Thông qua báo cáo của Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, báo cáo kiểm toán, quyết toán tài chính, phương án phân phối lợi nhuận, chia lợi tức cổ phần, quyết
Trang 1THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NHÂN LỰC TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI TẬP ĐOÀN
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần dịch vụ thương mại Tập Đoàn.
2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty.
Công ty cổ phần Dịch vụ Thương Mại Tập Đoàn được thành lập ngày 24 tháng 07 năm 2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Phòng
Tên giao dịch của công ty là : Công ty cổ phần Dịch vụ Thương Mại Tập ĐoànTên viết bằng tiếng Anh : GROUP SERVICE TRADING JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: GST
Số dăng ký kinh doanh : 0203003322 do Phòng Đăng ký kinh doanh -Sở
Kế hoạch và Đầu tư Hải phòng cấp ngày 24 tháng 7 năm 2007
Địa chỉ: Số 18/262 , Phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.Điện thoại giao dịch: (0313)717091
Tỷ lệ góp vốn ( %)
( Nguồn : phòng hành chính tổng hợp )
• Để mở rộng thị trường kinh doanh của công ty thì công ty đã thành lập Văn
Trang 2phòng đại diện cho công ty tại địa bàn thành phố Hải Phòng.
*Văn phòng đại diện Công ty Dịch vụ Thương Mại Tập Đoàn được thành lập ngày 17 tháng 12 năm 2007, hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp Công ty cổ phần Dịch vụ Thương Mại Tập Đoàn
Tên giao dịch là: Văn phòng đại diện Công ty Dịch vụ Thương Mại Tập Đoàn.Địa chỉ văn phòng đại diện: 22/14 Cầu Đất - Ngô Quyền - Hải Phòng.Điện thoại: (0313)201518
Email: Haphan_114@yahoo.com
Số đăng ký kinh doanh: 0203003322
Nội dung hoạt động: Giao dịch với khách hàng theo ủy quyền của công ty
2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty.
- Dịch vụ xuất nhập khẩu, ủy thác xuất nhập khẩu, ký gửi hàng
- Hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tour du lịch và các dịch
vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch
- Vận tải hành khách bằng xe khách nội tỉnh, ngoại tỉnh
- Vận tải hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy
- Tổ chức, giới thiệu và xúc tiến thương mại
- Tổ chức các sự kiện, hội chợ, triển lãm, hội thảo, diễn đàn
Trang 32.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.1 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty.
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
2.1.3.2 Nhiệm vụ cụ thể của từng phòng ban trong công ty.
* Đại hội đồng cổ đông : Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty Đại
hội đồng cổ đông có quyền và nhiệm vụ chủ yếu như sau : Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị Thông qua báo cáo của Hội đồng quản trị về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, báo cáo kiểm toán, quyết toán tài chính, phương án phân phối lợi nhuận, chia lợi tức cổ phần, quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và điều hành của công ty, quỹ lương và thù lao cho thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát
* Hội đồng quản trị:
Thực hiện các chức năng lãnh đạo, quản lý và kiểm tra giám sát hoạt động của công ty, Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông công ty bầu ra, có quyền nhân danh công ty để giải quyết, quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty
* Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát là tổ chức do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát
BAN KIỂM SOÁT ĐẠI HỘI ĐỒNG
CỔ ĐÔNG
Phòng hành chính tổng hợp
Phòng tài chính kế toán
Bộ phận vận tải
Bộ phận xuất nhập khẩu
Bộ phận
kinh
doanh lữ
hành
Trang 4giúp Đại hội đồng cổ đông thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của giám đốc, bộ máy giúp việc và các đơn vị thành viên công ty trong hoạt động tài chính, chấp hành pháp luật của nhà nước.
Ban kiểm soát phải báo cáo với Đại hội đồng cổ đông theo định kỳ hàng quý, hàng năm và theo vụ việc về kết quả kiểm tra, giám sát của mình, kịp thời phát hiện và báo cáo ngay cho Đại hội đồng cổ đông về những hoạt động không bình thường, có dấu hiệu phạm pháp trong công ty Không được tiết lộ kết quả kiểm tra, giám sát của mình khi chưa được Đại hội đồng cổ đông cho phép, phải chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông và pháp luật nếu cố ý bỏ qua hoặc bao che những hành vi vi phạm pháp luật
* Ban giám đốc:
Giám đốc được bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo quyết
định của Hội đồng quản trị Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc điều hành hoạt động của công ty Giám đốc quy định cơ cấu tổ chức bộ máy, nhiệm vụ cụ thể, quyền hạn, mối quan hệ của các đơn vị trực thuộc công ty Đồng thời thực hiện chính sách đối với cán bộ, công nhân viên chức của công ty theo quy định hiện hành của nhà nước
Phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, điều hành một số lĩnh
vực hoạt động của công ty theo phân công hoặc ủy quyền của giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được giám đốc phân công hoặc ủy quyền thực hiện
* Phòng tổ chức hành chính tổng hợp:
Có chức năng giúp ban lãnh đạo về chỉ huy, phân cấp việc tuyển chọn, thuê mướn, bố trí, sử dụng, đào tạo lao động, lựa chon các hình thức trả lương, thưởng, thực hiện các quyền khác của người sử dụng lao động theo quy định của bộ luật lao động và các quy định khác của pháp luật Quyết định các mức lương thưởng cho người lao động trên cơ sở các đơn giá tiền lương trên đơn vị sản phẩm, chi phí dịch vụ và hiệu quả lao động của toàn công ty
Trang 5Tổ chức hướng dẫn thi hành các chế độ chính sách liên quan tới chế
độ, quyền lợi người lao động Đề xuất các biện pháp bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần người lao động, đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ cho người lao động Kiến nghị khen thưởng kỉ luật CBCNV vi phạm nếu có
Tham mưu cho giám đốc xây dựng mô hình tổ chức và quản lý doanh nghiệp, quy hoạch cán bộ
Quản lý hồ sơ nhân sự trong toàn doanh nghiệp, cũng như các văn bản, giấy tờ khác có liên quan tới doanh nghiệp
* Phòng tài chính kế toán:
Tổ chức thực hiện các công việc tài chính kế toán của công ty như : Theo dõi, ghi chép chi tiêu của công ty theo đúng hệ thống tài khoản và chế độ kế toán của nhà nước , theo dõi và phản ánh tình hình sử dụng vốn, tài sản của công ty
Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ kịp thời phản ánh những thay đổi để lãnh đạo có biện pháp xử lý kịp thời
* Bộ phận xuất nhập khẩu: thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu, với chức năng nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu theo giấy phép đăng ký kinh doanh
2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2008.
Bảng 2: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2008
Đơn vị: nghìn đồng
Trang 61 Doanh thu bán hàng và cung cấp
3 Doanh thu thuần về bán hàng và
10 Lợi nhuận trước thuế từ hoạt
17 Lãi cơ bản trên cổ phiếu 60
Trang 7Tuy vậy công ty cũng đã rất cố gắng tiếp cận với khách hàng nên công ty
đã ký kết được khá nhiều hợp đồng với khách hàng, những hợp đồng này không lớn nhưng giúp cho công ty có được những bạn hàng quen thuộc, mở rộng được các mối quan hệ
Trong thời gian tới, công ty cần phải điều chỉnh lại phương thức kinh doanh cũng như cải tiến hoàn thiện lại cách thức kinh doanh để công ty hoạt động đạt hiệu quả cao hơn nữa
Bảng 3 : Doanh thu 3 bộ phận của công ty năm 2008.
Đơn vị : nghìn đồng
NămChỉ tiêu
6 tháng đầu năm
6 tháng cuối năm
Cuối năm / Đầu năm
%Doanh thu lữ hành 2.386.400 1.635.000 -751.400 -31,49
Qua biểu trên nhìn chung doanh thu của công ty ở 6 tháng cuối năm giảm
so với 6 tháng đầu năm 6 tháng đầu năm doanh thu đạt được là 6.306.200 nghìn đồng, 6 tháng cuối năm là 5.229.800 nghìn đồng, giảm 1.076.400 nghìn đồng tương ứng với tỉ lệ giảm là 17,07 % Đi sâu vào từng bộ phận ta thấy, tỉ lệ giảm của bộ phận kinh doanh lữ hành là lớn nhất, điều này chứng tỏ tính thời vụ trong du lịch có ảnh hưởng rất lớn đối với công ty 6 tháng đầu năm thường
Trang 8đúng vào mùa lễ hội và mùa hè nên lượng khách của công ty lớn, do đó doanh thu đạt được cũng lớn Còn 6 tháng cuối năm lượng khách của công ty giảm hẳn bởi không vào chính vụ của ngành du lịch Doanh thu lữ hành 6 tháng đầu năm
là 2.386.400 nghìn đồng, thì 6 tháng cuối năm chỉ có 1.635.000 nghìn đồng, giảm 751.400 nghìn đồng tương ứng với tỉ lệ giảm là 31,49 % Ở bộ phận xuất nhập khẩu doanh thu 6 tháng cuối năm cũng giảm là 220.400 nghìn đồng tương ứng với tỉ lệ giảm là 23,4 % Có thể nói sự sụt giảm ở bộ phận xuất nhập khẩu
do chịu tác động của cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu, vào những tháng cuối năm khủng hoảng kinh tế tác động mạnh mẽ tới tất cả các doanh nghiệp ở Việt Nam Và việc xuất khẩu hàng hóa của công ty cũng bị ngưng trệ, hoạt động kém hiệu quả Bên cạnh đó thì doanh thu của bộ phận vận tải lại có sự gia tăng đôi chút, với doanh thu 6 tháng đầu năm là 2.86.350 nghìn đồng, 6 tháng cuối năm là 2.991.350 nghìn đồng, tăng 125.000 nghìn đồng tương ứng với tỉ lệ tăng
là 4,36 % Để đạt được kết qua cao hơn nữa trong kinh doanh thì công ty cần có những chính sách nhằm tăng doanh thu của các bộ phận vào những tháng cuối năm
2.2 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực của công ty cổ phần dịch vụ thương mại Tập Đoàn.
2.2.1 Tổng hợp số lượng lao động và cơ cấu lao động.
Bảng 4 : Cơ cấu nhân lực của công ty năm 2007 – 2008.
STT
Các bộ phận
Số lượng người Tỉ trọngNăm 2007 Năm 2008 tuyệt đối %
Trang 9ty là 31 người, năm 2008 là 32 người chỉ tăng 3,22 %, số lượng lao của toàn công ty nhìn chung không có biến động nhiều nhưng đi sâu vào tình hình cụ thể từng bộ phần ta thấy rõ sự thay đổi Bộ phận kinh doanh lữ hành năm 2007 là 7 người thì năm 2008 là 11 người tăng 57,14 % Bộ phận kinh doanh xuất nhập khẩu năm 2007 là 6 người, năm 2008 giảm 2 người còn 4 người tương ứng với
tỉ lệ giảm là 33,33 % Phòng tổ chức tài chính kế toán năm 2007 là 3 nhân viên, năm 2008 giảm đi 1 người, tương ứng với tỉ lệ giảm là 33,33 %
Sự thay đổi về số lượng lao động ở mỗi bộ phận thay đổi có thể giải thích bởi lý do sau : Công ty cổ phần dịch vụ thương mại Tập Đoàn là công ty mới thành lập, hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đi vào quỹ đạo ổn định, nên cán
bộ nhân viên giữa các bộ phận chưa được sắp xếp một cách hợp lý, cách thức tổ chức điều động nhân viên của công ty cũng chưa có kinh nghiệm Mặt khác vào cuối năm 2008 công ty cũng chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, việc kinh doanh của công ty cũng gặp khó khăn, đặc biệt là đối với bộ phận kinh doanh xuất nhập khẩu, việc xuất nhập khẩu hàng hoá của công ty dường như bị ngưng trệ, hoạt động kém hiệu quả Nhưng bên cạnh đó thì lĩnh vực kinh doanh lữ hành và kinh doanh vận tải của công ty lại là thế mạnh mặc
dù vẫn chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
2.2.2 Đánh giá chất lượng nhân lực của công ty cổ phần dịch vụ thương mại Tập Đoàn.
2.2.2.1 Đánh giá chất lượng lao động theo trình độ đào tạo.
Trang 10Để đánh giá và phân tích chất lượng nhân lực đang làm việc trong công ty thì trước hết thì chúng ta sẽ xem xét cơ cấu lao động của công ty theo trình độ đào tạo.
Từ số liệu thu thập được của năm 2007- 2008 ta có bảng cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo như sau:
Trang 11Bảng 5a : Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo của công ty
ty thuận lợi và phát triển hơn Chính vì vậy người lao động càng cần phải luôn luôn được nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp chuyên môn Để người lao động nói riêng và nguồn nhân lực của công ty nói chung đạt tới trình độ nhất định thì trước hết phải đào tạo nghề, nghiệp vụ cho người lao động và sau đó cần thiết phải nâng cao trình độ cho họ
Nhìn vào bảng trên ta thấy trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên đều đã được qua đào tạo Năm 2007 số lượng người trên đại học chiếm 6,45 % , năm 2008 thì chỉ tiêu này đã tăng lên và chiếm 9,37 % trong tổng số lao động và tỉ
lệ này tập chung chủ yếu ở ban giám đốc Số người tốt nghiệp đại học trong năm
2007 là 12 người chiếm 38,71 % và năm 2008 số người tốt nghiệp đại học đã có
sự giă tăng đáng kể 16 người chiếm 50 % Đây là một tỉ lệ đáng mừng đối với một công ty vừa mới thành lập, mặt khác do sức ép của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp kinh doanh cùng ngành nghề , thì một
Trang 12công ty mới ra đời, còn non trẻ, để tồn tại và phát triển được thì cần phải có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
Về trình độ cao đẳng năm 2007 là 12 người chiếm 25.81 %, năm 2008 chỉ có 6 người chiếm 18,75 %, trình độ trung cấp năm 2007 là 6 nhân viên chiếm 19,35 %, năm 2008 là 5 nhân viên chiếm 15,63 % Trình độ khác năm
2007 là 3 nhân viên chiếm 9.68 %, năm 2008 là 2 nhân viên chiếm 6.25% , số lượng nhân viên ở trình độ đào tạo khác chủ yếu tập trung ở tổ bảo vệ của công
ty Mặc dù số lượng nhân viên của công ty không có sự biến đối lớn nhưng trình độ đào tạo có sự thay đổi rõ rệt, số lượng nhân viên có trình độ đào tạo đại học và trên đại học có sự gia tăng còn trình độ đào tạo cao đẳng, trung cấp
và đào tạo khác giảm Điều này chứng tỏ cán bộ quản lý của công ty hết sức quan tâm đến trình độ nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên trong công ty, những con số biết nói về trình độ được đào tạo của nhân viên trong công ty là một điều hết sức thuận lợi cho công ty để công ty hoạt động kinh doanh có hiêu quả
Biểu 2 : Biểu đồ trình độ nhân lực của công ty.
Đơn vị: Người
Đối với một công ty kinh doanh đa ngành nghề như công ty cổ phần dịch
vụ thương mại Tập Đoàn thì phần lớn khi giao tiếp với khách hàng đòi hỏi phải
có trình độ ngoại ngữ và vi tính nhất là nhân viên ở bộ phận kinh doanh lữ hành
và bộ phận xuất nhập khẩu
Bảng 5b : Cơ cấu lao động theo trình độ ngoại ngữ và vi tính
năm 2007 – 2008.
Năm Chỉ tiêu
Trang 13ty vừa kinh doanh dịch vụ vừa kinh doanh thương mại Xem xét một cách chi tiết thì năm 2007 số cán bộ công nhân viên biết ngoại ngữ là 19 người chiếm 61,29 % Trong đó số người biết ngoại ngữ ở trình độ đại học là 7 người tương ứng với tỉ lệ là 22,58 %, trình độ A là 2 người chiếm 6,45 %, trình độ B có 6 người chiếm 19,36 %, trình độ C là 4 người chiếm 12,9 % Đến năm 2008 thì con
số cán bộ công nhân viên biết ngoại ngữ là 24 người chiếm tỉ lệ tới 75 % Trong
đó số người biết ngoại ngữ ở trình độ đại học có sự gia tăng với số lượng người là
9 người chiếm 28,13 %, tăng so với năm 2007 là 5,55 % số người ở trình độ A, trình độ B vẫn giữ nguyên số lượng người là 2 người và 6 người, tương ứng với tỉ
lệ là 6,45 % và 18,75 %, mặc dù số lượng người vẫn giữa nguyên nhưng tỉ lệ % thì giảm đôi chút, và số lượng nhân viên ở trình độ C cũng tăng, tương ứng với tỉ
lệ tăng là 8,97 % với số lượng người là 7 người chiếm 21,87%
Biểu 3 : Biểu đồ so sánh trình độ ngoại ngữ
Đơn vị: Người
Về trình độ vi tính số lượng người biết sử dụng vi tính trong năm 2007 là
11 người chiếm 35,48 %, đến năm 2008 thì tỉ lệ này tăng lên đang kể là 17 người chiếm 53,13% Để có sự thay đổi này là do công ty đã khuyến khích người lao động học thêm vi tính để áp dụng được yêu cầu của công việc cao hơn nữa và có thể thăng tiến bản thân, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nhân
Trang 14lực và tăng khả năng phát triển lên một tầm cao mới phù hợp với xu thế thời đại – xu thế tin học và ngoại ngữ Theo xu thế này thì trong những năm tiếp theo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ có những khởi sắc đáng kể.
2.2.2.2 Đánh giá cơ cấu lao động theo độ tuổi và giới tính
Khi một đối tượng muốn quan tâm tới sự tồn tại và phát triển của một công ty thì tiêu thức về độ tuổi và kết cấu độ tuổi, giới tính lao động trong công
ty cũng được lưu ý đến Đặc biệt là những người lãnh đạo trong công ty là những chỉ đạo chủ chốt, chính vì vậy độ tuổi và giới tính cũng rất quan trọng Những người lãnh đạo không nên có độ tuổi quá trẻ vì ở độ tuổi này người lãnh đạo sẽ thiếu tự tin, thiếu kinh nghiệm, dễ đưa ra những quyết định thiếu chính xác gây ra hậu quả nghiêm trọng cho công ty Người lãnh đạo phải là những người có kinh nghiệm, đã từng đối mặt với những khó khăn và thách thức trong kinh doanh, linh hoạt trong quá trình giải quyết những vấn đề phát sinh phức tạp Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì kết cấu lao động không nên có độ tuổi quá cao, mà phải có đội ngũ lao động trẻ có trình độ có chuyên môn nghiệp
vụ, năng động trong công việc Vì vậy kết cấu lao động theo gới tính và độ tuổi cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của công ty
Ngoài ra việc đánh giá lao động theo độ tuổi và giới tính còn có ý nghĩa quan trọng, qua đó để xác định phân công công việc cho phù hợp với từng độ tuổi Dựa vào việc đánh giá sẽ có một tư liệu cung cấp cho người quản lý công
ty biết thực trạng về độ tuổi lao động toàn công ty để từ đó có biện pháp tăng, giảm, nhằm sử dụng lao động có hiệu quả và tạo điều kiện cho công ty hoạt động tốt
Bảng 6 : Cơ cấu lao động theo giới tính và độ tuổi của công ty
năm 2007 – 2008.
STT
NămChỉ tiêu
Trang 15Qua bảng đánh giá lao động theo giới tính và độ tuổi ở trên ta thấy rằng
số lượng lao động nam trong 2 năm 2007 – 2008 nhiều hơn so với lao động nữ,
cụ thể là trong năm 2007 số lao đông nữ chiếm 30,71 % tương ứng với 12 trên tống số lao động, số lao động nam chiếm 61,29 % tương ứng với 19 người trên tổng số lao động Năm 2008 số lao động nữ là 15 người chiếm 46,88 % trong tổng số lao động, lao động nam là 17 người chiếm 53,12% trong tổng số lao động Như vậy hiện nay số lao đông nam hơn số lao động nữ là 6,24 % trong khi đó năm 2007 số lao động nam hơn số lao động nữ là 30,58 % Đây là một tỉ
lệ tương đối phù hợp bởi trong lĩnh vực kinh doanh của công ty có bộ phận vận tải đòi hỏi phải là lao động nam Điều này chứng tỏ, hiện nay công ty bố trí cán
bộ công nhân viên như vậy là hợp lý, phù hợp với đặc điểm sinh lý và khả năng lao động của mọi người và phù hợp với loại hình kinh doanh của công ty Nhưng do sự biến động không ngừng của thị trường đòi hỏi công ty phải tìm ra những giải pháp tối ưu hơn nữa đối với vấn đề lao động cho công ty để đạt được hiệu quả trong kinh doanh
Biểu 4 : Biểu đồ so sánh cơ cấu lao động theo giới tính của công ty.
Đơn vị : người
Về độ tuổi : Nhìn tổng quát biểu 6 ta thấy độ tuổi cán bộ công nhân viên
trong công ty thực sự trẻ
Trang 16Độ tuổi từ 18 đến 25 của công ty trong năm 2007 chiếm 41,94 % tương ứng với 13 người trên tổng số lao động, số lao động ở độ tuổi từ 25 đến 40 chiếm 48,39 % tương ứng với 15 người trên tổng số lao động, độ tuổi này tập trung chủ yếu là những lao động ở bộ phận vận tải, đây là bộ phận đòi hỏi những lao động có nhiều kinh nghiệm vì yêu cầu của công việc lao động ở độ tuổi trên 40 chiếm 9,67 % tương ứng với 3 người, độ tuổi này tập trung ở chủ yếu ở ban quản lý của công ty Và năm 2008 thì độ tuổi lao động của công ty cũng không có sự thay đổi lớn Ở độ tuổi từ 18 đến 25 và trên 40 thì vẫn giữa nguyên số lượng người là 13 người và 3 người, còn độ tuổi từ 25 đến 40 tăng thêm 1 người là 16 người chiếm 50 % trong tổng số lao động Điều này cho thấy công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên đầy sức sáng tạo, năng động, nhạy bén nắm bắt được những biến động và hòa nhập vào nền kinh tế thị trường.
Biểu 5 : Biểu đồ so sánh cơ cấu lao động theo độ tuổi của công ty.
2.2.2.3 Đánh giá công tác đào tạo của công ty.
Như chúng ta đã phân tích về trình độ đã được đào tạo của cán bộ công nhân viên trong công ty ở mục 2.2.2.1 và đưa ra nhận định rằng trình độ đã được đào tạo của cán bộ công nhân viên là khá cao Song không phải dừng ở đó, công tác đào tạo và nâng cao nhận thức về kinh tế, thị trường, nâng cao về trình
độ tay nghề, ngoại ngữ vi tính luôn luôn được công ty quan tâm khuyến khích các cán bộ công nhân viên thực hiện
Hiện nay công ty vẫn đẩy mạnh công tác đào tạo, kết hợp nhiều biện pháp đào tạo như đào tạo tại chỗ, đào tạo ngắn hạn Đặc biệt là đối với đội ngũ quản
lý của công ty, công ty khuyến khích các công nhân viên trẻ có tay nghề hoặc đã
có một bằng đại học có thể học thêm một bằng đại học nữa để phù hợp với vị trí cao, phù hợp với chiến lược phát triển của công ty trong những năm tới