1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại thành phố hà nội (nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường kim giang quận thanh xuân

112 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đó, được sự cho phép của chủ nhiệm đề tài, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu kĩ để làm rõ hơn một phần nhỏ trong đề tài là lao động việc làm và đào tạo nghề và lựa chọn đề tài cho luận văn c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN HUYỀN MY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Nghiên cứu trường hợp tại phường Kim Giang,

quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì - Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN HUYỀN MY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ TÌM VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Nghiên cứu trường hợp tại phường Kim Giang,

quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì - Hà Nội)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60310301

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà

Hà Nội, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sỹ

Xin chân thành bảy tỏ lòng biết ơn đến Cô PGS.TS.Phạm Thị Thu Hà người đã hết lòng giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luân văn này.Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa

Xã Hội Học và khoa sau đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhan văn Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tại luận văn

Xin chân thành bay tỏ lòng biết ơn đến GS.TS Phạm Quang Minh làm chủ nhiệm đề tài và các thành viên trong đề tài và bản thân tôi được tiếp nhận

bộ dữ liệu định lượng từ chương trình: nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016 – 2020.Đề tài: “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách” đề tài thông qua hoạt động triển khai nghiên cứu tại 7 tỉnh thành đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Hà Nội, tháng năm 2018

Học viên

Nguyễn Huyền My

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Tổng quan nghiên cứu về hỗ trợ học nghề và tìm việc làm cho người lao động tại Hà Nội 3

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4.Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8

5.Câu hỏi nghiên cứu 8

6.Giả thuyết nghiên cứu 9

7.Phương pháp nghiên cứu 9

8.Cấu trúc của luận văn 11

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1.Khái niệm công cụ 12

1.1.1.Khái niệm nghề 12

1.1.2.Khái niệm đào tạo nghề 12

1.1.3.Việc làm 14

1.1.4.Tạo việc làm 15

1.1.5.Giải quyết việc làm 16

1.2.Một số lý thuyết ứng dụng 17

1.2.1.Lý thuyết nhu cầu Maslow 17

1.2.2 Lý thuyết xã hội học về chính sách công 18

1.2.3.Lý thuyết lựa chọn hợp lí 20

1.3.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hỗ trợ học nghề và việc làm và đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21

1.3.1.Các chính sách hỗ trợ học nghề và việc làm cho người lao động 21

1.3.2.Đặc điểm địa bàn nghiên của phường Kim Giang, quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì 29

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HỌC NGHỀ CHO

LAO ĐỘNG TẠI HÀ NỘI 34

2.1 Khái quát chung về mức độ tổ chức lớp đào tạo nghề cho người lao động 34

2.2.Cách thức thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề cho người lao động 44

2.3.Đánh giá thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề qua ý kiến của người dân và cán bộ xã 53

CHƯƠNG 3.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÌM VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG TẠI HÀ NỘI 59

3.1.Mức độ tham gia tìm việc làm cuả người lao động 59

3.2.Cách thức thực hiện chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động 67 3.3.Đánh giá của người dân về thực hiện chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho lao động qua ý kiến của người dân và cán bộ xã 69

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 82

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Lễ khai giảng khóa học đào tạo công nghệ thông tin năm 2017 36 Hình 2.2 Trung tâm giáo dục thường xuyên Thanh xuân 38 Hình 2.3 Trung tâm giáo dục thường xuyên Thanh Trì 38

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh lớp đào tạo nghề tại phường Kim Giang và xã Tân Triều 39 Bảng 2.2 Các lớp đào tạo nghề được tổ chức ở địa phương tại phường Kim

Giang quận Thanh Xuân giai đoạn 2015 – 2018 41

Bảng 2.3 Các lớp đào tạo nghề được tổ chức ở địa phương tại xã Tân triều

huyện Thanh Trì giai đoạn 2015 – 2017 42

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Đối tượng người dân tìm đến khi gặp khó khăn trong việc hỗ trợ

động của cán bộ địa phương 56

Biểu đồ 2.5 Lý do đánh giá chính sách hỗ trợ đào tạo nghề chưa tốt/bình

thường của cán bộ địa phương 57

Biểu đồ 3.1 Số lượng người lao động được giải quyết việc làm qua hàng năm

tại huyện Thanh Trì và quận Thanh xuân 61

Biểu đồ 3.2 Số lượng người lao động tham gia vào nhận hỗ trợ tìm việc làm

tại xã Tân Triều và phường Kim Giang 63

Biểu đồ 3.3 Đối tượng người dân tìm đến khi gặp khó khăn khi tìm việc 64 Biểu đồ 3.4 Tổ chức/Chính quyền người dân tìm đến khi gặp khó khăn tìm

việc 65

Biểu đồ 3.5 Đánh giá thực hiện chính sách hỗ trợ tìm việc làm của người

lao động 70

Biểu đồ 3.6 Nguyên nhân khiến người dân đã nhận hỗ trợ về chính sách hỗ

trợ tìm việc làm nhưng chưa hài lòng 72

Biểu đồ 3.7 Nguyên nhân người dân muốn hưởng chính sách hỗ trợ tìm việc

làm nhưng chưa được 73

Biểu đồ 3.8 Đánh giá của cán bộ về chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người

lao động 74

Biểu đồ 3.9 Nguyên nhân đánh giá chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người

lao động chưa tốt của cán bộ 75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.Chất lượng của nguồn nhân lực phụ thuộc và được quyết định bởi sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trong đó có đào tạo nghề.Hiện nay Đảng và Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động giúp cho chất lượng nguồn nhân lực được đảm bảo.Nhiều năm qua thì Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách về đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực va năng lực.Ngân sách nhà nước

và các thành phần kinh tế đầu tư cho dạy nghề đã được tăng cường nhiều hơn.Quy mô tuyển sinh và đầu tư cho dạy nghề được tăng cường

Việc làm là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới nói chung của Việt Nam nói riêng Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia bởi nó không chỉ tác động đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội quốc gia đó Đối với nước ta giải quyết việc làm còn là giải quyết một vấn đề cấp thiết trong xã hội đồng thời là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nguồn lực con người.Có việc làm ổn định, bền vững đồng nghĩa với việc người đó có một nguồn thu nhâọ đảm bảo nuôi sống bản thân và gia đình.Có việc làm cũng có nghĩa là người đó được cống hiến, được phát huy khả năng, trí tuệ và sức lực của mình vào sự phát triển chung của cộng đồng.Họ có cơ hội áp dụng những kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng mà mình tích lũy trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường cũng như trong xã hội vào thực

tế công việc.Được làm việc, được lao động cũng là cách để khẳng định giá trị,

vị trí của mỗi người trong xã hội hiện nay

Trang 9

Nghị quyết lần thứ bảy của Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X “ Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kì đổi đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã chỉ rõ nhiệm vụ: “ Nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên”

Ngày 28/11/2013, tại kì họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp 2013 và trong điều 35 chương II của Hiến pháp cũng đã chỉ rõ: Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp việc lam và nơi làm việc.Người làm công ăn lương dược đảm bảo các quyền làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương và chế độ nghỉ ngơi.[15, tr.20]

Điều đó cho thấy rằng, lao động việc làm và giải quyết việc làm là một trong những chính sách và ưu tiên quan trong của Đảng và Nhà nước Việt Nam.Thiếu việc làm, không có việc làm hoặc việc làm với năng suất thấp và thu nhập thấp sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và sự phát triển bền vững của người lao động

Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước cũng rất chú trọng trong việc đào tạo nghề cho lao động nhằm nâng cao chất lượng lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng để nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa.Chính vì vậy ngày 27/11/2009, thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 1956/QĐ – TTg phê duyệt đề án 1956 về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia

Luận văn được tiếp nhận bộ dữ liệu định lượng từ chương trình: nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016 – 2020.Đề tài: “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách” do GS.TS Phạm Quang Minh làm chủ nhiệm đề tài và các thành viên, đề tài thông qua hoạt động triển khai nghiên cứu tại 7 tỉnh thành.Dựa trên bộ dữ liệu

Trang 10

đó, được sự cho phép của chủ nhiệm đề tài, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu kĩ

để làm rõ hơn một phần nhỏ trong đề tài là lao động việc làm và đào tạo nghề

và lựa chọn đề tài cho luận văn của mình: “ Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại thành phố Hà Nội” ( nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân Triều huyện Thanh Trì – Hà Nội ) để làm rõ vấn đề thực hiện chinh sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm tại hai địa bàn này hiện nay như thế nào, mức độ tham gia và cách thức thực hiện cũng như đánh giá của người dân có hài lòng về chính sách đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động hay không? Do vậy tôi đã lựa chọn đề tài” thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại thành phố Hà Nội” ( nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân Triều huyện Thanh Trì – Hà Nội) để làm luận văn Thạc sĩ Xã hội học, với hy vọng góp phần luận giải một trong những vấn đề rất quan trọng có liên quan mật thiết đến đời sống của lao động hiện nay.Từ nghiên cứu này, sẽ đưa ra một số khuyết nghị sao cho phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương trong thời gian tới

2.Tổng quan nghiên cứu về hỗ trợ học nghề và tìm việc làm cho

người lao động tại Hà Nội

Đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động là vô cùng cấp thiết trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau và trong bất kỳ xã hội nào Chính vì vậy đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn tác giả chỉ tập trung giới thiệu một số công trình tiêu biểu như sau:

Đề án về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Đề án được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định (số: 1956/QĐ-TTg) phê duyệt Đề

án đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nông thôn và hoàn thành mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn

Trang 11

mới Mục tiêu đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho gần 17 triệu lao động nông thôn nhằm mở ra nhiều cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông thôn

Với nghiên cứu “ Đào tạo nghề cho nông dân trong thời kì hội nhập quốc tế” Nguyễn Tiến Dũng – Tổng cục trưởng Tổng cục dạy nghề đã nêu lên những kết quả bước đầu thực hiện đề án 1956.Cũng nói về thực trạng đào tạo nghề, Nguyễn Việt Quân với công trình nghiên cứu “ Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn nước ta hiện nay” đã nêu lên yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đồng thời dự báo tình hình lao động trong những năm săó tới.Cùng với những bài viết của hai tác giả trên, với việc nhìn nhận kết quả thực hiện đề án 1956 trong ba năm từ 2010 đến 2013 với những con số thống kê chính sách, cung câsp cho người đọc một cái nhìn cụ thể về kết quả mà đề án mang lại: “ Hoạt động dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn không chỉ huy động các cơ sở chuyên dạy nghề mà còn thu hút được sự tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học, sự tham gia giảng dạy của những người lao động kỹ thuật từ các doanh nghiệp , những nghệ nhân, người cpó tay nghề cao trong các làng nghề…Bản thân người nông dân và lao động nông thôn là những đối tượng được hưởng thụ chính sách cũng đã tích cực ủng hộ chủ trương của Chính phủ từ việ xác định nhu cầu học nghề của mình phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đến việc tham gia đầy đủ các khóa đào tạo.Tại những địa bàn nghèo, các doanh nghiệp ngoài việc hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, còn hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề còn hỗ trợ đầu tư các công trình xã hội, như trường học, xây dựng đường liên thôn…góp phần làm xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh

xã hội, xây dựng nông thôn mới.Tuy nhiên bài viết này còn nhiều khía cạnh của đào tạo nghề vẫn chưa được nhắc tới như loại hình đào tạo nghề, vai trò của các tổ chức xã hội tại địa phương

Trang 12

Bài viết “Những vấn đề đặt ra trong công trong công tác đào tạo nghề hiện nay” của Doãn Huy còn nêu ra một số bất cập của đề án 1956 đó là: “

Việc triển khai công tác này còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với đặc điểm của tưng vùng, ngành nghề kinh tế, thiếu định hướng dài hạn, chưa gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch nông thôn mới, một số nơi, dạy nghề còn chạy theo số lượng, chất lượng thấp, chưa phù hợp với nhu cầu người học và người sử dụng lao động”

“ Nâng cao vai trò của cơ sở đào tạo trong dạy nghề cho người lao động” của Phương Mai – Tạp Chí cộng sản, bài viết đã đưa ra những phương hướng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động trong những năm tới.Để hoạt động đào tạo nghề ngày càng đi vào đời sống thực tiễn, mang lại hiệu quả

thiết thực cho người dân thì: “ phải có sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống

chính trị ở địa phương: công tác đào tạo

Luận án tiến sĩ “Giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Phạm Thị Ngọc Vân Tác giả đã hệ thống hóa và góp phần làm rõ những vấn đề cơ bản về thực tiễn việc làm và giải quyết việc làm nói chung Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động tỉnh Thái Nguyên Đồng thời đánh giá được những việc đã làm được, tồn tại và nguyên nhân Qua nghiên cứu 5 thực trạng kết hợp định hướng và quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động tỉnh Thái Nguyên tác giả đã đưa ra được 6 nhóm gải pháp phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên Tác giả mới chủ yếu phân tích, đánh giá thực trạng và các giải pháp việc làm cho lao động ở phạm vi tỉnh Thái Nguyên

Công trình nghiên cứu “ Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”

do TS.Nguyễn Hữu Dũng và TS.Trần Hữu Trung chủ biên được Nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành vào năm 1997.Đây là một trong những công trình nghiên cúu về việc làm đầu tiên kể từ khi nước ta thực hiện công cuộc

Trang 13

đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng ( 1986).Các tác giả

đã tập trung vào trình bày tổng quát về phương pháp luận va phương pháp tiếp cận về chính sách lao động việc làm.Làm rõ thực trạng vấn đề việc làm tại Việt nam trong những năm cuối thế kỷ 20.Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng về chính sách việc làm trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Tác giả Đồng Văn Tuấn trong nghiên cứu về “ Giải pháp giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động ở khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên” thực hiện trong các năm 2010 và 2011 cho thấy mặc dù địa bàn nghiên cứu là một tỉnh miền núi phía Bắc tuy nhiên vẫn mang những đặc điểm chung của thực trạng lao động nước ta hiện nay.Qua nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và giới tính của người lao động

có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của cả nước

Bài viết “Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Việt Tiến đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển

Số 181 Tháng 7/2012 Bài viết này góp phần làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020

Tác giả Nguyễn Thị Ái Lâm hoàn thiện công trình nghiên cứu với tựa

đề “ Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á”.Công trình nghiên cứu toàn diện về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á, trong đó kinh nghiệm của Nhật Bản được nghiên cứu và tổng kết rất công phu.Những kết quả nghiên cứu có thể tham khảo vận dụng cho đào tạo nghề ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ: “Giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn

ở Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thanh Hương đã thực hiện nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm để làm

Trang 14

căn cứ khoa học cho việc đánh giá thực trạng việc làm và giải quyết cho lao động nông thôn trên địa bàn thủ đô Hà Nội.Đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn

Bài viết “Chính sách việc làm: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thúy Hà đăng trên cổng thông tin điện tử của viện nghiên cứu luật pháp (vnclp.gov.vn) Trong bài viết này tác giả đã phân rõ việc làm và chính sách việc làm của nước ta Hệ thống hóa khái niệm, vai trò của việc làm; Phân tích thực trạng việc làm của nước ta và đưa ra các phương hướng giải quyết vấn đề việc làm như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp

lý phù hợp, đảm bảo sự bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động; phê chuẩn và thực hiện các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan tới thị trường lao động nước ta; mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề Đồng thời tác giả

đã hệ thống chính sách việc làm, đánh giá chính sách việc làm và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm Tuy nhiên, tác giả chủ yếu đưa ra các số liệu thống kê năm 2011, ít có sự so sánh giữa các năm, và chưa đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng tới việc làm và chính sách việc làm ở nước ta

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Đề tài làm rõ việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân Triều huyện Thanh Trì để từ đó đưa ra những khuyến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ khái niệm và lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu về chính sách

hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người lao động tại phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân Triều huyện Thanh Trì

Trang 15

Mô tả việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề thông qua việc nghiên cứu mức độ tham gia của người lao động cũng như cách thức thực hiện chính sách của chính quyền địa phương và ý kiến đánh giá của người dân

về hiệu quả việc thực hiện chính sách

Phân tích chính sách tìm việc làm cho người lao động tại phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân Triều huyện Thanh Trì qua 3 chỉ báo mức

độ tham gia của người lao động, cách thức thực thực chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động của chính quyền địa phương và ý kiến đánh giá của người dân về hiệu của việc thực hiện chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động

Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động tại địa bàn phường Kim Giang quận Thanh Xuân và xã Tân triều huyện Thanh Trì

4.Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại địa bàn phường Kim Giang, quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì)

5.Câu hỏi nghiên cứu

- Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo học nghề cho người lao động tại phường Kim Giang và xã Tân Triều như thế nào?Hiệu quả việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề ra sao?

- Chính sách tìm việc làm cho người lao động tại phường Kim Giang và

xã Tân Triều hiện nay đang được thực hiện ra sao? Hiệu quả việc thực hiện chính sách hỗ trợ tìm kiếm việc làm ra sao?

- Có những giải pháp nào để chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động tại phường Kim Giang và xã Tân Triều mang lại hiệu quả thiết thực nhất cho người dân?

Trang 16

6.Giả thuyết nghiên cứu

Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động tại phường Kim Giang, quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, huyện Thanh Trì đã được thực hiện bằng những hình thức đào tạo tay nghề tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân

Việc thực hiện chính sách tìm việc làm cho người lao động hiện vẫn luôn được chính quyền quan tâm và thực hiện bằng cách người lao động đến những trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước.Tuy nhiên thì mức độ tìm kiếm việc làm và mức độ hiệu quả vẫn chưa được cao

Sự quan tâm của Đảng và chính quyền địa phương, vai trò của các tổ chức xã hội là những thuận lợi trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề, tuy nhiên chính sách hỗ trợ tìm việc làm và đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động hiện nay.Để việc đào tạo nghề và tìm việc làm hiệu quả hơn cần có những giải pháp đồng bộ từ chính quyền các cấp

và chính người lao động

7.Phương pháp nghiên cứu

7.1.Phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu thứ cấp

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các nghiên cứu về đào tạo nghề, đào tạo nghề cho lao động ở khắp cả nước và chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho lao động tại một số tỉnh thành.Đồng thời qua đó có được sự so sánh, đối chiếu làm phong phú nội dung đang tiến hành tìm hiểu

Phân tích tài liệu sơ cấp

Những thông tin định lượng của luận văn chủ yếu phân tích theo số liệu khảo sát của đề tài: nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016 – 2020.Đề tài: “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách” do GS.TS Phạm Quang Minh làm chủ nhiệm đề tài

Trang 17

và các thành viên, đề tài thông qua hoạt động triển khai nghiên cứu tại 7 tỉnh thành trên toàn quốc.Đề tài nghiên cứu nhiều vấn đề khác nhau: lao động – việc làm, an sinh xã hội…nhằm mục đích hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội của nước ta hiện nay.Tuy nhiên trong luận văn này tôi chủ yếu phân tích cụ thể số liệu khảo sát về lao động – việc làm, đặc biệt chú trọng tới vấn đề nội dung đào tạo nghề về tìm việc làm cho lao động

Phiếu khảo sát về lao động việc làm tại 2 địa bàn nghiên cứu là xã Tân Triều huyện Thanh Trì và phường Kim Giang quận Thanh Xuân số lượng phiếu thu thập từ 2 xã là 100 phiếu

Phường Kim Giang là 50 phiếu

Xã Tân Triều là 50 phiếu

Để phục vụ mục tiêu nghiên cứu đề ra tôi đã sử dụng số liệu từ các câu

7.2.Phỏng vấn sâu

Để bổ sung thêm những thông tin để giải thích cho những kết quả nghiên cứu đã thu được từ khảo sát, tôi đã trực tiếp thực hiện bổ sung 10 phỏng vẫn sâu.Phỏng vấn sâu là phương pháp định đính được sử dụng để lấy thông tin từ các đối tượng khác nhau, phục vụ cho việc phân tích, minh họa cho các dữ liệu định lượng, đồng thời tìm hiểu một số khía cạnh, vấn đề mà

số liệu định lượng chưa làm được.Đối với đề tài này, tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp và vẫn đảm bảo tính khuyết danh.Thông qua việc sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, tôi thấy được vấn đề một cách rõ ràng và sâu sắc hơn, tập trung vào những khía cạnh còn chưa đầy đủ thông tin

và cần khai thác kĩ hơn những thông tin còn khuyết bổ sung cho đề tài

Tôi đã tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu, mỗi địa bàn 5 phỏng vấn sâu với các đối tượng là:

Đối tượng tham gia học nghề: 02 người

Cán bộ địa phương: 02 người

Trang 18

Người không tham gia đào tạo nghề: 01 người

7.3.Phương pháp quan sát

Quan sát việc dạy nghề, học nghề tại địa bàn nghiên cứu, quan sát những cách thức thực hiện chính sách hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người lao động

8.Cấu trúc của luận văn

Luận văn có cấu trúc gồm 3 phần:

- Phần Mở Đầu

- Phần Nội Dung

- Phần Kết Luận – Khuyến Nghị

Trong phần Nội Dung được chia ra làm 3 chương chính như sau:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu về thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động

- Chương 2: Thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động tại phường Kim Giang, xã Tân Triều, Hà Nội

- Chương 3: Thực hiện chính sách hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động tại phường Kim Giang, xã Tân Triều, Hà Nội

Trang 19

NỘI DUNG CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1.Khái niệm công cụ

1.1.1.Khái niệm nghề

Nghề là môt khái niệm trừu tượng , khó có cách hiểu cụ thể vầ rõ ràng, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được.Nghề mang tính tương đối, nó phát dinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội.Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song có thể thấy một

số nét đặc trưng nhất định:

- Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại

- Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội

- Nghề là phương tiện để sinh sống

Từ điển Tiếng Việt ( 1998) định nghĩa: “ Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động xã hội.”

Như vậy có thể hiểu nghề là một lĩnh vực hoạt đồng lao động mà trong

dó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

1.1.2.Khái niệm đào tạo nghề

Khái niệm đào tạo nghề thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác nhau tương đối

Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kĩ năng và kĩ sảo…) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đao đức…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội.Hay nói cách khác,

Trang 20

giáo dục còn là quá tình khơi gợi các tiềm năng có sẵn trong con người, giúp nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người

Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo được hiểu là việc: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”

Thứ hai, “Đào tạo là quá trình trang thiết bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để học có thể đảm nhận được một công việc nhất định”.1

Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái niệm tương đối là đầy đủ: “ Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết.”

Hay đào tạo chính là đề cập đến việc dạy kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một vấn đề cụ thể, để người học lĩnh hội

và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhạn được một công việc nhất định

Chính vì vậy mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật và tác phong, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm, hoặc có thể học để phát triển lên trình độ cao hơn

Loại hình đào tạo

Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới 1 năm, chủ yếu áp dụng đối với các nghề phổ cập.Loại hình này cố ưu điểm là

1

PGS.TS Mai Quốc Chánh PGS.TS Trần Xuân Cầu, (2008), “ Giáo trình Kinh tế Lao động”, trang 54

Trang 21

có thể tập trung đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung nhưng vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay

tại chỗ, với sự hỗ trợ của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước

Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ.Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn

Đào tạo nghề tại các trung tâm dạy nghề:

Là loại hình đào tạo nghề ngắn hạn, phần đa dưới 1 năm.Đối tượng chủ yếu đào tạo nghề cho thanh niên và người lao động.Loại hình này thu hút được đông đảo người học vì các thủ tục học thường dễ dàng, thời gian hợp lý.Nghề đào tạo đa dạng và thường các trung tâm đào tạo nghề thường gắn với giới thiệu việc làm nên hỗ trợ được cho người lao động trong tìm việc làm.Khả năng thích ứng nhanh với nhu cầu thị trường lao động và nhu cầu người học.Đặc biệt là chi phí đầu tư đào tạo không lớn.Tuy nhiên hạn chế của hình thức đào tạo biểu hiện chính là quy mô nhỏ, lượng kiến thức lý thuyết ở mức độ thấp, thiếu độ ngũ giáo viên chuyên nghiệp, thiếu các máy móc, thiết

bị, phương tiện hiện đại giúp cho học viên được thực hành nghề

1.1.3.Việc làm

Việc làm là vấn đề được nghiên cứu và đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra quan niệm: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” [4;tr 47] Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm được quy định trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung năm 2012 Tại Điều 9, Chương II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao

Trang 22

động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm ” Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm” Nội dung của việc làm rất mở rộng

và cho thấy khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người NLĐ được tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết sản xuất kinh doanh; tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật nếu có nhu cầu Đồng thời qua đây cho thấy, việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc 10 vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phương hay doanh nghiệp

1.1.4.Tạo việc làm

Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013), giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Nhà Xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo việc làm là quá trình tạo điều kiện kinh tế xã hội cần thiết để NLĐ có thể kết hợp giữa sức lao động và

tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa và dịch

vụ theo yêu cầu thị trường” [2,tr.377]

“Tạo việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động đồng thời phải đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước”

“Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc

để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của thị trường”

Có thể hiểu tạo việc làm là tổng hợp những hoạt động cần thiết để tạo

ra những chỗ làm việc mới, giúp người lao động chưa có việc làm có được

Trang 23

việc làm; tạo thêm việc làm cho những NLĐ đang thiếu việc làm và giúp NLĐ tự tạo việc làm Cơ chế tạo việc làm là cơ chế ba bên gồm có:

- Về phía NLĐ: NLĐ muốn tìm việc làm phù hợp có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, từ các tổ chức xã hội để tham gia đào tạo, phát triển, nắm vững một nghề nghiệp nhất định

- Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra, cần có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ Ngoài ra người sử dụng lao động 11 cần có kinh nghiệp, sự quản lý khoa học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụng linh hoạt,

mở rộng sản xuất, nâng cao sự thỏa mãn của NLĐ, khơi dậy động lực làm việc, không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn duy trì và phát triển chỗ làm việc

- Về phía Nhà nước: Ban hành các luật, cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến NLĐ và người sử dụng lao động, tạo ra môi trường pháp lý kết hợp lao động với tư liệu sản xuất

1.1.5.Giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội

Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nuôi sống bản thân

và gia đình góp phần phát triển quê hương đất nước

Trang 24

Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành Giải quyết việc làm phải được xem xét ở cả phía người lao động, người sử dụng lao động

và vai trò nhà nước

Vì vậy “giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh

tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm”

1.2.Một số lý thuyết ứng dụng

1.2.1.Lý thuyết nhu cầu Maslow

Nhà tâm lý học Abraham Maslow[1908-1970] được xem như một trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn [humanistic psychogogy], trường phái này được xem là thực tế thứ 3[the Third Force] , khi thế giới lúc đấy đang biết đén 2 trường phái tâm lý chính ;Phân tâm học[Psychoanalysis] và Chủ nghĩa hành vi [Beaviorism] Psychoanalysis] và Chủ nghĩa hành vi [Behaviorisn]

Theo ông nhu cầu của con người có thể được sắp xếp theo thứ bậc Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:

-Nhu cầu cơ bản[ basic needs]

- Nhu cầu về an toàn[ safety needs]

- Nhu cầu về xã hội[ social needs]

-Nhu cầu về được quý trọng[ estem needs]

-Nhu cầu được thể hiện mình[ sef-actualizing needs]

Trong thang bậc nhu cầu này khi nhu cầu cấp bậc cao chỉ được đáp ứng khi nhu cầu thấp đã được đáp ứng

Khi một nhu cầu nó đó chưa được đáp ứng thì nó trở thành động lực hành động.Khi nhu cấu thấp hơn đã được thỏa mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ trở thàng nguồn động lực mới.không loại trừ khả năng tương tác của các loại yêu cầu

Trang 25

Như vậy, áp dụng lí thuyết nhu cầu Maslow vào luận văn có thể thấy nhu cầu đầu tiên cơ bản mà con người cần có đó chính là thức ăn, nước uống,

cư trú, nghỉ ngơi đó là những nhu cầu cơ bản nhất mà mỗi con người muốn tồn tại được đều phải có.Khi con người đã đạt được nhu cầu cơ bản cho bản thân tiếp theo họ sẽ tiến đến nhu cầu thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, con người cần có cảm giác yên tâm về an toàn cho bản thân mình, an toàn và ổn định trong nghề nghiệp cho bản thân để đảm bảo chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày, đảm bảo được những nhu cầu cơ bản hay sức khỏe và tài sản cần được đảm bảo.Để có thể bước lên một bậc của thang nhu cầu thì con người phải đạt được đủ điều kiện đảm bảo của những bước thang dưới.Với đề tài thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và tìm việc làm cho người lao động thì mức nhu cầu của con người đang dừng lại ở bậc thang thứ 2 đó chính là nhu cầu được an toàn về mọi mặt, nhu cầu được đảm bảo một công việc và một nghề nghiệp ổn định cho bản thân mình để đảm bảo cho cuộc sống đảm bảo cho nhu cầu cơ bản của chính mình

1.2.2 Lý thuyết xã hội học về chính sách công

Tác phẩm''xã hội học về chính sách công'' của tác giả Francois deSigly

do nhà xuất bản Armand Colin tái bản lần thứ 2 năm 2010, là một trong những tác phẩn được trình bày các nội dung về chính sách công dưới quan điểm tiếp cận của chuyên ngành xã hội học Xuyên suốt toàn bộ tác phẩm , tác giả đã đưa ra một bức tranh toàn diện về huớng tiếp cận nghiên cứu chính sách xã hội nói chung và các chính sách xã hội cụ thể nói riêng Tác giả đã chỉ

rõ, có nhiều hướng tiếp cận khác nhau trong công tác hoạch định chính sách

xã hội.Trước đây, mô hình chính sách từ trên xuống rất được thinh hành, tuy nhiên trong quá trình phát triển,các nhà hoạch định chính sách xã hội đã nhận thấy những điểm bất cấp trong quá trình thực thi chính sách,đó là sự thiếu đồng bộ trong việc hoạch định chính sách, thêm vào đó là khả năng áp dụng chính sách vào môi trường cụ thể còn hạn chế.Từ đó, các trào lưu mới xuất

Trang 26

hiện như hướng tiếp cận nghiên cứu chính sách xã hội từ dưới lên.Xuất phát

từ việc đề xuất cách nhìn mới về hoạch định chính sách ,lấy nhu cầu thực tế của các cá nhân và điều kiện cụ thể của đối tượng hưởng lợi, các nhà hoạch định đưa ra các chính sách mới nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu Từ đó, quá trình thực thi nhận được sử ủng hộ tuyệt đối của các đối tượng tham gia

Bên cạnh đó, Louvrage de Presman và Widavsky khẳng định, khi đánh giá một chính sách xã hội nhất định, mục đính không phải là phân tích nguyên nhân của sự thất bại mà là quá trình tìm ra cái chưa hoàn hảo của một chính sách xã hội.Đây chính là cơ sở để xây dựng một chính sách xã hội phù hợp hơn Chính sách xã hội là loại chính sách liên quan đến con người và bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người Vì vậy đặc trưng bao quát nhất của chính sách xã hội là lấy con người , các nhóm người trong cộng đồng làm đối tượng tác động để hoàn thiện và phát triển toàn diện con người.Tuy nhiên, các

cá nhân hưởng lợi, cũng như cộng đồng mà các cá nhân tồn tại trong đó lại có những điều tương đồng và khác nhau khá rõ rệt ở từng vùng miền,từng nhu vực thể hiện thông qua sự khác nhau về mức sống, điều kiện kinh tế-xã hội Vì thế, hướng tiếp cận nghiên cứu chính sách bắt đầu từ việc nhìn nhận quá trình thẩm thấu của một chính sách xã hội.Dưới hướng tiếp cận này,Lourvrage de Presman và Widavsky chỉ ra một chính sách xã hội được thiết lập trên một quy trình, công đoạn nhất định Khi một chính sách xã hội được áp dụng vào thực tiễn, các chính sách này được các cấp quản lý tiếp nhận và có sự điều chỉnh phù hợp với cộng đồng mình, quá trình điều chỉnh này phải được căn cứ trên cơ sở kinh tế , xã hội và văn hóa, từ đó mới có được lựa chọn phù hợp hơn đối khi thực thi chính sách xã hội

Từ các nghiên cứu trên, tôi nhận thấy, khi áp dụng vào luận văn này cần nắm rõ: việc hoạch định chính sách xã hội chuyển hướng tiếp cận từ trên xuống thành từ dưới lên và phải lấy con người làm trung tâm, đáp ứng nhu cầu của con người, cộng đồng và phải phù hợp với điều kiện thực tế của đất

Trang 27

nước, vùng miền và từng nhóm đối tượng cụ thể.Quá trình xây dựng và thự thi chính sách xã hội phải giải quyết tốt những mâu thuẫn , xung đột phát sinh trên các nguyên tắc công bằng, hợp lý và hợp tác phát triển.Nghiên cứu chính sách xã hội phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của đối tượng hưởng lợi, có nghĩa là phải tiếp cận nghiên cứu từ dưới lên Thứ 2, các chính sách xã hội luôn luôn có sự điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng cụ thể, vì thế cần phải

có sự hiểu biết cụ thể về các điều này Thứ 3, quá trình thực thi chính sách xã hội xuất hiện những nguyên tắc nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của các bên

1.2.3.Lý thuyết lựa chọn hợp lí

Thuyết lựa chọn hợp lý [hay còn gọi là thuyết lựa trọn duy lí]trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII,XIX Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề tri rằng con người luôn hành động , một cách có chủ đích,có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối đa Theo Marx, mục đích tự giác của con người như l luật quyết định toàn bộ cấu trúc,nội dung,tính chất, phương pháp của hành động và ý chí của con người Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc,tính toán

để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh tới yếu tố lợi ích vật chất [lãi, lợi nhuận,thu nhập] Nhưng sau này các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội tình thần

Mặc dù thuyết lựa chọn hợp lí bắt đầu với các mục đích hay dự định của chủ thể, nó phải quan tâm đến ít nhất là hai sự kìm hãm đối với hành động Đầu tiên là sự hiếm hoi của các tiềm năng Các chủ thể có những tiềm năng khác nhau cũng như các cách thâm nhập khác nhau vào các mục tiêu khác nhau Đối với những người có nhiều tiềm năng, thành quả cuối cùng có thể tương đối

Trang 28

dễ.Tuy nhiên đối với những người có ít tiềm năng, sự đạt được mục đích có thể khó khăn hoặc bất khả kháng.Một nguồn kìm hãm thứ hai lên hành động của chủ thể đó là các thể chế xã hội như gia đình, nhà trường, tôn giáo

Áp dụng quan điểm của thuyết lựa chọn hợp lí vào đề tài, tôi xem xét

sự lựa chọn nghề và việc làm của lao động cũng như sự sắp xếp, bố trí trong đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề, các lớp dạy nghề trên địa bàn.Chính quyền địa phương lựa chọn nghề và tìm việc làm phù hơp để triển khai dạy nghề cho lao động và công việc thích hợp để lao động có sự cân nhắc và lựa chọn hợp lí để có thể cải thiện cuộc sống sau khi học nghề hoặc lựa chọn được một công việc phù hợp

1.3.Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách hỗ trợ học nghề và việc làm và đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.3.1.Các chính sách hỗ trợ học nghề và việc làm cho người lao động

Khái quát chung về nhóm chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động từ giai đoạn 2009 đến năm 2020 Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ cho việc hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tìm việc làm cho người lao động chúng tôi thấy có 3 nhóm chính sách liên quan như sau:

- Chính sách số 1956/QĐ – TTg Chính phủ: (ngày 27 tháng 11 năm 2009) 2

Đề án“Đào ta ̣o nghề cho lao đô ̣ng nông thôn đến năm 2020”

Những năm gần đây do tác động của quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc

độ nhanh trên một số vùng của đất nước đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng

về cung và cầu lao động giữa nông thôn và thành thị.Hàng năm có trăm ngàn lao động phổ thông từ nông thôn đổ lên thành phố để tìm kiếm việc làm.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng như vậy là do nhiều năm liền tại các địa phương vùng nông thôn chưa chú ý đến việc đào tạo nghề cho lao động một cách bài bản, chưa được phân công lao động.Hơn thế nữa là mức thu nhập tại vùng đô thị và nông thôn có sự chệnh lệch khá lớn dẫn đến tình trạng người

2

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban

Trang 29

lao động đổ xô lên thành thị để kiếm việc làm với mong muốn thay đổi cuộc sống bản thân mình.Chất lượng nguồn nhân lực nông thôn ngày càng được nâng cao thông qua việc triển khai các chương trình đào tạo nghề, nhất là Đề

án 1956 và đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2020

Ở cấp Trung ương: chính phủ đã tổ chức hội nghị toàn quốc để quán triệt triển khai thực hiện Quyết định 1956 với các Bộ, ngành và địa phương,

bổ sung kinh phí và tiển khai thực hiện Đề án năm 2010 và tổ chức hội nghị giao ban với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương về tình hình 6 tháng thưc hiện quyết định 1956/QĐ – TTg, tuyên truyền, tư vấn về dạy nghề và việc làm cho lao động nông thôn trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Ương và các bộ, ngành, cơ quan Trung ương tổ chức các đoàn côngn tác kiểm tra tình hình triển khai thưc hiện đề án tại 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, phối hợp với các địa phương tổ chức mô hình dạy nghề, tổ chức thí điểm hình thức cấp thẻ học nghề cho lao động nông thôn, tổ chức xây dựng chương trình học liệu dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho giáo viên và người dạy nghề cho lao động nông thôn

Ở địa phương: tất cả các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban chỉ đạo Đề án thực hiện quyết định 1956 do phó chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban và lựa chọn huyện điểm, xã điểm để thực hiện triển khai, huy động được sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh , dịch vụ, cơ sở dạy nghề

và lao động nông thôn tham gia các hoạt dộng của Đề án.70% số tỉnh đã chỉ đạo xây dựng chuyên mục tuyên truyền, tư vấn học nghề, việc làm trên các báo, đài địa phương, nhiều huyện, xã có chương trình giới thiệu về chính sách đào tạo nghề, mô hình dạy nghề, học nghề hiệu quả phát triển hàng ngày trên các phương tiện truyền thông của xã, thông để đưa thông tin trực tiếp đến với người dân.và dần dần tác động đến nhận thức của người dân về chủ trương, chính sách của Đề án.Các tỉnh đã tổ chức khảo sát điều tra nhu cầu học nghề

Trang 30

của lao động nông thôn, trong đó đã có 33 tỉnh hoàn thành việc công tác điều tra, tổng hợp nhu cầu học nghề và đã xác định được các danh mục trên 600 nghề có nhu câu.Các tỉnh/ thành phố đã thực hiện tập trung chỉ đạo việc thành lập mới trung tâm dạy nghề cấp huyện, tổ chức dạy nghề cho lao động nông thồn theo chính sách và yêu cầu của Quyết định 1956 - /QĐ – TTg

- Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm giai đoạn 2012 – 2015 ( số 1201 QĐ/TTg) 3

Mục tiêu của Chương trình: Hỗ trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động và phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là ở khu vực nông thôn giai đoạn 2012-2015

Mục tiêu cụ thể:

Hỗ trợ phát triển đồng bộ 130 nghề trọng điểm ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế, hình thành 26 trường chất lượng cao (trong đó 5 trường đạt đẳng cấp quốc tế); góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 40% vào năm 2015;

Nâng tỷ lệ lao động tìm việc làm qua hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm lên khoảng 30%;

Hỗ trợ đào tạo nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho 80 -

120 nghìn lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, lao động là người dân tộc thiểu số, lao động là thân nhân chủ yếu của gia đình chính sách người có công với cách mạng và lao động thuộc hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đi làm việc ở nước ngoài (không bao gồm lao động thuộc 62 huyện nghèo theo quy định tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009 - 2020); hỗ trợ

3 Quyết định số 1201/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012 - 2015

Trang 31

đào tạo lao động trình độ cao cho khoảng 5 nghìn lao động đáp ứng yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; 60% lao động được đào tạo nghề, 100% lao động được bồi dưỡng kiến thức cần thiết trước khi đi làm việc ở nước ngoài;

Hỗ trợ tạo việc làm cho 0,7 - 0,8 triệu lao động thông qua các dự án vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm;

Tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và nghiên cứu khảo sát kinh nghiệm nước ngoài cho khoảng 20 nghìn lượt cán bộ làm công tác lao động, việc làm và dạy nghề từ Trung ương đến địa phương

- Chương trình mục tiêu giáo dục nghề nghiệp – việc làm 2017 – 2020 (số 899/QĐ – TTg) 4

Dự án : “Phát triển thị trường lao động và việc làm”

a) Mục tiêu của Dự án:

Mục tiêu chung: Thúc đẩy phát triển thị trường lao động; nâng cao hiệu

quả kết nối cung - cầu lao động; hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật, người dân tộc thiểu số; hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, lập nghiệp, góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Mục tiêu cụ thể:

- Tư vấn việc làm và học nghề để 45% đến 50% số người lao động đến các Trung tâm dịch vụ việc làm được giới thiệu tìm việc làm và 70% trong số

đó có kết nối việc làm thành công

- Hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo về khởi sự doanh nghiệp cho 10.000 thanh niên

- Hỗ trợ tìm việc làm cho 25.000 lượt thanh niên; 7.500 lượt người khuyết tật, 7.500 lượt người dân tộc thiểu số

- Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm cho 10.000 lượt người lao động

di cư

4 Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016 – 2020 – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Trang 32

b) Phạm vi, đối tượng thực hiện:

* Phạm vi: Dự án được thực hiện trên phạm vi toàn quốc

* Đối tượng: Các bộ, ngành, địa phương, đơn vị được giao nhiệm vụ để thực hiện các hoạt động của dự án

c) Các nội dung chủ yếu

* Nâng cao năng lực hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho tối đa 25 Trung tâm dịch vụ việc làm (trong đó, 21 Trung tâm thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, 04 Trung tâm của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh)

- Hỗ trợ đầu tư xây dựng 21 Trung tâm dịch vụ việc làm ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: Hỗ trợ đầu tư xây mới; nâng cấp, cải tạo, sửa chữa, mở rộng và mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động giao dịch, lưu trữ, phân tích, phổ biến thông tin thị trường lao động của các Trung tâm dịch vụ việc làm theo hướng chuyên nghiệp, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ: Tư vấn việc làm, học nghề và chính sách có liên quan, giới thiệu việc làm, tuyển dụng và cung ứng lao động; thu thập, xử lý và cung cấp thông tin thị trường lao động; thực hiện các hoạt động sự nghiệp về bảo hiểm thất nghiệp; dự báo biến động của thị trường lao động; đào tạo theo quy định của pháp luật

- Hỗ trợ đầu tư 04 Trung tâm thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chuyển tiếp từ giai đoạn 2011 - 2015 (Trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm Cần Thơ, Quảng Bình, Quảng Ninh, Thành phố Hà Nội): Đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị để thực hiện tốt hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm thanh niên; phục vụ điều hành tác nghiệp, chuyên môn của Trung tâm

* Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động:

Hỗ trợ hoạt động giao dịch việc làm: Hỗ trợ cho các trung tâm dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Sàn giao dịch

Trang 33

việc làm, hội chợ việc làm, trong đó tập trung cho các địa phương có Sàn giao dịch việc làm và các địa phương tổ chức Hội chợ việc làm

Thu thập, cập nhật, quản lý và phân tích, dự báo thị trường lao động: + Thu thập, cập nhật, quản lý cung - cầu lao động: Điều tra, khảo sát, xây dựng cập nhật cơ sở dữ liệu thị trường lao động; Cung cấp nguồn thông tin phục vụ đánh giá thực trạng tuyển dụng, sử dụng lao động, việc làm trong các doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý, tổ chức thực hiện các chính sách lao động - việc làm, chính sách phát triển thị trường lao động và chính sách về bảo hiểm thất nghiệp

+ Phân tích, dự báo thị trường lao động, đánh giá tác động của các yếu

tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường lao động, dự báo thị trường nhằm hoạch định chính sách phát triển thị trường lao động; Cung cấp thông tin phục vụ cho công tác dự báo nhu cầu lao động của cả nước phục vụ công tác hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực, hướng nghiệp,

Phát triển mạng thông tin việc làm, cơ sở dữ liệu người tim việc, việc tìm người của các Trung tâm dịch vụ việc làm và của cả hệ thống dịch vụ việc làm

Nâng cao năng lực trung tâm tích hợp dữ liệu thị trường lao động, bao gồm:

+ Nâng cấp, phát triển mạng thông tin internet việc làm: Nâng cấp, phát triển mạng thông tin internet việc làm nội bộ ESS tại từng trung tâm dịch vụ việc làm để thống nhất quản lý, điều hành các hoạt động của Trung tâm (tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề, bảo hiểm thất nghiệp, sàn giao dịch việc làm ) Nâng cấp, phát triển cơ sở dữ liệu việc làm trống, người tìm việc

+ Nâng cấp cổng thông tin việc làm Việt Nam kết nối với hệ thống phần mềm ESS để cung cấp các thông tin về việc làm, thông tin về nhu cầu tuyển dụng, nhu cầu tìm việc trên toàn quốc thông qua mạng Internet, giúp các đối tượng có nhu cầu dễ dàng tiếp cận hơn về thông tin việc làm

Trang 34

Xây dựng hệ thống mạng kết nối các Trung tâm dịch vụ việc làm địa phương và trung ương phục vụ công tác quản lý, điều hành và cung cấp thông tin thị trường lao động cho người sử dụng lao động và người lao động

* Hỗ trợ lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, các khu công nghiệp

và lao động vùng biên

Khảo sát tình hình lao động di cư tại các tỉnh, thành phố, vùng kinh tế trọng điểm có đông lao động di cư đến và các địa phương có đông lao động di

cư đi; Khảo sát tình hình lao động di cư tại các tỉnh giáp biên giới

Hỗ trợ lao động di cư tại Trung tâm dịch vụ việc làm:

+ Tư vấn, cung cấp thông tin lao động, việc làm;

+ Tư vấn nghề nghiệp, giới thiệu việc làm;

+ Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn các kỹ năng tìm việc, làm việc

* Hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, phụ nữ nghèo nông thôn

Định hướng nghề nghiệp cho học sinh các trường trung học phổ thông; thanh niên đang học tại các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp:

+ Thông tin, tư vấn về định hướng nghề nghiệp cho thanh niên;

+ Tổ chức các hoạt động hướng nghiệp trong các trường; kết hợp hoạt động hướng nghiệp với giáo dục nghề nghiệp trong các cơ sở đào tạo;

+ Xây dựng các tài liệu hỗ trợ hoạt động định hướng nghề nghiệp cho học sinh

Hỗ trợ thanh niên khởi sự doanh nghiệp:

+ Tổ chức các khóa đào tạo tư vấn, khởi sự doanh nghiệp (cung cấp kiến thức, các quy định pháp luật về thành lập doanh nghiệp, );

+ Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho thanh niên (đào tạo kỹ năng quản trị doanh nghiệp, kiến thức kế toán tổng hợp );

Trang 35

+ Xây dựng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp

Hỗ trợ tìm việc làm cho thanh niên đã tốt nghiệp các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật:

+ Định hướng, tư vấn việc làm, nghề nghiệp cho người lao động;

+ Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng làm việc, kỹ năng tìm việc;

+ Tổ chức các khóa đào tạo, tham quan, làm việc tại doanh nghiệp, tổ chức; + Giới thiệu việc làm

* Nâng cao năng lực, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện dự án

Nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý nhà nước về việc làm và cán

bộ làm công tác dịch vụ việc làm

+ Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng tư vấn, giới thiệu việc làm và kỹ năng thu thập, phân tích thông tin và dự báo thị trường lao động trong và ngoài nước về việc làm

+ Xây dựng các tài liệu nghiệp vụ phục vụ cán bộ dịch vụ việc làm (Sổ tay nghiệp vụ dịch vụ việc làm và các tài liệu khác)

Truyền thông, nâng cao nhận thức

+ Tuyên truyền, đăng tải, phổ biến, cung cấp thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về lao động - việc làm, trong đó tập trung tuyên truyền về chính sách việc làm cho các đối tượng lao động di cư, lao động vùng biên cũng như đối với các đối tượng lao động đặc thù (thanh niên, người khuyết tật, dân tộc thiểu số )

+ Tổ chức hội nghị, hội thảo tuyên truyền theo các chuyên đề liên quan đến lĩnh vực việc làm, thị trường lao động

+ Xây dựng và phát hành các bộ tài liệu, ấn phẩm, sách, phụ san, tờ rơi, phim tài liệu, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu liên quan đến lĩnh vực việc làm tuyên truyền các thông tin liên quan đến lĩnh vực việc làm và thị trường lao động

Trang 36

Nâng cao năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá Dự án

+ Xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát và đánh giá Dự án; xây dựng

hệ thống các biểu mẫu báo cáo, cơ chế thu thập thông tin, nội dung, cơ chế báo cáo; cách thức sử dụng thông tin của hệ thống giám sát và đánh giá cho quản lý và tổ chức thực hiện;

+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các nội dung hoạt động định kỳ, hằng năm hoặc đột xuất;

+ Tổ chức các Hội nghị triển khai công việc, sơ kết, tổng kết đánh giá

Dự án

1.3.2.Đặc điểm địa bàn nghiên của phường Kim Giang, quận Thanh Xuân và xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì

Đặc điểm địa bàn phường Kim Giang quận Thanh Xuân

Hình ảnh: Sơ đồ địa bàn phường Kim Giang – quận Thanh Xuân

Trang 37

Phường Kim Giang được thành lập tháng 10 năm 1982, có diện tích 22,04

ha, phía Tây Bắc giáp phường Hạ Đình, Đông Bắc giáp phường Khương Đình, Đông Nam giáp phường Đại Kim (quận Hoàng Mai), Tây Nam giáp xã Tân Triều (huyện Thanh Trì) Cơ cấu dân số 10.611 người với 2.330 hộ dân Phường được chia làm 6 khu dân cư và 16 tổ dân phố; địa bàn phường có 4 trường học trong đó có 2 trường Mầm non, 1 trường Tiểu học và 1 trường THCS.Vì diện tích của địa bàn phường Kim Giang nhỏ nên tỉ lệ dân số tại phường cũng nhỏ nhất so với các phường khác trên địa bàn quận Thanh Xuân.Chính vì vậy đa số người dân trên địa bàn phường tập trung là Cán bộ công nhân viên chức hoặc những hộ gia đình buôn bán nhỏ lẻ tự phát chứ không có ngành nghề truyền thống gì trên địa bàn.Phường Kim Giang cũng tiếp giáp ngay sau lưng là những nhà máy lớn như Giầy Thượng đình, Khu công nghiệp Cao su – Xà Phòng – Thuốc lá, cũng giúp cho tỉ lệ người dân có được việc làm và giải phóng tỉ lệ khá lớn nguồn nhân lực thất nghiệp tại phường Kim Giang và các phường khác lân cận thuộc địa bàn quận Thanh Xuân

Địa bàn phường Kim Giang thuộc vùng nội đô, chính vì vậy sự tiếp xúc của người dân tại đây luôn được cập nhật những tình hình mới nhất, hơn nữa địa bàn thuộc khu vực cạnh những trường Đại học lớn như Đại học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chính vì vậy tri thức của người dân cũng được cao hơn.Hơn thế nữa tại địa bàn Quận Thanh xuân có trung tâm giáo dục thường xuyên – trung tâm đào tạo nghề chung của các phường trên địa bàn quận, ngay gần phương Kim giang thuận tiện cho người lao động có nhu cầu học nghề và đạo tạo nghề cho bản thân.Hơn thế nữa vì phường thuộc vùng nội đô nên việc người dân lao động có thể dễ dàng tìm kiếm cho bản thân mình một công việc phù hợp và mức lương ổn định cho mình để trang trải cuộc sống , những người dân trí thức với những gì đã được tích lũy từ nhà trường nên khi ra Trường nhờ những mối quan hệ thân thiết từ bạn bè hay người thân hoặc thông tin tuyển dụng được đăng tải tràn lan để tìm kiếm cho mình công việc phù hợp với mình

Trang 38

Đặc điểm địa bàn xã Tân Triều huyện Thanh Trì

Hình ảnh: Sơ đồ địa bàn xã Tân Triều – huyện Thanh Trì

Xã Tân triều nằm ở bên cạnh quận Thanh Xuân, thuộc khu vực nội thành Hà Nội, một khu công nghiệp được thành lập từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước nhưng mới chỉ được đô thị hóa trong thời kỳ Đổi mới.Trước những năm 90 khu này vẫn thuộc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội.Vị trí ven đô của Tân Triều cho thấy lợi thế đặc biệt của nó khi nó có thể tham gia vào sự phân công lao động trên địa bàn thành phố

Sự biến đổi nghề nghiệp: Do sự chật hẹp của đất nông nghiệp nên cơ cấu kinh tế của xã Tân Triều từ lâu đã hướng tập trung vào các nghề thủ công hay các nghề phi nông như dệt khăn mặt, dệt và thêu các loại cờ thưởng và huân chương để bán cho thị trường hoặc phục vụ theo đơn đặt hàng của Nhà nước, nghề thu gom phế liệu rất đặc trưng bởi mặt hàng chổi lông gà của làng Triều khúc nổi tiếng trên cả nước và mặt hàng thuốc nam của làng Yên Xá.Sản phẩm của làng nghề Tân Triều ngày nay đã được hình thành các nhóm nghề sau:

Trang 39

Nghề dệt: Nghề này đã được hình thành từ hàng trăm năm trước.Vào những năm 60, nghề này sản xuất hoàn toàn bằng thủ công với các thiết bị công cụ từ khung tre, gỗ nay đã được thay thế bằng các thiết bị máy móc bán

tự động hoặc tự động hóa.Hiện nay đã hình thành 17 công ty tư nhân, HTX và

30 hộ chuyên với 1000 lao đông tham gia sản xuất nghề này

Nghề xe tơ, sợi: Hiện nay đã có 12 công ty và 3 doanh nghiệp lớn và hơn 30 hộ chuyên với hơn 300 lao động tham gia sản xuất.Sản phẩm chính gồm: chỉ khâu chỉ thêu, sợi tơ tằm, sợi vải, sợ thảm.Hầu hết các mặt hàng sợ

tơ cung cấp cho ngành dệt may và xuất khẩu sang các thị trường xung quanh như Lào và Trung Quốc

Nghề thu gom, tái chế phế liệu: Nghề này hiện đang thu hút khoảng

180 hộ và 1000 lao động tham gia.sản phẩm chính gồm: nhưa mềm, nhưa cứng, mắc áo, dây đồng nhom, và tất cả các sản phẩm đã qua sử dụng.Hiện nay ngành nghề này đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tuy nhiên vẫn duy trì và tồn tai vì nó đã tạo hàng nghin lao động có việc làm và thu nhâp ổn định cho địa phương

Nhờ vào vị trí địa lý tiếp giáp với khu vực nội đô của thành phố Hà Nội nên dân cư làng Trièu khúc có thể trnh thủ những lợi thế của vùng tiếp giáp ranh giới đô thị để đa dạng hóa và phi nông hóa các hoạt động kinh tế mà không phải rời nơi mình sinh sống như các vùng xa đô thị khác để tìm kiếm công việc và tìm kiếm cơ may để thay đổi cuộc sống nơi thành phố.Tân triều nằm sát khu vực nội thành nên có quan hệ thường xuyên vói các khu công nghiệp và dân cư nội thành xung quanh nó.Như các nhà máy thuộc khu Cao –

xà – Lá, khu công nghiệp giày Thượng đình.Đây cũng là khu tập trung nhiều các trường đại học lớn như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Hà Nội, các trường Cao Đẳng và trung cấp dạy nghề ở quận Thanh Xuân, chính vì có sự tiếp giáp đó với môi trường đô thị bên ngoài nên đã đem lại cho người dân ở đây những cơ hội tham gia vào quá

Trang 40

trình đô thị hóa sớm và cũng không quá khó khăn cho người dân trong vấn đề tìm kiếm việc làm

Có thể thấy 2 địa bàn phường Kim Giang và xã Tân Triều thuộc địa bàn nghiên cứu có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho người dân, họ được tiếp xúc văn hóa và cập nhật những thông tin nhanh nhất sớm nhất so với những vùng nông thôn, Xã Tân Triều thuộc một trong những xã có làng nghề truyền thống lâu năm nên luôn đảm bảo kinh tế và công việc cho người lao động, hiện nay chất lượng cuộc sống trên địa bàn được đánh giá là trung bình khá còn phường Kim Giang tuy là một phường nhỏ thuộc quận Thanh xuân nhưng mức sống của người dân khu vực này cũng ổn định, tỉ lệ người lao động thất nghiệp hầu như không có hoặc rất thấp, hoặc đối với những lao động thất nghiệp họ có rất nhiều cách để tự tạo cho mình một công việc để tạo ra thu nhập hàng ngày trang trải cuộc sống.Chính vì vậy tại hai địa bàn trên chính quyền địa phương đều không phải lo lắng về vấn đề tỉ lệ người lao động thất nghiệp chiếm tỉ lệ cao mà thay vào đó họ sẽ chuyển sang hướng làm thế nào tọacho người dân tại địa bàn sẽ có những công việc và ngành nghề mang tính chất ổn định – phát triển chứ không phải công việc chỉ đủ kiếm thu nhập cho cuộc sống hàng ngày

Ngày đăng: 22/09/2020, 20:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w