1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT hiện nay (nghiên cứu trường hợp học sinh trường THPT diễn châu 4 và THPT diễn châu 1, huyện diễn châu, tỉnh nghệ an)

133 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm hiểu quan niệm của các em về tình cảm giữa nam và nữ ở lứa tuổi học trò hiện nay và các tiêu chí mà các em đưa ra để lựa chọn một tình yêu đích thực chúng tôi đã lựa chọn nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ HIỀN

TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN NGƯỜI YÊU CỦA HỌC

SINH THPT HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp học sinh trường THPT Diễn Châu 4

và THPT Diễn Châu 1, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ HIỀN

TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN NGƯỜI YÊU CỦA HỌC

SINH THPT HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp học sinh trường THPT Diễn Châu 4

và THPT Diễn Châu 1, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 60.31.03.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Bá Thịnh

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, luận văn Tiêu chuẩn lựa

chọn người yêu của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp học sinh Trường THPT Diễn Châu 4 và THPT Diễn Châu 1, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) đã được hoàn thành Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới

GS.TS Hoàng Bá Thịnh, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học đã dạy dỗ và truyền đạt những tri thức quý báu trong suốt những năm qua, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học của mình

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ năng lực của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô giáo khoa Xã hội học để tôi được rút kinh nghiệm trong những nghiên cứu sau đạt kết quả tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2016

Học viên Trần Thị Hiền

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan đề tài nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 14

3.1 Mục đích 14

3.2 Nhiệm vụ 15

4 Ý nghĩa nghiên cứu 15

4.1 Ý nghĩa lý luận 15

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 15

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16

5.1 Đối tượng nghiên cứu 16

5.2 Khách thể nghiên cứu 16

5.3 Phạm vi nghiên cứu 16

6 Câu hỏi nghiên cứu 17

7 Giả thuyết nghiên cứu 17

8 Phương pháp thu thập thông tin 17

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu 18

8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 18

8.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến 18

9 Khung phân tích 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 21

1.1 Các khái niệm công cụ của đề tài 21

1.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn lựa chọn 21

1.1.2 Khái niệm quan niệm 22

1.2.3 Khái niệm tình yêu 22

1.2 Lý thuyết áp dụng 25

1.2.1 Lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý 25

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 28

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 30

Trang 5

CHƯƠNG 2: TUỔI YÊU ĐẦU TIÊN VÀ QUAN NIỆM VỀ TÌNH YÊU

CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY 33

2.1 Tuổi yêu đầu tiên của học sinh Trung học phổ thông 33

2.1.1 Thời gian bắt đầu yêu của học sinh Trung học phổ thông 34

2.1.2 Độ dài thời gian yêu của học sinh Trung học phổ thông 40

2.2 Quan niệm của học sinh Trung học phổ thông về tình yêu 43

2.2.1 Quan niệm về tình yêu tuổi học trò trong xã hội hiện đại 43

2.2.2 Quan niệm của học sinh THPT về tầm quan trọng của tình yêu 49

2.3 Quan niệm của học sinh THPT về tình yêu và tình dục 53

2.3.1 Quan niệm của học sinh THPT về tình dục trước hôn nhân 54

2.3.2 Quan niệm của học sinh THPT về mối quan hệ giữa tình yêu và

tình dục 56

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN NGƯỜI YÊU CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 60

3.1 Quan niệm của học sinh THPT về một số tiêu chuẩn lựa chọn

người yêu 60

3.1.1 Về tính cách, phẩm chất đạo đức 64

3.1.2 Về nghề nghiệp 70

3.1.3 Về trình độ học vấn 76

3.1.4 Về hoàn cảnh gia đình 80

3.1.5 Về ngoại hình 85

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh Trung học phổ thông 89

3.2.1 Gia đình 89

3.2.2 Nhóm bạn bè 94

3.2.3 Nhà trường 96

3.2.4 Truyền thông đại chúng 98

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 108

Trang 6

thành niên Việt Nam năm 2003

thành niên Việt Nam năm 2008

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Quan niệm của học sinh Trung học phổ thông về tình yêu 45 Bảng 2.2: Quan niệm của học sinh THPT ở khu vực nông thôn và đô thị về tình yêu 47 Bảng 2.3: Quan niệm về tình yêu của học sinh THPT phân theo giới 48 Bảng 2.4: Quan niệm về tầm quan trọng của tình yêu phân theo giới tính và khu vực sinh sống Đơn vị % 51 Bảng 2.5: Quan niệm của học sinh THPT về quan hệ tình dục trước hôn nhân Đơn vị: Điểm trung bình 55 Bảng 2.6: Quan niệm của học sinh THPT về mối quan hệ tình yêu và tình dục Đơn vị: Điểm trung bình 57 Bảng 3.1: Điểm trung bình mong muốn về tính cách, phẩm chất của người yêu 65 Bảng 3.2: Tương quan nam nữ học sinh ở 2 khu vực nông thôn và đô thị trong việc mong muốn nghề nghiệp người yêu Đơn vị: Số học sinh 74 Bảng 3.3: Tương quan nam nữ trong mong muốn về trình độ học vấn của người yêu 78 Bảng 3.4: Điểm trung bình các tiêu chuẩn về ngoại hình theo mong muốn của học sinh THPT 86 Bảng 3.5: Tương quan theo địa bàn giữa học sinh các khối lớp trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố gia đình đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu Đơn vị % 92 Bảng 3.6: Tương quan theo giới tính giữa học sinh các khối lớp trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố gia đình đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu Đơn vị % 93 Bảng 3.7: Tương quan theo giới tính giữa học sinh đã có người yêu và chưa

có người yêu trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố gia đình đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu Đơn vị % 95 Bảng 3.8: Tương quan theo địa bàn giữa học sinh các khối lớp trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố nhà trường đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu Đơn vị % 97

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 2.1: Tuổi yêu đầu tiên của học sinh THPT 34

Biểu đồ 2.2: Tuổi yêu đầu tiên của học sinh THPT phân theo vùng 36

Biểu đồ 2.3: Tuổi yêu đầu tiên của học sinh THPT phân theo giới tính 37

Biểu đồ 2.4: Thời gian có người yêu của học sinh THPT 40

Biểu đồ 2.5: Thời gian có người yêu của học sinh THPT theo giới tính 41

Biểu đồ 2.6: Thời gian có người yêu của học sinh THPT phân theo vùng 42

Biều đồ 2.7: Quan niệm của học sinh về Mức độ quan trọng của tình yêu tuổi

học trò 50

Biểu 3.1: Tiêu chuẩn quan trọng nhất trong việc lựa chọn người yêu của học sinh THPT 61

Biểu 3.2: Tiêu chuẩn quan trọng nhất trong việc lựa chọn người yêu của học sinh nông thôn và đô thị 62

Biểu 3.3: Tương quan nam nữ trong việc đánh giá các phẩm chất và tính cách mong đợi của người yêu Đơn vị: Điểm trung bình 67

Biểu đồ 3.4: Tiêu chí lựa chọn người yêu về tính cách, phẩm chất của học sinh nông thôn và đô thị 69

Biểu đồ 3.5: Mong muốn của học sinh THPT về nghề nghiệp của người yêu 71

Biểu đồ 3.6: Mong muốn về nghề nghiệp của người yêu của học sinh các

khối lớp 73

Biểu đồ 3.7: Mong muốn của học sinh THPT về trình độ học vấn của người yêu 76

Biểu đồ 3.8: Mong muốn về trình độ học vấn của người yêu phân theo vùng 77

Biểu đồ 3.9: Tương quan mong muốn của học sinh ở các khối lớp về trình độ học vấn của người yêu Đơ 79

Biểu đồ 3.10: Mong muốn về hoàn cảnh gia đình người yêu của học sinh THPT 82

Biểu 3.11: Mong muốn về hoàn cảnh gia đình của người yêu của học sinh nông thôn và đô thị 83

Biểu đồ 3.12: Tương quan nam nữ trong tiêu chuẩn lựa chọn ngoại hình của

người yêu 87

Biểu đồ 3.13: Tương quan nam nữ trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của yếu tố gia đình tới tiêu chuẩn lựa chọn người yêu 91

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giá trị và định hướng giá trị có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách, lối sống và hành vi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ Giá trị về tình yêu hôn nhân là những điều thiêng liêng, quý báu trong cuộc đời mỗi con người Tình yêu là biểu hiện cao nhất của tình người, là biểu hiện giá trị văn hoá, tính nhân văn của mọi thời đại Tình yêu là cơ sở vững chắc cho hôn nhân và hạnh phúc gia đình Chỉ có tình yêu mới thúc đẩy hai con người tự nguyện chung sống và gánh chịu những bão táp của cuộc sống, mới cảm nhận được hạnh phúc lớn lao không chỉ khi “chia ngọt, sẻ bùi” mà cả khi chia sẻ nỗi đắng cay “Thuận vợ, thuận chồng biển Đông tát cạn” Một cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu, mà chỉ từ tiền tài, danh vọng, thì không thể đem lại hạnh phúc, nó sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề

và những nỗi bất hạnh lớn lao

Trong nền kinh tế thị trường hay sự du nhập những nền văn hoá mới đã có những tác động tiêu cực tới con người Nhu cầu về cuộc sống vật chất ngày càng cao, đồng nghĩa với việc đòi hỏi con người phải lăn lộn với cuộc mưu sinh nhiều vất

vả hơn, tính đến lợi nhuận, và không có nhiều thời gian quan tâm đến người xung quanh Đây có lẽ là nguyên nhân dẫn đến kiểu sống thực dụng - lối sống đôi khi quá

vô tình,vô nghĩa Trong thời gian gần đây, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đang bị ảnh hưởng không nhỏ bởi lối sống này và dẫn đến những suy nghĩ, quan niệm trong tình yêu cũng như tiêu chuẩn lựa chọn người yêu có phần sai lệch, nhiều người lại cho rằng tiền là thước đo duy nhất để tiến tới một mối quan hệ yêu đương

Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đặc biệt học sinh, sinh viên là lực lượng năng động, sáng tạo, mang trên vai trọng trách lịch sử, đó là phải trở thành lực lượng lao động có trí tuệ và có tay nghề cao, có đạo đức và lối sống trong sáng, có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng để đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh Học sinh THPT

là những người trong giai đoạn phát triển sinh lý, cơ thể và đặc điểm của cá nhân từ

Trang 10

một đứa trẻ thành một người trưởng thành Trong giai đoạn lứa tuổi này, họ phải đối mặt với nhiều vấn đề và các tác động khác nhau trong cuộc sống, những quyết định quan trọng của cuộc đời trong khi kinh nghiệm sống, tâm sinh lý và kiến thức còn chưa ổn định Những suy nghĩ, cảm xúc của họ trong tình yêu, cách lựa chọn người yêu cũng rất khác biệt so với những người đã đang có việc làm, ngoài ra ranh giới giữa “thích” và “yêu” dường như khá mong manh Nhằm tìm hiểu quan niệm của các em về tình cảm giữa nam và nữ ở lứa tuổi học trò hiện nay và các tiêu chí mà các em đưa ra để lựa chọn một tình yêu đích thực chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu

về “Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT hiện nay” Qua nghiên cứu

cách lựa chọn người yêu ở lứa tuổi học sinh nhằm làm rõ những thay đổi trong nhận thức, quan niệm của các em so với những nghiên cứu trước đó về thanh niên hay sinh viên, từ đó đi tới phát hiện những giá trị, tiêu chuẩn tình yêu mới xuất hiện và những tiêu chuẩn đã bị phai nhạt trong nền kinh tế thị trường

2 Tổng quan đề tài nghiên cứu

Tình yêu là đề tài muôn thuở của thơ ca, tuy nhiên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nói chung và xã hội học nói riêng, chủ đề không được đề cập đến nhiều

mà chỉ xuất hiện đi kèm với những nghiên cứu hôn nhân, gia đình Trong phần tổng thuật tài liệu này, tác giả đề cập đến nhóm nghiên cứu có liên quan đến đề tài là: các nghiên cứu về tình yêu và các giá trị trong tình yêu

Với các nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị, nhiều tác giả có các bài

đăng trên các tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học về giá trị và định hướng giá trị như (Thái Duy Tuyên, 1997)-tìm hiểu những đặc điểm về định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong thời kì đổi mới; (Phạm Tất Thắng, 2009)-định hướng giá trị của sinh viên; (Vũ Hào Quang, 2006)- định hướng giá trị của sinh viên con em cán bộ khoa học; (Ban Thanh niên trường học, 2007)- định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay (Bùi Thị Bích, 2007)-định hướng giá trị lối sống của sinh viên Mai Kim Châu (1983) cho rằng những định hướng giá trị hôn nhân gia đình của thanh niên phản ánh cuộc sống thực tế, sâu sắc mối quan hệ xã hội, thể

Trang 11

hiện sự ảnh hưởng của một nền giáo dục về học vấn, đạo đức, văn hóa liên quan đến suy nghĩ và hành động của thanh niên Tác giả nhấn mạnh những phẩm chất quan trọng của người bạn đời là có nghề nghiệp vững chắc, cư xử có văn hóa, có trách nhiệm trong cuốc sống

Với đề tài về tình yêu và các giá trị trong tình yêu, không chỉ có xã hội học

mà các ngành khoa học khác, đặc biệt là văn học cũng khá quan tâm Nguyễn Thị Thanh Trang, 2014, Hoàng Thị Thu, 2012 nghiên cứu văn hóa ứng xử về tình yêu, hôn nhân đặc biệt là tình yêu, hôn nhân trong ca dao của người Việt bởi đó là vấn

đề mang tính chất hiện sinh, đặt ra nhiều mối quan tâm trong cuộc sống thực tại Luận văn góp phần bồi dưỡng giáo dục cho học sinh phổ thông, đặc biệt là học sinh THCS về cách thức ứng xử, bởi các em đang là lứa tuổi hình thành nhân cách Việc nghiên cứu và tìm hiểu ứng xử trong ca dao, đặc biệt là ca dao về tình yêu và hôn nhân sẽ giúp cho các em có được hiểu biết về cách ứng xử của người xưa Từ đó, điều chỉnh được thái độ, hành vi cũng như cách ứng xử về tình yêu trong cuộc sống hiện đại

Trong các nghiên cứu về xã hội học, gia đình, nhiều nghiên cứu về tình yêu nói chung và tình yêu của thanh thiếu niên nói riêng đều phần lớn phân tích ở khía cạnh tiêu chí lựa chọn bạn đời

Qua kết quả một cuộc khảo sát trên 1000 nam nữ độc thân trong độ tuổi từ

25 đến 39 ở Hàn Quốc, để có thể trở thành bạn đời lý tưởng, các bà vợ tương lai phải cao ít nhất 164.9cm, nhỏ hơn chồng từ 3-4 tuổi và có tính cách thú vị Ngoài

ra, họ phải có công việc ổn định, thu nhập mỗi năm chừng 46.310.000 won (khoảng

895 triệu đồng), có khả năng tự lập về tài chính Còn trong mắt phụ nữ Hàn Quốc, người chồng lý tưởng phải cao 1,77m, có bằng Đại học, thu nhập mỗi năm khoảng 1

tỷ đồng Cũng như cánh mày râu, phụ nữ Hàn Quốc mong người bạn đời có tính cách đặc biệt thú vị Ngoài ra, các ông chồng tương lai còn phải khôi ngô, tuấn tú

Cả nam và nữ đều ưu tiên lựa chọn bạn đời theo thứ tự sau: Tính cách, ngoại hình, cuối cùng là đến khả năng tài chính (ở nam tỷ lệ này là 32,9 %, nữ 32,7 %) Ngoài

Trang 12

công nhân viên chức nhà nước, các ngành nghề được cả nam, nữ ưa chuộng ở Hàn

là nhân viên văn phòng (11,1%), giáo viên (10,2%), nhân viên tín dụng (7,3%) và dược sĩ (6,6%)

Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam 2003 (SAVY 1) của Tổng cục thống kê cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên từ độ tuổi 14-17 cho biết có người yêu chiếm tỷ lệ không lớn 9,9 %, tỷ lệ này tăng lên hơn đáng kể ở nhóm tuổi 18-21 với 42,2 % và ở nhóm tuổi 22-25 là 64% Xu hướng có bạn trai, bạn gái dường như phổ biến hơn ở khu vực thành thị với 36,8 % so với 25 % ở khu vực nông thôn Quan hệ tình dục không phổ biến lắm trong số các bạn trẻ ở độ tuổi 14-

17 Trong số 3213 người trả lời ở nhóm tuổi này, chỉ có 8 người ở thành thị và 12 người ở nông thôn trả lời rằng họ đã có quan hệ tình dục Điều tra Quốc gia cũng cho thấy, độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở thanh thiếu niên Việt Nam là tương đối muộn (khoảng 19 tuổi) so với các nước phương Tây và một số nước châu Á khác Trả lời của thanh thiếu niên về vấn đề tình dục trước hôn nhân cho thấy nhìn chung

họ không chấp nhận việc quan hệ tình dục trước hôn nhân Nam thanh niên có thái

độ chủ động và chấp nhận hơn là nữ thanh thiếu niên Tùy vào một số hoàn cảnh mà quan điểm này có sự thay đổi Nữ thanh thiếu niên chấp nhận QHTD nếu cả đôi nam nữ sẽ cưới nhau hoặc biết cách tránh thai Ở độ tuổi 14-17, tỷ lệ thanh thiếu niên đồng ý quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu: Cả hai người đồng ý chiếm tỷ lệ 25,2 %, sẽ lấy nhau chiếm 21,3 % và biết cách tránh thai là 23,6 % Tỷ lệ này cũng

có sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới

Một trong những đề tài có ảnh hưởng đầu tiên đến hướng nghiên cứu của tác giả là đề tài: Thanh thiếu niên và các giá trị về tình yêu, hôn nhân và cách ứng xử trong cuộc sống (Hà Thị Minh Khương, 2010) Trong nghiên cứu này, tác giả Hà Thị Minh Khương quan tâm nhiều tới quan điểm của thanh niên với một số giá trị trong tình yêu, hôn nhân, gia đình, cách ứng xử trong cuộc sống Bài viết chủ yếu phân tích dựa vào số liệu cuộc điều tra tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên

và thanh niên tại Hà Nội năm 2006 Nghiên cứu sử dụng một số chỉ báo được đặt ra

Trang 13

trong bảng hỏi bằng các tình huống cụ thể để xem xét, định hướng giá trị về tình yêu, hôn nhân của thanh thiếu niên Các tình huống gồm có:

- Người li dị sẽ bị mất thể diện trước mọi người

- Trong một số trường hợp, chồng đánh vợ là chấp nhận được

- Dù chồng thành công hay thất bại, phụ nữ vẩn nên sát cánh bên chồng

- Phụ nữ không nên là người tỏ tình trước

Nghiên cứu được thực hiện tại 7 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, thực hiện khảo sát thanh thiếu niên độ tuổi 15-24 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, một

số giá trị truyền thống vẩn đang được thanh thiếu niên coi trọng như sự thủy chung, chia sẻ trong hoạn nạn, phẩm chất khiêm tốn và nhã nhặn trong ứng xử Những giá trị mới đang được định hình và phát triển trong nhóm thanh thiếu niên như phản đối việc đánh vợ trong bất kì hoàn cảnh nào, không coi li dị như một hành vi gắn với đạo đức, đồng tình với việc phụ nữ có thể là người tỏ tình trước.Cụ thể, với quan

điểm của thanh thiếu niên về tình yêu, tác giả đưa ra 2 nhận định: “Phụ nữ không

nên là người tỏ tình trước” và “dù chồng thành công hay thất bại phụ nữ vẩn nên sát cánh bên chồng” Kết quả cho thấy chỉ có 44% ý kiến đồng ý với nhận định

“Phụ nữ không nên là người tỏ tình trước”, tỷ lệ không đồng ý là 20,4 % Đối với

nhận định “dù chồng thành công hay thất bại phụ nữ vẩn nên sát cánh bên chồng”

có 93,9 % đồng ý với nhận định này, 5,3 % không đưa ra ý kiến và chưa đến 1% không đồng ý

Có thể thấy, trong lĩnh cực tình yêu, đề tài này chỉ quan tâm đến 2 giá trị về tình yêu của thanh niên được thể hiện trong 2 tình huống cụ thể, chưa có tìm hiểu về quan điểm, định nghĩa của đối tượng về khái niệm tình yêu Đây là bài viết dựa trên

số liệu phân tích từ cuộc điều tra tra tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên tại Hà Nội năm 2006, do vậy, những tình huống đưa ra để tìm hiểu quan điểm của thanh niên về giá trị trong tình yêu có thể chưa phù hợp với hoàn cảnh hiện nay

Trang 14

Bài viết khuôn mẫu lựa chọn bạn đời ở Việt Nam: Truyền thống và hiện đại

của Nguyễn Hữu Minh, 2012 cho thấy: Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời từ truyền thống đến hiện đại có sự thay đổi từ “môn đăng hộ đối” về gia đình sang sự tương hợp về

cá nhân Lớp trẻ quan tâm đến sự phù hợp của những người tham gia kết hôn hơn là

vị thế của hai bên gia đình việc lựa chọn bạn đời chưa hoàn toàn chuyển đổi sang khuôn mẫu chỉ dựa trên cơ sở của đặc trưng cá nhân Trong thực tế vẫn có một bộ phận dân cư tiếp tục nhấn mạnh đến mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xã Chẳng hạn, khoảng 30% số người quan tâm đến những điều kiện liên quan đến gia đình quê hương như "gia đình nề nếp", "đồng hương" hay "lý lịch trong sạch" Cũng nói

về sự thay đổi tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời từ truyền thống sang hiện đại, Lê Ngọc

Văn, 2011 cho rằng “có thể nhận thấy 2 xu hướng chuyển đổi của tiêu chuẩn lựa

chọn hôn nhân ở nông thôn Việt Nam hiện nay đó là “xu hướng tiếp nối những tiêu chuẩn truyền thống và xu hướng hình thành những tiêu chuẩn mới” Có thể thấy, những tiêu chuẩn truyền thống của người vợ vẩn được đưa ra như đảm đang, tính cách nhẹ nhàng, hiền hòa, hi sinh cho chồng con vẩn được đề cao Trong khi đó, người chồng được kì vọng là người có tài hơn vợ, biết làm kinh tế, gương mẫu Nhưng tiêu chuẩn mới được hình thành bao gồm: Xu hướng coi trọng tiêu chuẩn về

kinh tế và nghề nghiệp “Sự phân hóa giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ ở nông thôn

trong thời kì Đổi mới có lẽ đã giúp cho người nông dân nhận thức đầy đủ hơn về giá trị của tiền bạc trong cuộc sống gia đình”

Trong bài viết Quyền tự do lựa chọn bạn đời ở một số tỉnh Đồng bằng sông

Hồng: truyền thống và biến đổi, tác giả cũng đề cập đến những yếu tố quyết định

đến quyền tự do lựa chọn bạn đời của cá nhân là loại hình gia đình gốc, tôn giáo, nơi lớn lên, trình độ học vấn, nghề nghiệp Theo đó, những người không từng sống trong các gia đình nhiều thế hệ khi trưởng thành có nhiều khả năng tự do lựa chọn

bạn đời hơn những người khác

Bài viết của Nguyễn Đức Chiện (2008) cho thấy sự chuyển đổi kết hôn ở

nông thôn Việt Nam trước và sau đổi mới đang diễn ra theo thiên hướng nghiêng về

Trang 15

hiểu thông qua giới thiệu của cha mẹ và người mai mối suy yếu và gia tăng hình thức tìm hiểu cùng học một trường, ở nơi vui chơi giải trí và tự tìm hiểu Mô hình quyết định kết hôn cũng đang tiến triển theo hướng quyền lực của cha mẹ quyết định hoàn toàn hôn nhân của con cái giảm dần, cùng với nó là tính tự chủ của con cái ngày càng gia tăng Mô hình quyết định kết hôn điển hình hiện nay dựa trên “sự thoả thuận, thỏa hiệp để đi đến nhất trí giữa cha mẹ và con cái”; trong đó, quyền quyết định có xu hướng nghiêng về con cái

Theo cuộc Điều tra gia đình Việt Nam 2006, một số tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời có sự thay đổi cho phù hợp với cuộc sống hiện đại Một số giá trị về đạo đức, phẩm chất cá nhân được ưu tiên hơn khi lựa chọn bạn đời so với các đặc trưng gia đình Đối với nhóm tuổi 18 - 60, ba tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời chủ yếu là: "biết cách cư xử/đạo đức tốt" có 62,6% người trả lời chọn; "biết cách làm ăn" là 33,9%;

và "khoẻ mạnh" là 33,5% Các tiêu chuẩn này được cả nam và nữ lựa chọn và tương đối ổn định qua các nhóm kết hôn ở các thời kỳ khác nhau, từ trước năm 1975 tới

2006 Trong khi đó, tiêu chuẩn "gia đình nề nếp" chỉ có 16% người trả lời lựa chọn;

"có lý lịch trong sạch" là 3,4%; và "đồng hương, cùng quê" là 7,9%

Định hướng trong việc lựa chọn bạn đời của thanh thiếu niên nói chung và

Hà Nội nói riêng đã được sự quan tâm của công chúng Điều đó thể hiện ở nhiều

công trình nghiên cứu như bài viết “Hoàn cảnh tìm hiểu bạn đời và quyết định kết

hôn của các thế hệ trẻ ngày nay” của Lê Thi trên tạp chí Gia đình và giới năm

2009 Tác giả đã nghiên cứu và khẳng định quyền tự do trong quyết định hôn nhân

theo mô hình con cái tự do lựa chọn và quyết định nhưng có sự đồng ý của bố mẹ Bên cạnh đó tác giả còn khám phá ra sự đa dạng trong hình thức, hoàn cảnh tìm hiểu bạn đời “tự tìm hiểu, người cùng làng, cùng phố, cùng trường, gần nơi làm việc, bạn bè giới thiệu, có người mai mối, ở nơi vui chơi giải trí, do sự sắp đặt của gia đình Cũng trong tạp chí Nghiên cứu con người số 5 năm 2008, tác giả có đề cập đến tiêu chuẩn chọn bạn đời của thế hệ trẻ Việt Nam ở thành phố và nông thôn hiện nay dựa trên một số phẩm chất của bạn đời như: tư cách đạo đức, nghề nghiệp, sức

Trang 16

“Định hướng giá trị trong việc lựa chọn bạn đời của sinh viên”, Nguyễn Văn Lượt, Nguyễn Đỗ Hồng Nhung, bài đăng Tạp chí Tâm lý học, 2010 được thực hiện

với 286 sinh viên đang ở trong Kí túc xá Mễ Trì Đề tài đề cập đến quan niệm về

hôn nhân dựa trên các phương diện: quan niệm của sinh viên về bản chất hôn nhân, thời điểm kết hôn, người quyết định chính trong cuộc hôn nhân Nghiên cứu cho thấy rằng, những quan niệm về hôn nhân của sinh viên vẫn đề cao những giá trị truyền thống Sự định hướng trong hôn nhân của sinh viên được bàn đến qua: sự định hướng về những tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời (bao gồm: học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ngoại hình của bạn đời tương lai Cũng nghiên cứu về quan điểm của thanh niên Hà Nội về tình yêu nhưng lại quan tâm nhiều hơn tới đối tượng

là thanh niên công giáo Bùi Phương Thanh (2013) nghiên cứu về quan điểm tình

yêu của thanh niên theo đạo Thiên Chúa giáo ở giáo xứ Thái Hà và Thạch Bích Tác giả dựa trên việc đưa đánh giá mức độ đồng ý với những khái niệm, chỉ báo khác nhau về tình yêu như tình yêu là sự cuốn hút về tâm hồn, thể xác; tình yêu không phân biệt địa vị xã hội, tình yêu theo quan niệm”lấy vợ xem tông, lấy chồng xem họ” Kết quả cho thấy, các khái niệm đều nhận được sự đồng tình cao (Giá trị trung bình > 3, với 5 mức độ: hoàn toàn không đồng ý (1), không đồng ý (2), không có ý kiến (3),đồng ý (4), hoàn toàn đồng ý (5)), trong đó quan niệm “tình yêu không phân biệt địa vị xã hội” nhận được sự đồng tình cao nhất Ngoài ra, tác giả còn tìm hiểu quan điểm của thanh niên theo đạo Thiên chúa về quan hệ tình dục trước hôn nhân thông qua các chỉ báo như: QHTD an toàn trước hôn nhân là để tìm hiểu sự hòa hợp trong đời sống vợ chồng; tình yêu phải gắn liền với tình dục, trong tình yêu chân thành không có QHTD trước hôn nhân…Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tất cả quan niệm thì quan niệm “trong tình yêu chân thành không có QHTD trước hôn nhân” được thanh niên đồng tình cao

Theo tác giả Lê Thái Thị Băng Tâm thì tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của nam

nữ thanh niên “chịu ảnh hưởng lớn từ gia đình và bạn bè Các bạn trẻ học được

những quan điểm, thái độ Sự cảm nhận, định kiến trong việc lựa chọn bạn đời từ cha mẹ và anh em trong gia đình.Chúng còn bị hạn hữu, chi phối trong cách tìm,

Trang 17

cách tiếp cận, cách chọn lọc qua sự góp ý, nhận xét chê bai Trong nhiều trường hợp bạn bè có ảnh hưởng lớn đến quyết định lựa chọn bạn đời của nam nữ thanh niên” (Lê Thái Thị Băng Tâm, 2012) Bên cạnh đó tác giả còn đưa ra những giới

hạn mà Xã hội đề ra trong lựa chọn bạn đời bao gồm: “Khung cảnh xã hội”, “Quan

hệ thân thuộc”, “Các nhân tố giữa cá nhân với nhau trong lựa việc chọn bạn đời”,

“một số yếu tố khác: tài sản, địa vị, cá tính, tính thuần nhất của vợ chồng

Trong bài viết về nhận thức về tình yêu tuổi học trò của học sinh THPT đăng

trên tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới của Lê Minh Thiện - Đỗ Duy Hưng, 2009

kết quả cho thấy hầu hết đa số học sinh phổ thông đã có cái nhìn đúng đắn về tình yêu và chọn cho mình những hướng đi khác nhau để vừa yêu vừa học tốt Bài viết khẳng định gia đình và nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và giáo dục tình cảm cho học sinh Phương pháp nghiên cứu của nhóm tác giả này là: phỏng vấn sâu, quan sát, thực nghiệm phát hiện (đưa ra tình huống), thống kê toán học Trong phần kiểm tra nhận thức của các em học sinh về tình yêu chân chính, xếp loại thứ tự ưu tiên của các em về biểu hiện của tình yêu chân chính lần lượt là: Thông cảm, tôn trọng nhau; yêu chân thành, không vụ lợi; hi sinh, giúp đỡ nhau; tin tưởng nhau; hòa hợp về tâm hồn; thủy chung Nhìn chung các em học sinh THPT có cái nhìn tương đối đúng đắn về một tình yêu chân chính Cũng nghiên cứu về tình yêu nhưng tác giả Bùi Thị Hương Trầm, 2012 trong bài viết “tình yêu trong hôn nhân” đề cập đến tình yêu, sự thay đổi tình yêu của các cặp vợ chồng sau những năm chung sống và các yếu tố tác động tới sự thay đổi đó Tác giả Trần Thị Phụng

Hà, Nguyễn Ngọc Lệ, 2014 trong tạp chí khoa học, trường đại học Cần Thơ quan tâm đến đối tượng nghiên cứu là sinh viên Phương pháp nghiên cứu của đề tài là

thu thập dữ liệu sơ cấp bằng các phương pháp như quan sát, so sánh, phỏng vấn sâu

và phỏng vấn theo bảng hỏi Kết quả về quan điểm của sinh viên về tình yêu cho thấy, phần lớn sinh viên cho rằng họ yêu nhau vì lẽ tự nhiên, vì tình yêu xuất phát từ tình cảm chân thật, không vụ lợi (54%), số còn lại quan niệm họ yêu nhau vì mong muón có chỗ dựa, một số khác theo phòng trào, được an toàn về vật chất, thỏa mãn tình dục Quan niệm về sống thử của sinh viên cũng không có sự khác biệt rõ giữa 2

Trang 18

ý kiến là đồng ý và không đồng ý (47,6 % và 48,2 %) Trong quan điểm về hôn nhân gia đình: Thời điểm kết hôn được các sinh viên lựa chọn là khi có nghề nghề nghiệp ổn định chiếm 82,9 % Nghiên cứu còn đưa ra một số tiêu chí trong hôn nhân như thái độ của sinh viên về người bạn đời từng có quan hệ tình dục…Như vậy, có thể thấy, một số tiêu chí về tình yêu, hôn nhân trong nghiên cứu chưa thấy

rõ được một cách cụ thể quan, điểm, định hướng của sinh viên về tình yêu, hôn nhân, gia đình

Định hướng giá trị tình yêu, hôn nhân trong đề tài: “Tìm hiểu thực trạng

định hướng giá trị của thanh niên Bạc Liêu hiện nay” Lâm Thị Sang, 2013 cho

thấy: tiêu chuẩn khi chọn người yêu (vợ, chồng) lý tưởng của thanh niên Bạc Liêu: Thanh niên xác định các tiêu chuẩn rất quan trọng là đạo đức (93%) là rất quan trọng Để cùng gánh vác, lo lắng và xây dựng một tương lai hạnh phúc thì điều cũng rất quan trọng là sức khỏe tốt (88,7%); Khi tìm hiểu về hôn nhân, gia đình thì có đến 91,5% tán thành quan niệm tình là cơ sở chủ yếu của hôn nhân, có đến 61,4% thanh niên cho rằng yếu tố gia đình giàu có, có vị thế cao là không quan trọng, có 64,8% không tán thành quan niện hôn nhân phải “môn đăng hộ đối“ và 60,8%

không tán thành ý kiến kết hôn với người nước ngoài sẽ ổn định về kinh tế Định

hướng giá trị của sinh viên hiện nay của tác giả Nguyễn Văn Đạt, 2014 đề cập đến

quan điểm của sinh viên về giá trị trong 3 lĩnh vực: tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia

đình Trong bài viết tác giả đưa ra quan niệm của sinh viên về tình yêu, những phẩm

chất trong tình yêu như chung thủy, sẽ chia, yêu thương và những tiêu chuẩn quan trọng với người bạn đời trong tương lai như là người yêu mình tha thiết, tự lập, thông minh, gia đình nề nếp, giàu có…Kết quả cho thấy, về phẩm chất của người bạn đời, sinh viên lựa chọn phẩm chất chung thủy và tiêu chuẩn là người yêu mình tha thiết chiếm tỷ lệ cao nhất

Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, 2011, nghiên cứu về thái độ của thanh

thiếu niên Việt Nam về hôn nhân và gia đình Dựa trên kết quả điều tra Thanh niên

và vị thành niên Việt Nam lần thứ 2 năm 2008 (SAVY2) và điều tra gia đình Việt

Trang 19

sát Các tiêu chí để đo thái độ của thanh thiếu niên về một số giá trị liên quan đến hôn nhân và gia đình được tìm hiểu thông qua thái độ chấp nhận của họ với 4 nội dung: 1) Nam nữ sống chung mà không đăng kí kết hôn; 2) Phụ nữ không lấy chồng nhưng sinh con; 3) Sống độc thân; 4) Ngày nay không nhất thiết phải sinh con trai Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới 3 hình thức: phân tích mô tả, phân tích nhị biến và phân tích đa biến Nghiên cứu cũng phân tích những yếu tố tác động tới thái

độ của thanh thiếu niên thông qua các đặc trưng về nhân khẩu học như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, mức sống…

Kết quả nghiên cứu cho thấy: thái độ chấp nhận chung sống không đăng kí kết hôn tăng lên, tỷ nam giới chấp nhận “nam nữ sống chung không đăng kí kết hôn cao hơn nữ giới (22 % so với 14,7 %) Thái độ chấp nhận hiện tượng phụ nữ không lấy chồng nhưng sinh con tăng lên qua 2 cuộc điều tra năm 2006 và 2009 Cụ thể, năm 2006, tỷ lệ thanh niên từ 18-21 tuổi chấp nhận việc phụ nữ không lấy chồng nhưng sinh con là 25,7 % Năm 2009, tỷ lệ này là 35,6 %, cao hơn khoảng 10 điểm

2 cuộc điều tra cho thấy, thanh niên ngày nay gia tăng ủng hộ lối sống độc thân Có 15,5 % thanh niên chấp nhận hiện tượng sống độc thân, 37,9 % chấp nhận hiện tượng này tùy theo trường hợp và 46,6 % không chấp nhận hiện tượng này Tỷ

lệ chấp nhận sống độc thân ở độ tuổi từ 22-25 tuổi tăng từ 26 % năm 2006 lên 47,8

% năm 2009 Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên quan niệm nhất thiết phải có con trai Đối với nhận định “ngày nay không nhất thiết phải sinh con trai”, có 87,4

% thanh thiếu niên chấp nhận, có 12,6 % coi trọng việc phải có con trai

Tình yêu luôn gắn liền với tình dục, quan điểm của thanh niên về tình dục trong tình yêu cũng là một chỉ báo để cho thấy quan niệm về một tình yêu thực sự

Nhiều nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề này David R Mace trong bài viết những

vấn đề đương đại của hôn nhân cho rằng: Trong nền văn hóa xa xưa, tình dục là vấn

đề chỉ được thừa nhận chính thức như một phương tiện để sinh đẻ của các cặp vợ chồng, và là một sự giấu giếm không chính thức về sự bóc lột của đàn ông đối với phụ nữ…chừng nào bố mẹ hoặc những người gìa trong làng chọn vợ hay chồng thì

Trang 20

sẽ chẳng có nhu cầu gặp gỡ và hình thành những quan hệ bạn bè đối với thanh niên Nguyễn Hà Đông, 2010 phân tích số liệu của cuộc điều tra về tình dục và sức khỏe

sinh sản của thanh thiếu niên Hà Nội năm 2006 ở đề tài “Thái độ của thanh thiếu

niên Hà Nội về quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu tố tác động” để tìm

hiểu về thái độ của thanh thiếu niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân và các yếu

tố tác động tới thái độ này Kết quả cho thấy, thanh thiếu niên Hà Nội nhìn chung không ủng hộ quan hệ tình dục trước hôn nhân, nhưng họ có cái nhìn cởi mở hơn so với các quan điểm truyền thống Tỷ lệ ủng hộ QHTD trước hôn nhân tăng lên trong trường hợp có sử dụng biện pháp tránh thai Việc chấp nhận QHTD trước hôn nhân chịu ảnh hưởng mạnh bởi yếu tố giới tính và việc họ đã có quan hệ tình dục Nỗi lo ngại cha mẹ tức giận làm giảm mức độ đồng tình với QHTD trước hôn nhân của thanh niên Trong khi đó, việc tiếp cận tài liệu và bạn thân đã QHTD, cảm giác bị hấp dẫn bởi người khác giới làm tăng khả năng chấp nhận hành vi này Quan hệ tình dục trước hôn nhân là chủ đề nghiên cứu rộng rãi trong xã hội Một trong những nghiên cứu đầu tiên về tình dục Việt Nam (Khuất Thu Hồng, 1998) đã chỉ ra sự biến đổi trong quan niệm hành vi tình dục ở Việt Nam, những người trẻ có xu hướng tự

do hơn, họ không coi QHTD là điều cấm kị và có hiểu biết khá sớm về tình dục Nghiên cứu về quan điểm của sinh viên về QHTD trước hôn nhân Nguyễn Thị Kim Hoa và cộng sự, 2007 cũng cho thấy mức độ đồng tình của sinh viên với QHTD trước hôn nhân không cao nhưng họ vẩn có quan điểm khá thoáng và cởi mở

Nguyễn Đức Chiện, 2008 cho thấy sự biến đổi khuôn mẫu tình yêu và sự xuất hiện

sống chung trước hôn nhân trong thanh niên sống xa nhà Sự thay đổi này thể hiện ở các giai đoạn khác nhau trong suốt chiều dài lịch sử đất nước

Thời kì 1945-1985, tình yêu ở thời gian này không thể phá triển theo hướng

cá nhân mà phấn đấu hết mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc, đối với các bậc cha

mẹ, quan hệ tình yêu mà có tình dục trước hôn nhân của con gái là một việc làm không thể tha thứ vì làm nhục cả gia đình, vì vậy, bố mẹ giám sát con cái rất chặt chẽ Môi trường gặp gỡ hẹn hò của thanh niên lúc bấy giờ cũng hạn chế trong phạm

vi gia đình và nơi làm việc về quyền quyết định hôn nhân, bên cạnh gia đình còn có

Trang 21

sự tham gia của nhà nước vào quá trình dẫn đến hôn nhân của phần lớn cư dân đô thị “Hôn nhân phải đặt dưới sự kiểm soát của cộng đồng và tập thể” (Dẫn theo Mai Văn Hai, 2004) Thời kì Đổi mới, trong gia đình, cha mẹ dần mất quyền kiểm soát đối với con cái trưởng thành do di cư thoát ly đến các thành phố học tập và làm việc Sự ảnh hưởng của truyền thông đại chúng giúp những người trẻ tiếp xúc được văn hóa phương Tây, những quan niệm, tâm thế và lối sống mới đã được hình thành, “nhiều người nghĩ rằng đang có một cuộc cách mạng tình dục thầm lặng ở Việt Nam”

Tác giả Vũ Mạnh Lợi, 2010 trong bài viết “Tình dục trước hôn nhân: Nghiên

cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải, Đài Bắc” trình bày kết quả nghiên

cứu so sánh về hành vi tình dục trước hôn nhân của 3 thành phố nói trên, tìm hiểu tác động của hiện đại hóa đến hành vi tình dục lần đầu Nghiên cứu cho thấy, không

có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê giữa những thanh niên có trao đổi tình dục với cha mẹ và những thanh niên không có trao đổi với cha mẹ về điều này Kết quả nghiên cứu cũng gợi ra rằng tác động của hiện đại hóa phức tạp và đa chiều Hiện đại hóa không đơn giản chỉ làm gia tăng khả năng có hoạt động tình dục trước hôn nhân mà còn có những tác động tích cự khác trong việc kiểm soát hành vi tình dục

Bài viết Nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên công nhân về Quan hệ tình dục

trước hôn nhân” của Phan Thanh Nguyệt, 2010 thực hiện khảo sát công nhân ở khu

công nghiệp Nam Thăng Long quan niệm về tình dục thông qua các chỉ báo: Tình dục là nhu cầu sinh lý, bản năng tự nhiên; tình dục là nhằm thỏa mãn sự mua vui cá nhân; tình dục nhằm mục đích sinh con…Nghiên cứu cho thấy quan niệm của thanh niên công nhân cũng khá cởi mở trong Quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân

Nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh, 2006 cho thấy, việc sử dụng internet có liên

quan đến xu hướng tự do trong định hướng giá trị về tình dục trước hôn nhân của sinh viên Sinh viên càng vào mạng internet nhiều càng dễ có xu hướng tự do, xem nhẹ trinh tiết, có xu hướng chấp nhận QHTD trước hôn nhân hơn Kết quả từ 2 cuộc điều tra SAVY 1 và SAVY 2 cho thấy, vị thành niên và thanh niên hiện nay tỏ ra có quan niệm cởi mở hơn về QHTD trước hôn nhân Các tỷ lệ này ở điều tra SAVY 2

Trang 22

(2008) cao hơn kết quả ở SAVY 1 (2003) Điều này cho thấy xu hướng chấp nhận tình dục trước hôn nhân đang gia tăng trong vị thành niên và thanh niên Một

nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Nghị, 2011 cũng cho thấy hầu hết quan hệ nam nữ

vị thành niên ngày càng cởi mở hơn thế hệ cha mẹ họ, vị thành niên yêu nhau từ độ tuổi cấp hai và nhiều vị thành niên yêu trong độ tuổi cấp 3, nhất là những năm cuối cấp Số liệu định lượng cho thấy, nam thường có bạn tình ít tuổi hơn và nữ thường

có bạn tình nhiều tuổi hơn Gia đình, bố mẹ thường ngăn cấm vị thành niên yêu đương, QHTD nhưng khó kiểm soát Quan niệm về QHTD trước hôn nhân cũng có

sự cởi mở ở cả vị thành niên nam và nữ

Có thể thấy, hầu hết những đề tài, nghiên cứu trên đều tập trung vào tìm hiểu về

tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời của thanh niên Việt Nam Ở đề tài này, tác giả tiếp thu những phương pháp và kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước thông qua việc

sử dụng một số chỉ báo về quan điểm tình yêu, quan điểm về mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục Điểm khác biệt ở đề tài này là sẽ tập trung tìm hiểu về các tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT, quan điểm của các em về mối quan

hệ giữa tình yêu - tình dục và cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh hiện nay đặc biệt trong sự phát triển như vũ bão của công nghệ, thông tin, kinh tế thị trường như hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu về quan niệm của học sinh THPT hiện nay về cách lựa chọn người yêu Quan niệm của các em học sinh về một số giá trị trong tình yêu, từ những giá trị truyền thống như chung thủy, niềm tin…đến những giá trị hiện đại như tiền tài, vật chất, địa vị, hoàn cảnh gia đình người yêu…Từ đó, tìm hiểu một số yếu tố tác động tới việc lựa chọn người yêu, tiến tới hôn nhân hay không tiến tới hôn nhân và sự lựa chọn những chuẩn mực giá trị trong tình yêu theo đuổi

Trang 23

3.2 Nhiệm vụ

Nghiên cứu nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Tìm hiểu tiêu chí lựa chọn người yêu của học sinh THPT và quan niệm của các em về một số giá trị trong tình yêu;

- So sánh quan niệm và cách lựa chọn tình yêu của học sinh sống ở nông thôn với học sinh ở đô thị, học sinh nam và học sinh nữ có sự khác biệt không;

- Tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của các em học sinh THPT

4 Ý nghĩa nghiên cứu

4.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu đề tài “Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT hiện

nay” góp phần làm sáng tỏ các khái niệm sử dụng trong đề tài và làm rõ các lý

thuyết xã hội học Thông qua đề tài tác giả có thể vận dụng một số khái niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể của đời sống xã hội dưới góc độ của nghiên cứu Xã hội học gia đình, xã hội học văn hóa Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số khái niệm, lý thuyết như lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý Đồng thời nghiên cứu cũng góp phần làm phong phú thêm cho nhóm đề tài tìm hiểu về thanh thiếu niên, giá trị tình yêu, hôn nhân Việt Nam hiện nay

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu được thực hiện nhằm cho thấy quan niệm về các giá trị trong tình yêu và tiêu chuẩn lựa chọn tình yêu của học sinh THPT hiện nay dưới tác động của kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập hóa thế giới Những kết quả của nghiên cứu cũng góp phần cho thấy những thay đổi trong quan điểm về tình yêu của thanh thiếu niên, giúp cho những người lãnh đạo trường học có những biện pháp hiệu quả để định hướng về tư tưởng, quan điểm cho học sinh về tình yêu, tình

Trang 24

dục sau khi rời khỏi ghế nhà trường, để các em có một hành trang vững chắc để bước vào đời

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh Trung học phổ thông hiện nay

- Phạm vi nội dung nghiên cứu:

+ Tình yêu là một đề tài rộng và nhiều khía cạnh khác nhau Trong đề tài này, tác giả muốn tập trung nghiên cứu quan niệm của học sinh THPT về tình yêu tuổi học trò là gì? tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của các em hiện nay như thế nào? Các yếu

tố nào ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu trong quan niệm của các em học sinh

- Mô tả phạm vi địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Diễn Châu 4 và trường THPT Diễn Châu 1 cách nhau khoảng 30 km thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Học sinh ở Cả hai trường này đều có hoàn cảnh gia đình không có sự chênh lệch quá lớn

về lối sống Trong khi trường THPT Diễn Châu 4 hoàn toàn là học sinh xuất phát từ khu vực vực nông thôn thì trường THPT Diễn Châu 1 có sự pha tạp của học sinh nông thôn và đô thị (tuy nhiên học sinh ở khu vực nông thôn không nhiều vì chỉ những em học sinh học giỏi, gia đình có điều kiện mới học ở trường này)

Trang 25

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Quan niệm của học sinh THPT về tình yêu và tiêu chuẩn lựa chọn người yêu hiện nay như thế nào?

- Có sự khác biệt trong tiêu chuẩn lựa chọn người yêu giữa học sinh sống ở nông thôn và sống ở đô thị hay không?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT là gì?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu được các em học sinh THPT đưa ra khá đa dạng, phong phú bao gồm các tiêu chuẩn về ngoại hình, tính cách-phẩm chất, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình Trong số những tiêu chuẩn đó, tiêu chuẩn về tính cách của người yêu là tiêu chuẩn được coi trọng nhất

- Có sự khác biệt trong tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh sống ở nông thôn và học sinh sống ở đô thị Trong khi tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh nông thôn thiên về các yếu tố như nghề nghiệp, tính cách thì tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh sống ở đô thị lại thiên về hoàn cảnh gia đình, ngoại hình

- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của học sinh THPT hiện nay Tuy nhiên, gia đình và nhóm bạn bè là 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của các em

8 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp nghiên cứu là tổng thể các quy tắc, các kỹ thuật nhằm thu thập thông tin ban đầu về đối tượng nghiên cứu đề tài Các thông tin thu thập được tồn tại ở 2 dạng: định tính và định lượng Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả đã

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 26

8.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các nghiên cứu về thanh niên nói chung và các nghiên cứu về tình yêu nói riêng

Tác giả tham khảo qua một số tạp chí như Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới, tạp chí Thanh niên, tạp chí Xã hội học…và một số trang web trên mạng internet Đặc biệt là 2 cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2003 và 2008 của Bộ Y tế và Tổng cục thống kê

8.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến là phương pháp được sử dụng nhằm thu thập những thông tin cơ bản nhất về đối tượng nghiên cứu Thông qua phương pháp này có thể thu được ý kiến của nhiều đối tượng về vấn đề được nghiên cứu Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến với một bảng hỏi được chuẩn hóa gồm có 20 câu hỏi Trong cuộc điều tra này, chúng tôi phát ra với số lượng là 400 phiếu chia đều cho 2 khu vực nông thôn và thành thị (mỗi khu vực 200 phiếu), thu về 392 phiếu hợp lệ và số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 18 400 mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên, thuận tiện Với 200 mẫu ở trường THPT Diễn Châu 4 (khu vực

Trang 27

nông thôn) và 200 mẫu ở trường THPT Diễn Châu 1 (khu vực thành thị) chúng tôi tiến hành phát ngẫu nhiên ở các lớp cho 3 khối lớp 10, 11 và 12 Tỷ lệ nam nữ cũng được cân đối sao cho không có sự chênh lệch nhiều, 392 phiếu hợp lệ có cơ cấu mẫu theo các biến số như sau:

Khối lớp Nông thôn Đô thị

Để đo mức độ đồng tình với các quan điểm, nghiên cứu sử dụng thang Likert

5 điểm ứng với các mức như sau: (1) Hoàn toàn không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Không có ý kiến; (4) Đồng ý; (5) Hoàn toàn đồng ý Thang 5 điểm sẽ có mức trung bình (X) nằm trong khoảng : 1 ≤ X ≤ 5 Người trả lời sẽ lựa chọn mức điểm cho từng câu hỏi Tiêu chí đánh giá :

- Nếu X > 3 (điểm trung bình của thang đo) – Xu hướng đồng ý

- Nếu X < 3 (điểm trung bình của thang đo) – Xu hướng không đồng ý

Trang 28

- Quan niệm về tình yêu

- Quan niệm về tình yêu và tình dục trong tình yêu

- Tiêu chuẩn lựa chọn người yêu + Về tính cách, phẩm chất + Về nghề nghiệp

+ Về trình độ học vấn + Về hoàn cảnh gia đình + Về ngoại hình

Điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội Nghệ An

Trang 29

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm công cụ của đề tài

1.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn lựa chọn

Tiêu chuẩn: Tiêu: nêu ra cho mọi người thấy; Chuẩn: cái để đo, cái nêu cái

thước để làm chừng mực Điều được quy định dùng làm chừng mực để phân loại

đánh giá Mức được hưởng, cấp theo chế độ Nguồn: vi.wiktionary.org

Trong kinh tế, khái niệm tiêu chuẩn dùng để chỉ: “Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế – xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này”

Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính, đặc điểm và yêu cầu của cá nhân, chủ thể dùng làm chuẩn mực để phân loại, đánh giá đối tượng khác trong hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của các đối tượng này

Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời là hệ thống những quy định, yêu cầu, mong muốn của cá nhân đưa ra để xác định người chồng/vợ của mình trong tương lai (Dẫn theo Phạm Thu Hà, 2013)

Trong đề tài này, tiêu chuẩn lựa chọn người yêu là những mong muốn của cá nhân về những chuẩn mực, những yếu tố cần có của người yêu trong hiện tại và tương lai

Lựa chọn: Theo từ điển Tiếng Việt, lựa chọn là tìm thứ nào tốt và hợp với mình nhất, chọn giữa nhiều cái cùng loại Ví dụ, lựa chọn công việc phù hợp, lựa chọn loại giống tốt nhất Trong đề tài này, chúng tôi xác định khái niệm lựa chọn là

sự tìm kiếm những điều tốt nhất của người yêu và những điều đó mang lại sự thỏa mãn đối với bản thân

Lựa chọn là thuật ngữ dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc , tính toán khi quyết định sử dụng loại phương thức, cách thức tối ưu trong số những điều kiện hiện có,

Trang 30

thậm chí trong trường hợp khan hiếm nguồn lực để đạt được mục tiêu (Vĩnh Lộc và cộng sự, 2008)

Như vậy, theo tác giả, tiêu chuẩn lựa chọn là hệ thống những quy định, mong muốn, yêu cầu của cá nhân đưa ra để chọn lựa một vấn đề, sự kiện hoặc yếu tố nào

đó phù hợp và có ý nghĩa nhất với bản thân

1.1.2 Khái niệm quan niệm

Trong từ điển Tiếng Việt, quan niệm/quan niệm là cách nhìn, cách suy nghĩ,

ý kiến về một vấn đề nào đó

Theo Trần Đình Sử, dưới góc độ nghệ thuật, khái niệm quan niệm không phải là khái niệm về đối tượng, về hiện thực mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với đối tượng và hiện thực…quan niệm xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lý giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn…

Nguyễn Thanh Huyền, 2008 dưới góc độ xã hội học cho rằng: Quan niệm là cách hiểu, cách nhìn nhận, đánh giá, xem xét, mô tả, giải thích của cá nhân, nhóm người về một hoặc một nhóm sự vật, hiện tượng trong đời sống của con người

Theo tác giả, quan niệm bao gồm cách nhìn nhận và bày tỏ cảm xúc về một vấn đề, ở đề tài này, quan niệm của học sinh trung học phổ thông về một số giá trị trong tình yêu và mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục được thể hiện thông qua sự đánh giá của các em với các nhận định.mà tác giả đưa ra Quan niệm ở đây chính là cách nhìn nhận của học sinh THPT đối với những vấn đề về tình yêu và tình dục

1.1.3 Khái niệm tình yêu

Tình yêu là một khái niệm đa nghĩa trong cách hiểu, cách diễn đạt của người Việt Tình yêu theo nghĩa chung nhất là trạng thái tình cảm của chủ thể này đối với chủ thể khác ở mức cao hơn sự thích thú và này sinh ý muốn được gắn kết với chủ thể

đó [Dẫn theo Bùi Phương Thanh, 2010]

Trang 31

Tình yêu là một loạt các cảm xúc, trạng thái tâm lý và thái độ ứng xử giữa một chủ thể này với một chủ thể khác, thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó [Từ điển bách khoa mở Wikipedia, 2016]

Nội hàm khái niệm tình yêu có thể được phân ra nhiều dạng khác nhau có thể theo chủ thể, độ tuổi, mức độ, tính chất…yêu khác nhau: Ví dụ, xét theo chủ thể yêu chúng ta có tình yêu đồng tính, tình yêu khác giới tính; xét theo độ tuổi yêu chúng

ta có tình yêu tuổi học trò, tình yêu sinh viên, tình yêu thanh niên, tình yêu trung niên, tình yêu cao niên…; hay xét theo mức độ yêu chúng ta có tình yêu sâu đậm, tình yêu hời hợt; xét theo tính chất có yêu đơn phương, yêu đa phương, yêu song phương…Nói chung, tình yêu là một khái niệm khá đa dạng và phức tạp về nội hàm

và cũng tùy thuộc vào cách hiểu của mỗi người Trong nghiên cứu này, tình yêu được xem xét là tình cảm, cảm xúc của hai đối tượng khác giới (nam và nữ) và là tình yêu tuổi học trò của học sinh THPT

Tình yêu tuổi học trò là trạng thái tình cảm giữa 2 đối tượng là người đang ở độ tuổi đi học và đang theo học tại các trường học theo quy định Có nhiều ý kiến cho rằng tình yêu tuổi học trò vốn dĩ là tình cảm đẹp nhất, trong sáng nhất, thánh thiện nhất và giàu mơ mộng nhất Người ta vẫn gọi những tình cảm tinh khôi đó là “rung

động đầu đời”

Nguyên nhân tuổi học trò dễ nảy sinh tình yêu là do:

- Lứa tuổi này là lứa tuổi dậy thì và phát dục Sự dậy thì đã kích thích tuổi thiếu niên mối quan tâm đến người khác giới, làm nảy sinh những rung động, xúc cảm giới tính

- Sự ảnh hưởng của phim ảnh truyền hình trên các phương tiện truyền thông đại chúng và internet

Như vậy, có thể hiểu, tình yêu tuổi học trò là những rung động đầu đời, là tình cảm gắn bó thân thiết trên mức tình bạn của 2 người khác giới trong khoảng thời gian còn học trung học Đề tài này xác định tình yêu tuổi học trò là tình cảm khác giới

Trang 32

Giá trị trong tình yêu:

Theo từ điển bách Khoa toàn thư Xô Viết, “giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được khẳng định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên mà là bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vị hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa noí trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích”

Theo từ điển xã hội học, giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng biểu hiện hay ẩn chứa trong một cá nhân hay nhóm và ảnh hưởng tới việc lựa chọn phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động

Quan niệm của xã hội học, nhà xã hội học Liên Xô V.P.Tugarinôp cho rằng:

“giá trị là những khách thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất

cả cần thiết cho con người của một xã hội hay một nhóm nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ, với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng và những ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng” (1967)

Nhà xã hội học Mỹ J.H Ficher cho rằng: “Tất cả cái gì có lợi ích đáng ham chuộng hoặc đáng chinh phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có giá trị”

Theo Tân Hoa (1989), giá trị là phạm trù khách quan mang tính xã hội-lịch

sử tạo nên một bộ phận của nền văn hóa Qua quá trình xã hội hóa, con người lĩnh hội chúng cùng với các kiến thức, thái độ, tình cảm đã được xã hội hóa

Theo tâm lý học, tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Giá trị là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng với chủ thể” (Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, (2001), Tâm lý học, Nxb Giáo dục Hà Nội Nhà nghiên cứu C.Kluckholn đưa ra định nghĩa về giá trị như sau: “Giá trị là quan niệm về điều mong muốn, đặc trưng hiện hay ẩn trong cá

Trang 33

nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” Giá trị là cái mà người ta cho là đáng có, cái con người ta mong muốn, là cái định hướng cho hành động Dựa trên các quan niệm đó, tác giả đưa ra khái niệm giá trị: được biểu thị để chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có khả năng thỏa mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người Như vậy, giá trị trong tình yêu là tất cả những cái gì thuộc về vật chất và tinh thần nảy sinh trong mối quan hệ với nhu cầu cơ bản của con người mà con người đang mong muốn chiếm lĩnh để thỏa mãn, ảnh hưởng tới hành vi của họ

1.2 Lý thuyết áp dụng

1.2.1 Lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý có trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ 18-19 Một số nhà triết học cho rằng bản chất con người là

vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lãng tránh nỗi đau khổ Một số nhà kinh tế học cổ điển từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, động cơ lợi nhuận khi con người phải quyết định lựa chọn hành động Thuyết lựa chọn duy lý dựa trên tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu (Lê Ngọc Hùng, 2009, Tr 353)

Thuật ngữ lựa chọn được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán

để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức thực hiện có thể đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Mới đầu cách hiểu này mang nặng tính kinh tế nhưng sau này các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và lợi ích tinh thần Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối quan hệ với cả hệ thống xã hội bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu

ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Thực chất, thuyết lựa chọn duy lý không phải chỉ giải thích hành động xã hội trên cấp độ vi mô- hành động cá nhân

Trang 34

Thuyết này được xây dựng và phát triển để xem xét hoạt động chức năng của các hệ thống và thiết chế kinh tế, xã hội, tức là trên cấp độ vĩ mô Trên thực tế, thuyết lựa chọn hợp lý với các biến thể của nó chủ yếu được triển khai trên nhiều cấp độ từ hành động xã hội của cá nhân đến chức năng của hệ thống xã hội và mối tương tác giữa các cá nhân, nhóm, thiết chế, hệ thống xã hội Nhờ vậy, đối với câu hỏi cơ bản trong xã hội học : Cái gì làm nên trật tự xã hội, các tác giả của thuyết này đưa ra câu hỏi khá rõ ràng: Đó là sự lựa chọn hợp lý, sự trao đổi xã hội có khả năng tạo dựng

và duy trì ổn định trật tự xã hội Trong số các biến thể của thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học hiện đại, đáng chú ý phải kể đến lý thuyết trao đổi xã hội do George Homans xây dựng trên cơ sở nghiên cứu hành vi xã hội ở cấp độ vi mô là cá nhân và nhóm nhỏ (Lê Ngọc Hùng, 2009, Tr 354-361)

George Homans (1910-1989) là nhà xã hội học người Mỹ, một trong những tác giả của lý thuyết trao đổi xã hội, nổi tiếng với chủ trương đưa con người trở lại với xã hội hoc

Theo G.Homans, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự…Homans đưa ra

4 nguyên tắc tương tác giữa các cá nhân như sau:

- Nếu 1 dạng hành vi được thưởng hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại

- Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự

- Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó

-Mức độ hài lòng, thỏa mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần

Tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là các chủ thể (Actor) Các chủ thể (Actor) được xem là có mục đích hay mục tieu về cái mà hành động của họ hướng tới Các chủ thể (Actor) cũng dược xem là có các sở thích (như các giá trị, các tiện

Trang 35

ích) Thuyết lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này cũng như các nguồn của chúng Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể (Actor) Về nguyên tắc, lý thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý là lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất

Theo Friedman và Hechter thì các chủ thể hành động được xem là những nhân vật hành động có mục đích, có mục tiêu và có sở thích riêng Hành động của các chủ thể được thực hiện để đạt các mục đích, mục tiêu phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể hành động Tuy nhiên, trong quá trình hành động, chủ thể chịu tác động của hai nhóm yếu tố:

Thứ nhất: Sự hiếm hoi của các tiềm năng Mỗi chủ thể hành động có các tiềm năng khác nhau Ở đây, tiềm năng được hiểu là các điều kiện như mức sống, điều kiện kinh tế, thời gian…Đối với những người có tiềm năng, mục đích có thể đạt được dễ dàng hơn so với những người ít tiềm năng Liên quan tới tiềm năng những chi phí, giá phải trả Trong việc theo đuổi mục đích, các chủ thể phải quan tâm tới cái giá của hành động lôi cuốn nhất kế tiếp của họ Các chủ thể có thể chọn cách không theo đuổi mục đích có giá trị cao nhất nếu tiềm năng của bản thân là không đáng kể, nếu cơ may là quá ít và nếu trong việc cố gắng để đạt mục đích chủ thể hành động hủy hoại các cơ may có giá trị cao hơn kế tiếp của mình Các chủ thể hành động được xem là luôn tối đa hóa điều lợi cho mình

Thứ hai, các thể chế xã hội Theo Friedman và Hechter thì các thể chế xã hội

đã áp đặt khuôn mẫu hành động cho các cá nhân thông qua các tiêu chí, các quy luật, các lịch trình, các nguyên tắc tạo ra sự ảnh hưởng có hệ thống với các kết quả

xã hội Trong thực tế cuộc sống xã hội, quá trình tương tác theo mô hình trao đổi xã hội cũng như việc hành động dựa trên sự lựa chọn hợp lý là rất phổ biến Theo Homans, toàn bộ các tương tác xã hội là một tập hợp phức tạp những trao đổi

Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu cho thấy: Bất kì sự tương tác xã hội nào

giữa hai người đều dựa trên sự nỗ lực của mỗi cá nhân để có được những phần

Trang 36

thưởng tối đa và chi phí tối thiểu Cá nhân chỉ tiếp tục mối quan hệ (tình cảm) nếu nhận được phần thưởng nhiều hơn Những tiêu chuẩn lựa chọn người yêu của một người đưa ra mặc dù mang tính cá nhân những nó không còn là đơn thuần hành vi duy lý cá nhân mà chính là những chuẩn mực được thừa nhận bởi nhóm nhỏ

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Maslow

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis)

và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism)

Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của

nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:

-Nhu cầu cơ bản (basicneeds)

-Nhu cầu về an toàn (safety needs)

-Nhu cầu về xã hội (social needs)

-Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)

- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

1 Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của

cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu

Trang 37

cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu

cơ bản này chưa đạt được

2 Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần

Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ, Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần

3 Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm, …

4 Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm

Trang 38

nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn

Maslow mô tả nhu cầu này như sau: “self-actualization as a person's need to

be and do that which the person was “born to do”” (nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”) Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu cho thấy:

Mỗi con người sinh ra đều có những nhu cầu tâm sinh lý cơ bản như nhu cầu ăn ở mặc và cao hơn nữa là nhu cầu được tôn trọng, yêu thương Tình yêu thời học sinh được xem là những rung động đầu đời, có vai trò khá quan trọng trong cuộc sống của mỗi người Nhu cầu được yêu thương, được chia sẽ theo quan niệmcủa Maslow

là thang nhu cầu cao nhất của con người Vận dụng lý thuyết này để tìm hiểu nhu cầu của học sinh THPT về tình yêu khác giới, từ đó, cho thấy quan niệm cũng như tiêu chí lựa chọn người yêu của các em học sinh về tình yêu chân chính Tình yêu

đó có thỏa mãn được nhu cầu về xã hội theo thang nhu cầu của Maslow đưa ra hay không?

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu

Trường THPT Diễn Châu 1 (THPT Nguyễn Xuân Ôn)

Buổi đầu thành lập (3/1946) trường đặt tại khu Đền sò uy nghi và cũng rất thơ mộng nằm tại trung tâm huyện lị Diễn Châu Nhưng các lớp học chủ yếu được đặt tại trường tiểu học Trí Đức trong Thành phủ – Ngôi trường Tiểu học duy nhất chung cho cả huyện được thành lập từ năm 1918 Khi mới khai giảng năm học đầu tiên (khoảng giữa tháng 3 năm 1946) Trường mới chỉ có lớp Đệ nhất niên (khoảng

40 học sinh) Những năm 1947 – 1950: từng bước trường có thêm các lớp Đệ Nhị niên, Đệ tam và Đệ tứ niên Năm học 1949 – 1950 trường có 13 lớp với 540 học

Trang 39

Yên Thành, nghĩa Đàn…và cả Nghi Lộc Ngoài ra thời kì 1947-1948, có 20 nam nữ sinh viên văn khoa trường đại học Việt Nam từ Thanh Hoá thường xuyên vào trường Nguyễn Xuân Ôn để được giáo sư Cao Xuân Huy giảng dạy phần triết học

Tháng 3 năm 1996, trường đã tổ chức trọng thể lễ kỉ niệm 50 năm ngày thành lập trường và đón nhận Huân chương lao động hạng ba Đây là một mốc son quan trọng làm nức lòng các thế hệ thầy cô giáo và học sinh Trường bước sang một trang mới trong xu thế ngày càng phát triển Không chỉ phát triển về số lượng, số học sinh lớp 9 thi vào trường ngày càng đông, các thầy cô giáo cũng được tăng cường về số lượng và chất lượng Năm học 1998 –1999, trường có 48 lớp trong đó

có 13 lớp hệ bán công Chi bộ Đảng có 23 Đảng viên do thầy Lê Duy Diêu làm Bí thư Năm học 2005 –2006: trường có 46 lớp trong đó có 16 lớp hệ Bán công với số lượng 91 cán bộ, giáo viên, nhân viên

Từ năm học 2000 – 2001, sau khi thầy Thái Doãn Kỷ nghỉ hưu, thầy Nguyễn Khải giữ chức vụ Hiệu trưởng Trên nền tảng thắng lợi của những năm học cuối thập kỷ 90, thời kỳ này trường đã có những bước chuyển mình đáng kể về chất lượng dạy và học, cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thư viện phục vụ nhu cầu dạy và học ngày càng được tăng cường, cảnh quan nhà trường ngày càng khang trang, sạch đẹp Số giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh ngày một đông

Hiện nay, nhà trường có 93 giáo viên; các tổ chức Đoàn thể bao gồm Ban giám hiệu, ban chấp hành công đoàn, hội đồng trường, ban nữ công, ban chấp hành đoàn trường Toàn trường có 48 lớp ở cả 3 khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12

Trường THPT Diễn Châu 4

Được thành lập năm 1999 theo quyết định số 1885/QĐ-UB ngày 16/6/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An Trường toạ lạc trên khuôn viên đất rộng gần 20.000 m2 thuộc địa bàn xã Diễn Mỹ, Diễn Châu, Nghệ An

Tiền thân của nhà trường được tách ra từ trường THPT Diễn Châu 2 Số lớp ban đầu là 16 lớp với 825 học sinh trong đó có 4 lớp 12, 5 lớp 11 và 7 lớp 10 Tổng

Trang 40

23 và phục vụ 4 Cơ sở vật chất ban đầu còn rất nhiều khó khăn, chỉ có 10 phong học cấp 4, phòng làm việc của cán bộ giáo viên chật hẹp: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và kế toán cùng chung một phòng làm việc Mặc dầu còn nhiều khó khăn như vậy nhưng thầy và trò trường THPT Diễn Châu 4 đã nổ lực phấn đấu đạt kết quả cao ngay từ năm học đầu tiên: có 19 học sinh giỏi cấp tỉnh, đầu tốt nghiệp 94%

và có 26 học sinh đậu đại học

Sau 10 năm thành lập, trường THPT Diễn Châu 4 đã có nhiều khởi sắc và đặc biệt đã trở thành đơn vị lá cờ đầu của ngành giáo dục Nghệ An Trên chặng đường 10 năm xây dựng và phát triển, thầy và trò trường THPT Diễn Châu 4 có nhiều cố gắng và đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc được cấp trên ghi nhận và nhân dân tin yêu Đặc biệt năm học 2007 - 2008, thầy và trò nhà trường đã thu hoạch một mùa bội thu với những thành tích đáng nể mặc dầu tuyển sinh đầu vào của nhà trường luôn nằm ở tốp cuối cùng của khối THPT công lập trong toàn huyện nhưng kết quả đạt được trở nên vẻ vang như: học sinh giỏi Tỉnh khối 12 đạt 78% (14/18 em trong đó có 1 giải nhì, 3 giải ba); tỷ lệ đậu tốt nghiệp THPT chiếm 90,36%, đứng tốp đầu trong toàn tỉnh

Mặc dầu còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, nhà trường đã có sự đầu tư đúng mức cho công tác chuyên môn và đầu tư cơ sở vật chất của nhà trường nằm nâng cao chất lượng dạy và học Không những thế, để phục vụ cho công tác nghiên cứu, dạy học, giáo viên không ngại chắt góp đồng lương ít ỏi của mình để mua sắm máy tính, đến nay có 100% giáo viên có máy vi tính trong đó có 41/89 giáo viên có máy tính xách tay phục vụ cho mình Năm học 2014-2016 trường THPT Diễn Châu 4 có

1423 học sinh, 38 lớp (khối 12 có 13 lớp, khối 11 có 13 lớp, khối 10 có 12 lớp) Có

99 cán bộ trong đó có 94 giáo viên

Như vậy, toàn bộ chương 1 đề cập đến những khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài như: Tiêu chuẩn lựa chọn, tình yêu, quan niệm và các lý thuyết được áp dụng bao gồm hai lý thuyết là lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết nhu cầu của Maslow Chương này cũng tóm tắt sơ lược về 2 địa bàn nghiên cứu là trường THPT Diễn Châu 4 và THPT Diễn Châu 1

Ngày đăng: 22/09/2020, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w