1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề tài “Đánh giá ruỉ ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa”

42 690 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá rủi ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa
Trường học Trường Đại học Kinh tế
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 408,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối vớingành đường - ngành sản xuất kinh doanh được Đảng và Nhà nước xác định làmột trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, ngoài những thành tựu to lớn mà ngành đã đạt được t

Trang 1

- - -  

-LUẬN VĂN Đánh giá rủi ro trong quá trình hoạt động của

Công ty Cổ phần đường Biên Hòa

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Thực tế cho thấy, trong quá trình hoạt động kinh doanh, hầu hết các doanhnghiệp phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro Những rủi ro khác nhau sẽ có mức

độ tác động khác nhau đến doanh nghiệp Có những rủi ro tác động không lớn,nhưng cũng có những loại rủi ro một khi đã xảy ra sẽ tác động rất lớn, thậm chí

có khi ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của một doanh nghiệp Do đó việcnhận dạng, xác định đúng các loại rủi ro mà doanh nghiệp đang gặp phải, cũngnhư mức độ ảnh hưởng của nó, từ đó tìm ra được các biện pháp phòng tránhnhững tổn thất mà rủi ro mang lại là một việc làm hết sức quan trọng của bất kìdoanh nghiệp nào

Tuy nhiên, rủi ro không tồn tại dưới các hình thức như nhau cho mọi ngànhnghề, và tác động của nó đối với mỗi doanh nghiệp là không giống nhau Đối vớingành đường - ngành sản xuất kinh doanh được Đảng và Nhà nước xác định làmột trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, ngoài những thành tựu

to lớn mà ngành đã đạt được trong thời gian qua thì những rủi ro chung lẫn nhữngrủi ro đặc thù của ngành đã khiến không ít doanh nghiệp hoạt động trong ngànhnày gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động

Ra đời từ năm 1968, Công ty Cổ phần đường Biên Hòa là một trong nhữngcông ty có bề dày lịch sử, đồng thời có những đóng góp rất đáng kể vào sự pháttriển của ngành đường nước ta Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, những tổnthất do rủi ro gây ra vẫn là điều mà doanh nghiệp không thể tránh khỏi Để có thểtìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn về những rủi ro mà công ty đang hoặc có thểgặp phải, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực giúp công ty phần nào ngănchặn và hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra, chúng tôi quyết định lựa chọn

đề tài: “Đánh giá rủi ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty cổ phần đường Biên Hòa

- Mục tiêu cụ thể:

+ Thông qua số liệu thu thập được nhận dạng rủi ro trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty

+ Đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của rủi ro tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty

+ Đề xuất một số giải pháp để quản trị rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận với nội dung nghiên cứu và mục đích của đề tài, chúng tôi chủ

yếu sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu thứ cấp:

Thu thập các báo các tài chính của công ty, tiến hành phân tích dưới góc độxem xét, nhận dạng và đánh giá các loại rủi ro mà doanh nghiệp đang hoặc có thểgặp phải So sánh số liệu qua 3 năm (2006-2008) để có cách đánh giá khách quan

và chính xác hơn về vấn đề nghiên cứu

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh đườngcủa Công ty Cổ phần đường Biên Hòa

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về rủi ro

Rủi ro là một hiện tượng khá phổ biến, có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực nêntuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu và đặc trưng riêng của từng ngành mà các nhàkhoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro Cho đến nay, vẫn chưa

có một định nghĩa thống nhất về rủi ro; tuy nhiên, tựu trung lại ta có thể chia cácđịnh nghĩa khác nhau về rủi ro thành hai nhóm chủ yếu, phản ánh hai quan điểm,hai góc độ tiếp cận khác nhau đó là:

* Quan điểm truyền thống:

Theo quan điểm này rủi ro được coi là :

“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến” (Từ điển Tiếng Việt1995)

“Rủi ro là sự không may (GS.Nguyên Lân, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam1998)

“Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại” (Từ điểnOxford – English for Advanced Learners)

“Rủi ro là sự không chắc chắn có liên quan đến một tổn thất, mất mát có thểxảy ra (Risk ís the uncertainly concerning o possible los, Dorfman 2002)

Khi nghiên cứu rủi ro trong kinh doanh tác giả Đoàn Thị Hồng Vân cho rằngrủi ro trong kinh doanh là sự tổn thất về tài sản các nguồn lực, sự sụt giảm về lợinhuận hay những yếu tố xảy ra ngoài ý muốn tác động xấu đến hoạt động sảnxuất kinh doanh và quá trình tồn tại, phát triển của doanh nghiệp

Trang 5

* Quan điểm hiện đại

Khi xã hội ngày càng phát triển, các ngành và lĩnh vực hoạt động ngày càngtrở nên đa dạng và phong phú hơn thì các loại rủi ro đồng hành cũng xuất hiệnnhiều hơn, phức tạp hơn và gây nên hậu quả nghiêm trọng hơn những loại rủi ro

đã từng có trong quá khứ Chính vì vậy, con người cũng bắt đầu quan tâm hơn,tập trung hơn vào quá trình nghiên cứu rủi ro để tìm các biện pháp phòng ngừa vàngăn chặn Trong quá trình này nhận thức của con người về rủi ro cũng có sựthay đổi và phát triển nhất định Các nhà nghiên cứu hiện nay đã nhìn nhận, xemxét rủi ro dưới một góc độ rộng hơn, khái quát hơn và khách quan hơn

Các định nghĩa tiêu biểu về rủi ro như :

“Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả” (theo William &MichaelSmith, 1995, Risk Management and Insurance)

“Rủi ro là các biến cố không thể đoán trước được” (Doherty, Corporate RiskManagement)

“Rủi ro là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậuquả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không như dự tính” (theo công ty liên doanhbảo hiểm Việt Úc - QBE, 1999, tài liệu hướng dẫn đại lý, cộng tác viên khai thácbảo hiểm)

Xem xét ba định nghĩa thuộc quan điểm hiện đại nói trên, ta có một điểmchung là rủi ro luôn xuất hiện khi kết quả nó mang lại không thể đoán trước mộtcách chính xác Những định nghĩa này khác với các định nghĩa theo quan điểmtruyền thống ở chỗ không cho rằng rủi ro chỉ thuần tuý là những khả năng có thểxảy thiệt hại mà kết quả do nó mang lại được nhấn mạnh là không thể dự đoántrước nhưng khả năng có thể là kết quả tốt hoặc kết quả xấu

Nói một cách khác, các định nghĩa theo quan điểm hiện đại đã xem xét rủi ro

ở một phạm vi rộng hơn, bao trùm hơn so với quan điểm truyền thống

Trang 6

1.1.2 Nhận dạng, nguyên nhân và đánh giá rủi ro

1.1.2.1 Nhận dạng rủi ro

Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng được rủi ro Nhận dạng rủi ro làquá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động kinh doanhcủa tổ chức Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồngốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất.Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc như theo dõi, xem xét nghiên cứu môitrường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm thống kê được tất

cả các rủi ro đã và đang xảy ra bên cạnh đó còn dự báo được những rủi ro mới cóthể xuất hiện đối với tổ chức trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tàitrợ rủi ro thích hợp Để nhận dạng rủi ro các doanh nghiệp có thể sử dụng các giảipháp sau:

+ Sử dung mẫu bảng hỏi

Các câu hỏi có thể sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro, hoặc môi trường tác động:như tổ chức đã gặp phải những loại rủi ro nào? Tổn tất là bao nhiêu? Số lần xuấthiện của những loại rủi ro đó trong trong một khoảng thời gian nhất định? Nhữngbiện pháp phòng ngừa, biện pháp tài trợ rủi ro đã được sử dụng…

+ Phân tích báo cáo tài chính

Đây là phương pháp thông dụng mọi tổ chức đều sử dụng ở nhiều mức độ,

và những mục đích khác nhau Thông qua việc phân tích bảng tổng kết tài sản,báo cáo hoạt động kinh doanh người ta có thể xác định mọi nguy cơ về tài sản,nguồn nhân lực và trách nhiệm pháp lý

+ Sử dụng các qui trình

Đối với phương pháp này các doanh nghiệp dựa và từng qui trình, công đoạncủa quá trình sản xuất kinh doanh để tìm ra các loại rủi ro tiềm ẩn trong từng quitrình đó

+ Kiểm tra thực tế và làm việc với các bộ phận liên quan

Trang 7

Các nhà quản trị quan sát, theo dõi trực riết hoạt động của các bộ phận trong

tổ chức trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá các loại rủi ro mà tổ chức cóthể gặp phải

+ Nghiên cứu các số liệu rủi ro/tổn thất từng xảy ra trong quá khứ

Thông qua nghiên cứu số liệu rủi ro trong quá khứ các nhà quản trị sẽ nhậndạng được các loại rủi ro thường xảy ra trong tổ chức trên cơ sở đó đưa ra từngbiện pháp cụ thể cho từng loại rủi ro

1.1.2.2 Nguyên nhân xảy ra rủi ro

+ Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên

Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: Động đất, núi lửa,bão, lũ lụt, sóng thần, sét đánh, đất lở, hạn hán…Những rủi ro này thường dẫnđến thiệt hại to lớn về người và của làm cho các doanh Nghiệp bị tổn thất nặngnề

+ Nguyên nhân do con người

Loại rủi ro này do một cà nhân hoặc một nhóm người gây ra, nó xuất phát từ

ý thức của con người có thể là lỗi vô tình hoặc cố ý

+ Nguyên nhân kinh tế

Nhóm rủi ro này do tác động của chính phủ hay một nhóm người giữ một vịtrí quan trọng nào đó Do vậy, bất cứ sự điều chỉnh nào trong các chính sách củanền kinh tế của ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp

1.1.2.3 Đánh giá rủi ro

Nhận dạng rủi ro là bước đầu của quá trình quản trị rủi ro tuy nhiên rủi ro córất nhiều loại một tổ chức không thể kiểm soát, phòng ngừa tất cả mọi loại rủi ro

Vì vậy, cần phân loại rủi ro, cần biết được đối với tổ chức loại rủi ro nào xuấthiện nhiều, loại nào xuất hiện ít, loại nào gây ra hậu quả nghiêm trọng còn loại

Trang 8

nào ít gây ra nghiêm trọng hơn… từ đó có biện pháp quản trị rủi ro thích hợp Đểlàm được việc này các doanh nghiệp cần tiến hành đánh giá các loại rủi ro.

Đánh giá rủi ro là hoạt động khá cần thiết và quan trọng nhằm xác định haithành phần cơ bản của rủi ro là tấn suất và mức độ nghiêm trọng của các loại rủiro

Để đánh giá rủi ro các doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp địnhlượng đo lường rủi ro sau:

+ Sử dụng công cụ toán xác suất thống kê

+ Dựa vào các đại lượng thông kê như: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn hệ

số biến thiên

+ Phân tích và dự báo xu hường sử dụng hàm hồi quy

+ Phân tích dòng tiền

+ Sử dụng thang điểm để đánh giá

Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn có thể sử dụng ma trận đo lường rủi ro đểđánh giá các loại rủi ro

Tần suất xuất hiện Mức độ

Nghiêm trọng

Cao Thấp

Cao

I

II

Thấp

III IV

Trang 9

I : Những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất xuất hiện cao

II: Những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao nhưng tần suất xuất hiện thấp.III: Những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp nhưng tần suất xuất hiện cao.IV: Những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất xuất hiện thấp

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Các loại rủi ro thường gặp trong ngành sản xuất đường.

* Rủi ro về kinh tế

- Rủi ro về lãi suất

- Rủi ro về tỷ giá ngoại hối

* Rủi ro về nguyên vật liệu

* Rủi ro trong đầu tư vùng nguyên liệu

* Rủi ro về pháp luật

* Rủi ro về giá đường

* Các rủi ro khác: (thiên tai, hạn hán, bão lụt, dịch bệnh, hỏa hoạn )

1.2.2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong các nhà máy đường

Môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt, do vậycông tác quản trị rủi ro trong các doanh nghiệp đòi hỏi phải giữ một vị trí quantrọng hơn Tuy nhiên công tác này chỉ được chú trọng trong một số doanh nghiệpnhư các ngân hàng, các công ty kinh doanh bảo biểm, chứng khoán còn một sốdoanh nghiệp chưa thực sự quan tâm tới công tác quản trị rủi ro Các nhà máyđường hiện nay cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó

Trang 10

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH ĐƯỜNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG BIÊN HÒA

***

I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG BIÊN HÒA

2.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần đường Biên Hòa

Công ty cổ phần Đường Biên Hoà nằm tại đường số 1- Khu công nghiệpBiên Hoà I - Đồng Nai, cách Thành phố Hồ Chí Minh 25km về phiá Đông Bắc,cách cảng Cogido, cảng Đồng Nai và cảng Bình Dương khoảng 1,5km, rất thuậnlợi cho việc lưu thông đường bộ và đường thuỷ Tại đây, Công ty có các nhà máysản xuất đường luyện, rượu các loại và

một hệ thống kho bãi rộng lớn

Tổng diện tích mặt bằng của

Công ty: 198.245,9m², Với tổng số lao

động hơn 730 người, Công ty chuyên

sản xuất và kinh doanh các lĩnh vực:

- Sản xuất và kinh doanh các

sản phẩm mía đường, các sản phẩm

sản xuất có sử dụng đường, sản phẩm

sản xuất từ phụ phẩm và phế phẩm

của ngành mía đường

- Mua bán máy móc, thiết bị vật

tư ngành mía đường

- Sửa chữa, bảo dưỡng, lắp đặt các thiết bị ngành mía đường

- Thi công các công trình xây dựng và công nghiệp

- Mua bán, đại lý ký gởi hàng nông sản, thực phẩm công nghệ, nguyên liệu,vật tư ngành mía đường

- Dịch vụ cho thuê kho bãi – vận tải

- Dịch vụ ăn uống

- Sản xuất và kinh doanh sản phẩm rượu các loại

Với hệ thống hơn 200 đại lý trải dài từ Bắc đến Nam và 4 chi nhánh: tại Thủ

đô Hà Nội, Thành phố Đà Nẵng, Thành phố HCM và Thành phố Cần Thơ, cácsản phẩm cuả Công Ty đã được đông đảo người tiêu dùng trong cả nước biết đến

và tin dùng Trong đó, Tại Tây Ninh Công ty có một nhà máy Đường thô năngsuất 3.500 tấn/ngày với tên gọi nhà máy Đường Biên Hòa - Tây Ninh, nằm tại XãTân Bình, thị xã Tây Ninh, với một nông trường và các nông trại trực thuộc códiện tích hơn 1000ha Đây là nơi cung ứng nguyên liệu cho sản xuất đường luyện

Trang 11

và cũng là nơi sản xuất xuất ra hàng ngàn tấn phân hữu cơ vi sinh phục vụ chonông nghiệp.

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty

Các giai đoạn phát triển:

- Năm 1968, Công ty được thành lập với tên gọi là nhà máy đường Biên Hòavới sản phẩm là đường ngà công suất 400 tấn/ ngày và chưng cất rượu Rhum

- Từ năm 1969 – 1971, Lắp đặt và đưa vào hoạt động nhà máy luyện đườngnăng suất 200 tấn/ngày, sản xuất từ nguyên liệu chính là đường thô nhập khẩu.Đến năm 1995 đã được đầu tư nâng công suất lên 300 tấn/ ngày

- Từ năm 1971 – 1983, Sản xuất đường luyện, rượu mùi, bao đay

- Từ năm 1983 – 1989, Giai đoạn này không sản xuất đường luyện do gặpkhó khăn về nhập khẩu đường nguyên liệu

- Năm 1990, Khôi phục phân xưởng luyện đường và bắt đầu sản xuất đườngluyện năng suất 200 tấn thành phẩm/ngày Nghiên cứu và áp dụng thành côngcông nghệ sản xuất đường luyện từ nguyên liệu đường kết tinh thủ công sản xuấttrong nước để thay thế một phần đường thô nhập khẩu Đầu tư mới phân xưởng sản xuất kẹo năng suất 5 tấn thành phẩm/ngày

- Năm 1994, Nhà máy Đường Biên Hòa đổi tên thành Công ty Đường Biênhòa, là doanh nghiệp hạch toán độc lập có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp

- Năm 1995, Đầu tư mới thiết bị, mở rộng phân xưởng đường luyện nângnăng suất lên 300 tấn thành phẩm/ngày.Đầu tư mới thiết bị, mở rộng phân xưởngkẹo nâng năng suất sản xuất kẹo mềm và kẹo cứng các loại lên 30 tấn thànhphẩm/ngày Đầu tư mới dây chuyền sản xuất nha năng suất 18 tấn thànhphẩm/ngày

- Năm 1995 – 1996, Đầu tư mới dây chuyền sản xuất bánh cookies năng suất

8 tấn thành phẩm/ngày

- Từ năm 1996 – 1997, Đầu tư Nhà Máy Đường Biên Hòa – Tây Ninh côngsuất 2.500 tấn mía/ngày Từ 2001 - 2003 : Công ty đầu tư thêm một số thiết bị,nâng cấp nhà máy Đường Biên Hòa - Tây Ninh lên năng suất 3.500 tấn mía/ngày.Đầu tư vùng nguyên liệu mía có diện tích 6.000 ha tại Tây Ninh Đầu tư mới dâychuyền sản xuất kẹo dẻo Jelly năng suất 8 tấn thành phẩm/ngày

- Năm 1999, Cổ phần hóa các phân xưởng Bánh, Kẹo, Nha để thành lậpCông ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa Thành lập phân xưởng sản xuất phân vi sinhtại Tây Ninh với năng suất ban đầu 10.000 tấn/năm, nguyên liệu từ bã bùn và tro

- Năm 2000, Được tổ chức BVQI (Vương quốc Anh) cấp giấy chứng nhậnđạt hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002:1994 và đến năm 2004đước tái đánh giá và cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩnISO 9001:2000 Đầu tư thêm thiết bị cho dây chuyền đường luyện, cho ra sảnphẩm mới: đường que, đường túi 8 grams

Trang 12

- 7/11/2000, Công ty được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu anh hùng laođộng

- Từ năm 2001 đến nay, Công Ty đã liên tục đầu tư mở rộng lĩnh vực chothuê kho bãi Hiện nay, Công Ty đã có hệ thống kho khá hoàn chỉnh, tiện lợi vớidiện tích chứa hơn 20.000 m2

- Tháng 5/2001, Hoàn tất quá trình cổ phần hóa Công ty và chuyển đổi hoạtđộng theo cơ chế Công ty cổ phần với tên gọi là Công ty Cổ phần Đường BiênHòa

- Tháng 8/2001, Triển khai dự án đầu tư mới phân xưởng sản xuất rượu lênmen từ trái cây và nếp cẩm, công suất 1.000.000 lít/năm

- Tháng 10/2006, Công ty nâng vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổphiếu Vốn điều lệ hiện nay là 162 tỷ đồng

- Tháng 12/2006, Cổ phiếu Công ty chính thức được niêm yết trên sàn giaodịch chứng khoán Công Ty triển khai dự án xây dựng cụm chế biến phía tâysông Vàm Cỏ, mở đầu 1 giai đoạn phát triển mới của công ty

Trang 13

2.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty

Trang 14

2.1.4 Tình hình nguồn vốn và cơ cấu tài sản của công ty

2.1.4.1 Đánh giá về cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

Căn cứ vào bảng số 1 và số 2 qua 3 năm 2006-2007-2008 cho thấy:

- Nguồn vốn có xu hướng tăng lên vào năm 2007 và giảm đi vào năm 2008

- Nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu chênh nhau không nhiều, trong đónguồn vốn chủ sở hữu lớn hơn nguồn vốn vay

- Nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên trong năm 2007 và giảm đi trong năm 2008

- Nguồn vốn vay giảm trong năm 2007 và tăng lên trong năm 2008

- Nợ ngắn hạn có xu hướng tăng lên và nợ dài hạn có xu hướng giảm đi

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn

Nhìn chung cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp đường Biên Hòa là khá hợp

lý, cơ bản doanh nghiệp đã sử dụng 2 nguồn vốn đó là vốn vay ngân hàng và vốngóp cổ đông, vốn góp cổ đông (vốn chủ sở hữu) lớn hơn vốn vay ngân hàng với

tỷ lệ hợp lý Điều này chứng tỏ doanh nghiệp có thể tự chủ về vốn Ngoài radoanh nghiệp còn phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường đây là một kênh huyđộng vốn khá hữu ích cho doanh nghiệp

Bảng 2: Bố trí cơ cấu nguồn vốn

Trang 15

Chỉ tiêu Đvt 2006 2007 2008

NPT / Tổng nguồn vốn (%) 40.00 43.18 44.66VCSH / Tổng nguồn vốn (%) 60.00 56.82 55.34

Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên trong năm 2007 (từ 40% năm

2006 tăng lên 43,18% trong năm 2007), nguyên nhân chủ yếu là do nợ phải trảcủa doanh nghiệp tăng lên từ 236 tỷ VND lên 287 tỷ VND, trong đó nợ ngắn hạncủa doanh nghiệp tăng lên đáng kể (74 tỷ VND trong năm 2006 lên tới 100 tỷVND tương đương gần 30 tỷ VND)

Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp có xu hướng giảm vào năm 2008 từ

667 tỷ xuống còn 598 tỷ giảm gần 70 tỷ VND, nguyên nhân chủ yếu là do nguồnvốn chủ sở hữu giảm xuống từ 380 tỷ trong năm 2007 thì năm 2008 chỉ còn 331

tỷ VND giảm gần 50 tỷ VND Điều này chứng tỏ việc huy động vốn của doanhnghiệp trong năm 2008 là gặp khó khăn, kéo theo việc đầu tư của doanh nghiệpcũng không thực sự thuận lợi, điều này đã được chứng minh bằng kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2008 (theo báo cáo kết quả báo cáotài chính của doanh nghiệp) là lỗ gần 44 tỷ VND Tuy nhiên đây không phải là lý

do chính dẫn đến tình trạng kinh doanh thua lỗ của doanh nghiệp

2.1.4.2 Đánh giá về tài sản của doanh nghiệp qua 3 năm 2008:

2006-2007-Bảng 3: Đánh giá về tài sản

Trang 16

- Tài sản dài hạn có xu hướng tăng lên

Tổng tài sản của doanh nghiệp trong 3 năm có xu hướng tăng lên vào năm

2007 Nguyên nhân chính là do tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của doanhnghiệp đều tăng lên một cách đáng kể (gần 40 tỷ), trong đó chỉ số tài sản tài sảnngắn hạn tăng lên là do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu

và lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp tăng lên

Chỉ số tài sản dài hạn tăng lên nguyên nhân chủ yếu là từ các khoản đầu tưtài chính dài hạn, tài sản cố định và các loại tài sản khác tăng lên Điều này chứng

tỏ doanh nghiệp đã làm tốt công tác đầu tư vào tài sản trong đó chỉ tiêu đáng lưutâm đó là chỉ tiêu đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn của công ty chiếm một tỷ

lệ rất cao điều này cho thấy rằng doanh nghiệp khá năng động trong lĩnh vực đầu

tư tài chính của công ty Song, đầu tư tài chính là lĩnh vực tiềm ẩn khá nhiều rủi

ro, do vậy đây là vấn đề mà doanh nghiệp rất cần lưu tâm và làm tốt công tácquản trị rủi ro

Tuy nhiên trong năm 2008 cơ cấu tài sản của doanh nghiệp lại giảm mộtkhoản cũng không phải là nhỏ gần 70 tỷ VND nguyên nhân chủ yếu là do:

- Thứ nhất là do tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp giảm đi gần 100 tỷVND Trong đó chủ yếu là do hàng tồn kho của doanh nghiệp tăng lên nhiều sovới 2007 và 2006, trong năm 2007 hàng tồn kho của doanh nghiệp tăng lên 16%thì trong năm 2008 hàng tồn kho đã tăng lên >100% Điều này chứng tỏ doanhnghiệp chưa làm tốt khâu bán hàng và tiêu thụ sản phẩm tìm kiếm đầu ra cho sảnphẩm

- Thứ hai là do các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp cũnggiảm mạnh từ 175 tỷ VND năm 2007 xuống còn 1,3 tỷ VND vào năm 2008(giảmxấp xỉ 100%), điều này cho thấy việc đầu tư tài chính ngắn hạn của công tykhông thật ổn định Nguyên nhân không hẳn hoàn toàn từ phía doanh nghiệp mà

có thể là do thị trường tài chính mất ổn định, đây có thể xem là một trong những

Trang 17

rủi ro mà các doanh nghiệp phải gánh chịu khi tham gia vào thị trường tài chínhbởi vì do thị trường tài chính trong nước còn rất nhiều hạn chế.

* Đánh giá cơ cấu thành phần của tổng tài sản theo tài sản cố định và tài sản lưu động của công ty:

Bảng 4: Bố trí cơ cấu tài sản

Tài sản cố định / Tổng tài sản (%) 44,08 45,51 53,59Tài sản lưu động / Tổng tài sản (%) 55,92 54,49 46,41

Theo bảng số liệu các chỉ số TSCĐ/TTS và TSLĐ/TTS của công ty ta thấy:

Cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp có tăng từ 44% trong năm 2006 lên 45%trong năm 2007 và 54% trong năm 2008 Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã tíchcực đầu tư vào tài sản cố định của công ty như máy móc trang thiết bị vận tải…Báo cáo của doanh nghiệp cho thấy tài sản cố định của doanh nghiệp tăng lên chủyếu là do đầu tư vào mua sắm trang thiết bị máy móc, nhà xưởng, phương tiệnvận tải một phần vào tài sản cố định vô hình Cơ cấu tài sản lưu động của doanhnghiệp lại có xu hướng giảm qua các năm

2.1.5 Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng 5: Kết quả hoạt động kinh doanh (2006 - 2008)

Trang 18

TDT(%) Giá trị

Tỉ lệ so TDT(%) Giá trị

Tỉ lệ so TDT(%) +/- % +/- % TDT 767.947 100 643.35 100 792.244 100 -124.6 83.77 148.894 123.14

CP 720.526 93.82 589.717 91.66 835.52 105.46 -130.81 81.84 245.803 141.68

LNTT 47.421 6.18 53.633 8.44 -43.276 -5.46 6.212 113.09 -96.909 80.69

Từ những số liệu thu được từ các bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp

từ năm 2006 đến năm 2008 ta có thể rút ra được một số nhận xét sau:

Qua ba năm các chỉ tiêu tài chính phản ánh tình hình hoạt động của công ty

có sự biến động về mặt giá trị, có một số biến động theo hướng tích cực, trong

khi đó một số khác theo chiều hướng tiêu cực, qua đó phản ánh rõ ràng và khách

quan tình hình hoạt động của doanh nghiệp Ta thấy trong năm 2006, tổng doanh

thu đạt mức 767.947 tỷ đồng, với mức tổng chi phí của cả năm là 720.526 tỷ

đồng chiếm tỉ lệ 93,82 % so với tổng doanh thu, để trang trải cho các khoản đầu

tư, và các khoản chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Doanh thu

tương đối cao nhưng với một mức chi phí cao mà doanh nghiệp đã bỏ ra do đó

mà lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được là chưa đáng kể, tổng lợi nhuận sau thuế

so với tổng doanh thu về mặt tương đối là 6,18 % (tương ứng là 47.421 tỷ đồng),

đây không phải là một con số mỹ mãn Tuy nhiên, qua đó cho ta thấy được công

ty hoạt động có lãi, có hiệu quả và hơn hết là có tiềm năng phát triển trong những

chu kỳ kinh doanh sắp tới

Bước qua năm 2007, tổng doanh thu và tổng chi phí của công ty đã có nhiềubiến động đáng kể, tổng doanh thu chỉ ở mức 643.360 tỷ đồng, giảm đi 124.6 tỷ

đồng, so về mặt tương đối chỉ bằng 83,77 % so với năm 2006 Điều này vừa là

nhược điểm chủ quan và khách quan của doanh nghiệp trong sản xuất kinh

doanh Qua đó cần phải xem xét lại các nhược điểm chủ quan của doanh nghiệp,

qua việc doanh thu giảm sút đã thể hiện ra được sự sa sút của doang nghiệp trong

Trang 19

công tác mở rộng thị trường và vấn đề tiêu thụ sản phẩm (tính đến cuối năm 2007hàng tồn kho của doanh nghiệp là 77.619 tỷ đồng) Mặc dù doanh thu giảm đáng

kể so với năm 2006 và tỉ lệ tổng chi phí trên tổng doanh thu vẫn còn lớn (91,66 %

so với doanh thu) nhưng lợi nhuận sau thuế mà công ty đạt được lại tăng cao hơn

so với năm 2006 (từ 47.421 tỷ đồng năm 2006 lên 53.633 tỷ đồng năm 2007),qua đó thể hiện được phần nào thành tích của doanh nghiệp trong việc khôngngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

Trong năm vừa qua (năm 2008) có thể xem là một năm đầy khó khăn vàthách thức không chỉ đối với doanh nghiệp kinh doanh trong nghành đường nóiriêng mà còn cho tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khác nóichung Cùng với nhiều nguyên nhân chủ quan xuất phát từ bên trong doanhnghiệp, cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu và những khó khăn về giá míanguyên liệu, lãi suất ngân hàng tăng, và thời tiết không thuận lợi… đã làm tổngchi phí của doanh nghiệp đội lên rất cao lên tới 835.52 tỷ đồng (cao hơn năm

2007 là 245.803 tỷ đồng), vì thế tổng lợi nhuận đã giảm xuống tới mức làmcông ty thua lỗ 43.27 tỷ đồng, mặc dù tổng doanh thu tăng 148.894 tỷ đồng tươngứng tăng 23,14% so với năm 2007 (từ 643.35 triệu đồng năm 2007 lên 792.244 tỷđồng năm 2008) Kết quả kinh doanh năm 2008 phản ánh rõ những khó khăn màdoanh nghiệp đã trải qua, qua đó cũng phần nào cho thấy doanh nghiệp chưaquản trị tốt hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời khủng hoảng

Trong 3 năm từ 2006 đến 2008, tỷ lệ giữa tổng chi phí so với tổng doanh thu

là khá cao (trên 91%) và có sự biến động thất thường qua các năm củ thể là năm

2006 là 93.82 %, năm 2007 có xu hướng giảm với tỷ lệ là 91.66% nhưng quanăm 2008 đã tăng lên 141.68 % Qua đó cho thấy ngoài những nguyên nhânkhách quan tác động đến doanh nghiệp thì cho thấy sự yếu kém trong công táchoạch định và quản lí nguồn chi phí của doanh nghiệp, thể hiện công tác nâng

Trang 20

cao hiệu quả sản xuất còn chưa tốt Chính điều này sẽ dẫn đến một số rủi ro nhấtđịnh trong hoạt động sản xuất cho công ty trong tương lai.

Bảng 6: Một số chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động

Kỳ thu tiền bình quân ngày 52.45 58.52 47.99

Hiệu suất sự dụng tài sản

Hiệu suất sự dụng tài sản lần 1.30 0.96 1.32

Qua bảng chỉ tiêu trên ta thấy vòng quay tồn kho của doanh nghiệp giảmdần qua các năm đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Số vồng quay dữ trữ năm nay thấp hơn năm trước,từ 11.9vòng của năm 2006 và giảm xuống còn 4.79 vòng trong năm 2008, qua đó chứng

tỏ sự giảm sút và ngày càng kém hiệu quả trong hoạt động quản lí dữ trữ củadoanh nghiệp Điều này sẽ gây rủi ro cho việc tiêu thụ hàng hoá tồn kho hay nóichính xác hơn là tính thanh khoản của hàng hoá tồn kho

Chỉ số kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp qua các năm như sau năm

2006 là 52.45, năm 2007 là 58.52, năm 2008 là 47.99 Chỉ số này đánh giá khảnăng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bìnhquân môt ngày Kỳ thu tiền bình quân của năm 2006 cao hơn năm 2007, và đã có

xu hướng giảm trong năm 2008 nhưng vẫn còn cao Điều này cho thấy vốn củadoanh nghiệp còn bị ứ động lớn trong khâu thanh toán, gây rủi cho việc thu hồivốn

Trang 21

Căn cứu vào bảng số liệu ở bảng 6 ta thấy chỉ số khả năng thanh toán nhanh

của doanh nghiệp năm 2008 giảm xuống: từ 2,80 (lần) năm 2007 giảm còn 1,01vào năm 2008 Đây là một chỉ tiêu đánh giá về khả năng thanh toán của doanhnghiệp, chỉ số này giảm đi chứng tỏ doanh nghiệp đang gặp những khó khănnguyên nhân chính là do các khoản nợ của doanh nghiệp (nợ ngắn hạn và nợ dàihạn) có xu hướng đều tăng lên và các khoản tiền và tương đương tiền của doanhnghiệp cũng giảm một cách đáng kể

Bên cạnh đó các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp trong năm 2008như tỷ suất lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận sau thuế/doanh thuthuần, tỷ suất lợi nhuận sau thuế/nguồn vốn chủ sở hữu đều bị âm nguyên nhânchính là do lợi nhuận của doanh nghiệp bị lỗ trong năm 2008

Bảng 7 : Các chỉ số tài chính

1 Khả năng thanh toán

- Khả năng thanh toán hiện hành Lần 2,50 2,33 2,24

- Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Lần 4,43 3,61

- Khả năng thanh toán nợ dài hạn Lần 1,61 1,63

2 Tỷ suất sinh lời

2.1 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh

2.2 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài

2.3 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên

Căn cứu vào bảng số liệu ở bảng 7 ta thấy chỉ số khả năng thanh toán nhanh

của doanh nghiệp năm 2008 giảm xuống: từ 2,80 (lần) năm 2007 giảm còn 1,01

Ngày đăng: 19/10/2013, 22:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Đánh giá về tài sản - Nghiên cứu đề tài “Đánh giá ruỉ ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa”
Bảng 3 Đánh giá về tài sản (Trang 15)
Bảng 7 : Các chỉ số tài chính - Nghiên cứu đề tài “Đánh giá ruỉ ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa”
Bảng 7 Các chỉ số tài chính (Trang 21)
Bảng 8: Vòng quay khoản phải thu - Nghiên cứu đề tài “Đánh giá ruỉ ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa”
Bảng 8 Vòng quay khoản phải thu (Trang 22)
Bảng 9: Chi phí tài chính - Nghiên cứu đề tài “Đánh giá ruỉ ro trong quá trình hoạt động của Công ty Cổ phần đường Biên Hòa”
Bảng 9 Chi phí tài chính (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w