh tế công nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, bên cạnh yếu tố tự nhiên thì yếu tố con người là quan trọng Trong yếu tố con người có phần lao động cơ bắp
và phần lao động trí lực (còn gọi là lao động trí óc) trong lao động trí lực thì phần chủ yếu bao gồm các kiến thức (hiểu biết) về tự nhiên và xã hội, các kinh nghiệm thực tiễn các kỹ năng được đào tạo, các bí quyết nghề nghiệp và các năng lực trí tuệ khác mà ta gọi chung là tri thức
Như vậy, trong giá trị mỗi sản phẩm của nông nghiệp và công nghiệp đều có hàm chứa phần giá trị của tri thức Khi khoa học và công nghệ phát triển mạnh, thiết bị sản xuất ngày càng phức tạp và tinh vi, sản phẩm có chất lượng ngày càng cao thì phần giá trị của tri thức trong sản phẩm ngày càng lớn Từ nửa sau thế kỷ
XX đến nay, ở nhiều nước phát triển cao, nguồn lực tri thức đã ngày càng trở nên
Trang 22quyết định trong phát triển kinh tế Ở các nước đó phần do nguồn lực tri thức tạo ra
đã chiếm hơn 50% của tổng sản phẩm quốc nội ( GĐP) Loại hình kinh tế như vậy được gọi là kinh tế tri thức, tên gọi kinh tế tri thức phản ánh bản chất của lực lượng sản xuất mới, trong đó tri thức giữ vai trò quyết định Nền kinh tế tri thức đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội, tạo kết cấu hạ tầng của xã hội mới-xã hội thông tin Nó khác hẳn với các nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức người và tài nguyên trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp Bởi vì “ nếu như cách đây một nghìn năm sự hùng hậu của quốc gia được quyết định bởi lượng cơ bắp; cách đây một trăm năm bằng số lượng máy móc Thì ngày nay sự hùng mạnh của các nước là do số lượng các đầu óc, là do tiềm năng trí tuệ quyết định trước tiên” [62, tr.69]
Kinh tế tri thức về cơ bản dựa trên cơ sở công nghệ cao và tri thức đó là nét đặc trưng rất tiêu biểu của nền văn minh thông tin, sản phẩm của cách mạng thông tin, cách mạng tri thức Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) của Liên hợp quốc định nghĩa kinh tế tri thức là kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin Nói một cách giản đơn đó là nền kinh tế dựa vào tri thức Theo Giáo sư Đặng Hữu trong nền kinh tế tri thức: “ các ngành sản xuất và dịch vụ mới do công nghệ cao tạo ra như các dịch vụ khoa học công nghệ, các dịch vụ tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao… được gọi là ngành kinh tế tri thức Các ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, nếu được cải tạo bằng công nghệ cao mà giá trị do tri thức mới, công nghệ mới đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì những ngành ấy cũng là ngành kinh tế tri thức Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức thì gọi là kinh tế tri thức’’ [37, tr.132]
Vì là một nền kinh tế hoàn toàn mới, nó khác về chất so với tất cả các nền kinh tế trước đây trong lịch sử phát triển nhân loại nên bước đầu có thể khái quát
và nêu lên đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tri thức:
Trang 23- Đó là nền kinh tế dựa trên nền tảng công nghệ cao, sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức ứng dụng khoa học công nghệ cao
- Công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và đời sống xã hội
- Quá trình sản xuất của xã hội được tổ chức theo mô hình mạng, phi tập trung
- Học tập suốt đời và học tập sáng tạo là động lực chủ yếu của sự phát triển
- Sự vận động của kinh tế theo xu hướng toàn cầu hoá Sự phát triển kinh tế được bảo đảm bằng sự phát triển bền vững và không huỷ hoại môi trường sinh thái
Như vậy, kinh tế tri thức là một xu hướng phát triển mới trên thế giới hiện nay, là bước phát triển có tính tất yếu và đột biến trong lực lượng sản xuất của nền kinh tế hiện đại; sự phát triển đó đã dẫn tới hàng loạt những thay đổi trong cơ cấu của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũng như các mối quan hệ xã hội khác
1.2.2 Vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nhân loại đã đạt được thành tựu thần
kỳ về mặt trí tuệ, đăc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tin học Chính cuộc cách mạng này đã làm thay đổi nền kinh tế thế giới, trong xu thế cạnh tranh của thị trường và tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao hơn nhiều so với những giai đoạn trước Bởi thế cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo nên
bộ mặt mới của nền kinh tế, tạo tiền đề hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin Có được bước chuyển biến quan trọng đó, là nhờ ở vai trò của tri thức Chính tri thức, đã quyết định chất lượng nguồn nhân lực và do đó cũng quyết định
sự phát triển của nền kinh tế- xã hội Ở đây, chúng ta xem xét và làm rõ vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực
Tri thức đóng vai trò kết nối làm cho những phẩm chất (lòng yêu nước, đạo đức, năng lực sáng tạo, sức khoẻ) hoạt động đáp ứng yêu cầu của sản xuất Điều
Trang 24này có nghĩa là trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tự bản thân nó đã đặt
ra những đòi hỏi khách quan về cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực với những năng lực và phẩm chất cần thiết, nhằm thích ứng với bối cảnh hiện nay Đó là thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, thời kỳ cách mạng khoa học công nghệ phát triển như
vũ bão, thời kỳ gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với xu thế trí tuệ hoá nguồn nhân lực Thời kỳ này, cũng là thời kỳ phát triển con người công nghệ, nhân văn,
đi đôi với xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội, là thời kỳ có sự kết hợp khai thác các giá trị truyền thống và hiện đại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Với những điều kiện mới và đặc điểm cơ bản như vậy, quá trình đổi mới ở nước ta đòi hỏi người lao động phải có năng lực và phẩm chất nhất định, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất
Tri thức góp phần giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước thiết tha của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hội tụ đầy đủ các phẩm chất cần thiết như: đạo đức, tinh thần tự lực tự cường, lòng tự tôn dân tộc có ý chí vươn lên không cam chịu đói nghèo Quyết tâm đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nước nghèo, lạc hậu và kém phát triển thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, lòng yêu nước và phẩm chất đạo đức, phải thấm sâu vào từng con tim khối óc và phải được biểu hiện bằng những hành động và việc làm cụ thể Lòng yêu nước là phẩm chất hết sức quý báu, hết sức cần thiết của người lao động Việt Nam Bởi nếu không có những công dân yêu nước, lòng tự hào dân tộc và sự đoàn kết, thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể thành công được Kinh nghiệm và thành tựu của một số “con rồng Châu Á” cho thấy họ rất chú ý đến việc giáo dục truyền thống, về đạo lý và văn hoá Truyền thống yêu nước và đạo lý của người Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, đó là truyền thống không hề khuất phục trước bất kỳ thế lực phản động và kẻ thù xâm lược hung hãn nào Tinh thần yêu nước đó được nhân lên dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã góp phần đánh thắng “ hai đế quốc to là Pháp và Mỹ”, tinh thần đó một lần nữa lại được
Trang 25nhân lên và phát huy cao độ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Vai trò của tri thức còn góp phần làm cho người lao động nhận thức về vị trí vai trò của sức khoẻ Sức khoẻ trở thành cội nguồn, nó quyết định khả năng cống hiến khả năng làm việc của con người trong xã hội Có sức khoẻ chúng ta sẽ có tất
cả, nói đến sức khoẻ không chỉ nhấn mạnh sức khoẻ về thể chất, mà còn bao hàm
cả sức khoẻ tâm thần, vui tươi, phấn khởi trong cuộc sống và lao động, có như vậy mới tạo ra khả năng lao động cao với năng suất chất lượng hiệu quả Bởi vậy người lao động phải được trang bị những tri thức cần thiết về lao động, và rèn luyện sức khoẻ để thích ứng với môi trường lao động và môi trường xã hội
Sự nghiệp đổi mới trong những năm qua ở nước ta đã giành được thắng lợi bước đầu rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội Một nguyên nhân rất quan trọng để dẫn đến thành tựu đó, là do chúng ta đã biết phát huy mọi nguồn lực Trong đó, nguồn nhân lực con người được coi là yếu tố quan trọng nhất, tuy nhiên đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nguồn nhân lực đó phải được đào tạo có chất lượng cao Đã qua rồi thời kỳ người lao động chỉ bằng lòng nhiệt tình, cộng với sức mạnh của cơ bắp và chủ nghĩa kinh nghiệm của nền kinh tế nông nghiệp Hiện nay, người lao động đòi hỏi phải có tri thức, có trí tuệ cao, vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ cộng với tính
kỷ luật chặt chẽ trong lao động Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một mặt đang làm xuất hiện nhiều nghề mới lạ với yêu cầu trí tuệ ngày càng cao Đồng thời làm mất dần đi những nghề được tiến hành chỉ đơn thuần dựa trên công nghệ giản đơn cho hiệu quả và năng suất thấp Năm 1985 các nhà dự báo học của nước Pháp cho rằng: “ Đến năm 2005 một phần tư số nghề của xã hội sẽ hoàn toàn mới lạ, một phần hai số nghề sẽ có nội dung hoàn toàn khác so với hiện nay Dự báo này một phần đã trở thành hiện thực và xu hướng này vẫn đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển Theo đánh
Trang 26giá của Ngân hàng thế giới, của cải qua sản xuất bình quân theo đầu người của Nhật Bản tuy xếp thứ 5, nhưng 80% hàm lượng sản phẩm lấy từ kỹ năng và tri thức của con người làm hình thức biểu hiện Mỹ đứng hàng thứ 12 trong danh sách nhưng cũng có 60% của cải mang tính sản xuất là do vốn nhân lực” [3,tr 191]
Sự phát triển của khoa học và công nghệ theo hướng yêu cầu trí tuệ ngày càng cao, đang làm “ mất dần chỗ đứng” của người công nhân truyền thống lao động giản đơn và thay thế vào đó đội ngũ công nhân lao động, có trình độ học vấn, tay nghề cao, đủ khả năng thực hiện chức năng xử lý thông tin điều khiển quá trình
tự động hoá Như vậy, tri thức hoá để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đã trở thành xu thế của mọi quốc gia trên bước đường phát triển Ở nước ta, xu hướng này cũng đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, một nghề đầy triển vọng và hấp dẫn với lớp trẻ, hình thành đội ngũ lao động, thực hiện công việc chủ yếu bằng lao động trí tuệ Trong những năm tới đây, việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với đường lối phát triển mạnh mẽ khoa học-công nghệ, tăng cường phát triển giáo dục đào tạo Chắc chắn việc trang bị tri thức cho lực lượng lao động sẽ diễn ra mạnh mẽ và ngày càng phát triển đáp ứng đòi hỏi nền kinh tế
Mặt khác, vai trò của tri thức đối với việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện ở “văn hoá lao động’’ Người lao động phải biết tự giác trong lao động, biết tiết kiệm nguyên vật liệu, có tinh thần trách nhiệm đối với phương tiện lao động và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình làm ra Văn hoá lao động công nghiệp là phẩm chất quan trọng, là tri thức người lao động hiện nay, bởi trong cơ chế cũ người lao động chỉ biết sản xuất theo kế hoạch một cách thụ động Họ ít quan tâm đến sản phẩm, nên dù chất lượng thế nào người tiêu dùng vẫn phải chấp nhận không có quyền lựa chọn Còn hiện nay trong cơ chế thị trường, sản xuất phải gắn liền với thị trường, gắn với nhu cầu của người tiêu dùng, và cũng chính người tiêu dùng sẽ quyết định sản xuất cũng như chất lượng hàng hoá
Trang 27Ngoài ra vai trò của tri thức, còn thể hiện ở chỗ, nó làm cho người lao động
có “văn hoá sinh thái’’, nghĩa là trong lao động sản xuất, phải gắn chặt với việc bảo vệ, giữ gìn môi trường sinh thái Chúng ta ai cũng biết rằng, con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, nhưng đồng thời vừa là lực lượng “cai trị” tự nhiên, cho nên con người phải biết khai thác khoa học, hợp lý nguồn lợi tự nhiên Giữ gìn hệ sinh thái, tránh vì lợi ích cục bộ mà huỷ hoại môi trường tự nhiên, môi trường sống A.Tofler từng cảnh báo rằng nền văn minh công nghiệp mà khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, thì đó chẳng qua chỉ là nền văn minh ăn tươi nuốt sống vốn liếng của thiên nhiên Bởi vậy, người lao động có tri thức, có văn hoá, phải là người biết quý trọng thiên nhiên phải được trang bị văn hoá sinh thái
Như vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay ở nước ta Chúng ta không thể không phát huy mọi nguồn lực, lợi thế trong nước để khai thác nguồn lực tự nhiên Sử dụng một cách có hiệu quả cơ sở vật chất-kỹ thuật, tiềm lực khoa học công nghệ hiện có, cùng những khả năng to lớn về vốn, thị trường, công nghệ, kinh nghiệm quản lý nước ngoài, để bổ sung và phát triển sức mạnh trong nước khi mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế Nhưng để có thể phát huy tối
đa nguồn lực hiện có nhằm tạo sự ổn định bền vững nền kinh tế đất nước, cần phải phát huy sức mạnh nguồn nhân lực con người Việt Nam, biến sức mạnh của nguồn nhân lực thành sức mạnh nội sinh cho quá trình phát triển đi lên Chúng ta đều biết rằng, một khi đã có đủ các nguồn lực khác, nhưng tự chúng không thể “vật chất hoá” được nếu không có đội ngũ những người Việt Nam lao động có năng lực và phẩm chất Nhận thức được vai trò quyết định của nguồn nhân lực nước ta, so với các nguồn lực khác trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng
ta đã khẳng định “nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” [23, tr.9] Như vậy để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, không thể không phát triển con người Việt Nam toàn diện, có đủ năng lực, thể lực,
Trang 28trí lực, đạo đức, nhân cách, có văn hoá, có lý tưởng và hoài bão cách mạng Tất cả những yếu tố đó làm nên sức mạnh nguồn lực nội sinh, nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhằm góp phần xây dựng xã hội ta thành xã hội tốt đẹp, văn minh ngày càng tiến bộ
2.1.1 Về trình độ tri thức nguồn nhân lực hiện nay
Nước ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong điều kiện và
hoàn cảnh không giàu có về tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chính hạn hẹp Đất nước chịu hậu quả nặng nề của mấy chục năm chiến tranh tàn khốc Với điểm xuất
Trang 29phát thấp như vậy, việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một sự nghiệp lâu dài khó khăn đầy gian khổ Nhưng trong tất cả những hạn chế và khó khăn đó, Đảng ta vẫn tìm ra cho mình một hướng đi phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước nhà Đó là việc phát huy nguồn nhân lực và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng nhất
Dân số nước ta hiện nay có gần tám mươi triệu người, đứng thứ mười ba trên thế giới, thứ bảy trong số bốn mươi hai nước ở Châu Á và đứng thứ hai trong các nước ASEAN Hàng năm nước ta có khoảng một triệu thanh niên bổ
sung vào lực lượng lao động, lao động nước ta được đánh giá là có khả năng tiếp thu nhanh, dễ đào tạo, cần cù chịu khó Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nước ta cũng có một số điểm hạn chế nhất định như trình độ chuyên môn thấp, khả năng thích ứng với cơ chế thị trường còn hạn chế Vấn đề gấp rút đặt ra hiện nay là phải đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có, làm cho nó không chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp, dịch vụ tập trung lao động, mà còn sẵn sàng bổ sung vào lực lượng lao động có kỹ năng trong việc xây dựng một
số ngành kinh tế của đất nước đang
đòi hỏi Điều này đặt ra nhu cầu phải tiến hành cải cách hệ thống giáo dục còn nhiều bất cập hiện nay ở nước ta
Trong những năm qua Chính phủ đã có nhiều cố gắng đầu tư cho giáo dục
Kể từ năm 1995 đến nay chi phí cho giáo dục vẫn tăng trung bình hàng năm là 1%; mức đầu tư cho giáo dục năm 2003 là 16,3% tổng số chi tiêu ngân sách quốc gia Nước ta đã thành công trong việc thanh toán nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho 61 tỉnh và thành phố trong cả nước Chất lượng đào tạo cũng được nâng lên, trong giáo dục đã xuất hiện một số yếu tố mới, việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo đã tạo ra một cơ hội mới về học tập và tìm kiếm việc làm cho người lao động Do vậy, trình độ tri thức và do đó vai trò của tri thức trong nguồn
Trang 30nhân lực ở nước ta có bước phát triển rõ rệt, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, thì một trong những điều kiện quan trọng là phải tạo ra một nguồn nhân lực không chỉ đông về số lượng mà còn phải mạnh về chất lượng, phải là những con người lao động có chuyên môn cao, có
ý chí tự lực tự cường Về số lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay được phân
bố như sau: dân số nông thôn chiếm 76%, dân số thành thị chiếm 19,5%, phụ nữ 51,3% Số người trong độ tuổi lao động là 36,6 triệu người Như vậy, nước ta có một lực lượng lao động khá dồi dào, nhu cầu về lao động ngày càng gia tăng, giá lao động rẻ, đây chính là một lợi thế quan trọng so với các nước khác Nước ta là một nước có lực lượng lao động đông được xếp vào quốc gia trẻ với 50% số người trong độ tuổi lao động là thanh niên ( từ 16-35 tuổi) Lợi thế của lực lượng lao động trẻ đó là sức khoẻ, tính năng động sáng tạo khả năng thích ứng nhanh, trình
độ văn hoá khá Những phẩm chất này, khẳng định trí tuệ của người Việt Nam có thể theo kịp và tiếp thu trình độ phát triển của nền khoa học- công nghệ tiên tiến hiện nay trên thế giới Nếu được đào tạo và sử dụng hợp lý thì người lao động nước ta có thể làm chủ được các loại hình công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và hiện đại
Cùng với các yếu tố về số lượng tạo nên nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, yếu tố về mặt chất lượng nguồn nhân lực (vai trò tri thức) giữ vai trò quan trọng nhất để góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Hiện nay, tỷ lệ dân số biết chữ ở nước ta đạt 93% (trong đó tỷ lệ lao động biết chữ đạt 97% tổng lực lượng lao động), số học sinh tiểu học đi học đúng độ tuổi đạt 90%, số năm đi học trung bình của dân cư là 7,3 năm Đến năm 2000 chúng ta đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập tiểu học, đang tiến hành phổ cập trung học cơ sở (đến tháng 2 năm 2003 đã có 10 tỉnh thành phố được công nhận là phổ cập xong trung học cơ sở) Xu hướng tri thức hoá nguồn nhân lực, để
Trang 31hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng rõ nét Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt là việc đào tạo nghề vài năm nay được mở rộng đáng kể Nếu năm 1996 tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chiếm 10%, thì đến năm 2000 đã tăng lên 20% ( trong đó qua đào tạo nghề khoảng 13,4%) Lực lượng được đào tạo chính quy tương đối lớn so với các nước có thu nhập thấp như nước ta (My-an-ma, Lào, Cam-pu-chia) bao gồm các nhà lãnh đạo, quản lý Nhà nước, cán bộ khoa học công nghệ, công nhân lành nghề
Năm 1999 cả nước có 1,3 triệu người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên Riêng Giáo sư, Phó Giáo sư có 807 người, 11.718 Tiến sỹ, 10.000 Thạc sỹ gần 1,77 triệu công nhân kỹ thuật, gần 1,6 triệu cán bộ trung cấp Ngoài ra còn có 10 vạn trí thức Việt kiều đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài Từ năm 1991 đến
1999 lao động có chuyên môn kỹ thuật được đào tạo chính quy không những tăng
về tuyệt đối mà còn tăng đáng kể cả về mặt tương đối Cụ thể là tỷ trọng lao động
có chuyên môn kỹ thuật trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân tăng từ 6,6% năm 1991 lên 13,87% năm 1999 Trong đó công nhân kỹ thuật tăng từ 4.17% lên 5,44%, cán bộ trung cấp tăng từ 3,4% lên 4,9% và cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tăng từ 2% lên 3,5%” [xem 18, tr.21,22] Đây là những nhân tài của đất nước,
là lực lượng xung kích trong cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật và quản lý có khả năng tiếp thu công nghệ cao phục vụ nền kinh tế tri thức
Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật(CMKT) của lao động
1996-2000 (% )
Trang 324,38 1,77 3,84 2,30 100,00
87,71 12,29
4,38 1,5 3,80 2,60 100,00
88,13 13,31
4,75 1,45 4,01 3,10 100,00
86,13 13,87
5,44 1,76 4,90 3,50 100,00
84,49 15,51
6,78 6,78 4,84 3,89 100,00
(Nguồn: Thực trạng về Lao động-việc làm Việt Nam-Nxb Thống kê HN
1997,1998,1999,2000,)
Có thể khẳng định những thành tựu đạt được trong những năm đổi mới vừa qua về việc nâng cao trình độ tri thức nguồn nhân lực Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội ngũ những người lao động Việt Nam, từng bước phát triển vươn lên đảm nhận sứ mệnh cao cả, là đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới Mặt khác, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện về tri thức, đạo đức, sức khoẻ… để có được đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao
Đồng thời chính những thành tựu đó đã góp phần nâng cao chỉ số phát triển người (HDI) của người Việt Nam, làm cho chỉ số đó thường xuyên tăng lên Theo bảng xếp hạng của chương trình phát triển liên hợp quốc( UNDP) thì trong vòng
10 năm gần đây chỉ số phát triển của người Việt Nam có những tiến bộ đáng kể
Cụ thể là từ 0,456 ( xếp thứ 121/147 nước ) năm 1990, tăng lên 0,664 (xếp thứ
Trang 33110) năm 1999 So với chỉ số phát triển kinh tế GDP/đầu người (xếp thứ 133) chỉ
số phát triển người vượt lên 23 bậc”[60, tr78]
Các chỉ số đó cho thấy rằng, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng trong những năm qua, nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và của Nhà nước Chúng ta đã bước đầu xây dựng được đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, có tri thức, có trí tuệ, đang góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới Điều đó cũng có nghĩa rằng vai trò của tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay đã được nâng lên một cách đáng kể so với thời kỳ trước đổi mới Nguồn nhân lực đó ngày càng được bổ sung và phát triển đảm nhận trọng trách quan trọng, đưa kinh tế nước ta phát triển và chủ động tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Tuy vậy với quan điểm biện chứng, nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta thấy rằng, bên cạnh những thành tựu trong việc trang bị tri thức cho nguồn nhân lực ở nước ta, thì một vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là chúng ta đang đứng trước thách thức rất lớn trong việc đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
2.1.2 Về cơ cấu trình độ tri thức nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Chiến lược phát triển kinh tế trong thời kỳ mới sẽ tác động đến sự biến đổi
về số lượng, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề, điều kiện lao động của người lao động nước ta Tình hình đất nước và xu thế thời đại, đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải nhanh chóng tri thức hoá đội ngũ lao động Đây là nhiệm vụ hết sức khó khăn, nặng nề, vừa có tính cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dài, phải tiến hành thường xuyên, liên tục và là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, quyết định thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Để tạo được sự cân bằng, đồng bộ, có bước chuyển biến quan trọng về chất lượng và số lượng trong cơ cấu tri thức nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta, điều cần thiết là phải xem xét ,đánh giá một cách khách
quan về thực trạng cơ cấu tri thức đội ngũ nguồn nhân lực
Trang 34Ở phần trên chúng ta đã phân tích, làm rõ vai trò tri thức đối với nguồn
nhân lực ở nước ta hiện nay Nhưng trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng như xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, cơ cấu trình độ tri thức nguồn nhân lực ở nước ta còn nhiều bất cập, những bất cập đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đổi mới Nếu không có sự điều chỉnh, sự bất cập này sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội ở nước ta hiện nay Đến năm 2000 lao động qua đào tạo ở nước ta mới chiếm tỷ lệ 20% Trong khi chúng ta
dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động Chẳng hạn, hiện nay việc xuất khẩu lao động ở nước ta đi một số nước trong khu vực chủ yếu vẫn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo Việc xuất khẩu lao động như vậy chỉ là giải pháp tình thế, khi lao động phổ thông trong nước
dư thừa Còn về lâu dài việc xuất khẩu như vậy sẽ không thể nâng cao tri thức và vai trò của tri thức đối với nguồn nhân lực, để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Như vậy tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong tổng
số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân thấp và không có sự thay đổi đáng kể Theo số liệu của Tổng cục thống kê, lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật ở nước ta tuy có tăng nhưng tỷ lệ tăng rất chậm Năm
1997 tăng 1,03%; năm 1998 tăng
11,5% ; năm 1999 tăng 5% và tăng bình quân trong thời kỳ 1996-1999 là 6%, thấp hơn cả mức tăng GDP’’ [18, tr23]
Đó là một tình trạng báo động, nó không phù hợp với quy luật của tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bao giờ cũng phải tăng cao hơn tốc độ tăng GDP để đảm bảo tăng GDP một cách vững chắc Đồng thời, cơ cấu đào tạo tri thức nguồn nhân lực chưa đảm bảo yêu cầu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ lệ được đào tạo các cấp so với tổng số dân nước ta mới chỉ đạt 80-85% bậc tiểu học, 36,2% trung học và từ 2-
Trang 353% đại học Trong khi các chỉ số tương ứng ở các nước có trình độ phát triển trung bình là 91%, 46%, 14% Còn ở những nước có trình độ phát triển cao là 98%, 64%
và 23,4% Tỷ lệ người có trình độ cao đẳng, đại học trên 10 vạn dân của nước ta là
600, trong khi đó tỷ lệ này ở Đức là 1252, ở Pháp là 1515 , ở Mỹ là 2196 và Hàn Quốc là 2695” [55, tr39]
Một bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo ở nước ta là với một nước 76% d ân số sống ở nông thôn hiện nay, mà tỷ lệ được đào tạo về nông học chỉ chiếm 0,45% Trong số hơn 23 triệu lao động nông, lâm nghiệp chỉ có 7% được đào tạo Số cán
bộ nông nghiệp được đào tạo ở bậc đại học chỉ có 8,1% sau đại học 6,59%, nhưng phần lớn lại tập trung ở cơ quan trung ương (89,3%) Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực không cân đối, dẫn đến sự chênh lệch quá lớn giữa đào tạo đại học cao đẳng với trung học và dạy nghề Từ đó dẫn đến tình trạng mà lâu nay ai cũng nói đó là
“thừa thày, thiếu thợ” Có thể nhận thấy rằng, tỷ lệ giữa những người lao động có trình độ cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, từ cuối những năm 70 trở lại đây có sự thay đổi đáng kể theo hướng số người tốt nghiệp cao đẳng đại học ngày càng tăng Chẳng hạn, tỷ lệ giữa những người lao động có trình độ cao đẳng đại học,trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật vào năm
1979 là 1/2,25/7,1, năm 1998 là 1/1,6/3,6 và vào năm 2000 là 1/1,33/4,17 Trong khi đó tỷ lệ này ở các nước trong giai đoạn công nghiệp hoá là 1ĐH/4THCN/20CNKT lành nghề/60 CNKT bán lành nghề/15 lao động giản đơn Kinh nghiệm của các nước đã tiến hành công nghiệp hoá cho thấy đó là một tỷ lệ thích hợp Thực tế những năm qua chứng minh rằng chúng ta đang thừa những người có trình độ đại học, nhưng quá thiếu công nhân kỹ thuật, đặc biệt là công nhân kỹ thuật lành nghề Điều đó có nguyên nhân thích làm thày hơn làm thợ đã tồn tại từ lâu trong nhân dân” [28, tr11]
Những năm gần đây, một số ngành khoa học-công nghệ được đào tạo
Trang 36tăng nhanh như : công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông, du lịch, quản trị doanh nghiệp Việc mở rộng các ngành khoa học đã tạo ra sự thay đổi cơ cấu và diện mạo của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ nước ta Trong số 23 ngành đào tạo hiện nay, thì ngành giáo dục vẫn giữ vị trí số 1 chiếm 34,6%, tiếp theo là ngành kinh doanh và quản lý chiếm 19,3%, thứ 3 là ngành kinh tế 8,1%, ngành nông-lâm-nghư nghiệp đứng thứ bảy chiếm 4,41%, ngành chế tạo chế biến đứng thứ mười bảy chiếm 0,53% tổng số cán bộ khoa học Về trình độ chuyên môn, cơ cấu về tỷ
lệ cán bộ có trình độ từ đại học đến tiến sỹ được phân bố như sau : cao đẳng 28,6%, đại học 68,29%, thạc sỹ 1,49%, tiến sỹ và tiến sỹ khoa học chiếm 0,93%” [58, tr92] Trong số cán bộ có trình độ trên đại học có tới 94% làm việc ở các trường đại học, các cơ quan Trung ương và ở hai thành phố lớn Lao động kỹ thuật cũng tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, vùng đồng bằng Sông Hồng chiếm 36,7%, Đông Nam Bộ chiếm 17,1%, các vùng còn lại như Tây Nguyên, Tây Bắc, Đồng bằng Sông Cửu Long chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số lao động kỹ thuật trong cả nước
Một thực trạng khác đáng quan tâm là tình trạng lão hoá trong đội ngũ cán
bộ khoa học công nghệ ở nước ta, sự lão hoá này thể hiện trên cả hai phương diện
về tuổi tác và tri thức Tình trạng “tre đã già nhưng măng chưa mọc” diễn ra khá phổ biến trong các cơ quan khoa học Hiện nay tuổi đời trung bình của cán bộ khoa học công nghệ ở nước ta quá cao, nhất là số có trình độ trên đại học Một công trình nghiên cứu khá tỷ mỷ độ tuổi của cán bộ khoa học công nghệ cho thấy, tuổi trung bình của cán bộ khoa học công tác tại các viện nghiên cứu là 45-46, (lứa tuổi trên 45 chiếm từ 65-70%) Tuổi trung bình khi bảo vệ luận án tiến sỹ là 47-50 tuổi,
độ tuổi phong học hàm giáo sư phó giáo sư càng cao, giáo sư từ 45-50 tuổi chiếm 39%, từ 55-65 tuổi chiếm 54%, từ 66 tuổi trở lên chiếm 7% Phó giáo sư độ tuổi từ 45-55 chiếm 47%, từ 56-65 chiếm 39%, từ 66 tuổi trở lên chiếm 14% Ở Viện KHXH Việt Nam, độ tuổi của giáo sư và phó giáo sư còn cao hơn Giáo sư tuổi từ
Trang 3746-55 không có, từ 56-65 tuổi chiếm 59%, từ 66 tuổi trở lên chiếm 41% Phó giáo
sư tuổi 46-55 chiếm 23%, từ 56-65 tuổi chiếm 66%, từ 66 tuổi trở lên chiếm 11%” [10, tr33] Theo ước tính, nếu tuổi về hưu vẫn giữ như hiện nay thì ngoài năm 2000 một bộ phận lớn giáo sư, phó giáo sư sẽ quá tuổi hưu Thực trạng trên đã dẫn đến nguy cơ là hiện nay số cán bộ khoa học đầu đàn đều thiếu hụt, nếu không có biện pháp đào tạo bồi dưỡng lực lượng trẻ thay thế thì chỉ năm đến mười năm tới tình trạng thiếu cán bộ khoa học càng trầm trọng
Một khía cạnh khác của sự bất cập về tri thức nguồn nhân lực, đó là tình trạng chảy máu “chất xám” trong đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ ở các doanh nghiệp Nhà nước Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê tại 233 cơ quan khoa học công nghệ ở Trung ương trong ba năm từ 1994-1997 số người chuyển công tác là 2667 người, đến nhận công tác là 1915 người Như vậy, cán bộ khoa học công nghệ chuyển qua các đơn vị khác cao hơn nhiều so với số người đến làm việc Tình hình này cũng diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước, tính hấp dẫn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn đến việc, một bộ phận cán bộ khoa học công nghệ làm việc trong các cơ quan Nhà nước chuyển sang làm cho các công ty doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Qua thăm dò ý kiến của 675 nhà khoa học thì khoảng 1/3 số đó cho rằng việc dời bỏ cơ quan Nhà nước là do muốn có thu nhập cao Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế, bất cập của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ cũng như của nguồn nhân lực nói chung ở nước ta Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có chiến lược quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ, nhưng việc triển khai thực hiện còn nhiều trở ngại, một số chính sách cán bộ như chế độ đãi ngộ, tiền lương…còn chậm đổi mới
Như ở các phần trên đã trình bày và chỉ ra, số lượng người lao động qua đào tạo ở nước ta mới đạt 20% (tỷ lệ này so với các nước trong khu vực là rất thấp) Đã vậy việc phân công bố trí sắp xếp lao động nguồn nhân lực qua đào tạo lại bất hợp
lý Hiện tại vẫn còn 2,2% trong tổng số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trang 38chưa có việc làm Theo điều tra của trung tâm xử lý và phân tích dữ liệu kinh tế xã hội của trường đại học kinh tế quốc dân công bố tháng 6 năm 2000 thì trong số 8.699 sinh viên tốt nghiệp đại học, có 6.304 (chiếm 72,47%) có việc làm và 2.359 (chiếm 27,53%) không có việc làm Theo số liệu của Trung tâm thông tin quản lý giáo dục bộ giáo dục và đào tạo điều tra ở 51 trường đại học cao đẳng công bố tháng 4 năm 2000, kết quả tương ứng là 72,4% và 23,84% (3,69% đang đi học thêm) Năm 1996 cuộc điều tra ở ba trường đại học cũng cho kết quả gần như vậy, các tỷ lệ tương ứng là 71,61% có việc làm, 28,39% không có việc làm, 4,85% tiếp tục học thêm” [57, tr 166]
Như vậy trong cơ cấu tri thức nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta bất cập cả
ở khâu đào tạo và cả sử dụng nguồn nhân lực Vấn đề không phải là thiếu cử nhân hay kỹ sư mà là thiếu việc làm, bởi vậy nhiều sinh viên khi ra trường chỉ mong sao kiếm được việc làm bất kỳ ngành nghề đó có phù hợp chuyên ngành đào tạo hay không Bởi vậy chỉ 70% số người có trình độ cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp làm việc đúng nghề đào tạo, trong số lao động chuyển ngành nghề
so với ngành nghề đào tạo, chỉ có 42,5% được đào tạo lại số còn lại 57,5% làm trái nghề coi như chưa được đào tạo Ở khu vực hành chính sự nghiệp và bộ máy sản xuất kinh doanh khu vực Nhà nước hiện có 30% cán bộ nhân viên không đủ trình
độ chuyên môn hoặc làm không đúng nghề, mà họ làm việc chủ yếu bằng kinh nghiệm Tình hình này làm cho chất lượng nguồn nhân lực lao động càng thêm hạn chế” [38, tr109]
Trong thành phần nguồn nhân lực con người cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ công chức hành chính Nhà nước rất quan trọng Họ chịu trách nhiệm vận hành bộ máy quản lý Nhà nước về mọ i mặt Chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ công chức này trong những năm qua, đã qua đào tạo bồi dưỡng nâng lên một bước, nhưng so với yêu cầu quản lý bộ máy Nhà nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay thì còn nhiều bất cập, làm ảnh hưởng đến chất lượng,
Trang 39hiệu quả hoạt động bộ máy Nhà nước Hiện nay 10% công chức chưa tốt nghiệp phổ thông, 60,51% công chức tốt nghiệp đại học và cao đẳng, 4,41% công chức có trình độ trên đại học, 4,28% có trình độ lý luận chính trị cao cấp, 28,26%có trình
độ lý luận trung cấp, 37,07% có trình độ Tiếng Anh (A-B-C), 14,47% đã qua đào tạo quản lý hành chính Nhà nước, 4,34% qua đào tạo quản lý kinh tế và 27,19% được đào tạo về tin học”
Như vậy, trình độ tri thức trong đội ngũ công chức nước ta còn thấp so với yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay Điều này không chỉ thể hiện ở tỷ lệ số công chức được đào tạo, mà còn ở trình độ đào tạo của công chức Một phần lớn công chức được đào tạo trong môi trường và điều kiện làm việc theo cơ chế tập trung bao cấp nên vẫn hình thành lối tư duy và thói quen làm việc thụ động, khả năng thích ứng chậm, còn nhiều hạn chế Sự bất hợp lý về chất lượng đội ngũ công chức Nhà nước hiện nay còn thể hiện ở sự chênh lệch giữa các vùng và các cấp quản lý Thường là công chức ở cấp Trung ương có trình độ khá hơn cấp tỉnh, công chức cấp tỉnh khá hơn công chức cấp huyện Công chức miền núi có trình độ và năng lực đều thấp hơn so với công chức thành phố và so với yêu cầu quản lý kinh tế xã hội nơi đó
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, công nhân là lực lượng cơ bản, trụ cột thực hiện quá trình sản xuất làm ra của cải vật chất cho đất nước Là người trực tiếp đưa thành tựu và tiến bộ khoa học kỹ thuật – công nghệ
áp dụng vào sản xuất và đời sống Nhưng có một thực tế là đội ngũ này còn nhỏ bé
về số lượng và yếu về chất lượng Theo số liệu điều tra của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam năm 1999-2000, lực lượng lao động nước ta nhìn chung tuổi đời còn trẻ, nhóm từ 18-30 tuổi chiếm 36,4% Trong các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài công nhân dưới 25 tuổi chiếm 43,42%, từ 26-35 tuổi chiếm 43,65%, từ 36-45 tuổi chiếm 14,04% Phần lớn công nhân nước ta có thời gian lao động là 15 năm ( chiếm 64,46%) Điều đó cho thấy trong những năm đổi mới, đội ngũ công nhân
Trang 40nước ta đã được trẻ hoá rất nhiều so với giai đoạn trước Nhưng những số liệu điều tra sau đây cho thấy sự bất cập về tri thức đối với chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ này ở nước ta hiện nay như sau:
Về trình độ học vấn: công nhân không biết chữ chiếm 0,23%, trình độ văn hoá tiểu học 4,12%, trình độ văn hoá trung học cơ sở 27,24%, trình độ văn hoá trung học phổ thông chiếm 62,22% Khi đó sự phân bố công nhân có trình độ văn hoá cao lại không đều, công nhân có trình độ văn hoá trung học phổ thông ở một
số thành phố lớn và một số ngành sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ cao Tại thành phố Hải Phòng, số công nhân loại này chiếm 70,50%, trong khi đó ở một số tỉnh tỷ
lệ này còn rất khiêm tốn, như ở tỉnh Đồng Nai chỉ có 47,23% Một số tỉnh miền núi
tỷ lệ này còn rất thấp, ngoài ra còn có sự chênh lệch đáng kể về trình độ văn hoá giữa nam và nữ (nam 63,01% có trình độ văn hoá trung học phổ thông, trong khi
đó nữ chỉ có 39%), tình trạng vẫn còn công nhân mù chữ, đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết
Về trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ: công nhân kỹ thuật đã qua đào tạo là 2.618.746 người, số có bằng trung cấp chuyên nghiệp là 1.870.136 người, số người tốt nghiệp cao đẳng, đại học và trên đại học là 1.503.541 người
Về trình độ bậc thợ: lao động giản đơn 6,73%, lao động bậc hai 9,44%, lao động bậc ba 16,63%, lao động bậc bốn 12,77%, lao động bậc năm 11,10% lao động bậc sáu 6,04%, lao động bậc bảy 2,38%” [33, tr 9-10]
Những con số thống kê trên phản ánh tình trạng mất cân đối nghiêm trọng, trong cơ cấu chất lượng tri thức nguồn nhân lực giữa các bộ phận công nhân Trong đó công nhân có trình độ tay nghề thấp (bậc hai, bậc ba) chiếm số đông, ngược lại công nhân có tay nghề cao (bậc sáu, bậc bảy) chiếm tỷ lệ rất thấp, mặt khác trình độ tay nghề của công nhân giữa các khu vực cũng chênh lệch nhau Hiện tại nhiều công ty, xí nghiệp, đang từng bước hiện đại hoá dây chuyền sản xuất và công nghệ quản lý, nhưng lại thiếu thợ bậc cao, thiếu công nhân lành nghề