Một thực tế đáng chú ý là hầu hết những chương trình THTT đang thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của khán giả và truyền thông trong khoảng vài năm trở lại đây không phải là các chương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01 Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận “ Quá trình Việt hóa các chương trình Truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài ” là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi Các số liệu và dẫn chứng trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực
Tác giả luận văn
Đỗ Viết Hùng
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Quá trình Việt hóa các chương trình Truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài” là kết quả quá trình học tập của tôi tại trường Đại học
Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, hoàn chỉnh luận văn
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo đóng góp ý kiến, bổ sung để luận văn của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tác giả luận văn
Đỗ Viết Hùng
Trang 5Huấn luyện viên: HLV
Ban giám khảo: BGK
Biên tập viên: BTV
Giọng hát Việt: GHV
Vietnam's Got Talent: VNGT
Vietnam's Next Top Model: VNTM
Bước nhảy hoàn vũ: BNHV
Cuộc đua kỳ thú: CĐKT
Nhà xuất bản: NXB
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI - TỪ GÓC NHÌN LÝ LUẬN & THỰC TIỄN 9
1.1 Truyền hình thực tế là một hiện tượng của truyền hình thế giới thế kỷ 20 9
1.2 Truyền hình thực tế du nhập và làm mới truyền hình Việt Nam 26
1.3 Việt hóa truyền hình thực tế từ góc nhìn văn hóa truyền thông 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI (QUA 5 CHƯƠNG TRÌNH TIÊU BIỂU TỪ NĂM 2011 ĐẾN 2014 Ở VIỆT NAM) 45
2.1 Tiêu chí lựa chọn chương trình để phân tích thực trạng Việt hóa 45
2.2 Vài nét về 5 format chương trình được chọn để khảo sát 46
2.3 Thực trạng Việt hóa 5 chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài 54
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 86
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI 87
3.1 Đánh giá chung về 5 chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài 87
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng Việt hóa truyền hình thực tế 101
3.3 Mô hình Việt hóa Truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài 113
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong vài thập niên trở lại đây, truyền hình thực tế (THTT) (tên tiếng anh: Reality Television) trở thành một thể loại, một phương thức sản xuất chương trình được đặc biệt ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới (dù đã manh nha ra đời từ những năm 1940), đặc biệt là ở các quốc gia có nền truyền hình phát triển mạnh như
Mỹ, Anh, Hà Lan Sức hút của THTT đến từ những chương trình truyền hình về con người thật, sự việc thật, cảm xúc thật, trải nghiệm thật qua đó kích thích, khởi dậy ở người xem khả năng học hỏi, r n luyện vượt qua những khó khăn, th thách trong cuộc sống để ngày càng hoàn thiện mình hơn Sự phát triển mạnh của THTT được nhận định là một xu hướng tất yếu của truyền hình thế giới, một hiện tượng văn hóa đại chúng toàn cầu trong thế kỷ 20
Sau khi đạt được nhiều thành công vang dội ở các nước phương Tây bởi tính mới mẻ và thu hút được một số lượng người xem khổng lồ cũng như tạo ra nguồn lợi nhuận không nhỏ, “cơn sóng” THTT bắt đầu lan sang các quốc gia châu Á, trong
đó có Việt Nam Khi chương trình Khởi nghiệp lên sóng ĐTH Việt Nam vào năm
2005, rồi Phụ nữ thế kỉ 21 vào năm 2006, THTT vẫn còn là một khái niệm mới mẻ
và khá mơ hồ với phần lớn công chúng Việt Nam Nhưng chỉ sau khoảng 6 năm, đến nay, THTT đã trở thành một cụm từ quá quen thuộc với công chúng cả nước Không chỉ nhiều về số lượng mà các chương trình còn đa dạng về nội dung, hình thức, mang tới cho công chúng món ăn tinh thần mới mẻ, hấp dẫn, trong bối cảnh game show truyền hình truyền thống đang thoái trào Các chương trình ăn khách nhất hiện nay đều do các công ty tư nhân liên kết với nhà Đài để sản xuất và chúng hiện đang chiếm lĩnh sóng giờ vàng trên hai Đài truyền hình lớn nhất cả nước là Đài truyền hình Việt Nam VTV và Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh HTV Một thực tế đáng chú ý là hầu hết những chương trình THTT đang thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của khán giả và truyền thông trong khoảng vài năm trở lại đây không phải là các chương trình có ý tưởng format do người Việt sáng tạo
ra, mà chủ yếu là những chương trình có tính giải trí cao được mua bản quyền của nước ngoài Ước tính số lượng các chương trình có format ngoại đã lên tới khoảng
Trang 850 chương trình Một con số đáng kinh ngạc cho thấy sự phát triển với tốc độ nhanh của THTT tại Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu kĩ lưỡng và đa chiều về THTT là một nhu cầu bức thiết hiện nay
Mặt khác, hầu hết các chương trình nói trên dù có thể đạt được thành công lớn
về lợi nhuận nhờ quảng cáo và tin nhắn bình chọn của khán giả, nhưng vẫn còn tồn tại không ít bất cập về nội dung và hình thức do khâu Việt hóa chưa tốt Điều này xuất phát từ việc bản thân các chương trình truyền hình khi ra đời ở một quốc gia nào thì sẽ phù hợp với sinh hoạt văn hóa và đối tượng tiếp nhận là công chúng của quốc gia đó Được sáng tạo và sản xuất ở nước ngoài, bởi người nước ngoài và dành cho khán giả nước ngoài, nên khi được mang về Việt Nam, các format chương trình này cần phải được chế biến theo cách Việt, nghĩa là được Việt hóa nhuần nhuyễn, thích hợp với thuần phong mỹ tục, thị hiếu và tâm lí tiếp nhận của người Việt Đây
là một điều tất yếu Nếu không, các chương trình có thể gây ra những cú sốc văn hóa, khó được khán giả bản địa tiếp nhận, hoặc thậm chí là bị tẩy chay sau những giây phút ban đầu họ tò mò, hứng khởi theo dõi Bản địa hóa cũng chính là một nguyên tắc chung trong quá trình chuyển giao bản quyền format chương trình truyền hình từ nước này sang nước khác, chứ không phải đối với riêng Việt Nam Thực tế cho thấy, THTT có bản quyền nước ngoài đã và đang gặp không ít rào cản trong quá trình "nhập gia tùy tục" với văn hóa Việt Nam, do những khác biệt trong văn hóa Và một số chương trình, trong thời điểm hiện tại, vẫn là tương đối mới mẻ bỡ ngỡ với những gì mà khán giả Việt đã quen tiếp nhận trên truyền hình Đây cũng là một trong những căn nguyên dẫn tới những scandal, tai tiếng và tranh
luận trái chiều liên quan tới THTT Việt trong suốt thời gian qua Gần đây, tại nước
láng giềng của Việt Nam là Trung Quốc, Tổng cục Báo chí, Xuất bản, Phim truyện, Phát thanh và Truyền hình nước này đã ra quyết định sẽ hạn chế số lượng các chương trình THTT tìm kiếm tài năng ca hát trên truyền hình để tránh sự đơn điệu, một màu Theo Ủy ban này, những cuộc thi tìm kiếm tài năng có bản quyền nước ngoài hiện đang lũng đoạn các CTTH, và có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của ngành truyền hình Trung Quốc nói chung Vậy phải chăng ở Việt Nam, các cấp quản lý đang không quan tâm, thậm chí vô cảm với sự phát triển quá nóng của
Trang 9THTT Liệu các chương trình THTT mua bản quyền nước ngoài sẽ chỉ bùng nổ tại Việt Nam trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng rơi vào sự nhàm chán, bão hòa, phải dừng sản xuất sau một vài mùa phát sóng Những nhà quản lý báo chí Việt Nam cần phải điều chỉnh thế nào để THTT không vượt khỏi tầm tay của mình Đội ngũ những người sản xuất chương trình THTT của Việt Nam cần rút ra được những bài học kinh nghiệm gì cho mình
Những câu hỏi nêu trên chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài luận văn "Quá
trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền nước ngoài" và
lựa chọn 5 chương trình THTT tiêu biểu để làm tư liệu khảo sát và phân tích cho
vấn đề nghiên cứu của luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Báo chí truyền hình nói chung là một lĩnh vực đã được nhiều tác giả cả ở
trong và ngoài nước nghiên cứu Tuy nhiên, các tài liệu truyền hình nước ngoài thường viết một cách trừu tượng, nặng về lý thuyết và tương đối khó hiểu Tại Việt
Nam, có thể kể tới một số cuốn sách khái quát và dễ đọc như Giáo trình Báo chí
Truyền hình của PGS,TS Dương Xuân Sơn (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009),
cuốn Sản xu t chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh (NXB Văn hóa
Thông tin Hà Nội, 2003)
Về THTT nói riêng, với lịch s hình thành phát triển khoảng 70 năm, THTT
đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà báo, nhà nghiên cứu truyền thông,
xã hội học nước ngoài Có thể kể tới một số đầu sách tiêu biểu như: Reality
Television - Merging the Global and the Local của tác giả người Mỹ Amir Hetsroni,
nhà xuất bản Nova Science Publishers phát hành năm 2010; TV Formats
Worldwide: Localizing Global Programs của tác giả Albert Moran, do Intellect
Books phát hành tại Australia năm 2009; Reality TV: The Work of Being Watched
(Critical Media Studies: Institutions, Politics, and Culture) của Mark Andrejevic,
do nhà xuất bản Rowman & Littlefield Publishers phát hành năm 2003; Reality TV:
Audiences and popular factual television của nhà nghiên cứu người Anh Annette
Hill, do nhà xuất bản Routledge ấn hành năm 2005… Đặc biệt, 2 cuốn sách của tác
Trang 10địa hóa các format truyền hình quốc tế khi chúng được "xuất khẩu" và "nhập khẩu"
từ quốc gia này sang quốc gia khác, mà format THTT là một bộ phận quan trọng Đáng tiếc là những cuốn sách này cho tới nay chưa được dịch và xuất bản tại Việt Nam
Trên một số trang báo mạng điện t , báo in, tạp chí của Việt Nam thời gian
qua cũng đã có khá nhiều bài báo của phóng viên, nhà nghiên cứu và kể cả độc giả
đề cập tới sự phát triển đến bùng nổ của THTT tại Việt Nam nói chung, đặc biệt là phê phán những biểu hiện chạy theo lợi nhuận, lợi dụng chiêu trò thu hút quảng cáo, không chú trọng đúng mức đến việc "Việt hóa" gây ra những “thảm họa” THTT khiến dư luận bức xúc…
Năm 2007, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, sinh viên Trần Thái Thủy
đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thực trạng và triển vọng của chương
trình truyền hình thực tế ở Việt Nam" (Khảo sát các chương trình: Khởi nghiệp
(VTV3) từ tháng 11/2005 đến tháng 2/2006; Phụ nữ thế kỷ 21 (VTV 3) từ tháng 7/2006 đến tháng 10/2006; Ước mơ của tôi (VTV 3) từ tháng 3/2007 đến tháng
5/2007), dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Tạ Bích Loan Đây là công trình nghiên cứu
về THTT từ khá sớm Tuy nhiên vào thời điểm đó THTT tại Việt Nam còn khá non trẻ và chưa phát triển bùng nổ như hiện nay nên những kết quả nghiên cứu của khóa luận này cho tới nay đã khá cũ
Đầu năm 2013, tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, học viên Nguyễn Thị Hằng đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ
Nghi n c u truyền hình thực tế ở Việt Nam” (Khảo sát một số chương trình truyền
hình thực tế tiêu biểu: S Việt Nam – Hương vị cuộc sống, Con đã lớn khôn và Người
mẫu Việt Nam – Vietnam’s Next Top Model), do PGS, TS Nguyễn Đức Dũng hướng
dẫn Luận văn này đưa ra một phác thảo bước đầu về sự hình thành và phát triển, ưu
điểm và nhược điểm của các chương trình THTT nói chung tại Việt Nam Tháng
7/2014, học viên Nguyễn Thu Hương bảo vệ luận văn đề tài "Truyền hình thực tế ở
Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa Việt" (Khảo sát 5 chương trình: Giọng hát Việt (The Voice), Người mẫu Việt Nam (Vietnam's Next Top Model), Thần tượng âm nhạc (Vietnam Idol), Tìm kiếm tài năng Việt Nam (Vietnam's Got Talent), Cặp đôi
Trang 11hoàn hảo (Just The Two Of Us)), do PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái hướng dẫn
Cả hai tác giả của hai luận văn kể trên đều đã chỉ ra sự Việt hóa chưa tốt các
format” là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng nhiều chương
trình THTT mua bản quyền “chết yểu”, thất bại, bị khán giả tẩy chay hoặc gây ra những tranh luận trái chiều… Tuy nhiên, họ chưa đi sâu phân tích kỹ lưỡng, có hệ thống về quá trình chuyển giao bản quyền các format THTT diễn ra thế nào để từ
đó thấy được các NSX của Việt Nam đã kế thừa những gì và sáng tạo những gì để phù hợp với văn hóa và công chúng Việt, dựa trên format quốc tế ấy Đây cũng
chính là điểm mới của luận văn "Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình
thực tế mua bản quyền nước ngoài", theo nghiên cứu của tôi - người viết luận văn
này, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Thị Minh Thái
3 Mục đích và nội dung nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong quá trình Việt hóa các chương trình THTT mua bản quyền nước ngoài tại Việt Nam Thông qua đó, rút ra một số kinh nghiệm, đề ra những giải pháp có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn trong việc Việt hóa, để các nhà sản xuất chương trình THTT có thể kham thảo, tổ chức thực hiện khi quyết định mua một format THTT nào đó của nước ngoài Để thực hiện dược mục đích trên, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thu thập tư liệu từ các số phát sóng chương trình THTT mua bản quyền của nước ngoài thu hút được sự quan tâm lớn của dư luận và báo chí trong vài năm trở lại đây Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng thu thập các số phát sóng của một số chương trình trong diện khảo sát tại quốc gia bán format như Anh, Mỹ, kể cả các phiên bản chương trình THTT mà một số nước châu Á mua bản quyền khác như Hàn Quốc, Trung Quốc Đây là cơ sở để có thể đưa ra những so sánh, đánh giá ưu điểm, nhược điểm của việc Việt hóa
- Nghiên cứu những tài liệu ở trong và ngoài có liên quan đến đề tài (sách, công trình nghiên cứu, bài báo…)
Trang 12- Khảo sát, phân tích định tính và định lượng việc "Việt hóa" các chương trình dưới góc độ nội dung và hình thức
- Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu đối với một số nhà báo, người nghiên cứu giảng dạy trong lĩnh vực báo chí, truyền hình; đội ngũ sản xuất chương trình THTT
và khán giả xem truyền hình…
- Tổng hợp dữ kiện và rút ra kết luận
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Việt hóa các format truyền
hình thực tế mua bản quyền nước ngoài trong bối cảnh văn hóa, môi trường truyền thông có nhiều đặc thù của Việt Nam
Phạm vi khảo sát của luận văn là 5 chương trình THTT mua bản quyền nước ngoài đã được phát sóng trên kênh VTV 3 của Đài truyền hình Trung ương, gồm:
- The Voice – Giọng hát Việt (GHV)
- Bước nhảy hoàn vũ (BNHV)
- Người mẫu Việt Nam - Vietnam's Next Top Model (VNTM)
- Cuộc thi tìm kiếm tài năng Việt - Vietnam’s Got Talent (VNGT)
- Cuộc đua kỳ thú (CĐKT)
Phạm vi nghiên cứu đề tài "Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình
thực tế mua bản quyền nước ngoài" về mặt thời gian là từ năm 2011 đến 2014 Đây
là giai đoạn xuất hiện liên tiếp nhiều chương trình THTT từ nước ngoài có nhiều yếu tố mới mẻ, hấp dẫn, nhưng cũng gây ra nhiều tranh luận trái chiều, những lỗi phạm quy văn hóa, thậm chí bị đánh giá là thảm họa do Việt hóa không đến nơi đến chốn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là:
Trang 13+ Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vai trò của báo chí nói chung và truyền hình nói riêng trong đời sống xã hội; về chủ trương định hướng phát triển ngành truyền hình
+ Lý luận về văn hóa, quá trình tiếp biến văn hóa trong lịch s dân tộc
+ Lý luận về báo chí truyền hình nói chung và truyền hình thực tế nói riêng
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu dùng các phương pháp sau: + Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để khảo sát, nghiên cứu cơ sở lý luận
về THTT, rút ra các khái niệm công cụ
+ Phương pháp khảo sát thực tế được s dụng để tìm hiểu quá trình Việt hóa các chương trình THTT mua bản quyền
+ Đặc biệt là phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh nhằm đánh giá các ưu, nhược điểm, thành công, tồn tại về nội dung và hình thức của các chương trình trong diện khảo sát Các chương trình THTT được xem x t từ góc độ đặc thù
là một tác phẩm báo chí truyền hình với ngôn ngữ thông tin đặc thù
+ Phương pháp điều tra xã hội học phỏng vấn sâu đối với một số nhà báo theo dõi mảng văn hóa; đội ngũ những người trực tiếp sản xuất các chương trình THTT mua bản quyền; lãnh đạo các kênh, Đài truyền hình; phương pháp phỏng vấn nhóm với khán giả xem truyền hình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Khoảng gần 10 năm trở lại đây, THTT có những bước phát triển mạnh ở nước
ta, với cả những ưu điểm và hạn chế Vấn đề là chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu đi vào khảo sát, tổng kết lí luận về THTT Việt Nam nói chung, và những chương trình THTT mua bản quyền nước ngoài nói riêng Vì vậy, đề tài
"Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua bản quyền nước
ngoài" là một nỗ lực của cá nhân tác giả trong việc góp phần bổ khuyết vào sự thiếu
hụt này
Trang 14Những phân tích, đánh giá, kinh nghiệm và tổng kết mà luận văn này đưa ra
hy vọng sẽ có ích đối với những sinh viên theo học ngành báo chí truyền hình, với các nhà nghiên cứu và đặc biệt là đội ngũ sản xuất các chương trình THTT, cả tư nhân và nhà nước Họ sẽ không vấp phải những sai lầm của các chương trình THTT trước đây và từng bước mang đến những chương trình hấp dẫn, có sức sống lâu dài, hợp khẩu vị với khán giả Việt Nam, qua đó đóng góp vào sự phát triển chung bền vững của báo chí truyền hình nước nhà
7 Cấu trúc của luận văn
Trong luận văn "Quá trình Việt hóa các chương trình truyền hình thực tế mua
bản quyền nước ngoài", ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục…, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI - TỪ GÓC NHÌN LÝ LUẬN & THỰC TIỄN Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI (QUA 5 CHƯƠNG TRÌNH TIÊU BIỂU TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2014 Ở VIỆT
NAM)
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VIỆT HÓA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI
Trang 15Chương 1: VIỆT HÓA CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI - TỪ GÓC NHÌN LÝ LUẬN & THỰC TIỄN
1.1 Truyền hình thực tế là một hiện tượng của truyền hình thế giới thế kỷ 20
1.1.1 Truyền hình thực tế - Khái niệm và đặc trưng
Trên báo chí cũng như nhiều cuốn sách nghiên cứu của các nước phương Tây,
"truyền hình thực tế" được xem là một dạng CTTH đang thống trị Vậy THTT là gì
mà lại có sức ảnh hưởng to lớn tới văn hóa nghe nhìn đại chúng toàn cầu
Nhà nghiên cứu James A.Mead (Đại học Wisconsin - Whitewater, Hoa Kỳ)
nhận định: "Ý tưởng chủ đạo của các chương trình thực tế dựa tr n một nguy n tắc
cơ bản là bày ra trước mắt khán giả hình ảnh của những con người bình thường trong những tình huống thực, với một kịch bản không được viết trước và không có
sự tập dượt trước" [25]
Giáo sư Annette Hill trong cuốn sách Reality TV: Audiences and popular
factual television cho rằng: "THTT là dạng chương trình giải trí về những con người thật, được thực hiện theo nhiều phong cách khác nhau Nó được đặt trong khu vực ranh giới giữa thông tin và giải trí, phim tài liệu và kịch Có các chương trình THTT về t t cả mọi th , từ chăm sóc s c khỏe tới làm tóc, từ con người đến động vật " [24, tr.2]
Như vậy, theo các cách định nghĩa kể trên, yếu tố quan trọng giúp tách biệt THHT với các thể loại khác là nó lấy những người bình thường làm trọng tâm, cụ thể là những suy nghĩ cá nhân, riêng tư và hành động, phản ứng thực của họ trước các tình huống Bên cạnh đó, cũng có người cho rằng không có cái gọi là THTT Tiêu biểu cho quan điểm này là Charlie Parsons Mặc dù là một NSX chương trình
THTT nổi tiếng với format Big Brother, nhưng khi trả lời phỏng vấn tờ Guardian năm 2011, ông nói: "THTT là một cụm từ tôi không thực sự hiểu bởi vì cái gọi là
"thực tế" đã được áp dụng đối với vô vàn thể loại chương trình tồn tại r t lâu trước đây Giờ nó giống như một món lẩu thập cẩm Người ta trộn nhiều th lại một cách
ẩu tả rồi tự gọi đó là một thể loại truyền hình " [61]
Trang 16Quả thật, ranh giới giữa THTT với các thể loại CTTH khác rất khó phân biệt
Big Brother (Người anh lớn) có n t giống như kịch tình huống sitcom Border Security (An ninh bi n giới) hay Airport (Sân bay) thì giống như những sê ri phim
truyền hình dài tập Một số chương trình THTT thì khiến người xem liên tưởng tới những bộ phim tài liệu hoặc có nhiều điểm tương đồng với các chương trình talk show và game show truyền thống
Dù còn có những cách hiểu khác nhau về THTT ở góc độ khái niệm và thể loại, tuy nhiên, có một điểm chung, khi nhắc đến dạng chương trình truyền hình này, người ta luôn nhấn mạnh tới yếu tố người bình thường (Ordinary people) và
không kịch bản (Unscripted) Nhờ thế, "nội dung chương trình vượt ra ngoài những
gì có sẵn do người viết kịch bản hay đạo diễn tạo ra, t c là những diễn biến nảy sinh đầy b t ngờ, những xung đột thật và những điều lãng mạn thật" [20, tr.104], và
qua đó khiến THTT trở thành dạng CTTH sống động nhất tính tới thời điểm này Nói tóm lại, để một chương trình được gọi là THTT, có thể dựa vào các tiêu chí sau:
- Không có kịch bản, hoặc các yếu tố có kịch bản hết sức hạn chế
- Người tham gia phải là người bình thường và phải là trải nghiệm thật chứ không phải "diễn" (nói và hành động theo những gì được sắp đặt sẵn)
- Phải có yếu tố tự phát, bất ngờ
- Có những sự ảnh hưởng, chi phối nhất định từ phía NSX, thể hiện qua việc đề ra luật lệ, quy định mà những người tham gia phải tuân thủ và quan trọng nhất là đưa
ra th thách, tình huống để người chơi tương tác với nhau và bộc lộ bản thân
- Mang đến cho khán giả khả năng chứng kiến, giám sát khá toàn diện những gì diễn ra Đó là một quá trình, chứ không phải là một khoảnh khắc hay lát cắt của hiện thực
- Người xem không chỉ quan sát những gì được ghi lại và chiếu trên tivi mà họ bằng cách này hay cách khác có thể ảnh hưởng tới nội dung của chính chương trình (hình thức tin nhắn bình chọn của khán giả để tìm ra người chiến thắng )
Trang 171.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của Truyền hình thực tế trên thế giới
Trở thành một bộ phận quan trọng có trị giá nhiều tỉ đô la của ngành công nghiệp truyền hình hiện đại, một thế lực ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa đại chúng trong vài thập niên trở lại đây, thế nhưng thực ra, những mầm mống manh nha của cái gọi là THTT thì đã có từ khá lâu, từ những năm 1940
Những năm 1940 - 1950: Queen for a Day (Nữ hoàng trong một ngày) (1945
- 1964) ra đời tại Mỹ, được xem là CTTH đầu tiên chứa đựng những yếu tố của THTT Người chơi sẽ phải kể công khai trước máy ghi hình về những khó khăn tài chính hay chuyện tình cảm mình đã trải qua MC có thể hỏi người chơi muốn gì nhất và tại sao lại muốn đạt được danh hiệu "Queen for a Day" Rất nhiều phụ nữ tham gia chương trình đã suy sụp, không kiềm thế được cảm xúc khi kể lại cảnh ngộ khó khăn của mình Hoàn cảnh của ai càng o le thì càng được khán giả ủng hộ,
tán thưởng và có nhiều khả năng chiến thắng
Năm 1948, chương trình Candid Camera (Máy quay lén) của đạo diễn Allen
Funt lên sóng Chương trình này được giới chuyên gia gọi là “ông nội” của THTT
Format của Candid Camera khá đơn giản Đó là quay l n những người bình thường
gặp những tình huống bất thường mà họ không hề hay biết, với mục đích gây cười, giải trí cho khán giả Chương trình từng bị rất nhiều cá nhân hoặc tổ chức kiện do vi phạm đời sống cá nhân Như vậy, một trong những đặc trưng cơ bản của THTT đã xuất hiện ở chương trình này Đó là người sản xuất sắp đặt những tình huống và ghi lại phản ứng thật của một người bình thường nào đó khi phải đối mặt với tình huống bất ngờ đó
Những năm 1960 - 1970: Up Series là một chuỗi các tập phim với nội dung
mô tả cuộc sống của 14 trẻ em Anh từ năm 1964, khi chúng chỉ mới 7 tuổi Chương trình có 8 mùa, k o dài trong 49 năm (trung bình cứ 7 năm sẽ có một mùa phát
sóng) Mục tiêu chương trình được nhà sản xuất đưa ra: "Chúng tôi đặt những đ a
trẻ này cạnh nhau bởi vì muốn khán giả có cái nhìn về một giai đoạn lịch sử, xã hội
của nước Anh trong 5 thập kỷ, từ những con người cụ thể "
Trang 18Show THTT đầu tiên theo nghĩa hiện đại có thể xem là American Sportsman
(Vận động vi n người Mỹ) do American Broadcasting Company sản xuất, k o dài từ
năm 1965 tới 1986 Tham gia mỗi số chương trình là một hoặc một vài người nổi tiếng Một đội quay phim sẽ ghi lại quá trình họ trải nghiệm các hoạt động khám phá ngoài trời như đi săn, câu cá, đi bộ đường dài, leo núi đá; chụp ảnh thiên nhiên hoang dã, cưỡi ngựa, đua xe và hầu hết kết quả của những hoạt động cũng như đối thoại đều không có kịch bản, ngoại trừ những đoạn kể, tường thuật cần thiết
Trong giai đoạn những năm 1960 - 1970, còn có thể kể ra khá nhiều những CTTH đặt nền móng cho THTT hiện đại như các chương trình khai thác cuộc sống
gia đình gồm sê ri 12 phần An American Family (Gia đình Mỹ) của Mỹ, hay The
Family (Gia đình) của nước Anh
Những năm 1980 - 1990: Năm 1989, một chương trình THTT có tên gọi là
Cops (Cảnh sát) ra đời Format ban đầu của chương trình là theo chân các nhân viên
cảnh sát, ghi hình lại công việc của họ (tuần tra, bắt giữ tội phạm, điều tra vụ án ) Không người kể chuyện, không âm nhạc và không kịch bản trở thành công thức
chung của chương trình này "Cops là chương trình về những con người thật, và
những tội ác có thật Nó được ghi hình hoàn toàn tại hiện trường, với sự có mặt của những nhân vi n thực thi pháp luật" Cho tới nay, Cops vẫn được phát sóng đều đặn
và được ghi nhận là CTTH có thời gian tồn tại dài nhất trong lịch s truyền hình
Mỹ Chính việc ra đời những chương trình như thế này đã k o gần thể loại THTT và
phim tài liệu
Năm 1991, chương trình Nummer 28 lên sóng trên truyền hình Hà Lan, khởi
đầu cho dạng chương trình đặt một số người xa lạ vào cùng một môi trường trong một khoảng thời gian nhất định và ghi hình lại những gì xảy ra Một năm sau,
chương trình The Real World (Thế giới thực) của kênh MTV với format tương tự như Nummer 28 ra đời, đánh dấu bước chuyển lớn trong sản xuất THTT Với The
Real World, nhà sản xuất sẽ chọn khoảng 20 người sống trong một căn hộ tiện nghi
và máy quay sẽ ghi lại mọi khoảnh khắc trong cuộc sống của họ với nhau Những cảnh quay sẽ được biên tập cẩn thận để tạo ra câu chuyện trong từng tập phát sóng Trong những năm đầu, chương trình được đón nhận nồng nhiệt khi đề cập tới nhiều
Trang 19vấn đề của tuổi trưởng thành như tình dục, tôn giáo, giới tính, AIDS, cái chết, chính trị nhưng sau đó lại bị chỉ trích như một chương trình của những cách ứng x vô trách nhiệm và thiếu chín chắn
Cách thức đặt nhiều máy quay để ghi hình lại mọi sinh hoạt của người chơi ở
chương trình The Real World (Thế giới thực) đến nay được áp dụng trong rất nhiều chương trình THTT như Big Brother, America’s Next Top Model Chương trình đã
chứng minh rằng khán giả truyền hình có thể xem những phản ứng không hề được lên sẵn kịch bản của người tham gia
Những năm 2000: Bước sang những năm 2000, tức là thế kỉ 21, người ta
chứng kiến một sự bùng nổ đáng kinh ngạc của THTT với sự phổ biến toàn cầu,
dựa vào thành công lớn của Big Brother và Survivor (Người sống sót)
Chương trình Big Brother ra đời năm 1999 ở Hà Lan Hiện nay chương trình này đã xuất hiện ở 70 quốc gia khác nhau Trong Big Brother, cứ mỗi mùa, một
nhóm người lại được đưa tới một ngôi nhà hoàn toàn biệt lập với thế giới Mỗi người sẽ được NSX chương trình giao các nhiệm vụ khác nhau, để họ có thể bộc lộ khả năng của mình Cứ sau một khoảng thời gian, toàn bộ các thành viên sẽ bí mật
bỏ phiếu chọn ra một số người mà họ muốn loại đi Nhìn từ góc độ xã hội học, Big
Brother cho ph p chúng ta thấy con người sẽ phản ứng như thế nào khi bị đặt vào
một môi trường xa lạ, với những người có xu hướng tình dục, màu da, quan điểm đạo đức, chính trị khác biệt Người xem có thể chứng kiến phản ứng của người chơi thông qua các camera ghi hình và từ phòng nhật ký - nơi những người chơi có thể bộc lộ thoải mái cảm xúc, suy nghĩ của mình về chương trình, chiến thuật hay các thành viên khác trong ngôi nhà chung
Tương tự như Big Brother, mỗi mùa của Survivor, nhà sản xuất sẽ lựa chọn
khoảng 16 - 20 người Họ được đưa đến một địa điểm xa xôi, hoang vu để đóng vai những người đắm tàu còn sống sót Tất cả các thí sinh sẽ phải vận dụng mọi thế mạnh để trở thành người chiến thắng trong điều kiện hiểm nguy, khó khăn, thiếu
thốn Tại Mỹ, trong hai năm liên tiếp 2000 và 2001, Survivor đứng đầu bảng rating
truyền hình, tức là có số lượng khán giả xem chương trình nhiều nhất Rất nhiều
Trang 20chương trình được sản xuất trong khoảng thời gian từ cuối những năm 1990 và những năm 2000 đạt được thành công vang dội trên phạm vi toàn thế giới Có ít nhất 9 chương trình THTT mà mỗi chương trình có tới 30 phiên bản khác nhau ở
các nước Ví dụ như Idols (Thần tượng Pop), Star Academy (Học viện ngôi sao), X
Factor (Nhân tố X), Top Model (Người mẫu đỉnh cao) Chương trình American Idol lên sóng lần đầu vào tháng 6/2002 với format là sự hòa trộn của những tài năng
âm nhạc trẻ, những giám khảo nổi tiếng, cá tính và bình chọn của khán giả, đã thống trị bảng rating truyền hình Mỹ từ 2004 đến tận năm 2010
Những năm 2000, các chương trình THTT dạng docu-soap (thể loại tường thuật người thật, việc thật k o dài nhiều tập) vẫn đạt được nhiều thành tựu lớn Tiêu
biểu như Jersey Shore (Bờ biển Jersey) - sê ri chương trình THTT thành công nhất
của kênh MTV, xoay quoanh 6 người trẻ tuổi, chủ yếu là người Mỹ gốc Ý, dành thời gian nghỉ h để vui chơi, tiệc tùng ở các bãi biển Chương trình này nhấn mạnh vào nền văn hóa đại chúng của Mỹ và gây ra những cuộc tranh cãi về việc mô tả chân dung người Ý như hình mẫu rập khuôn của người Mỹ Bên cạnh đó, còn phải
kể tới các chương trình khai thác cuộc sống của những nhân vật, gia đình nổi tiếng
Như The Osbournes (2002 - 2005) mô tả cuộc sống của ngôi sao nhạc rock Ozzy Osbourne và gia đình của ông Ngoài ra còn có Keeping Up with the Kardashians,
Newlyweds: Nick and Jessica Nhìn chung, các chương trình dạng này có thể xem
như một cách để những người nổi tiếng duy trì mức độ quan tâm của truyền thông
và công chúng với mình
Những năm 2000, có 3 kênh truyền hình về THTT ra đời là Fox Reality của
Mỹ, tồn tại từ năm 2005 đến 2010; Global Reality Channel ở Canada (2010 - 2012)
và Zone Reality ở Anh (2002-2009) Thêm vào đó, hàng loạt kênh truyền hình cáp như Bravo, A&E, E!, TLC, History, VH1 và MTV cũng đã thay đổi nội dung của mình theo hướng dành nhiêu thời lượng phát sóng các chương trình THTT
Liên tiếp trong 3 năm 2001, 2003, 2008, Viện Hàn lâm khoa học và nghệ thuật điện ảnh của Mỹ đã bổ sung thể loại thực tế vào giải thưởng Emmy với hạng mục
"Chương trình THTT xu t sắc", "Chương trình THTT đối kháng xu t sắc" và
"Người dẫn dắt chương trình THTT xu t sắc" Tính từ khi hạng mục chương trình
Trang 21THTT có mặt trong giải thưởng Emmy, The Amazing race là chương trình lập kỷ
lục khi giành chiến thắng liên tiếp từ năm 2003 đến 2009, 2011, 2012
Từ năm 2010 đến nay: Năm 2012, rating của nhiều chương trình THTT lâu
đời ở Mỹ như American Idol, Dancing with the Stars và The Bachelor đều bị giảm
Tuy nhiên, THTT nếu nhìn ở phạm vi rộng vẫn duy trì được sức mạnh và sự phổ
biến của mình, với hàng trăm chương trình được phát sóng ở nhiều kênh The Voice
- chương trình thuộc dạng thi tài ca hát do John De Mol sáng tạo ra năm 2010 là một trong những format THTT có sức ảnh hưởng lớn nhất trong vài năm trở lại đây, với gần 50 phiên bản khác nhau trên thế giới
Nhìn chung, bên cạnh các format chương trình cũ tiếp tục được sản xuất và phát sóng, các chương trình THTT mới vẫn đều đặn ra đời để đáp ứng nhu cầu của khán giả Càng về sau này, nội dung và hình thức của THTT càng đa dạng hơn Cho tới nay, giới nghiên cứu đã liệt kê được 9 dạng chương trình THTT dựa trên nội dung và hình thức:
- THTT theo phong cách phim tài liệu (Documentary-style): Trải nghiệm môi
trường sống đặc biệt; Ghi lại cuộc sống hàng ngày của những người nổi tiếng; Các hoạt động nghề nghiệp
- Chương trình THTT game show đối kháng (Competition/Game shows):
Game show đối kháng hẹn hò; Tìm kiếm công việc; Tìm kiếm tài năng
- Tự cải thiện bản thân
- Trải nghiệm xã hội
- Làm mới lại một không gian sống, nơi làm việc hoặc phương tiện đi lại
- Talk show giao lưu tọa đàm
- Camera gi u kín
- Các hiện tượng si u nhi n và bí ẩn
- Trờ chơi khăm, đánh lừa
Như vậy, có thể thấy, THTT đã có một lịch s phát triển khoảng 7 thập kỷ THTT đạt đỉnh cao về cả lợi nhuận kinh tế và mức độ ảnh hưởng tới xã hội vào những năm 2000 Từ việc ra đời ở một số quốc gia phương Tây như Hà Lan, Anh,
Trang 22Mỹ THTT mau chóng lan rộng ra khắp thế giới, trong đó có Việt Nam, trở thành một thế lực thống trị ngành truyền hình hiện đại
1.1.3 Tính hai mặt của Truyền hình thực tế
1.1.3.1 Ảnh hưởng tích cực của Truyền hình thực tế
Hình thành và phát triển trong 7 thập kỷ, không ai có thể phủ nhận được những ảnh hưởng to lớn của nó tới ngành truyền hình, lĩnh vực văn hóa giải trí, tới nhận thức và hành động của công chúng và rộng hơn là xã hội Thay thế vị trí của game show và các chương trình giải trí truyền thống, các chương trình THTT trở thành món ăn tinh thần hàng ngày, không thể thiếu của khán giả ở nhiều nước
Trong cuốn Reality TV: Audiences and popular factual television”, giáo sư
Annette Hill đã đưa ra một số thống kê và điều tra cho thấy sức hút mạnh mẽ của THTT Theo đó, tại Anh vào năm 2000, hơn 70% dân số trong độ tuổi từ 4 đến 65 thường xuyên theo dõi các chương trình THTT Các chương trình về cảnh sát/tội phạm thu hút 72 % người lớn và 84 % trẻ em theo dõi Các chương trình về chủ đề gia đình thu hút 67 % người lớn và 84 % trẻ em Chương trình tìm kiếm tài năng
Pop Idol (Thần tượng nhạc pop) hay I'm a Celebrity (Tôi là người nổi tiếng) đều
thu hút từ 10 triệu đến 15 triệu khán giản mỗi mùa Nhiều chương trình như Big
Brother, Survivor, The Amazing Race liên tục xác lập kỷ lục về rating trong nhiều
năm liên tiếp là một minh chứng cho thấy sự phổ biến đáng kinh ngạc của THTT
Sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả đối với THTT cũng diễn ra tương tự ở nhiều nơi khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Và x t cho cùng, truyền hình cũng là một ngành kinh doanh Khi các chương trình THTT thu hút đông đảo khán giả, số lượng quảng cáo và giá quảng cáo cũng tăng đột biến Thời điểm những năm 2000, tại Anh, một quảng cáo 30 giây trong một chương trình THTT có rating cao đã đạt mức 90.000 đô la Con số này hiện tại
đã cao hơn rất nhiều Tại Việt Nam, tính tới hiện tại, Giọng hát Việt Nhí là chương
trình có giá quảng cáo cao kỷ lục, lên tới 280 triệu đồng cho 30 giây phát sóng Tiếp
đó là Giọng hát Việt với 240 triệu đồng Đêm chung kết Giọng hát Việt năm 2013
có tổng cộng 73 spot quảng cáo, tương đương 13 tỷ đồng Mặt khác, nếu như chi phí sản xuất một tập phim sitcom 60 phút có thể lên tới 1,5 triệu đô la; với điện ảnh
Trang 23là 2,6 triệu đô la; thì một giờ của THTT chỉ tiêu tốn khoảng 200.000 đô la đến 800.000 đô la tùy thuộc vào dạng chương trình Hai yếu tố chi phí sản xuất rẻ và khả năng thu hút nhiều quảng cáo đã khiến cho THTT trở thành thành nguồn sinh lời nhiều nhất cho các nhà sản xuất
Năm 2006, Jeff Zucker - CEO của NBC Universal Television Group từng
tuyên bố: "K nh NBC đang thay thế dần các chương trình có kịch bản bằng các
chương trình THTT có kinh phí th p hơn để tiết kiệm tiền" Lợi nhuận mà THTT
mang tới qua quảng cáo, tin nhắn bầu chọn, tài trợ, bán bản quyền chương trình là
cơ sở để các công ty sản xuất chương trình tư nhân, các nhà đài có nguồn kinh phí đầu tư cho các dạng chương trình truyền thống khác Như vậy, sự phát triển của THTT không chỉ mang lại lợi ích cho một cá nhân, một công ty hay một Đài truyền hình nào Nhìn trên diện rộng, nó đã góp phần thúc đẩy truyền hình nói chung phát
triển trên phạm vi toàn thế giới
Nội dung đa dạng và thu hút được đông đảo người xem, mức độ phủ sóng lớn, các chương trình THTT trở thành lựa chọn tối ưu cho những ai muốn trở nên nổi tiếng trong thời gian ngắn nhất Quả thực, về khía cạnh này, THTT có những mặt trái của nó Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, từ các show thực tế tìm kiếm tài năng (ca nhạc, nhảy, tạp kỹ, người mẫu ), không ít cá nhân nổi trội, thực sự có cá tính và tài năng đã được phát hiệu, qua đó đóng góp cho làng giải trí nói chung Nói cách khác, THTT có khả năng thay đổi hoàn toàn cuộc sống của một con người theo hướng tích cực, mang lại cho họ danh tiếng, tiền bạc, người hâm mộ
THTT cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhận thức, suy nghĩ, hành động của khán giả Là một sản phẩm báo chí nên ngoài chức năng thông tin, nó mang một chức năng không thể thiếu là giáo dục Điều khán giả thu nhận được từ THTT không chỉ là những kiến thức thuần túy về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên và xã hội Đó còn là bài học về kinh nghiệm ứng x , về các kĩ năng nghề nghiệp cũng như những kĩ năng sinh tồn, qua đó kích thích ở khán giả khả năng học hỏi, r n luyện vượt qua những khó khăn, th thách trong cuộc sống để ngày càng hoàn thiện mình hơn, tự tin hơn Hơn thế cách thể hiện sinh động và hấp dẫn của các chương trình loại này khiến cho những bài học đó trở nên gần gũi, đáng tin cậy và dễ tiếp thu
Trang 24Đây chính là một ưu điểm lớn của THTT Bên cạnh đó, một số chương trình THTT
có nội dung thực sự ý nghĩa, chứ không chỉ là những cuộc thi thố tài năng hay cạnh tranh giành giật giải thưởng mua vui cho khán giả
Trong cuốn Global and/or Mass Culture?” - Văn hoá toàn cầu và/hay văn
hoá đại chúng?”, Tiến sĩ nghệ thuật học người Nga Kirill Razlogov cho rằng: “Văn hoá đại chúng thường được định nghĩa như là những sản phẩm văn hoá (theo nghĩa rộng nh t), được các chuy n gia sáng tạo và phổ biến với quan điểm cho rằng tr n nền tảng thương mại, đông đảo dân chúng không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác, quốc tịch, v.v sẽ tiếp nhận và sử dụng nó" [27, tr.78] Nhiều nhà nghiên
cứu phương Tây đều có nhận định chung: THTT là một hiện tượng văn hóa đại
chúng toàn cầu Với tư cách là một sản phẩm báo chí truyền hình, một sản phẩm văn hóa có m c độ phủ sóng rộng khắp các châu lục, được đông đảo công chúng không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, tuổi tác, quốc tịch đón nhận, rõ ràng, THTT đã đóng góp một phần vào việc thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa nói chung, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, châu lục nói ri ng Đây là kết quả của quá
trình mua bán, chuyển giao bản quyền và tái sản xuất các chương trình THTT, sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau của luận văn này
1.1.3.2 Mặt trái của truyền hình thực tế
Sự hấp dẫn của THTT xuất phát từ chính yếu tố không kịch bản, khai thác tối
đa cảm xúc, hành động của con người trong các tình huống Tuy nhiên, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn tới những mặt trái của THTT Hạn chế đầu tiên là tính chất cá nhân, riêng tư bị xâm phạm Đối tượng phải hứng chịu hậu quả rõ rệt nhất chính là những nhân vật tham gia chương trình Trình độ, hiểu biết, cách x sự, thái
độ, cảm xúc, quá khứ… vốn là những thứ nhạy cảm nhất của một con người sẽ bị theo dõi, quan sát và bình luận, ủng hộ hoặc phản đối, yêu hoặc gh t bởi hàng triệu con người Có những cảm xúc, những phản ứng là bất chợt trong một hoàn cảnh nhất định, dù là đẹp hay xấu xí của một cá nhân đều có thể được phơi bày trong các chương trình THTT
Trang 25Vấn đề sẽ trở nên nguy hiểm hơn khi những khoảnh khắc xấu xí, mất tự chủ,
sự yếu k m về thể chất và tinh thần hay những câu chuyện về quá khứ đáng xấu hổ được các đạo diễn, biên tập chớp lấy như miếng ngồi ngon để tạo scandal, đẩy rating và thu hút quảng cáo, bất chấp những giới hạn về "đạo đức báo chí" Trong thực tế đã có một số người tìm đến cái chết vì không chịu nổi áp lực sau khi tham gia các chương trình THTT Năm 1997, Sinisa Savija - một thí sinh của chương
trình THTT Expedition: Robinson được xác minh là tự t khi bất ngờ nhảy ra khỏi
đoàn tàu đang di chuyển với tốc độ cao tại Norrkoping, Thuy Điển Sinisa đã bị các thí sinh khác xa lánh vì giọng nói không chuẩn, cũng như quá yếu k m để vượt qua được những th thách của cuộc thi Vợ của Sinisa đã lên tiếng tố cáo chính chương trình gây ra cái chết cho chồng mình
Bất cứ điều gì xuất hiện trong chương trình THTT, từ hình ảnh đến lời đối thoại của những người tham gia, đều có thể châm ngòi cho những cuộc tranh cãi,
phê phán không có hồi kết của dư luận Không phải ngẫu nhiên Big Brother được
xem là chương trình THTT gây tranh cãi nhiều nhất Gần đây, trong tập phim lên sóng vào tháng 7 năm 2013, Aaryn Gries, một người mẫu nữ đã có những phát ngôn xúc phạm người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Á và người đồng tính - đều là những khách mời sống cùng nhà của cô trong chương trình Xung quanh scandal này, đài
CBS ra tuyên bố: "Các nhân vật bày tỏ những định kiến và niềm tin khác nhau, thể
hiện quan điểm cá nhân, không phải của chương trình và của CBS" Theo NSX, đó
là một cách làm để thu hút và khiêu khích sự bàn luận từ người xem về các vấn đề
xã hội, hơn là cách làm hướng thiện một chiều Tuy nhiên, ba con người đã tỏ thái
độ phân biệt chủng tộc và giới tính trong chương trình đã phải chịu hậu quả nặng nề ngoài đời thực, như bị dư luận lên án, bị đuổi việc Góp phần đặt các nhân vật vào tình thế như vậy dường như đi ngược lại cái gọi là đạo đức báo chí mà bấy lâu nay chúng ta tôn thờ Năm 1999, Hollywood đã sản xuất bộ phim EDtv cảnh báo về mặt trái của truyền hình thực tế Trong phim, nhân vật nam chính do tài t Matthew McConaughey thủ vai đã quyết định "bán mình" cho truyền hình thực tế Toàn bộ cuộc sống của anh bị camera theo sát 24/24 Kết quả anh trở nên nổi tiếng nhưng phải trả cái giá khá đắt khi người anh yêu vì không chịu nổi áp lực đã đòi chia tay
Trang 26Chính những vụ tự t xuất phát từ THTT, các scandal, cùng với những vụ việc sắp đặt dàn dựng của NSX ở phía sau hậu trường bị lôi ra ánh sáng, đã khiến khán giả bắt đầu nghi ngờ về tính nhân văn của dạng chương trình này và đạo đức của các NSX khi nhân danh cái mác "thực tế" để đẩy cuộc sống của người chơi đi vào ngõ cụt, chỉ để khiến người xem tò mò và tạo kịch tính cạnh tranh với các chương trình khác Nhiều người cũng bắt đầu lo ngại rằng THTT, đặc biệt là các chương trình tìm kiếm tài năng, đang gây ra những tác động tiêu cực tới ngành giải trí, khi tôn vinh những cá nhân không có thực tài, không có tố chất ngôi sao, tạo ra ảo vọng cho giới trẻ về sự nổi tiếng quá dễ dàng Quá đề cao tính giải trí, chiều trò, mua vui cho khán giả đồng nghĩa với việc các chương trình này khó có đóng góp gì đáng kể
về chuyên môn, tức sáng tạo nghệ thuật
Với thời lượng tương đối dài, lại được sản xuất thành nhiều tập, nhiều mùa với nhiều diễn biến, tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, THTT đã lấy đi một lượng thời gian lớn của khán giả và vô tình ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong cuộc sống của họ Các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của THTT tới cuộc sống của hơn 1000 cô gái tuổi từ 11 đến 17 Kết quả cho thấy hầu hết các cô gái đều nghĩ THTT là “thực tế” và không có kịch bản và đáng tin cậy Mỗi tuần, họ mất khoảng 12 giờ để xem các chương trình THTT Con số này đôi khi nhiều hơn thời gian để làm bài tập ở nhà, trò chuyện với bạn b hoặc hoàn thành công việc ngoại khóa…
Khi nói tới ảnh hưởng tiêu cực của THTT đến khán giả, không thể không nhắc
tới đối tượng trẻ em Một chuyên gia của Hiệp hội truyền hình dành cho các phụ
huynh của Mỹ đã phát biểu : "Cái mà chúng tôi nhận ra là các chương trình THTT
ngày càng ch a nhiều hành động, phát ngôn báng bổ, ngôn ngữ bậy bạ và cả sự gây h n" Và điều này có ảnh hưởng không hề tốt đến trẻ em Vì khi chúng đã quan
niệm rằng đây không phải là phim ảnh được dàn dựng mà là sự thật, thì dần dần chúng sẽ thấy rằng những phát ngôn bất lịch s , báng bổ và hành động gây hấn kia cũng là những cách hành x bình thường có thể chấp nhận được Và nếu là bình thường thì sớm hay muộn sẽ có lúc chúng làm theo Kết quả một cuộc khảo sát vào cuối năm 2009 tại Mỹ cho thấy rất đông người dân nước này cho rằng THTT là
Trang 27nhân tố lớn nhất làm thay đổi xã hội theo hướng xấu đi với 63 % (các yếu tố khác như điện thoại di động, email, mạng internet, điện thoại Iphone, chấp nhận đồng tính, mạng xã hội chỉ từ 6 đến 40 %) Chỉ có 8 % số người được hỏi nghĩ rằng THTT khiến xã hội trở lên tốt hơn và 23 % cho rằng không có nhiều sự khác biệt [Biểu đồ 1.1]
Qua những phân tích sơ lược, có thể thấy, THTT không hẳn là hoàn hảo, nhưng cũng không phải chỉ toàn nhược điểm Nó là một con dao hai lưỡi Cần phải có một cái nhìn toàn diện về nó, mới có thể hạn chế được những mặt trái và phát huy ưu điểm của THTT đối với xã hội
1.1.4 Truyền hình thực tế và thị trường mua bán bản quyền định dạng chương trình truyền hình
1.1.4.1 Khái niệm format định dạng chương trình truyền hình
Năm 1997, giáo sư Miriam Meckel (Đại học St.Galeen, Switzerland) đưa ra
định nghĩa: "Format là ý tưởng, mà nội dung của nó cho th y kết c u của chương
trình, cách th c mà chương trình được sản xu t, diễn ra, với một nội dung và hình
th c hướng tới đối tượng khán giả nh t định" [26, tr.143] Một định nghĩa khác về
format được đưa ra vào năm 1998: "Format truyền hình là một tổng thể những đặc
điểm của một chương trình, hoặc một cách th c sản xu t chương trình Đặc điểm hay cách th c đó là cố định, được lặp lại trong mỗi một số phát sóng" [26, tr.143]
Tuy nhiên, cả hai cách định nghĩa trên mới chỉ nói đến khái niệm format ở phạm vi hẹp, và đều lờ đi thực tế format là một sản phẩm giao dịch được mua và bán trên thị trường quốc tế Các định nghĩa được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu ở
Anh được xem là toàn diện hơn: "Một định dạng chương trình truyền hình là ý
tưởng của một chương trình, với những yếu tố đặc thù, ri ng biệt, có thể được "xu t khẩu" và c p gi y phép bản quyền để các công ty sản xu t chương trình hoặc kênh truyền hình của nước ngoài có thể dựa vào đó để tái sản xu t, tr n cơ sở điều chỉnh phù hợp với thị hiếu khán giả và văn hóa của nước mình" [61] Thậm chí cụ thể hơn
nữa: "Mua một format là mua một sản phẩm hàng hóa Sản phẩm trong trường hợp
Trang 28này là công th c để sản xu t lại một chương trình truyền hình của một quốc gia
khác, biến nó thành một chương trình địa phương" [26,tr.144]
1.1.4.2 Thị trường mua bán định dạng chương trình truyền hình trên thế giới
Lĩnh vực phân phối định đạng chương trình trên phạm vi toàn thế giới có thể được hiểu như việc mua và bán "giấy ph p" xuyên quốc gia Giấy ph p này giúp cho người mua có quyền được dựa trên format gốc để sản xuất và thay đổi trong một chừng mực nhất định sao cho phù hợp với thị trường truyền hình nội địa, nhằm đạt được nhu cầu cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và sự khác biệt về văn hóa Đối tượng của những thương vụ mua bán format phổ biến nhất hiện nay là các định dạng chương trình phi hư cấu như game show, quiz show, và đặc biệt là truyền hình
thực tế "Nếu dựa tr n giá trị sản phẩm, các chương trình THTT là thể loại quan
trọng nh t Mỹ là thị trường định dạng chương trình lớn nh t Anh là quốc gia
xu t khẩu format nhiều nh t " [26,tr.147]
Khi một CTTH được "bán" và "mua" từ nước này sang nước khác, có hai trường hợp xảy ra, hoặc mua - bán toàn bộ nội dung chương trình đã được sản xuất hoàn thiện, hoặc chỉ mua - bán định dạng chương trình - format Với trường hợp đầu tiên, người nhập khẩu chương trình có thể lồng tiếng hoặc chạy thuyết minh để khán giả bản địa có thể hiểu được nội dung Còn với trường hợp thứ hai, với format
có sẵn, NSX của quốc gia mua bản quyền sẽ nghiên cứu để có những thay đổi, thêm vào hoặc bớt đi các yếu tố về nội dung và hình thức để phát sóng tại nước mình Vì thế, định dạng của các chương trình luôn được xây dựng, thiết kế theo hướng mở,
để có thể dễ dàng được sản xuất ở một thị trường khác, dù cho có khác biệt về văn hóa, chính trị, tôn giáo, và một số yếu tố khác như trình độ phát triển của ngành truyền hình, thời tiết, địa lý
Giáo sư Jeremy Tunstall (Đại học City London, Anh) chỉ ra rằng: "Hầu hết
mọi người tr n khắp thế giới thích được giải trí bởi những người có vẻ ngoài tương
tự mình, nói chuyện, đùa giỡn, cư xử, cũng như có chung một niềm tin, thế giới quan giống mình Người ta luôn thích thú với những thông tin về tình hình chính trị, thời tiết của đ t nước mình, ch không phải là một quốc gia nào khác" [26,
Trang 29tr.94] Lý giải kể trên phần nào cho thấy tại sao thị trường mua bán định dạng chương trình, trong đó có các chương trình THTT phát triển mạnh mẽ, và mở rộng trên phạm vi toàn cầu trong khoảng hai, ba thập niên trở lại đây Theo một số liệu thống kê được đưa ra năm 2005, giá trị của thị trường mua bán định dạng CTTH
của 13 thị trường truyền hình lớn nhất thế giới ước tính đạt xấp tỉ 2,4 tỉ euro
Ngoài ra, một nguyên nhân khác khiến cho việc mua bán format diễn ra phổ biến đó là ít rủi ro hơn Hầu hết các format được mua đều đã được kiểm chứng về mức độ thành công thông qua rating, doanh thu Khi một đơn vị nào đó mua format này, tức là an toàn hơn so với việc tự nghĩ ra một ý tưởng chương trình rồi sản xuất Chi phí sản xuất thấp hơn; có thêm nhiều nguồn thu khác, giúp các đài hoàn thành chỉ tiêu sản xuất chương trình cũng là những nguyên nhân quan trọng khác Sơ đồ 1.2 cho thấy việc mua bán trao đổi format phạm vi quốc tế, tức là từ nước này sang
nước khác, nhìn chung, là một quá trình gồm các giai đoạn: Phát triển ý tưởng, nội dung; bán và mua (phân phối); sản xuất/tái sản xuất (điều chỉnh cho phù hợp);
và cuối cùng là phát sóng
Sơ đồ 1.2: Vòng tròn quy trình mua bán định dạng chương trình [26,tr.196-234]
Để xây dựng được hệ thống mạng lưới thị trường mua bán định dạng chương trình phạm vi toàn cầu, cần có sự tham gia của nhiều bên, từ người phát triển ý tưởng format, đến nhà sản xuất, đài phát sóng, nhà phân phối của các quốc gia Ví
dụ, format chương trình THTT Strictly Come Dancing ra đời ở Anh, do BBC
Entertainment sản xuất và BBC1 phát sóng BBC Worldwide phụ trách phân phối,
Trang 30chuyển giao bản quyền và cấp giấy ph p Ở thị trường Đức, đơn vị tái sản xuất format là Granada Germany và RTL là nơi phát sóng
Sơ đồ 1.3: Quá trình một định dạng chương trình truyền hình
được chuyển giao từ Anh sang Đức [26,tr.196-234]
Có thể hình dung quá trình phát triển của một format CTTH như sau:
Trên thế giới hiện nay có hai "người khổng lồ" trong lĩnh vực mua - bán format và sản xuất chương trình THTT là Endemol và Freemantle Media Endemol được thành lập vào năm 1994 tại Hà Lan và hiện nay đã có chi nhánh ở hơn 20 quốc
Ý tưởng và format
chương trình ra
đời ở quốc gia A
Chương trình được sản xuất hoàn chỉnh dựa trên format này và phát sóng tại quốc gia A
Một đơn vị phân phối giữ vai trò
trung gian để chào hàng, đàm
phán, xúc tiến quá trình mua bán,
chuyển giao format, thủ tục pháp
lý với NSX ở quốc gia B
Giấy ph p Bản quyền
Fomat được tái sản xuất và phát sóng ở quốc gia B, với sự giám sát của đội ngũ chuyên gia đến từ quốc gia A
Một gói định dạng CTTH được phát triển hoàn thiện nhằm mục đích "xuất khẩu"
Trang 31gia trên toàn thế giới, nắm trong tay khoảng 500 format chương trình Còn Fremantle Media là công ty sản xuất chương trình truyền hình lớn nhất ở châu Âu,
sở hữu nhiều format THTT thành công như Popstars, Extreme Escapades, Got
đều ám chỉ một nguyên tắc bất di bất dịch là: Khi một format được chuyển giao từ nước này sang nước khác, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa hai phía là bên bán
và bên mua trong quá trình tái sản xuất format Kết quả cuối cùng sẽ là một CTTH hoàn chỉnh, dựa trên ý tưởng định dạng được mua bản quyền của nước ngoài, nhưng có nội dung hình thức phù hợp với đối tượng công chúng bản địa, đặc biệt là những khác biệt trong văn hóa
Khái niệm “Glocalization” được gh p từ “Globalization” (toàn cầu hóa) và
“Localization” (địa phương hóa), do các nhà kinh tế học Nhật Bản s dụng trong thập niên 1980, để chỉ sự gia tăng yếu tố địa phương trong các sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng thế giới Nhà xã hội học người Anh Roland Robertson được xem là người đầu tiên s dụng thuật ngữ “Glocalization” vào lĩnh vực nghiên cứu xã hội học truyền thông Ông cho rằng yếu tố địa phương vốn gắn chặt với quá trình toàn cầu hóa và được nhận ra một cách chính xác thông qua các biểu hiện đặc biệt được gọi là bản sắc Dần dần, thuật ngữ này được khu biệt chủ yếu trong việc nghiên cứu truyền thông và được s dụng khi đề cập đến hoạt động mua bán các định dạng CTTH
Giáo sư Silvio Waisbord (Đại học George Washington) cho rằng sự phổ biến của một định dạng THTT nào đó trên thế giới là do tính chất k p của nó, khi kết hợp giữa công nghệ và chiến lược sản xuất toàn cầu với những n t dị biệt của thị
Trang 32hiếu công chúng địa phương: Sự phổ biến rộng rãi của các định dạng CTTH bộc lộ
hai hướng phát triển chủ đạo trong truyền hình đương đại: sự toàn cầu hóa phương
th c kinh doanh truyền hình và nỗ lực của các nhà sản xu t chương trình quốc tế cũng như nội địa nhằm gắn kết các nền văn hóa quốc gia” [28,tr.360] Trong khi
các định dạng truyền hình nổi tiếng gần như thoát khỏi các đặc trưng văn hóa của quốc gia sản sinh ra nó để tăng tính toàn cầu, thì các phiên bản được làm lại ở các nước thường được “đổ khuôn”, điều chỉnh, thêm bớt bằng các yếu tố văn hóa bản địa (mã văn hóa, biểu tượng dân tộc, con người ) Khi đề cập tới quá trình sản xuất
chương trình Canadian Idol (Thần tượng âm nhạc Canada) dựa trên format gốc
Idol, NSX Bel Mulroney cho biết: "Có nhiều yếu tố ảnh hưởng từ phi n bản Idol gốc như thể loại âm nhạc, các bài hát nổi tiếng toàn thế giới Tuy nhi n mỗi quốc gia sẽ kể những câu chuyện của ri ng mình Chúng tôi kể những câu chuyện ri ng biệt từ góc nhìn Canada; dành cho khán giả Canada, sử dụng các giám khảo người Canada; thí sinh là người Canada và sử dụng cả những ca khúc ri ng của Canada "
Như vậy, thông qua quá trình bản địa hóa, "các định dạng CTTH toàn cầu có
thể giữ một vai trò năng động trong quá trình kết nối các yếu tố bản sắc dân tộc, cung c p chỗ đ ng cho các nền văn hóa quốc gia và quan trọng hơn là tạo cơ hội cho khán giả tự nhận ra vai trò thành vi n của mình trong cộng đồng dân tộc và thế giới" [28,tr.372]
1.2 Truyền hình thực tế du nhập và làm mới truyền hình Việt Nam
Nếu như trên thế giới, THTT manh nha ra đời từ những năm 1940 và đạt được thành công vang dội trong thập niên đầu của thế kỷ 21, thì tại Việt Nam, THTT chỉ mới có mặt được khoảng 10 năm Ở nước ta, có thể coi THTT chính thức
xuất hiện khi chương trình Khởi nghiệp của VTV3 lên sóng lần đầu tiên năm 2005 Đây là một game show học tập theo format chương trình Dragon Dean của Mỹ, tạo
cơ hội để các bạn trẻ trải nghiệm những khó khăn, thách thức trong công việc Tuy
chưa thực sự là một chương trình THTT đúng nghĩa nhưng Khởi nghiệp vẫn được
coi là th nghiệm đầu tiên về việc xây dựng chương trình THTT tại Việt Nam
Trang 33Chương trình thứ hai được đánh giá khá thành công là Phụ nữ thế kỉ 21, lên
sóng VTV3 vào ngày 18/7/2006 Chương trình do Hãng phim Việt phối hợp với
ĐTH Việt Nam thực hiện, theo chuyển nhượng từ format gốc 21 st Century Woman” của Zeal Television (Anh) Mặc dù nổi bật ngay từ khi phát sóng bởi diễn
biến chương trình khác biệt và hấp dẫn, nhưng Phụ nữ thế kỷ XXI vẫn bị nhận x t là chưa đủ các màu sắc cần thiết của một chương trình THTT Sau Phụ nữ thế kỷ XXI,
với sự hào hứng của những người làm truyền hình và sự đầu tư mạnh dạn của các nhà sản xuất tư nhân, các chương trình thực tế đã ra đời và nở rộ trên sóng truyền hình
Ngày 23/5 năm 2007, chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc Việt Nam Idol (phiên bản Việt của chương trình Pop Idol) lên sóng VTV3 mùa đầu tiên Quả thực,
từ đây, THTT bắt đầu trở thành một món ăn tinh thần, giải trí mới của khán giả, trong bối cảnh game show truyền thống và các cuộc thi ca hát đã bão hòa sau một
thời gian thống trị trên sóng truyền hình Sau cú "đột phá khẩu" mang tên Thần
tượng âm nhạc - Việt Nam Idol, hàng loạt chương trình THTT của nước ngoài lần
lượt được mua bản quyền và "Việt hóa": Hành trình kết nối những trái tim (2008),
Bước nhảy hoàn vũ (2010), Cặp đôi hoàn hảo(2011), Vietnam’s Got Talent (2011), Vietnam’s Next Top Model (2011), Con đã lớn khôn (2011), Về trường (2012), Giọng hát Việt (2012), Thử thách cùng bước nhảy (2012), Cuộc đua kỳ thú (2012); Hợp ca tranh tài (2012), Vũ điệu đam m (2013); Giọng hát Việt nhí (2013), Vua đầu bếp (2012); Si u đầu bếp (2012); Gương mặt thân quen (2013); Nhà thiết kế thời trang Việt Nam (2013); Tôi là người chiến thắng (2013), Tôi dám hát (2013), Người gi u mặt (2013), Đố ai hát được (2013), Chinh phục đỉnh cao (2013)
Có thể nói, hai năm 2012 và 2013 là giai đoạn bùng nổ của THTT tại Việt Nam, đặc biệt là về mặt số lượng chương trình, cũng như nội dung, thể loại Chỉ tính riêng trên 2 kênh truyền hình VTV3 và HTV7, theo thống kê không đầy đủ, trong năm 2013 có gần 30 chương trình THTT lên sóng Hơn 600 giờ phát sóng dành cho các chương trình THTT, được tính tương đối dựa vào khung giờ vàng dành cho các chương trình giải trí THTT trên 2 kênh VTV3 và HTV7 vào các tối thứ 6, thứ 7 và chủ nhật trong năm 2013
Trang 34Và trong khoảng thời gian ngắn từ đầu năm 2014 đến nay, tiếp tục có thêm
một số chương trình THTT ra mắt khán giả Việt Đó là Học viện Ngôi sao, X factor
- Nhân tố bí ẩn, Đố ai hát được, Tuyệt đỉnh tranh tài, Người bí ẩn Đáng lưu ý là
số lượng các chương trình mua bản quyền từ các nước phương Tây - nơi có những khác biệt lớn về văn hóa so với Việt Nam (Anh, Mỹ, Hà Lan ) chiếm ưu thế tuyệt đối Chỉ có một số ít chương trình được mua bản quyền từ các quốc gia Châu Á như
Nhật Bản (Con đã lớn khôn, Về trường ) Không quá khi nói rằng, chỉ trong một
khoảng thời gian rất ngắn, Việt Nam đã chủ động tiếp thu và kế thừa hầu hết "tinh hoa" mà THTT tạo dựng được sau quá trình phát triển 7 thập kỷ
Nhìn chung, THTT tại Việt Nam đang giống như một bàn tiệc đa dạng, thay đổi món liên tục, đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu giải trí của công chúng truyền hình, trong bối cảnh các chương trình truyền thống đang thoái trào và mất dần sức hút do không có nhiều đổi mới về nội dung và hình thức Dạng chương trình THTT hay được lựa chọn để mua bản quyền và "Việt hóa" nhiều nhất là các game show tìm kiếm tài năng, đặc biệt là tài năng trong lĩnh vực âm nhạc
1.3 Việt hóa truyền hình thực tế từ góc nhìn văn hóa truyền thông
1.3.1 Các thuật ngữ có liên quan
người Pháp Abrraham Moles: "Văn hóa là chiều cạnh trí tuệ của môi trường nhân
đạo do con người xây dựng n n trong tiến trình đời sống xã hội của mình" [59]
Trang 35Ở Việt Nam, nếu x t trong di sản lịch s tư tưởng dân tộc từ thời phong kiến,
có thể nói các quan niệm về văn hóa thường nằm trong các quan điểm chính trị, xã hội và được thể hiện thông qua hàng loạt các khái niệm như văn hiến, phong tục, hào kiệt Phải tới khi cuộc đụng độ với văn hóa phương Tây ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX diễn ra, các học giả Việt Nam mới từng bước thừa nhận và tiếp thu quan niệm về văn hóa với tư cách như một thuật ngữ khoa học Tiêu biểu như các định nghĩa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Giáo sư Trần Quốc Vượng
Giáo sư Trần Ngọc Thêm định nghĩa: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật ch t và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhi n và xã hội của mình" [11,tr.10] Còn trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Giáo sư Trần Quốc
Vượng đưa ra khái niệm: "Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ,
lối ng xử Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn nghệ, học v n, văn hóa và tùy theo từng trường họp cụ thể mà có định nghĩa khác nhau" [12,tr 23]
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài khi đề cập đến khái niệm văn hóa, họ thường vận dụng các định nghĩa của
UNESCO Ví dụ, năm 2002, trong Tuy n bố chung về tính đa dạng văn hóa,
UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: "Văn hóa n n được đề cập đến
như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật ch t, tri th c và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó ch a đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương th c chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đ c tin".
Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng Tuy nhiên, hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại, tác động, ràng buộc lẫn nhau chứ không phải độc lập, riêng rẽ Vì vậy, sự tiếp xúc, giao thoa giữa các nền văn hóa luôn diễn ra trong quá trình phát triển của nhân loại Trong quá trình ấy, sẽ xảy ra hiện tượng các yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa khác, hoặc nền văn hóa này vay mượn các yếu tố của nền văn hóa kia rồi cải biên điều chỉnh cho phù hợp dẫn đến tự tiếp biến văn hóa Cụm từ Việt hóa
Trang 36được s dụng để chỉ một xu hướng, cách ứng x kh o l o của người Việt trước sự
du nhập của các yếu tố văn hóa nước ngoài
Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng lịch s văn hóa Việt Nam đã trải qua hai lần tiếp biến Lần thứ nhất là thời kỳ tiếp nhận văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ trong thời cổ, trung đại (khoảng từ năm 179 trước công nguyên đến 1858) để làm giàu thêm văn hóa bản địa Lần giao lưu, tiếp biến thứ hai là n a sau thế kỷ XIX đến nay, chủ yếu là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây (Pháp, Mỹ) Như vậy, trong suốt chiều dài phát triển, những yếu tố văn hóa nước ngoài luôn có ảnh hưởng sâu sắc đến nước ta Cách mà dân tộc Việt đã giữ gìn, xây dựng và phát huy bản sắc văn hóa của mình trong suốt mấy ngàn năm lịch s đó là: Cương quyết đấu tranh chống lại sự áp đặt một chiều, âm mưu đồng hóa thâm độc của kẻ thù; chủ động tiếp nhận, th nghiệm, chọn lọc các yếu tố văn hóa ngoại lai để tạo nên cái riêng trong cái chung Có thể thấy rõ tinh thần tự tôn của người Việt qua việc sáng tạo ra chữ Nôm và các từ Hán Việt; Việt hóa các ảnh hưởng của Khổng học, Phật giáo; kể cả những thể chế, lễ nghi, tập quán gốc Trung Quốc để tạo ra những vương triều phong kiến thịnh vượng, một khối dân tộc gắn bó keo sơn
Nhận định về quá trình tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam với phương Tây từ
thời kỳ đổi mới đến nay, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc cho rằng: "Toàn cầu hóa nói
chung có lợi cho các nước giàu phương Tây và có hại cho các nước đang phát triển như nước ta Nó có thể dẫn đến tương đồng văn hóa, làm m t bản sắc dân tộc của nước nghèo, ta phải ch p nhận nó, đ u tranh cho nó có một bộ mặt nhân bản, khai thác các cạnh khía tích cực của nó để bảo đảm cho đa dạng văn hóa " [47]
Chính vì vậy, hiện nay, Việt hóa các ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài vẫn là một tư duy, một nhận thức và một hành động mang tính tích hợp văn hóa có vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
mà Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đang nỗ lực thực hiện
1.3.1.2 Văn hóa truyền thông
Ở góc độ báo chí truyền thông, có thể hiểu văn hóa truyền thông là những giá
trị thông tin đọng lại trong nhận th c, tư tưởng công chúng sau một quá trình
Trang 37truyền thông, là cách th c truyền tải nội dung thông tin một cách phù hợp Đồng
thời, văn hóa truyền thông là khái niệm dùng để chỉ thuộc tính văn hóa, trình độ,
phẩm ch t văn hóa của các sản phẩm truyền thông
Các nhà nghiên cứu báo chí truyền thông đã phác họa cơ chế tác động vào xã
hội của báo chí theo một trục xuyên suốt Đó là, chủ thể xây dựng các thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông truyền tải đến công chúng Thông tin thông qua các phương tiện tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức, thái độ cũ Sự thay đổi ý thức xã hội dẫn đến hành vi xã hội, sau đó tạo ra hiệu quả xã hội
"Ti u chí đánh giá văn hóa truyền thông của hoạt động báo chí căn c vào
các yếu tố tham gia vào quá trình truyền thông, đó là: Người làm báo (chủ thể sáng tạo tác phẩm báo chí), tác phẩm báo chí (nội dung thông điệp), cơ quan báo chí (k nh truyền thông), công chúng tiếp nhận (độc giả, khán giả, thính giả) Tr n cơ sở
đó, có thể xem xét văn hóa truyền thông của hoạt động báo chí dựa tr n các ti u chí
cụ thể, đó là: Yếu tố văn hóa của người làm báo, giá trị văn hóa của tác phẩm báo chí khi đăng tải, phát sóng, tính văn hóa của cơ quan báo chí và tính văn hóa của công chúng báo chí" [18, tr.18]
1.3.2 Các giai đoạn Việt hóa một format THTT mua bản quyền nước ngoài
Có thể hình dung quá trình các chương trình THTT được "nhập khẩu" từ nước
ngoài về Việt Nam diễn ra theo trình tự sau: NSX Việt Nam nghi n c u thị trường
→ Lựa chọn format nước ngoài phù hợp → Đàm phán, mua bản quyền → L n kế hoạch tái sản xu t/ "Việt hóa" format dựa tr n văn hóa bản địa và thị hiếu khán giả
→ Hoàn thiện sản phẩm → Phát sóng → Thu lợi nhuận từ quảng cáo, tin nhắn bình chọn → Điều chỉnh dựa tr n phản hồi của công chúng, báo chí.
Hiện nay tại Việt Nam, các chương trình THTT mua bản quyền nước ngoài chủ yếu được sản xuất theo mô hình xã hội hóa Đây là một xu thế tất yếu, nằm trong chủ trương chung xã hội hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đang khuyến khích Chính vì vậy, ở khía cạnh người sản xuất, có 3 đối
Trang 38tượng quan trọng nhất là các công ty truyền thông tư nhân, Đài truyền hình và đội ngũ chuyên gia nước ngoài
Vai trò của các công ty truyền thông tư nhân
Hầu hết các format THTT ngoại nổi tiếng nhất đều đang nằm trong tay bốn công ty truyền thông lớn: Ðông Tây Promotion, BHD, Cát Tiên Sa và Multimedia JSC Các công ty này thường là người chủ động và tích cực trong việc tìm kiếm những format THTT đang ăn nên làm ra ở các nước trên thế giới, đặc biệt là Anh,
Mỹ, Hà Lan Nếu nhận thấy format nào hấp dẫn, mới lạ, có khả năng thành công cao tại thị trường Việt Nam, họ sẽ liên lạc, đàm phán và thuyết phục đơn vị giữ bản quyền đồng ý bán giấy ph p cho mình Muốn có được giấy ph p, NSX của Việt Nam phải đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi khắt khe của đơn vị giữ bản quyền chương trình ở nước ngoài, như nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ đội ngũ sản xuất Bởi các format THTT thường khá phức tạp và không dễ để sản xuất
Không chỉ cạnh tranh các format đang nổi tiếng trên thế giới, các đơn vị truyền thông tư nhân còn phải đàm phán với phía đối tác là ĐTH để có được cái
"gật đầu" đồng ý chấp nhận sẽ phối hợp sản xuất format đó, cũng như thời điểm và khung giờ phát sóng phù hợp, sao cho đảm bảo rating và thu hút được nhiều quảng cáo Ví dụ như Multimedia JSC sau khi có được khung giờ từ 20 - 21 giờ ngày chủ
nhật trên VTV3, đã liên tiếp triển khai và cho lên sóng Nhà thiết kế Việt Nam, Ðồ
Rê Mí và Người mẫu Việt Nam từ giữa tháng 4-2013 cho đến hết năm 2013 Khung
giờ 21 giờ 30 thứ bảy và chủ nhật trên VTV3 gần như được công ty Cát Tiên Sa
"mua đứt" với chuỗi chương trình Cặp đôi hoàn hảo, Bước nhảy hoàn vũ, Giọng hát
Việt nhí, Giọng hát Việt, Nhân tố bí ẩn
Vai trò của Đài truyền hình trong hình thức liên kết sản xuất THTT
Các ĐTH như VTV, HTV là đơn vị phối hợp, c người giám sát quá trình sản xuất; hỗ trợ máy móc, kĩ thuật, nhân lực nếu đối tác yêu cầu; chịu trách nhiệm
về nội dung trước pháp luật và giữ bản quyền thành phẩm chương trình sau khi phát sóng
Trang 39Cụ thể, về mặt nhân lực, kĩ thuật, máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng thì tùy thuộc vào từng công ty mà ĐTH sẽ có sự phối hợp khác nhau Ví dụ, BHD có trường quay riêng rộng 7000 m2 ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh và ê kíp sản xuất chương trình khá hoàn thiện, từ biên tập, quay phim tới máy móc thiết bị Trong khi
đó, ê kíp sản xuất các chương trình của Cát Tiên Sa có một số bộ phận được thuê từ VTV như quay phim, đạo diễn, sân khấu Ngoài ra còn có nhiều đơn vị khác có chức năng chuyên môn hóa cao, như công ty làm hậu kỳ, kỹ xảo, thiết kế sân khấu,
âm thanh, ánh sáng
Về mặt tài chính, quảng cáo, theo ông Lê Đình Trọng - Tổng Giám đốc Style
TV: "Với mỗi công ty, các Đài có một phương th c hợp tác khác nhau Tuy nhi n,
điểm chung là hầu hết các Đài quy đổi chi phí ra spot quảng cáo Các đơn vị sản
xu t đàm phán với Đài, báo giá sản xu t Tr n cơ sở đó, Đài quy đổi ra thời lượng tương đương Mỗi Đài có cách thực hiện ri ng và mỗi khung giờ có áp dụng ri ng Khung giờ có rating th p thì dễ, với những khung giờ có người xem cao thì thường Đài có đòi hỏi cam kết về spot quảng cáo Nếu không đạt nhà sản xu t sẽ bị phạt"
Nghĩa là nhà Đài có thể trả cho các công ty theo kiểu mua bán trọn gói; công ty sản xuất chương trình và Đài trả tiền theo từng tập, hoặc nhà Đài sẽ dành cho công ty một thời lượng quảng cáo nhất định và công ty sẽ tự bán gói quảng cáo đó
Một bước cũng không k m phần quan trọng đó là đơn vị sản xuất phải tìm
được các doanh nghiệp, nhãn hàng tài trợ Vì chỉ riêng chi phí bỏ ra để có được giấy
ph p một format THTT nổi tiếng có thể lên tới hàng trăm nghìn, hàng triệu đô la (Cho đến thời điểm này, số tiền 2 triệu đô la mà Đông Tây Promotion và đơn vị tài
trợ Unilever xác nhận đã bỏ ra để có được bản quyền Thần tượng âm nhạc Việt
Nam – Vietnam Idol mùa đầu tiên 2007 vẫn được xem là mức giá kỷ lục) Đó là
chưa kể các chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất khá tốn k m so với nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà sản xuất Việt Nam hiện nay Các hình thức tài trợ chủ yếu có thể là tiền mặt để mua bản quyền format, phần thưởng cho thí sinh, bối cảnh để ghi hình, cơ sở vật chất để thực hiện các th thách Đổi lại, nhà tài trợ sẽ có những lợi ích như spot quảng cáo, lô gô và thông tin các sản phẩm xuất hiện trên màn hình hoặc thông qua giới thiệu của MC, lời bình
Trang 40Về mặt nội dung chương trình, ông Nguyễn Hà Nam, Trưởng ban Thư ký
Biên tập của ĐTH Việt Nam khẳng định: "Trong hình th c li n kết này, VTV chịu
trách nhiệm và quyết định cuối cùng về mặt nội dung trước khi phát sóng Phía đối tác chịu trách nhiệm tổ ch c sản xu t nhưng cũng chịu sự giám sát của VTV"
Thông thường trong ê kíp sản xuất chương trình luôn có từ một tới hai BTV giàu
kinh nghiệm của nhà Đài giữ vai trò là Giám sát sản xu t Ví dụ như với chương trình Cuộc đua kỳ thú, nhà báo Lại Văn Sâm - Trưởng Ban VTV3 là người giữ chức danh Chỉ đạo sản xu t Trong khi đó, hai biên tập viên Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Thanh Hường có nhiệm vụ Chịu trách nhiệm nội dung/ Giám sát sản xu t Hay như
Giọng hát Việt, nhà báo Lại Văn Sâm cũng là người đứng tên chức danh Chỉ đạo sản xu t, trong khi nhạc sĩ, nhà báo Lương Minh là người Giám sát sản xu t Như
vậy, trong mối quan hệ phối hợp này, các công ty truyền thông tư nhân đang nắm thế chủ động trong việc quyết định về nội dung và hình thức của các chương trình trong quá trình sản xuất Điều này có thể dẫn tới tình trạng các công ty này và nhà Đài sẽ không có cùng quan điểm, khó thống nhất về tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình khi kiểm duyệt
Tái sản xuất / Việt hóa format dựa trên văn hóa Việt Nam
Giai đoạn quan trọng nhất là tái sản xuất / Việt hóa các format, gồm các bước như: Xây dựng ý tưởng và chủ đề chương trình; Lập kế hoạch sản xuất; Biên tập và viết kịch bản; Tổ chức sản xuất chương trình; Thực hiện hậu kỳ; Phát sóng Hai nhà nghiên cứu truyền thông Silvio Waisbord và Sonia Jalfin gọi đội ngũ tái sản xuất chương trình này là những người gác cổng (TV Gatekeepers), có nhiệm vụ biến đổi định dạng format được nhập khẩu thành sản phẩm mang tính địa phương NSX Việt phải đứng giữa một bên là dòng chảy văn hóa đại chúng toàn cầu, những yêu cầu khắt khe của đối tác bán bản quyền và một bên là thực tế Việt Nam "Thực tế" ở đây chính là môi trường xã hội, văn hóa, truyền thông, đối tượng công chúng đặc thù mà NSX phải đối mặt và x lý khi sản xuất các chương trình THTT Ngoài ra, đó còn là các yếu tố về khả năng tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật đặt trong sự so sánh tương quan với nước ngoài Họ điều khiển quá trình tái sản xuất, đưa ra những quyết định quan trọng, ảnh hưởng tới việc định dạng chương