1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tạo việc làm để thoát nghèo tại các xã khu vực miền núi trên địa bàn huyện ba vì, thành phố hà nội

108 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 695,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu XĐGN là một phạm trù rộng, đã có nhiều nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn, có thể nêu tóm tắt: - Các công trình do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ:

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Thành

Trang 3

Hà Nội, 2015

Trang 4

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Thành, người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi về kiến thức cũng như phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên tại Ủy ban nhân dân Huyện Ba Vì, Phòng Thống kê Huyện Ba Vì, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Huyện Ba Vì, đã giúp tôi tìm hiểu thông tin, tiếp xúc số liệu thực tế

Tôi xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó!

Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2014

Học viên

Vũ Thị Thúy Lâm

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Mẫu khảo sát 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 9

7 Giả thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 9

9 Kết cấu của Luận văn 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 11

1.1 Lý luận về việc làm 11

1.1.1 Khái niệm và sự cần thiết của tạo việc làm cho người lao động 11

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm 24

1.2 Một số vấn đề lý luận về nghèo đói 26

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của nghèo đói 26

1.2.2 Thoát nghèo và ý nghĩa của xóa đói giảm nghèo 39

1.3 Vai trò của tạo việc làm đối với xóa đói giảm nghèo 42

1.3.1.Nâng cao thu nhập của người nghèo, giảm tỉ lệ nghèo 42

1.3.2 Giảm các chi phí cho công tác xóa đói giảm nghèo 43

1.3.3 Phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng nghèo 43

* Kết luận Chương 1 44

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ NGHÈO ĐÓI TẠI CÁC XÃ KHU VỰC MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 45

2.1 Tổng quan về huyện Ba Vì 45

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Ba Vì 45

2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Ba Vì 46

1

Trang 6

2.1.3 Các xã miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì 48

2.2 Thực trạng việc làm, tạo việc làm và nghèo đói tại các xã miền núi ở huyện Ba Vì 49

2.2.1 Thực trạng việc làm và tạo việc làm 49

2.2.2 Thực trạng nghèo đói 66

* Kết luận Chương 2 78

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM ĐỂ THOÁT NGHÈO TẠI CÁC XÃ KHU VỰC MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ 79

3.1 Các giải pháp chung 79

3.1.1 Đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh 79

3.1.2 Tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 84

3.2 Các giải pháp cụ thể 88

3.2.1 Phát triển mạnh mẽ chăn nuôi và trồng cây đặc sản 88

3.2.2 Phát triển làng nghề truyền thống 90

3.2.3 Đầu tư phát triển du lịch 93

3.2.4 Hỗ trợ xuất khẩu lao động 97

* Kết luận Chương 3 98

KẾT LUẬN 99

KHUYẾN NGHỊ 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 104

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CSHT : Cơ sở hạ tầng

BHYT : Bảo hiểm y tế

ILO : International Labour Organization

Tổ chức Lao động quốc tế

NLĐ : Người lao động

TVL : Tạo việc làm

XĐGN : Xóa đói giảm nghèo

XKLĐ : Xuất khẩu lao động

3

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình dân số của các xã miền núi năm 2012 50

Bảng 2.2 Tình hình lao động theo nhóm tuổi và giới tính của các xã miền núi năm 2013 50

Bảng 2.3 Tình hình nhân khẩu và lao động các xã Ba Vì, Ba Trại và Khánh Thượng năm 2012 51

Bảng 2.4 Chất lượng lao động tại các xã miền núi năm 2013 52

Bảng 2.5 Tình trạng việc làm tại các miền núi năm 2013 53

Bảng 2.6 Tình hình đất đai tại các xã miền núi năm 2012 56

Bảng 2.7 Năng suất cây trồng tại các xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng năm 2012 57

Bảng 2.8 Số lao động được tạo việc làm và giới thiệu việc làm của các xã miền núi năm 2013 60

Bảng 2.9 Số học viên tham gia các lớp đào tạo nghề của các xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng năm 2013 61

Bảng 2.10 Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các xã miền núi năm 2013.66 Bảng 2.11 Điều tra thu nhập hộ gia đình tại các xã các xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng năm năm 2012 67

Bảng 2.12 Số hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi tại các xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng năm 2012 70

Bảng 2.13 Kết quả tăng, giảm hộ nghèo tại các xã miền núi năm 2012 75

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, và Nhà nước, cuộc vận độngXĐGN ở nước ta đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia được các cấp, cácngành, các địa phương tích cực thực hiện và đạt được những kết quả thiết thực Đã cónhiều chính sách nhằm giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo được thực thi, tạo điềukiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội như: giáo dục, y tế, văn hóa, Quá trình hội nhập quốc tế, cùng với những thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam,trong những năm gần đây, cũng tạo điều kiện cho đời sống của nhân dân trong cả nướcđược cải thiện Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người dân ở khu vực miền núi,vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa đảm bảo được những điềukiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, đi lại… Chính vì vậy, sự phân hóa giàunghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ Nhiều địa phương trong cả nước, tỷ lệngười nghèo còn cao và gặp không ít khó khăn trong công tác XĐGN

TVL có tác động tích cực đến thoát nghèo Điều này càng có ý nghĩa hơn vớicác xã khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hànhnhiều chính sách TVL cho các đối tượng cụ thể, nhằm tạo động lực XĐGN một cáchhiệu quả Mặc dù vậy, vấn đề TVL còn tồn tại khá nhiều bất cập, nhất là tại các xã khuvực miền núi, vốn có tỷ lệ nghèo cao, điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn.Vấn đề đặt ra ở đây là tạo hệ thống việc làm phù hợp với điều kiện cụ thể của các địaphương, để người nghèo vươn lên thoát nghèo, làm giàu ngay trên quê hương mình

Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm về phía tây bắc thủ đô Hà Nội, cónhiều tiềm năng phát triển Về vấn đề XĐGN tại các xã miền núi, thành phố, huyện đãtập trung nhiều giải pháp TVL như: đào tạo nghề, cho người nghèo vay vốn, phổ biếnkiến thức chăn nuôi theo phương pháp mới, tập huấn nghề nông Tuy nhiên, công tácXĐGN ở Ba Vì nói chung, ở các xã miền núi nói riêng vẫn đang gặp nhiều khó khăn,khiến cho việc thoát nghèo chưa có tính bền vững Để nâng cao hiệu quả thoát nghèotại các xã miền núi trên địa bàn huyện, cần có các giải pháp TVL mang tính khả thi,phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội cụ thể

Việc nghiên cứu giải pháp TVL là cần thiết và có tính cấp bách về lý thuyết vàthực tiễn Về lý thuyết, nghiên cứu này làm rõ và bổ sung thêm những lý luận về việclàm, TVL và XĐGN Về thực tiễn, nghiên cứu đề xuất những giải pháp TVL, nhằm

5

Trang 10

góp phần nâng cao hiệu quả XĐGN; hoàn thiện và xây dựng các chính sách TVL chongười nghèo ở huyện Ba Vì nói riêng và cả nước nói chung.

Với những ý nghĩa trên, tôi chọn vấn đề “Tạo việc làm để thoát nghèo tại các xã khu vực miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận

văn khoa học, chuyên nghành Thạc sĩ Khoa học quản lý

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

XĐGN là một phạm trù rộng, đã có nhiều nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn,

có thể nêu tóm tắt:

- Các công trình do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ biên: Đói nghèo ở Việt Nam (1993), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội; Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (1997), Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội; Nhận diện đói nghèo ở nước

ta, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, … Các nghiên cứu này đã phân tích các khái niệm

liên quan đến nghèo đói; chỉ ra bản chất của nghèo đói; những đặc trưng cơ bản củanghèo đói ỏ Việt Nam; đề xuất các giải pháp XĐGN ở các khu vực thành thị và nôngthôn; trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nghèo ở khu vực nông thôn, miền núi

- Các công trình của các tác giả:

Nguyễn Hữu Hải, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam (Hà Nội, 1997) Tác

giả đã phân tích những thành tựu, hạn chế trong công tác XĐGN ở nông thôn; đề xuấtmột số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác XĐGN ở nông thôn Tuy nhiên,tác giả chưa làm rõ những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở nông thôn

Tác giả Ngô Đức Cát với cuốn sách: “Kinh tế trang trại với xóa đói giảm nghèo ở nông thôn” Nội dung sách đi sâu tìm hiểu nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn

đến đói nghèo; làm rõ các vấn đề về đói nghèo ở nông thôn và kinh tế nông, lâmnghiệp theo từng địa phương Tác giả đã đưa ra nhiều ví dụ để chứng minh vai trò củakinh tế trang trại đối với XĐGN Tuy nhiên, kinh tế trang trại chỉ là một trong sốnhững giải pháp góp phần XĐGN Vì vậy, giải pháp mà tác giả đưa ra chỉ có tính thựctiễn tại một số địa phương

Tập thể các tác giả Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình

với công trình nghien cứu “Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”, Nhà xuất

bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2001

Trang 11

- Nguyễn Hữu Tiến, Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam- thành tựu và một

số khuyến nghị, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 13 , năm 2007 Tác giả đã giới thiệu những

mô hình XĐGN thành công ở nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, một số khuyến nghịchưa cụ thể và chưa có khuyến nghị với chính người nghèo

- Về luận văn, luận án có các công trình sau:

Luận văn thạc sĩ: “Vấn đề ở xóa đói giảm nghèo tỉnh Phú Thọ hiện nay ” của Bùi Thị Lý, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000 Luận văn đã xây dựng khung

lý thuyết về nghèo đói và phân tích thực trạng nghèo đói tại Phú Thọ Mặc dù vậy, tácgiả chưa chỉ ra nguyên nhân cốt lõi dẫn đến thực trạng nghèo đói trên địa bàn tỉnh Vìthế, các giải pháp mà tác giả đưa ra còn chung chung

Luận văn thạc sĩ: “Giải pháp xóa đói giảm nghèo ở miền núi Thanh Hóa”, của tác

giả Nguyễn Thị Hằng, Trường Đại học Lao động Xã hội, Hà Nội, 2001 Luận văn phântích cơ sở lý luận về XĐGN, thực trạng nghèo đói và đề xuất một số giải pháp pháttriển kinh tế, XĐGN, trọng tâm là đào tạo, nâng cao tay nghề cho NLĐ

Luận án tiến sĩ: “Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Trần Thị Hằng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001 Tác giả đã

tiếp cận vấn đề nghèo đói trong điều kiện kinh tế thị trường, phân tích và làm rõ cácnguyên nhân khách quan, chủ quan tác động đến nghèo đói Đề xuất các giải phápgiảm nghèo theo hướng để người nghèo tự vươn lên thoát nghèo

Vấn đề TVL cũng được phân tích qua nhiều nghiên cứu:

Luận văn thạc sĩ “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng” của Phan Thị Thúy Linh, Đại học Đà Nẵng, năm 2011 Tác giả

đã phân tích hệ thống lý luận về TVL, đào tạo nghề, vai trò của TVL tới thanh niên vàchỉ ra giải pháp TVL cho thanh niên tại thành phố Đà Nẵng Tuy nhiên, luận văn chưaphân biệt rõ khái niệm đào tạo nghề và khái niệm TVL

Luận văn thạc sĩ “Việc làm và chính sách tạo việc làm ở Hải Dương hiện nay” của

Bùi Thanh Thủy, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2005 Luậnvăn đã làm rõ phạm trù chính sách TVL, nội dung của TVL, các yếu tố tác động đếnTVL Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích cụ thể vấn đề TVL là dành cho đối tượng nào

Luận văn thạc sĩ: “ Nghiên cứu giải pháp chủ yếu nhằm tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” của Bùi Đức Hoàng, Trường Đại học

Nông nghiệp Hà Nội, 2009 Tác giả đã đưa ra hai nhóm giải pháp chung và ba nhóm

7

Trang 12

giải pháp cụ thể nhằm TVL cho một đối tượng cụ thể là thanh niên nông thôn trên địabàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Nhìn chung, các giải pháp mà tác giả đề xuất cókhả năng áp dụng Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích cụ thể thực trạng việc làm củathanh niên nông thôn, nguyên nhân dẫn dến thực trạng trên.

Luận văn thạc sĩ: “Ttạo việc làm ho thanh niên trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2015” của tác giả Hà Duy Hào, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010 Tác giả

đã hệ thống hóa các lý luận liên quan đến TVL Trên cơ sở đó, phân tích khả năng TVL và đề xuất một số giải pháp TVL trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2015 Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng (tỉnh Nam Định) Vì thế, các giải pháp mà tác giả đề xuất chưa thực sự xuất phát từ thực trạng việc làm trên

Nhìn chung, các nghiên cúu trên đã làm rõ khái niệm nghèo đói, XĐGN, giảiquyết việc làm, nhưng ít đề cập đến khái niệm thoát nghèo và vai trò của TVL đối với

thoát nghèo Với đề tài “Tạo việc làm để thoát nghèo tại các xã khu vực miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”, tác giả phân tích mối quan hệ qua lại

giữa TVLvà thoát nghèo, làm rõ vai trò của TVL đối với XĐGN nói chung, với thoátnghèo nói riêng Qua đó, đề xuất gải pháp TVL tại các xã miền núi, góp phần nâng caohiệu quả thoát nghèo ở Ba Vì Đây chính là tính mới của đề tài

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở những vấn đề lý luận về nghèo đói, XĐGN, việc làm và TVL; phân tích,đánh giá thực trạng và các nguyên nhân tác động đến nghèo đói, TVL, nghiên cứu đềxuất một số giải pháp TVL để góp phần thoát nghèo tại các xã khu vực miền núi ởhuyện Ba Vì

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc làm, TVL, XĐGN Làm rõ vai trò củaTVL đối với thoát nghèo

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm, TVL, nghèo đói, XĐGN tại các xãKVMN trên địa bàn Huyện Ba Vì

- Đề xuất các giải pháp TVL tại các xã KVMN trên địa bàn Huyện Ba Vì

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề việc làm và TVL như một giải pháp

cơ bản, quyết định trong XĐGN tại các xã miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì và có thểnhân rộng ra các địa phương khác

Trang 13

- Về thời gian: giai đoạn 2011-2013

- Về không gian: đề tài nghiên cứu TVL để thoát nghèo tại các xã miền núi củahuyện Ba Vì

5 Mẫu khảo sát

Để có những thông tin cần thiết cho nghiên cứu, tác giả khảo sát tại 3/7 xã miềnnúi của huyện Ba Vì: xã Ba Trại, xã Ba Vì, xã Khánh Thuợng

6 Câu hỏi nghiên cứu

- TVL tại các xã khu vực miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì như thế nào đểthoát nghèo?

- Thực trạng việc làm, TVL, nghèo đói tại các xã miền núi trên địa bàn huyện Ba

Vì hiện nay như thế nào?

- Tổ chức, thực hiện TVL như thế nào để TN tại các xã KVMN trên địa bànHuyện Ba Vì?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Phát triển chăn nuôi và trồng cây đặc sản, khôi phục và phát triển nghành nghề truyền thống, đầu tư phát triển các loại hình du lich, hỗ trợ xuất khẩu lao động để tạo hệ thống việc làm đa dạng nhằm góp phần thoát nghèo.

- Tại các xã miền núi trên địa bàn huyện Ba Vì, tỉ lệ hộ nghèo còn cao; việc làm chủ yếu là việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp, song tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến; chưa tạo được nhiều việc làm phù hợp với điều kiện kinh tế

xã hội của địa phương.

- Để thoát nghèo tại các xã khu vực miền núi của huyện Ba Vì, cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp.

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên những quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước ta về TVL, XĐGN; kết hợp phân tích điều kiện kinh tế, văn hóa, xãhội của huyện Ba Vì trong vấn đề TVL cho người nghèo tại các xã khu vực miền núitrên địa bàn huyện Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài

để xây dựng luận cứ khoa học và luận cứ thực tiễn Các tài liệu từ khảo sát thực tế baogồm: kế hoạch, báo cáo, của huyện Ba Vì về TVL và XĐGN; các số liệu của Ủy ban

9

Trang 14

nhân dân huyện Ba Vì, Phòng Thống kê huyện Ba Vì, Phòng Lao động-Thương binh

và Xã hội huyện Ba Vì, Ban Xóa đói giảm nghèo huyện Ba Vì

- Phương pháp phân tích tổng hợp: sử dụng các tài liệu thu thập được để phân tích,

tổng hợp thành các vấn đề nghiên cứu, xác định câu hỏi nghiên cứu phù hợp với đề tài

- Phương pháp khảo sát thực tế: quan sát thực trạng nghèo đói, việc làm, TVL, các

mô hình thành công trong việc tạo ra hiệu quả thoát nghèo tại các xã khu vực miền núitrên địa bàn huyện Ba Vì

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn ngẫu nhiên người dân các xã miền núi

trên địa bàn huyện Ba Vì, để có thêm luận cứ thực tế làm cơ sở chứng minh luận điểmcủa đề tài

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Mục lục, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục các bảng biểu, Phần mởđầu, Phần kết luận, Khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văngồm có ba chương:

- Chương 1 Những vấn đề lý luận về việc làm và xóa đói giảm nghèo

- Chương 2: Thực trạng việc làm và nghèo đói tại các xã khu vực miền núi trênđịa bàn huyện Ba Vì

- Chương 3 Giải pháp tạo việc làm để thoát nghèo tại các xã khu vực miền núitrên địa bàn huyện Ba Vì

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM

VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

và chất lượng giữa tư liệu sản xuất và sức lao động để tạo ra của cải hàng hóa theo nhucầu xã hội

Việc làm có thể được hiểu ở hai trạng thái “tĩnh” và “động” Ở trạng thái “tĩnh”,việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật chất-kỹ thuật nhằm tạo rathu nhập và các lợi ích cho cá nhân, cộng đồng Theo cách hiểu này, việc làm là khảnăng làm tăng của cải xã hội, khả năng sử dụng nguồn nhân lực và là hoạt động laođộng có ích Theo nghĩa “động”, việc làm là hoạt động của người lao động, nhằm tạo

ra lợi ích cho cá nhân hoặc cộng đồng, trong khuôn khổ pháp luật cho phép Việc làm

là hình thức sử dụng sức lao động có chủ đích, được tiến hành trong một không gian

và thời gian nhất định, với sự kết hợp với các yếu tố vật chất-kỹ thuật khác

Lao động và việc làm là hai khái niệm có mối liên quan mật thiết với nhau NLĐ

có việc làm và làm việc không chỉ để tồn tại mà còn để hoàn thiện bản thân Việc làmtạo ra của cải vật chất, tinh thần, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.Việc làm là vấn đề kinh tế-xã hội rộng lớn, phức tạp và là mối quan tâm hàng đầucủa các quốc gia trên thế giới Nó liên quan đến thu nhập và đời sống của dân cư Mỗiquốc gia đều có những hệ khái niệm riêng về việc làm

ILO đưa ra khái niệm: “Việc làm là những hoạt động được trả công bằng tiền

hoặc hiện vật” [40;46] Khái niệm này khá rộng và chưa nêu được những đặc trưng cơ

bản của việc làm

11

Trang 16

Ở Việt Nam, trong thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việclàm phải là những việc có một chuyên môn nào đó, tạo ra thu nhập nhất định Hiệnnay, do sự phát triển của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, quan niệm vềviệc làm đã thay đổi

Theo khoản 1, điều 9, Bộ luật Lao động Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2012): “việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không

bị pháp luật cấm” [38; điều 9] Khái niệm này cho thấy, mọi hoạt động được coi là

việc làm thỏa mãn hai điều kiện:

- Hoạt động đó phải có ích, tạo ra thu nhập cho NLĐ và gia đình họ Điều này chỉ

rõ tính hữu ích và tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm

- Hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc

làm Tuy nhiên, mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lại có những quy định khác nhau về việc

“pháp luật cấm”

Hai điều kiện trên có mối quan hệ chặt chẽ và là điều kiện cần và đủ của một hoạtđộng được thừa nhận là việc làm Trên thực tế, có nhiều hoạt động không được coi làviệc làm (như ý nghĩa trên), ví dụ:

- Hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật (trộm cắp, buôn bán tráiphép chất ma túy, mại dâm,…) không được công nhận là việc làm

- Hoạt động là hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không đượcthừa nhận là việc làm (nội trợ, chăm sóc con cháu, trông nom gia đình…)

Khái niệm việc làm trong Bộ luật Lao động đã mở rộng quan niệm về việc làm,đồng thời, giới hạn phạm vi việc làm theo quy định của pháp luật, ngăn ngừa nhữngviệc làm có hại cho xã hội

Sự thay đổi nhận thức về việc làm đã dẫn đến thay đổi về tư tưởng, chính sách vàgiải pháp TVL Từ chỗ giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước và chỉ làmtrong cơ quan Nhà nước mới là làm việc, đã chuyển sang nhận thức mới TVL phải có

sự tham gia của toàn xã hội và có sự chủ động của NLĐ

Theo Giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì việc làm “là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người” [45; 15] Khái niệm việc làm ở đây

được khái quát một cách trừu tượng hơn, khoa học và rộng hơn Tuy nhiên, khái niệmnày chưa chỉ ra việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập cho NLĐ và tính pháp lý củaviệc làm

Trang 17

Tác giả Đặng Xuân Thao trong cuốn sách “Mối quan hệ giữa dân số và việc làm” đưa ra khái niệm “việc làm là hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng”

[43; 27] Khái niệm này cũng có nội hàm giống khái niệm việc làm trong Bộ luật Laođộng và mở rộng thêm vai trò của thu nhập với xã hội

Bên cạnh những khái niệm trên, còn có nhiều khái niệm khác nhau khác về việclàm Nhìn chung, các khái niệm đều thống nhất hai điều kiện cơ bản của việc làm, làhoạt động có ích và tạo ra thu nhập

Phân loại việc làm

ILO đã diễn tả các trạng thái của việc làm theo không gian và thời gian trên một địabàn, ứng với một thời điểm nào đó, thông qua việc phân loại việc làm Cụ thể:

- Việc làm ổn định và việc làm tạm thời (căn cứ vào số thời gian có việc làmthường xuyên trong một năm)

- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian (căn cứ vào số giờ làm việctrong một tuần)

- Việc làm chính và việc làm phụ (căn cứ vào số thời gian hoặc mức thu nhập trongviệc thực hiện một công việc nào đó)

Để hiểu rõ hơn về việc làm theo mức độ sử dụng, cần làm sáng tỏ các khái niệm:việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, việc làm tự do

Việc làm đầy đủ

Việc làm đầy đủ là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao

động trong nền kinh tế Nói cách khác, “việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người

có khả năng lao động, muốn làm việc thì có thể tìm được việc làm trong thời gian tương đối ngắn” [5; 23] Để đảm bảo việc làm đầy đủ, phải có một quá trình nhất định.

Quá trình này ngắn hay dài tùy thuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan, chủ quancủa mỗi địa phương, quốc gia Việc làm đầy đủ mới chỉ nói lên sự giải quyết việc làm

về mặt số lượng, chưa tính đến việc làm đó có phù hợp với khả năng, trình độ củaNLĐ hay không

Việc làm hợp lý

Việc làm hợp lý là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm cho bất cứ ai có khả năng làm

việc trong nền kinh tế và phù hợp với trình độ, nguyện vọng của họ Việc làm hợp lýkhông chỉ tính về mặt số lượng mà còn tính đến khả năng, trình độ, nguyện vọng,NLĐ Đó là sự phù hợp về cả số lượng và chất lượng của các yếu tố con người, vật

13

Trang 18

chất của sản xuất và xã hội; sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân NLĐ và lợi ích của xã hội.Việc làm hợp lý mang lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế-xã hội cao hơn hẳn sovới việc làm đầy đủ và là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ Đây là hìnhthức việc làm mà đa số NLĐ đều mong muốn.

Việc làm tự do

Việc làm tự do là việc làm trong đó NLĐ được tự do lựa chọn việc làm với nghề

nghiệp, thời gian thích hợp, phát huy cao nhất hiệu quả sáng tạo của mình Hiện nay,việc làm tự do ở nước ta còn chiếm tỷ lệ nhỏ Tỷ lệ việc làm tự do sẽ tăng lên cùng với

sự phát triển kinh tế-xã hội và khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, kinh tế hội nhập toàncầu trên nhiều lĩnh vực, các loại hình công việc ngày càng phong phú cũng tạo điềukiện cho NLĐ được tự do lựa chọn công việc, hình thức làm việc để đem lại hiệu quảcao nhất cho bản thân

Từ sự phân tích các khái niệm trên, trong Luận văn này, việc làm được khái quát:

là tác động giữa hoạt động của con người với những điều kiện vật chất, kỹ thuật và môi trường tự nhiên, để tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần mới cho bản thân và xã hội, trong khuôn khổ của pháp luật.

Tạo việc làm

TVL cho NLĐ là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nước trên thếgiới Chính sách TVL là một trong những chính sách xã hội quan trọng Nó góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế và nâng cao đời sống xã hội Để TVL hiệu quả, cần có sựtham gia của Nhà nước, hệ thống các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội và sựchủ động của chính NLĐ Chủ thể TVL trước hết là Chính phủ, thông qua kế hoạchphát triển kinh tế-xã hội, chính sách nguồn nhân lực, Các tổ chức kinh tế-xã hội cũngđóng vai trò không nhỏ trong việc tạo ra mạng lưới việc làm và tạo sức hút đối vớiNLĐ

TVL theo nghĩa rộng là tổng thể những chính sách, giải pháp của Nhà nước, các

tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi để NLĐ có việc làm,nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống Theo nghĩa hẹp, TVL là tổng thểcác chính sách, giải pháp để tạo ra hệ thống việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp,thiếu việc làm trong xã hội Đồng thời, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức hợp lý, cân bằngcung, cầu lao động trên thị trường lao động

Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (1998), của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, TVL “là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng

Trang 19

và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế, xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động” [45; 30] Theo khái niệm này, để TVL, phải tạo ra tư liệu sản

xuất và sức lao động Cụ thể hơn, TVL là tạo điều kiện để phát triển các điều kiện sảnxuất, trình độ của NLĐ, kết hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể

Theo nhà nghiên cứu Chu Tiến Quang, “TVL là hệ thống các giải pháp có tác động

mở rộng cơ hội để lực lượng lao động của toàn xã hội tiếp cận được với việc lam”

[40; 5] Khái niệm này nhấn mạnh đến giải pháp TVL để nâng cao cơ hội có việc làmcho NLĐ Các giải pháp TVL liên quan mật thiết đến các chính sách kinh tế-xã hội Theo tác giả, phát triển nguồn nhân lực là chính sách hữu hiệu nhất để TVL Pháttriển nguồn nhân lực không đơn thuần là gia tăng số lượng nhân lực, mà còn phải chútrọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thông qua đó, mỗi NLĐ có thể chủ độngTVL cho chính mình, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống, đồng thời đóng gópmột phần cho xã hội Bên cạnh đó, phải tiến hành đồng bộ các chính sách hỗ trợ như,chính sách giáo dục, y tế, XĐGN…để TVL được hiệu quả

Cũng đề cập đến khái niệm TVL, ở góc độ chính sách, tác giả Đặng Xuân Thao

trong cuốn “Mối quan hệ giữa dân số và việc làm” cho rằng, TVL là sự tác động đồng

bộ các chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước, nhằm tạo môi trường và các điều kiệnthuận lợi để NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm.1 Tác giả đã nhấn mạnh đến yếu tố NLĐ

trong hệ thống chính sách TVL Theo đó, NLĐ là đối tượng hưởng lợi từ chính sáchTVL, song cũng là nhân tố quan trọng hàng đầu trong TVL Chỉ có NLĐ mới biết rõnhu cầu, khả năng làm việc của mình và sự chủ động của NLĐ sẽ TVL hợp lý nhất.Nhìn chung, các khái niệm trên đều thống nhất TVL là sự tác động đồng bộ củacác chính sách kinh tế, xã hội để mở rộng cơ hội việc làm cho NLĐ Trong đó, chủ thểTVL là Nhà nước, thông qua cơ chế quản lý và hệ thống chính sách Tuy nhiên, cáckhái niệm trên không đề cập đến vai trò, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trongviệc tham gia và duy trì hệ thống việc làm Đây vừa là chủ thể tiếp nhận, sử dụng NLĐvừa là bên đánh giá khả năng, tay nghề, thái độ làm việc của NLĐ Chính vì vậy, hệthống các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong TVL

Quan niệm về TVL ở nước ta đã có sự chuyển biến tích cực Trước đây, giải quyếtviệc làm là trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, chỉ làm việc trong cơ quan Nhà nướcmới là làm việc Hiện nay, NLĐ không thụ động chờ đợi Nhà nước bố trí việc làm, mà

1 Theo Đặng Xuân Thao (1998), Mối quan hệ giữa dân số và việc làm, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr 36

15

Trang 20

chủ động tự TVL cho mình và cho người khác trong môi trường kinh tế-xã hội, phápluật do Nhà nước ban hành Trách nhiệm của Nhà nước đã chuyển đổi từ vị trí trungtâm trong giải quyết việc làm, sang ban hành pháp luật, chính sách đảm bảo cho NLĐ

tự do làm việc

TVL không chỉ hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, mà còn hướng tớinguồn nhân lực toàn xã hội Có như vậy, TVL mới bền vững Bởi lẽ, NLĐ nào cũng cóthể gặp những rủi ro dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm Hơn nữa, chínhsách TVL lâu dài và phạm vi điều chỉnh rộng sẽ góp phần ổn định nguồn nhân lực xãhội, tạo ra sinh kế cho NLĐ, giúp họ đảm bảo đời sống

Để TVL hiệu quả, cần nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, các tổchức chính trị-xã hội trong việc cùng tham gia TVL cho NLĐ Khi đất nước hội nhậptoàn diện vào nền kinh tế thế giới, yêu cầu này càng trở nên có ý nghĩa thực tiễn Cácthành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế cá thể tự chủ sẽ thu hút nhiều laođộng và tạo nhiều việc làm cho xã hội Ngoài ra, sự chủ động của NLĐ trong tìm kiếmviệc làm sẽ làm giảm tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, góp phần phát triển nguồnnhân lực xã hội

 Người có việc làm

Người có việc làm

Việc làm và người có việc làm là hai khái niệm có liên quan chặt chẽ với nhau Theo quan niệm của ILO “người có việc làm là những người đang làm một việc gì đó, được trả tiền công hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự thỏa mãn lợi ích hay thay thế thu nhập của gia đình” [40; 12] Khái niệm này đề cập

đến hai khía cạnh của người có việc làm, là đang làm việc và được trả tiền công choviệc làm đó Nhìn chung, hai khía cạnh này đã phản ánh đươc nội hàm của khái niệm

“có việc làm” để phân biệt với “thiếu việc làm” và “thất nghiệp”

Cũng trong Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của ILO, các nhà thống kê về lao động

đã đưa ra khái niệm người có việc làm là: những người làm việc và được trả tiền công,lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật; những người tham gia vào các hoạtđộng mang tính chất tự tạo việc làm, vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình, nhưngkhông nhận được tiền công hoặc hiện vật cho những công việc đó Khái niệm nàyđược áp dụng ở nhiều nước khi tiến hành các cuộc điều tra thống kê về lao động vàviệc làm, được cụ thể thêm một số tiêu thức khác, tùy thuộc vào điều kiện của mỗiquốc gia Tuy nhiên, các nước có xu hướng phân chia người có việc làm thành hai

Trang 21

nhóm, xét trong quan hệ với việc làm Nhóm thứ nhất là những người đang làm bất kểcông việc gì được trả công hoặc mang lại lợi ích vật chất, tinh thần cho bản thân haygia đình Nhóm thứ hai là những người có việc làm, nhưng tại thời điểm nhất định nào

đó, không làm việc hoặc tạm nghỉ việc

Ở Việt Nam, trước năm 1986, người có việc làm hoặc phải thuộc biên chế Nhà

nước hoặc làm trong các hợp tác xã Cách hiểu này đã không tính đến những người

làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, cá thể, tự làm việc, làm việc tại nhà Mặt khác,

cách hiểu trên cũng không phân biệt những người hiện trong guồng máy sản xuất,

nhưng tạm thời thiếu việc làm, hoặc thực tế không có việc làm Hiện nay, sự phát triểncủa kinh tế thị trường cùng với quy luật về cung, cầu lao động đã làm thay đổi quanniệm về việc làm và người có việc làm

Theo Từ điển Thuật ngữ Lao động Thương binh và Xã hội, người có việc làm “là những người làm việc trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không

bị pháp luật cấm, mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội” [6; 21] Khái niệm này cho thấy phạm vi của việc làm, đồng thời

nhấn mạnh đến trách nhiệm xã hội của NLĐ là đóng góp một phần cho cộng đồng.Theo tác giả, đây là điểm mới của phạm trù người có việc làm Bởi lẽ, làm việc khôngnhững vì bản thân, gia đình mà còn vì xã hội Sự đóng góp chung của NLĐ sẽ tạo ramột nguồn quỹ dự phòng để chi trả cho những rủi ro của chính NLĐ trong quá trìnhlàm việc và trợ giúp những NLĐ khác

Người có việc làm đầy đủ “là những người có việc làm với thời gian làm việc không ít hơn mức giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm trong tuần lễ điều tra hoặc là những người làm việc dưới giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm nhưng không có nhu cầu làm thêm” [6; 22] Mức giờ chuẩn quy định phụ thuộc vào ngành

nghề và tính chất công việc, được Nhà nước quy định cụ thể cho từng thời kỳ

Hai tác giả Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung trong cuốn sách “Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam”, đưa ra khái niệm người có việc làm là những người “đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội” [16; 34] Khái niệm này phù hợp với quan

niệm người có việc làm trong Từ điển Thuật ngữ Lao động Thương binh và Xã hội.Như vậy, người có việc làm khi làm những công việc mà pháp luật không cấm vàđược trả công hoặc thu được lợi nhuận có ích cho bản thân và gia đình Xét trong điều

17

Trang 22

kiện kinh tế của nước ta hiện nay, khái niệm người có việc làm được hiểu là: người đủ

15 tuổi trở lên, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, với thời gian làm việckhông ít hơn mức chuẩn quy định cho người có việc làm trong tuần lễ điều tra

Người thiếu việc làm

Trong nền kinh tế thị trường, việc làm được giải quyết thông qua quan hệ cung, cầu

và cạnh tranh trên thị trường lao động Cơ chế thị trường có khả năng điều tiết việcphân bổ và sử dụng lực lượng lao động xã hội; đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làmcủa NLĐ; điều chỉnh nhu cầu lao động xã hội rất linh hoạt Tuy nhiên, nó cũng khiếnkhông ít NLĐ rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm

Người thiếu việc làm là những người không có việc làm thường xuyên, thường cónhững khoảng thời gian không lao động vì hết việc Đó là trạng thái có việc làm,nhưng do nhiều lý do khách quan, NLĐ phải làm không hết thời gian theo giờ quy

định Theo Từ điển Thuật ngữ Lao động-Thương binh và Xã hội “người thiếu việc là những người trong khoảng thời điểm điều tra, có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm” [6; 25] Theo khái

niệm này, số giờ làm việc của người có đủ việc làm là căn cứ để đánh giá NLĐ thiếuviệc làm hay không thiếu việc làm

Theo Sổ tay Thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, người thiếu việclàm “những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định đối với những người làm những công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm” [5; 14] Khái

niệm này đã đưa ra số giờ cụ thể để đánh giá tình trạng thiếu việc làm

Thiếu việc làm là hiện tượng khá phổ biến và ngày càng gia tăng Ở khu vực nôngthôn, hiện tượng này có xu hướng cao hơn khu vực thành thị Do đặc thù sản xuấtnông nghiệp mang tính thời vụ, lại phụ thuộc nhiều vào thời tiết, phương pháp sảnxuất, nên việc làm ở nông thôn không mang tính thường xuyên Nhiều địa phươngkhông có nghề phụ, NLĐ không sử dụng hết thời gian lao động NLĐ ở khu vực thànhthị có nhiều có hội để lựa chọn việc làm, với nhiều loại hình công việc Tuy nhiên, sức

ép dân số, lao động, việc làm, cùng với suy thoái kinh tế khiến nhiều đơn vị sử dụnglao động cắt giảm nhân lực, điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh, khiến nhiềuNLĐ không có đủ việc làm, mặc dù bản thân họ luôn sẵn sàng làm việc

Trang 23

Thất nghiệp và người thất nghiệp

 Thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến và là thách thức lớn đối với sự

phát triển bền vững của của nhiều quốc gia Theo C.Mac, “thất nghiệp đồng hành với chủ nghĩa tư bản, với kinh tế thị trường” [28; 27] Để lý giải về tình trạng thất nghiệp,

các cơ quan quốc tế, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, gópphần đưa ra một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp

ILO đưa ra khái niệm thất nghiệp: “là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương hiện hành” [44; 19] Theo quan niệm này, có hai điều kiện để xác định tình trạng thất

nghiệp, là có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc Đây cũng là tiêu chí để xác địnhmột người có thất nghiệp hay không

Ngoài cách hiểu trên, ILO cũng đưa ra khái niệm về thất nghiệp trong Công ước

số 102 (năm 1952) Theo đó, “thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” [44; 20]

Tại Việt Nam, tuy chưa có văn bản pháp quy về thất nghiệp nhưng đã có nhiềucông trình nghiên cứu Thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong những văn kiệnquan trọng của Đảng và Nhà nước ta như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVII; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn2010-2020 Một số nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về

thất nghiệp như: “thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao động, có nghề, muốn

đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền” [3; 38] Khái

niệm này đề cập đến những tiêu chí đánh giá tình trạng thất nghiệp Tuy nhiên, tiêu chí

“đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền” lại giới hạn phạm vi của người thất nghiệp.Điều này giống khái niệm “người thất nghiệp” trong Luật Bảo hiểm xã hội (2006).Trên thực tế, số người thất nghiệp lớn hơn rất nhiều so với số người tham gia bảo hiểmthất nghiệp và đăng ký thất nghiệp

Năm 2010, trong cuộc điều tra về Xu hướng lao động ở Việt Nam, Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã đưa ra khái niệm: “thất nghiệp là tình trạng người có sức lao động trong độ tuổi lao động không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” [44; 23] Khái niệm này nêu cụ thể đặc điểm của việc làm

mà người thất nghiệp muốn tìm Đó là việc làm có trả công, để phân biệt với những

19

Trang 24

việc làm đơn thuần, có ích nhưng không mang lại thu nhập Tuy nhiên, theo tác giả,quan điểm về việc làm có trả công cũng giới hạn phạm vi việc làm NLĐ còn có thể tựTVL cho mình để thoát khỏi tình trạng thất nghiệp, tự tạo ra thu nhập cho mình thôngqua hệ thống việc làm ngày càng đa dạng, chứ không đơn thuần là làm việc để đượctrả công.

Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp, cần được phân loại để hiểu rõ về nó Căn

cứ vào mục đích nghiên cứu, có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

+ Dựa vào đặc điểm lao động

Thất nghiệp tự nhiên: là dạng thất nghiệp mà bình thường nền kinh tế trải qua; là

loại thất nghiệp không tự biến mất ngay cả trong thời gian dài hạn

Thất nghiệp tạm thời: phát sinh do sự di chuyển không ngừng của lao động giữa

các vùng, giữa các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống

Thất nghiệp cơ cấu: là thất nghiệp do sự mất cân đối cung-cầu lao động trong một

ngành hoặc một vùng nào đó, do biến đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi công nghệ (thườngxảy ra trong nền kinh tế hiện đại)

Thất nghiệp chu kỳ: trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị

sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm cầu lao động dẫn đến tình trạng thừalao động, thất nghiệp

+ Dựa vào tính chủ động của NLĐ

Thất nghiệp tự nguyện: ở mức tiền công nào đó, NLĐ không muốn làm việc vì lý

do cá nhân Thất nghiệp này thường gắn với thất nghiệp tạm thời

Thất nghiệp không tự nguyện: ở mức tiền công nào đó, NLĐ chấp nhận, nhưng vẫn

không được làm việc do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu lao động

Thất nghiệp trá hình: NLĐ làm việc dưới mức khả năng mà bình thường NLĐ sẵn

sàng làm việc Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đóthấp; NLĐ sử dụng không hết thời gian lao động

Thất nghiệp mùa vụ: thường xảy ra ở lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, các công

việc mang tính chất thời vụ như nghề thu lượm hoa trái,…và dễ dự đoán trước

Nguyên nhân thất nghiệp

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp, bao gồm cả nguyên nhânkhách quan và chủ quan Xét tương quan giữa việc làm và NLĐ, có một số nguyênnhân cơ bản sau gây ra thất nghiệp:

Trang 25

+ Tiền công, tiền lương không phù hợp: mức tiền công, tiền lương quá cao vượt

quá điểm hòa vốn của nhà sản xuất, dẫn đến xu hướng thu hẹp sản xuất giảm bớt nhâncông Tiền công, tiền lương thấp cũng không thu hút được lao động NLĐ dịch chuyểnsang ngành nghề có thu nhập cao hơn, quá trình thu hẹp và dịch chuyển này gây ranhững giai đoạn ngưng trệ làm việc với NLĐ, đó là thời điểm thất nghiệp

+ Kinh tế suy thoái: kinh tế đi xuống khiến sản phẩm tiêu thụ chậm, chi phí sản

xuất cao, người sản xuất có xu hướng thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn, dẫn đến thiếuviệc làm, NLĐ ít khả năng tìm được việc, ít có cơ hội lựa chọn việc làm phù hợp Vìvậy, thay đổi công việc là xu hướng tất yếu

+ Nhu cầu việc làm của NLĐ: NLĐ có xu hướng tìm kiếm việc làm với thu nhập

cao hơn, nhiều người sẵn sàng tự nghỉ việc để tìm kiến việc làm mới Đây là hiệntượng khá phổ biến, nhất là với lực lượng lao động trẻ, có trình độ nghề nghiệp Điềunày dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện tăng lên

+ Trình độ chuyên môn, tay nghề của NLĐ: nhu cầu nhân lực của các tổ chức

luôn biến động, tạo ra nhiều chỗ trống việc làm cho NLĐ Tuy nhiên, giữa chủ sử dụnglao động và NLĐ đôi khi chưa thống nhất các tiêu chuẩn nghề nghiệp, công việc Cóhai khả năng xảy ra là, NLĐ sẵn sàng làm việc nhưng không đáp ứng được trình độchuyên môn công việc Hoặc, yêu cầu và đặc thù công việc dưới khả năng của NLĐ,khiến họ có tâm lý muốn bỏ việc để tìm việc làm khác phù hợp hơn

 Người thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế-xã hội phổ biến và là vấn nạn mang tính toàncầu Nó là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển không đồng đều trong nền kinh tế thịtrường Số người thất nghiệp ngày càng gia tăng đã cho thấy, thất nghiệp không chỉ làthách thức với các nước đang phát triển, mà còn với những nền kinh tế lớn, năng độngcủa thế giới Để có góc nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp, trước hết phải làm rõ

khái niệm người thất nghiệp.

Theo ILO, “người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm” [45; 17] Khái niệm này đã

nêu ra các tiêu chí cơ bản để xác định người thất nghiệp Nhìn chung, các tiêu chí nàymang tính khái quát cao, đã được nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụngtại quốc gia mình, khi đưa ra khái niệm về người thất nghiệp

Tại Việt Nam, quá trình đổi mới đất nước, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậptrung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm gia tăng số người thất

21

Trang 26

nghiệp Năm 2006, khái niệm “người thất nghiệp” đã được luật hóa và trở thành thuậtngữ pháp lý tại khoản 4 điều 3, Luật Bảo hiểm xã hội Theo đó, người thất nghiệp là

“người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp dồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [39; điều 3] So với các

tiêu chí chung của ILO, khái niệm này đã thu hẹp phạm vi người thất nghiệp Bảohiểm thất nghiệp chỉ là một trong những chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhànước, hoạt động theo cơ chế bảo hiểm Do đó không thể coi việc tham gia bảo hiểmthất nghiệp là một chuẩn chung để đánh giá tình trạng thất nghiệp Theo khái niệmnày, chỉ những người thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Bảo hiểm thất nghiệp màkhông có việc làm mới được coi là người thất nghiệp Thực tế cho thấy, nhiều người bịthất nghiệp, dù không đóng bảo hiểm thất nghiệp

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra quan điểm về người thất nghiệp là

“những người thuộc lực lượng lao động, có khả năng lao động trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu về việc làm nhưng không tìm được việc làm” [6; 36].

Theo đó, người thất nghiệp thuộc lực lượng lao động (từ đủ 15 tuổi trở lên, trong nhómdân số hoạt động kinh tế) và có hai đặc trưng sau:

- Hiện chưa có việc làm nhưng sẵn sàng và mong muốn có việc làm

- Đang đi tìm việc làm để có thu nhập, kể cả những người trước đó chưa bao giờlàm việc

Tuy nhiên, với cách hiểu như trên, không phải bất kỳ ai có sức lao động, nhưngchưa có việc làm đều được coi là thất nghiệp Do đó, để biết một người có được coi làthất nghiệp hay không, thì phải xem xét người đó có muốn đi làm hay không Bởi lẽ,trên thực tế, có nhiều người có sức khỏe, nghề nghiệp, song không có nhu cầu làmviệc, do không thỏa mãn với mức lương hiện hành hoặc sống bằng những nguồn tàichính khác như thừa kế, tài trợ,

Số người thất nghiệp còn bao gồm các trường hợp đặc biệt sau:

- Những người đang nghỉ việc tạm thời, nhưng không có căn cứ đảm bảo sẽ tiếptục được làm công việc cũ, trong khi họ vẫn sẵn sàng làm việc hoặc đang tìm kiếmviệc làm mới;

- Những người trong thời gian tham chiếu, không có hoạt động tìm kiếm việc làm

vì họ đã được bố trí việc làm mới sau thời gian tạm nghỉ việc;

- Những người đã thôi việc, không được hưởng tiền lương/tiền công;

- Những người không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ tin rằng không thể tìm đượcviệc làm (do hạn chế về sức khỏe, trình độ chuyên môn không phù hợp,…)

Trang 27

1.1.1.2 Sự cần thiết của tạo việc làm cho người lao động

TVL là một trong những chính sách quan trọng, có tác động đến nhiều đối tượng,nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội TVL cũng là một hợp phần chính sách trong hệthống các chính sách kinh tế-xã hội khác, hỗ trợ các chính sách để thực hiện các mụctiêu cụ thể Ví dụ, để thực hiện có hiệu quả chính sách XĐGN, cần có sự kết hợp đồng

bộ các chính sách khác như: TVL, giáo dục, y tế, tài chính…TVL có vai trò tích cực,không chỉ với NLĐ mà còn với sự phát triển chung của xã hội

 Đối với NLĐ

TVL trước hết đáp ứng quyền lợi của NLĐ-quyền có việc làm và nghĩa vụ phảilàm việc trong độ tuổi lao động NLĐ chính là đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ chínhsách TVL Thông qua các giải pháp nhằm tạo hệ thống việc làm phong phú, cải thiện

số lượng và chất lượng lao động, TVL giúp NLĐ nâng cao cơ hội có việc làm, tăngkhả năng lựa chọn những việc làm phù hợp với năng lực, nguyện vọng của mỗi NLĐ.TVL giúp giảm tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp Điều này đặc biệt có ýnghĩa khi nền kinh tế suy thoái Từ chỗ có việc làm, NLĐ sẽ nâng cao thu nhập, cảithiện chất lượng cuộc sống, đóng góp một phần cho xã hội, nâng cao vị thế của NLĐtrong gia đình và xã hội

TVL hiệu quả sẽ nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động, nhất là lao độngnông thôn Lượng thời gian không làm việc giảm đồng nghĩa với năng suât lao độngcao hơn, số người thiếu việc làm giảm đi NLĐ có việc làm đầy đủ sẽ kích thích sảnxuất, kinh doanh phát triển

TVL thông qua những giải pháp cụ thể góp phần nâng cao trình độ hiểu biết, taynghề và kỷ luật lao động cho NLĐ, tạo cho họ cơ hội tìm kiếm việc làm cao hơn, đượclựa chọn những việc làm phù hợp bản thân Trình độ được nâng cao cũng giúp NLĐ tựTVL cho chính mình và người khác Thông qua tác động tích cực này, NLĐ được thamgia sâu hơn vào hệ thống các ngành nghề kinh tế-xã hội, nhất là những công việc đòihỏi hàm lượng kỹ thuật cao Có việc làm ổn định, NLĐ cũng sẽ yên tâm lao động sảnxuất hơn, tạo ra chất lượng công việc cao hơn

Ngoài ra, TVL là giải pháp quan trọng để giúp những NLĐ thuộc trường hợp đặcbiệt như: người tàn tật, người nghèo, người mắc tệ nạn xã hội,…có thu nhập, ổn địnhcuộc sống, tâm lý tự tin, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội

 Đối với xã hội

23

Trang 28

TVL góp phần cân bằng thị trường lao động Ở nông thôn, tình trạng thiếu việclàm khá phổ biến NLĐ có xu hướng đến những đô thị phát triển để làm những côngviệc có tính chất tạm thời NLĐ ở thành thị, do sức ép dân số, cạnh tranh việc làm, rất

dễ rơi vào cảnh thất nghiệp Điều này khiến thị trường lao động giữa thành thị và nôngthôn mất cân bằng TVL hiệu quả giúp NLĐ có việc làm mà ít phải thay đổi khônggian cư trú Qua đó, cân bằng thị trường lao động giữa các vùng miền trong cả nướcnói chung, giữa thành thị và nông thôn nói riêng

TVL cho NLĐ tác động mạnh mẽ đến phát triển nguồn nhân lực xã hội TVLgiúp nâng cao số lượng và chất lượng việc làm cho NLĐ NLĐ được làm việc đầy đủ

và hợp lý đóng vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực Số lượng việc làmtăng thông qua các biện pháp giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm Chất lượng việclàm được cải thiện bằng các giải pháp tăng năng suất lao động, nâng cao tay nghề, ýthức kỷ luật cho NLĐ Hơn nữa, TVL có hiệu quả, NLĐ có việc làm hợp lý còn giúpgiảm nguồn tài chính đầu tư cho chính sách phát triển nguồn nhân lực

Thất nghiệp, thiếu việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều hiệntượng tiêu cực trong xã hội NLĐ không có việc làm, nhàn rỗi sẽ sinh ra chán nản, cóthể tìm những việc làm vi phạm pháp luật, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đếnnhiều NLĐ khác và toàn xã hội TVL giúp NLĐ sử sụng thời gian một cách có ích đểtăng thu nhập, suy nghĩ tích cực Qua đó, giảm thiểu những hệ quả do thiếu việc làm,thất nghiệp gây ra, góp phần duy trì ổn định và phát triển xã hội

TVL là giải pháp trọng tâm để NLĐ có việc làm Từ đó, họ mới có điều kiệnquan tâm đến những vấn đề khác như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tham gia vào cáchoạt động xã hội… Suy rộng ra, TVL thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của đất nước TVL là tổng thể các giải pháp hỗ trợ NLĐ có việc làm và tự tạo việc làm để nuôi sốngbản thân, gia đình và đóng góp cho cộng đồng NLĐ được mở rộng sinh kế sẽ có kiếnthức và kỹ năng khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có của địa phương vào việctạo ra thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, đóng góp cho xã hội Đây là tác động

có tính chất lâu dài của các giải pháp TVL cho NLĐ

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm

TVL là chính sách có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến TVL Dưới đây sẽ phân tích một số nhân tố cơ bản

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng

Trang 29

Đất đai cùng tài nguyên, sinh vật trên đất vừa là đối tượng, vừa là tư liệu sản xuấtđặc biệt quan trọng để con người tác động vào nó, tạo ra của cải vật chất phục vụ chonhu cầu phát triển của xã hội Đất đai được khai thác và sử dụng hiệu quả sẽ phát huyđược thế mạnh của nó trong TVL Điều kiện địa hình, khí hậu, biển, sông ngòi, càngthuận lợi; tài nguyên khoáng sản và nông, lâm, thủy sản càng lớn…thì khả năng tạo raviệc làm càng nhiều Và ngược lại, sự suy giảm các yếu tố tự nhiên trên, sẽ làm giảmkhả năng TVL cho NLĐ Bùng nổ dân số đã kéo theo nhu cầu khai thác tài nguyênthiên nhiên nói riêng, điều kiện tự nhiên nói chung của con người vào quá trình sảnxuất vật chất ngày càng tăng Sự khai thác quá mức đã và đang khiến những điều kiện

tự nhiên giảm đi vai trò của nó trong việc TVL Chính sách TVL cũng trở nên khókhăn khi lực lương lao động xã hội ngày một tăng, tài nguyên ngày một suy giảm.CSHT bao gồm hệ thống đường giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc…Cácyếu tố này góp phần không nhỏ trong TVL và nâng cao năng suất lao động của NLĐ.Thực tế cho thấy, ở đâu có CSHT đầy đủ, thì ở đó có nhiều việc làm hơn, mang lạihiệu quả kinh tế cao hơn và TVL cũng có nhiều thuận lợi hơn Việc phát triển CSHT ởcác cộng đông dân cư sẽ thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp, tạo ra hệ thốngviệc làm phong phú, đáp ứng nhu cầu làm việc của NLĐ Thông qua đó, giảm sốngười thất nghiệp, thiếu việc làm Đây cũng là một trong số những giải pháp trongchính sách TVL

1.1.2.2 Dân số, nguồn lao động

Dân số, nguồn lao động và việc làm vừa có quan hệ tương hỗ vừa hạn chế lẫnnhau Đây là nguồn lực rất cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội, thông qua quá trình sảnxuất vật chất và tinh thần Kinh tế phát triển cũng tăng khả năng TVL cho NLĐ Dân

số ổn định, nguồn lao động có chất lượng là nhân tố hàng đầu, tác động tích cực đếnTVL Chính sách TVL dựa trên cơ sở dân số và nguồn lao động hợp lý cũng sẽ được

thực thi có hiệu quả cao hơn Mặt khác, dân số, nguồn lao động tăng quá nhanh cũng

gây sức ép về việc làm, gia tăng tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp Điều đó đặt ranhiều thách thức đối với vấn đề TVL cho toàn xã hội

Giải quyết mối quan hệ giữa dân số, nguồn lao động và việc làm là vấn đề nan

giải của mỗi quốc gia Các Chính phủ luôn phải đối phó với xu hướng tốc độ tăng dân

số, nguồn lao động lớn hơn tăng số việc làm Vì vậy, bên cạnh việc kiểm soát tốc độgia tăng dân số, cần phải nâng cao chất lượng nguồn lao động- một yếu tố tác độngtrực tiếp đến khả năng TVL trong xã hội

25

Trang 30

1.1.2.3 Chính sách lao động và việc làm

TVL là một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc gia, góp phần đảm bảo

ổn định và phát triển xã hội Chính sách lao động và việc làm là nhân tố chủ quan, cóvai trò rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình phát triển việc làm trong xã hội Nếungười làm chính sách thực sự có năng lực, am hiểu thị trường lao động; đề xuất đượcnhững giải pháp TVL có tính khả thi và phù hợp với điều kiện mỗi địa phương, thì sẽphát huy được vai trò tích cực của TVL trong giải quyết các vấn đề xã hội Với việctạo ra nhiều vị trí việc làm và điều tiết thị trường lao động, chính sách TVL giúp nguồnlao động xã hội được sử dụng có hiệu quả, giảm tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp.Chính sách việc làm còn có tác dụng hỗ trợ để thực hiện mục tiêu của các chính sáchkhác như: phát triển kinh tế, XĐGN, giáo dục, văn hóa…Nguồn ngân sách để giảiquyết các vấn đề xã hội cũng giảm đi nếu mỗi NLĐ đều có việc làm hợp lý

Chính sách việc làm không được giải quyết tốt, nhất là vào thời kỳ kinh tế suythoái, là nguyên nhân làm sâu sắc thêm tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, mất cânđối cung, cầu nhân lực NLĐ có nhiều thời gian nhàn rỗi, có thể sinh ra tâm lý chánnản, tìm đến những việc làm gây hại cho cộng đồng Về lâu dài, thực trạng trên có thểdẫn đến bất ổn chính trị, xã hội

Ngoài những nhân tố trên, khoa học và công nghệ, vốn, thị trường cũng là nhân

tố khác tác động đến TVL

1.2 Một số vấn đề lý luận về nghèo đói

1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của nghèo đói

1.2.1.1 Nhũng khái niệm cơ bản về nghèo đói

Khái niệm nghèo đói

Nền kinh tế thị trường cùng với quy luật cạnh tranh của nó đã và đang thúc đẩynhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm tăng khoảng cách về thu nhậpgiữa các tầng lớp dân cư, gia tăng tình trạng nghèo đói Đó là thách thức lớn đối với sựphát triển bền vũng của mỗi quốc gia Chính phủ các nước đã chi không ít ngân sách,đầu tư nhiều nguồn lực để giải quyết vấn đề nghèo đói Nhiều Hội nghị Quốc tế cũngđược tổ chức, để đưa ra những giải pháp hữu hiệu, chống nghèo đói Nghèo đói khôngchỉ tồn tại ở các nước kém phát triển, mà ngay cả những nước phát triển cũng có một

bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo Tuy vậy, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau vềnghèo đói Hiện nay chưa có khái niệm chính thống về nghèo đói

 Khái niệm nghèo đói của thế giới

Trang 31

Tiêu chuẩn cốt lõi và căn bản nhất để một người bị coi là nghèo là “sự thiếu hụt”.

Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới, “nghèo là sự thiếu hụt so với mức sống nhất định Sự thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian, thời gian nhất định” [42; 7].

Theo Abapia Sen (một chuyên gia của ILO, được giải thưởng Noben 1998),nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.Theo quan niệm này, nghèo đói là tình trạng phải đối mặt với cái ăn, cái mặc, cuộcsống thiếu thốn, không có điều kiện tham gia cùng cộng đồng trong việc phát triểnchung Đây là sự mâu thuẫn của tình trạng nghèo đói Không tham gia phát triển cộngđồng sẽ khiến cộng đồng nghèo, cộng đồng nghèo thì ít có thành viên giàu có

Nghiên cứu của nhà kinh tế người Anh, Seebohm Rowntree (năm 1991) cho thấy,nghèo đói là sự thiếu hụt một lượng dinh dưỡng nào đó để tồn tại được Cũng trongthời kỳ này, nghèo đói đã được mở rộng từ quan niệm về thu nhập sang một khái niệmrộng hơn đó là nhu cầu cơ bản Nghiên cứu của ILO cho rằng: nghèo đói không chỉ làthiếu thốn về thu nhập mà thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch

vụ cơ bản khác.2

Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra khái niệm nghèo đói theo thu nhập Theo đó, một

người được xem là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bìnhquân đầu người hàng năm của quốc gia.3 Ngoài ra còn có khái niệm nghèo đói theo

tình trạng sống, đề cập đến các khía cạnh khác nhau ngoài thu nhập, như cơ hội đào

tạo, mức sống, quyền tự quyết định, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chínhtrị và nhiều khía cạnh khác

Tại Hội nghị Chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế-xã hội Khu vực Châu Á TháiBình Dương tổ chức tại Thái Lan (9/1993), nghèo được đề cập là: tình trạng một bộphận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người,những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xãhội, phong tục tập quán của địa phương 4

2 2,3 Theo Hệ thống văn bản về bảo trợ xã hội và xoá đói giảm nghèo, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội,

2004, tr.298-299

4Nguyễn Hữu Hải, Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam (Báo cáo tại Hội nghị Quốc tế phân cấp ngân sách

và phân phối dịch vụ cho nông thôn tổ chức, Hà Nội, 4/1997)

27

Trang 32

Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo đói là một trạng thái kinh tế-xã hội phức tạp Các nhà nghiên cứu, các cơquan quốc tế, các quốc gia… không đồng thuận nhau về các tiêu chuẩn Có thể nhìnnhận nghèo dưới hai góc độ là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ

bản, rất tối thiểu để duy trì cuộc sống (ăn, mặc, ở, nước sạch, vệ sinh môi trường,chăm sóc y tế, giáo dục)

- Nghèo tương đối: là nghèo khổ thể hiện qua sự bất bình đẳng trong quan hệ phân

phối của cải giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý

Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng đưa ra quan điểm về nghèo tuyệt đối và nghèotương đối Trong đó, cách hiểu về nghèo tuyệt đối có nội hàm tương tự khái niệmnghèo tuyệt đối mà Liên Hợp Quốc đưa ra Cụ thể:

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu

để duy trì cuộc sống của con người Nghèo tuyệt đối có xu hướng đề cập đến nhữngngười đang thiếu thốn về ăn uống và sinh hoạt hàng ngày

- Nghèo tương đối: là tình trạng không có khả năng đạt mức sống tối thiểu tại một

thời điểm nào đó

Các quốc gia trên thế giới cũng đưa ra những khái niệm riêng về nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối Nhìn chung, đều cho rằng, nghèo đói là sự thiếu hụt những nhu cầu

cơ bản so với chuẩn mực chung được thừa nhận

Theo quan niệm của tác giả, nghèo đói có tính tương đối Tình trạng nghèo thay đổiliên tục theo thời gian Một người, một cộng đồng được đánh giá là nghèo ở thời điểmnày nhưng có thể là không nghèo ở thời điểm khác, không gian khác Các chuẩn mực

về nghèo đói không đồng nhất giữa các quốc gia và mang tính chủ quan bởi phươngpháp xác định chuẩn nghèo Hơn nữa, thu nhập và mức chi tiêu có thể thay đổi, phụthuộc vào thực trạng phát triển kinh tế-xã hội, nên nghèo đói được hoán đổi từ ngườinày sang người khác, từ nhóm này sang nhóm khác

Nghèo đa chiều

Quan niệm về nghèo đói đã không ngừng mở rộng Trước đây, nghèo đói chỉ liên

quan đến thu nhập và chi tiêu Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều được bổ sung và

nghèo đói đã được nhìn nhận một cách đầy đủ hơn trên nhiều phương diện Các kháiniệm sau sẽ làm rõ hơn các khía cạnh của nghèo đa chiều:

Trang 33

Liên Hợp Quốc đưa ra quan niệm về nghèo đói trên cơ sở quyền lợi của con người(bao gồm về kinh tế-xã hội, văn hóa chính trị và dân sinh), cụ thể:

Tự do: con người có quyền có một cuộc sống không bị đói khổ và bị đe dọa do

bạo lực, chống đối và bị tổn thương

Bình đẳng: mọi người có quyền tham gia, hưởng thụ và chia sẻ thành quả phát

cả những giá trị tinh thần như: giáo dục, chính trị, ngôn ngữ, văn hóa xã hội,

Ngoài ra, Liên Hợp Quốc còn quan niệm nghèo ở một khía cạnh mang tính trừu

tượng hơn; “nghèo con người đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận được” [21; 9] Khái niệm

này chưa nêu bật đặc điểm cốt lõi của nghèo nhưng cũng nhìn nhận nghèo đói như mộtkhái niệm đa chiều Đó là sự thiếu cơ hội hưởng những nhu cầu tối thiểu, đảm bảo vềvật chất và tinh thần

Một người được đánh giá là nghèo ở quốc gia này có thể có mức sống trung bìnhhoặc khá ở các quốc gia khác Nghèo đói mang ý nghĩa tương đối Có thể xem xétnghèo đói ở bốn khía cạnh: theo thời gian, không gian, giới và môi trường

Về thời gian: nghèo là tình trạng có mức sống dưới mức tối thiểu có thể chấp

nhận được trong một thời gian dài

Về không gian: nghèo đói chủ yếu ở khu vực nông thôn, nơi có ¾ dân cư sinh

sống Tuy nhiên, tình trạng nghèo đói ở thành thị cũng ngày càng trở nên phổ biến

Về giới: đa số người nghèo là phụ nữ, phần lớn những gia đình do nữ giới làm

chủ hộ đều nghèo

Về môi trường: hầu hết người nghèo sống ở những nơi có môi trường khắc nghiệt.

Sự xuống cấp của môi trường làm trầm trọng thêm tình trạng tình trạng nghèo đói 6

5 Tham khảo thêm Nguyễn Hữu Tiến (2012), Tập bài giảng Chính sách xóa đói giảm nghèo, Hà Nội, tr.8

6 Tham khảo thêm Ngô Đức Cát (2004), Kinh tế trang trại với xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, Nhà xuất bản

Nông nghiệp, Hà Nội, tr5-6

29

Trang 34

Theo quan niệm này, tình trạng nghèo đói được đề cập một cách khá toàn diệntrên các mặt của cuộc sống, không chỉ về không gian, thời gian mà bao gồm cả cácmặt về giới và môi trường sống.

 Khái niệm nghèo đói của Việt Nam

Công cuộc đổi mới đất nước toàn diện đã mang lại những thành quả kinh tế-xã hộiđáng ghi nhận, song Việt Nam vẫn đang gặp nhiều thách thức về tăng trưởng và pháttriển bền vũng như: thu nhập bình quân đầu người thấp, khoảng cách về thu nhập giữacác nhóm hộ, giữa các địa phương, giữa các vùng có xu hướng gia tăng

Vấn đề nghèo đói ở nước ta đã được nghiên cứu từ khá sớm, tạo thành hệ thống tư

liệu phong phú, phục vụ trực tiếp cho công tác XĐGN Trong Tài liệu tập huấn cho cán bộ làm công tác XĐGN cấp tỉnh, huyện, khái niệm nghèo đói được để cập như sau: “nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng, xét trên nhiều phưong diện” [4; 19].

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cũng đưa ra khái niệm về nghèo tuyệt đối vànghèo tương đối, cụ thể như sau:

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn

nhu cầu tối thiểu, nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiểu là sự sự đảm bảo ở mứctối thiểu những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồmvăn hóa, giáo dục, y tế, đi lại và giao tiếp

- Nghèo tương đối: là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời, là tình trạng một bộ

phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương đang nghiên cứu.7

Nhìn chung, hai khái niệm trên có nội hàm giống với quan niệm của Liên Hợp Quốc

về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Tuy nhiên, việc đưa ra các khái niệm cũng chỉmang tính tương đối Bởi lẽ, nếu so sánh mức sống, mức thu nhập của nhóm dân cư thìlúc nào cũng có nhóm có thu nhập cao nhất, nhóm có thu nhập trung bình và nhóm cóthu nhập thấp nhất

Từ các khái niệm trên, trong Luận văn này, nghèo đói được khái quát là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hoặc một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo được những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận.

7 Xem thêm Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Đề tài nghiên cứu chuẩn nghèo của Việt Nam thời kỳ

2006-2010, tr 45

Trang 35

Khái niệm đói

Đói là trường hợp đặc biệt của nghèo đói nói chung và tình trạng này ngày càngtrở nên phổ biến trên thế giới Chiến tranh, bất ổn chính trị, môi trường xuống cấp,quản lý yếu kém…là những nguyên nhân cơ bản, làm sâu sắc thêm vấn nạn đói Quanniệm đói chỉ là tương đối, phù hợp với một không gian và thời gian nhất định Một sốkhái niệm sau sẽ làm rõ hơn phạm trù đói:

Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải, đói là “tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không đủ đảm bảo duy trì cuộc sống” [20; 24] Khái niềm này cho thấy, đói trước hêt thuộc diện

hộ nghèo và là tình trạng không có cơm ăn, áo mặc để duy trì cuộc sống Tuy nhiên,tác giả mới chỉ đề cập đến một cộng đồng dân cư nghèo, chưa nói tới hộ đói, ngườiđói

Khái niệm hộ đói được tác giả Ngô Đức Cát, trong cuốn Kinh tế trang trại với xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, đề cập đến như sau: “hộ đói là một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng tri trả cộng đồng” [8;

7] Khái niệm trên đã đề cập tới vấn đề một bộ phận dân cư hàng ngày phải đối diệnthường xuyên với cái ăn, cái mặc Mặt khác, đề cập tới vẫn đề gánh nặng cho cộngđồng và toàn xã hội khi hộ đói không có khả năng chi trả cho các nhu cầu sinh hoạthàng ngày và thường xuyên vay mượn

Ngoài ra, còn có nhiều ý kiến khác nhau về đói, song nhìn chung đều thống nhất,đói là tình trạng hàng ngày phải đối mặt với vấn đề thiếu lương thực, thường xuyênthiếu ăn Do đó, biện pháp cấp bách với người đói là kịp thời cung cấp lương thực, sau

đó mới là các giải pháp để người đói có lương thực một cách ổn định

Ở Việt Nam, chính sách XĐGN đã mang lại những thành công nhất định trong vấn

đề chống nghèo đói Về cơ bản cả nước không còn hộ đói Đây là tiền đề quan trọng đểtiếp tục thực hiện các mục tiêu XĐGN trong những giai đoạn tiếp theo

Người nghèo

Nghèo đói là một khái niệm khá rộng Đối tượng nghèo có thể là một người, một

hộ gia đình hay một cộng đồng nghèo Nhưng nhìn chung, người nghèo là đối tượngđược nghiên cứu phổ biến nhất

31

Trang 36

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen, ĐanMạch (1995) đã đưa ra một khái niệm cụ thể về người nghèo: là tất cả những ai mà cóthu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ đểmua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại 8 Khái niệm này đề cập đến mức thu nhậptính cho một người Như vậy có thể hiểu, nếu thu nhập của một gia đình tính theo bìnhquân đầu người với mức thấp hơn 1USD thì đương nhiên hộ gia đình đó là hộ nghèo,tất cả các thành viên trong gia đình đó đều là những người nghèo và được hưởng bìnhđẳng về quyền lợi khi áp dụng chính sách XĐGN Ví dụ: khi cấp thẻ BHYT thì cấpcho tất cả thành viên trong hộ nghèo đó.

Thông thường, những người có thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của

xã hội thì coi đó là người nghèo Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những chuẩn mựcriêng về người nghèo Tại Inđônêsia, người nghèo là người có thu nhập quy ra gạobình quân đầu người dưới 285kg/người/năm Tại Malaysia, người nghèo là người cómức thu nhập dưới 500 ringit (đơn vị tiền tệ của Malaysia) 9

Ở Việt Nam trước đây, quan niệm người nghèo là những người bần cố nông, không

có ruộng đất, phải đi làm thuê, cuốc mướn Hiện nay, xác định những người nghèo, hộgia đình nghèo dựa trên mức thu nhập Người nghèo có mức thu nhập thấp, không đảmbảo cuộc sống tối thiểu, hộ gia đình nghèo thường xuyên thiếu ăn

Chuẩn mực nghèo đói

Nghèo đói là một trạng thái kinh tế-xã hội phức tạp Các nhà kinh tế thuộc nhiềutrường phái, nhiều quốc gia chưa đưa ra được thống nhất chung về các tiêu chuẩnnghèo Do đó, khi dùng một con số thống kê hay một bảng xếp hạng các quốc gia vềgiàu nghèo, thường có những thiên lệch bởi phương pháp thống kê, mục đích sử dụng,

cơ cấu kinh tế và mức sống của người dân mỗi quốc gia mỗi khác nhau

Chuẩn mực nghèo đói là công cụ để phân biệt người nghèo và người khôngnghèo, là thước đo nhằm xác định số lượng người nghèo và đánh giá mức độ nghèo

Vì vậy, vạch ra giới hạn nghèo đói được coi là bước đầu tiên để tiến hành đánh giá vềthực trạng nghèo đói

Nghèo đói được so sánh theo không gian và thời gian về điều kiện sống và làm việc

khác nhau của từng cá nhân hoặc nhóm người, của một cộng đồng người, một quốcgia, một xã hội trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội qua các thời kỳ Mức quy định

8 Xem thêm Nguyễn Hữu Tiến (2012), Tập bài giảng Chính sách xóa đói giảm nghèo, Hà Nội, tr 20

Trang 37

chuẩn nghèo đói chỉ mang tính tương đối qua từng thời kỳ khác nhau, từng quốc gia vàtừng vùng lãnh thổ khác nhau Một số quốc gia còn quy định chuẩn nghèo khác nhaucho từng vùng Bên cạnh đó, chuẩn mực nghèo đói luôn thay đổi và phụ thuộc vàotrình độ phát triển của mỗi quốc gia.

Theo quan niệm chung, những người có thu nhập dưới 1/3 mức mức trung bìnhcủa xã hội thì được gọi là người nghèo Mức thu nhập trung bình dưới 1/3 là chuẩnnghèo Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ được đo qua thu nhập(hay chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu được chấp nhận, tức là thấp hơn chuẩn nghèo

 Chuẩn mực nghèo đói của thế giới

Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, để đưa ra một giới hạn nghèo, phải xác địnhcác thành phần khác nhau của mức sống (lương thực, y tế, giáo dục, giao thông…) vàthừa nhận mức tối thiểu của các thành phần trên cấu thành mức sống tối thiểu Theocách tiếp cận này, người có mức sống dưới mức tối thiểu đã được chấp nhận, đượcxem là người nghèo

Năm 1985, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra tiêu chuẩn 1USD/2USD /ngày/người,dựa trên sức mua của đồng tiền USD Chuẩn nghèo này là chuẩn nghèo tuyệt đối Theocách tính này, hiện nay, có khoảng 1.200 triệu người trên thế giới sống dưới mức1USD/ngày và hơn 2.000 triệu người sống dưới mức 2USD/ngày Tuy nhiên, vẫn cònnhiều vấn đề liên quan đến phương pháp tính 1USD, 2USD theo sức mua tương đươngvới đồng USD Do vậy, phương pháp này chủ yếu để so sánh quốc tế

Hiện nay, chỉ số mức tiêu dùng bình quân đầu người gồm: ăn uống, học hành, y

tế, dịch vụ, nhà ở, hàng hóa bền lâu, được Ngân hàng Thế giới sử dụng và khuyến nghị

để đo nghèo đói với các mức khác nhau Theo đó, người nghèo là người có thu nhậpdưới 0.5 USD/ ngày/người tại các nước kém phát triển; 1 USD/ ngày/người tại cácnước đang phát triển; 2USD/ ngày/người tại các nước Châu Mỹ la tinh và vùngCaribê; 4 USD/ ngày/người tại các nước Đông Âu; 14,4 USD/ ngày/người tại các nướccông nghiệp phát triển Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những chuẩn nghèo riêng,thường là thấp hơn thang nghèo mà Ngân hàng Thế giới khuyến nghị.10 Việc đưa rakhái niệm mức sống tối thiểu sẽ khắc phục được sự bất hợp lý về khái niệm nghèotuyệt đối và nghèo tương đối giữa các quốc gia

10 Xem thêm Nguyễn Hữu Tiến (2012), Tập bài giảng Chính sách xóa đói giảm nghèo, Hà Nội, tr 23

33

Trang 38

 Chuẩn mực nghèo đói của Việt Nam

Tại Việt Nam, chuẩn nghèo đựơc xác định căn cứ vào mức sống trung bình củacộng đồng và cơ cấu chi tiêu (đảm bảo phần ăn uống chiếm khoảng 70%)

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã công bố chuẩn nghèo quốc gia qua cácgiai đoạn, bắt đầu từ năm 1993 Do xuất phát từ một nước nông nghiệp, nên chuẩnnghèo đói ở Việt Nam trước năm 1996 được tính theo mức chi tiêu bằng lương thực(quy ra gạo) Từ năm 1996, chuẩn nghèo tính theo giá trị bằng tiền

Sau 20 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, trên tất

cả các lĩnh vực; đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt Nhà nước đã liên tục điềuchỉnh chuẩn nghèo đói, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nướcqua các giai đoạn, thông thường là 5 năm một lần

Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 được xác định như sau:

- Khu vực nông thôn: bình quân thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng

- Khu vực thành thị: bình quân thu nhập dưới 260.000 đồng/người/tháng 11

Căn cứ vào kết quả cuộc Tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc, phục vụ cho việcthực hiện các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011- 2015, trên cơ sở Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đề xuất, tháng 01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định

áp dụng chuẩn nghèo mới Giai đoạn nay, ngoài quy định chuẩn hộ nghèo, còn có quyđịnh chuẩn hộ cận nghèo, cụ thể như sau:

Nhu vậy, kinh tế càng phát triển thì mức ban hành chuẩn nghèo càng cao Qua đó

ta thấy, thu nhập và đời sống của nhân dân đã ngày càng nâng lên Điều này cũngchứng tỏ những thành công trong công tác XĐGN ở nước ta hiện nay

1.2.1.2 Nguyên nhân và đặc trưng của nghèo đói

11 Xem thêm Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành chuẩn

nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010.

12 Xem thêm Quyết định số 09/2001/QĐ/TTg, ngày 30 /01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành

Trang 39

Nguyên nhân của nghèo đói

Nghèo đói là vấn đề kinh tế-xã hội phức tạp Việc xác định nguyên nhân nghèo

đói tùy thuộc vào mỗi vùng, miền và từng hoàn cảnh gia đình Có nhiều nguyên nhân,

cả chủ quan và khách quan dẫn đến tình trạng nghèo đói Những nguyên nhân phổbiến hiện nay đó là:

Thất nghiệp, thiếu việc làm

Thiếu việc làm và thất nghiệp là nguyên nhân cốt lõi sinh ra nghèo đói Ở nôngthôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp, mang tính thời vụ nên tỉ lệ sửdụng thời gian lao động ở nông thôn thấp, nhiều NLĐ có việc làm không thườngxuyên Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp cũng hạn chế khả năng tìm việc làm của laođộng nông thôn trong các ngành phi nông nghiệp, để mang lại thu nhập cao hơn Còn tại thành thị, sức ép dân số, quá trình đô thị hóa kèm theo những tác độngtiêu cực của nền kinh tế thị trường khiến nhiều người thất nghiệp, không có việc làm

ổn định, không có sinh kế khác dẫn đến nguồn thu nhập hạn hẹp, đời sống bấp bênh

Dân trí thấp, thiếu hiểu biết

Dân trí thấp, thiếu hiểu biết thể hiện trực tiếp nhất qua hoạt động sản xuất, kinhdoanh của NLĐ Do hạn chế về nhận thức, nhiều NLĐ không biết cách nâng cao năngsuất lao động, làm ăn tự phát, manh mún và thiếu tính kỹ thuật Điều này ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng công việc và thu nhập của NLĐ và là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến nghèo đói Thiếu hiểu biết còn ảnh hưởng đến các quyết định cóliên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái của thế hệ hiện tại và cả thế hệtrong tương lai Dân trí thấp gây ra nhiều trở ngại cho người nghèo và khiến việc thoátnghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn Nhìn chung, tỷ lệ nghèo giảm xuốngkhi trình độ giáo dục tăng lên

Sinh đẻ không có kế hoạch

Dân trí thấp, thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình cùng vớitập quán địa phương lạc hậu là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng sinh đẻnhiều, không có kế hoạch Điều này khiến nhiều gia đình rơi vào tình trạng nghèo, khóvươn lên thoát nghèo

Lười lao động, ỷ lại

35

Trang 40

Nghèo đói xuất phát từ việc không muốn lao động, ỷ lại vào sức lao động củangười khác Nhiều người trông chờ vào sự trợ cấp của xã hội, không nỗ lực vươn lêntrong cuộc sống Thực tế này thường thấy ở những hộ gia đình mà người chồng khôngđóng vai trò làm chủ hộ, trách nhiệm lao động bị đẩy sang người vợ Trong đó, không

ít trường hợp sa ngã và tệ nạn xã hội, khiến cho vấn đề nghèo đói thêm trầm trọng

Chi tiêu không có kế hoạch

Không có tính toán trong chi tiêu là nguyên nhân khá phổ biến dẫn đến tình trạngđói nghèo, nhất là tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà người dân có trình

độ dân trí còn hạn chế, việc tiếp cận với giáo dục chưa nhiều Thực tế, không ít hộnghèo được trợ cấp, vay vốn để sản xuất kinh doanh, nhưng do thiếu hiểu biết, đã sửdụng tiền trợ cấp, thậm chí cả nguồn thu nhập hạn hẹp của gia đình vào những tệ nạnnhư rượu chè, cờ bạc nên không thể thoát nghèo

 Nguyên nhân khách quan

Thiên tai, biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, không theo quyluật, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất của con người Các hiện tượngthời tiết như: bão, lũ quét, nắng nóng kéo dài, thiếu nước, động đất là những nhân tốkhách quan làm gia tăng thêm tình trạng nghèo đói Người nghèo cũng là đối tượngchịu nhiều thiệt thòi nhất khi xảy ra thiên tai, biến đổi khí hậu Họ dễ dàng bị mất nhàcửa, thiệt hại cây trồng, vật nuôi khiến tình trạng nghèo đói thêm sâu sắc, giảm cơhội vươn lên thoát nghèo

Khủng hoảng kinh tế, biến động chính trị, xã hội

Kinh tế suy thoái làm ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của NLĐ và là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, nhiềungười bị thiếu việc làm, thất nghiệp, thu nhập không đủ để bù đắp những tiêu dùngthường ngày do giá cả tăng, sản xuất bấp bênh, nên rơi vào cảnh nghèo đói Bên cạnh

đó, những thay đổi của đời sống kinh tế, xã hội cũng góp phần gia tăng nghèo đói, tăngkhoảng cách giàu nghèo trong xã hội

Điều kiện sản xuất khó khăn

Điều kiện sản xuất khó khăn, nhất là các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa,biên giới, hải đảo khiến nhiều người rơi vào tình cảnh nghèo đói Trong hoạt động sảnxuất nông lâm nghiệp, bất cập lớn nhất là thiếu đất sản xuất, diện tích đất canh tác bìnhquân/đầu người thấp, khiến nhiều người có việc làm không thường xuyên, thu nhập

Ngày đăng: 22/09/2020, 20:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w