Điều này cho thấy, việc đẩy mạnh và tăng cường quan hệ kinh tế với các nước, nhất là các nước trong khu vực châu Á vốn là thị trường trọng điểm của Nhật Bản luôn đóng một vai trò quan tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÙY CHI
QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Hà Nội-2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THÙY CHI
QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN
Trang 3MỤC LỤC
A DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
B DANH MỤC BIỂU ĐỒ 2
C DANH MỤC BẢNG 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do lựa chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Nguồn tài liệu tham khảo 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1: 12
CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 12
1.1 Các điều kiện tiền đề 12
1.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên 12
1.1.2 Điều kiện kinh tế hai nước 13
1.1.3 Dân cư, nguồn lao động 15
1.1.4 Kênh ngoại giao nhân dân 16
1.2 Việt Nam – Nhật Bản trước năm 2006 17
1.2.1 Giai đoạn 1973-1978 17
1.2.2 Giai đoạn 1979-1991 17
1.2.3 Giai đoạn 1992-2006 18
1.3 Chính sách của Việt Nam 20
1.3.1 Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế 20
1.3.2 Vị trí của Nhật Bản 21
1.4 Chính sách của Nhật Bản 24
1.4.1 Chính sách hướng Đông và xoay trục Đông Nam Á 24
1.4.2 Vị trí của Việt Nam 26
1.4.3 Chính sách “Abenomics” dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe 28
1.5 Tiểu kết 28
Trang 4CHƯƠNG 2: 30
THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN 30
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY 30
2.1 Quan hệ thương mại 31
2.1.1 Các sự kiện nổi bật 31
2.1.2 Kim ngạch buôn bán song phương 32
2.1.3 Cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu 36
2.1.4 Đánh giá chung về quan hệ thương mại song phương 40
2.2 Hợp tác đầu tư 41
2.2.1 Quy mô đầu tư 41
2.2.2 Cơ cấu đầu tư 49
2.2.3 Hình thức đầu tư 53
2.2.4 Đánh giá chung về tình hình hợp tác đầu tư 55
2.3 Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam 58
2.3.1 Khái quát chung về ODA Nhật Bản 58
2.3.2 Quá trình thực hiện ODA của Nhật Bản cho Việt Nam 61
2.3.3 Đánh giá chung về tình hình tiếp nhận và sử dụng ODA của Nhật Bản tại Việt Nam 66
2.4 Tiểu kết 69
CHƯƠNG 3: 71
TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1 Một số đánh giá về quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn hiện nay 71 3.1.1 Điều kiện thuận lợi 71
3.1.2 Hạn chế tồn tại 73
3.2 Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản 75
3.2.1 Giải pháp chung 75
3.2.2 Giải pháp cho từng lĩnh vực cụ thể 77
3.3 Triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5A DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do ASEAN AJEPA Asean Japan Economic
Hiệp hội các nước Đông Nam á
BFTA Bilateral Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do song
phương BIT Bilateral Investment Treaty Hiệp định đầu tư song phương
DBJ Development Bank of Japan Ngân hàng Phát triển Nhật Bản
EAFTA East Asian Free Trade
Hiệp định Đối tác Kinh tế
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
GATT General Agreement on Tariffs
IMF International Money Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
JETRO Japan External Trade
Organization
Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản
JVTA Japan Vietnam Trade
Assosiation
Hội mậu dịch Nhật – Việt
ODA Offical Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức
VJCEP Vietnam Japan Common
Trang 6B DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1- 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn
2001 - 2010 33 Biểu đồ 2- 2.2 Kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2009-2013 34 Biểu đồ 3- 2.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn 2001-2010 37 Biểu đồ 4- 2.4 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản năm
2013 38 Biểu đồ 5- 2.5 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Nhật Bản giai đoạn 2001-2010 39 Biểu đồ 6- 2.6 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Nhật Bản năm
2013 40 Biểu đồ 7- 2.7 Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam (1997-2008) 43 Biểu đồ 8- 2.8 FDI của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2009-2012 45 Biểu đồ 9- 2.9 Số doanh nghiệp gia nhập Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 2000-2012 47 Biểu đồ 10- 2.10 So sánh FDI Nhật Bản vào Thái Lan, Indonesia và Việt Nam giai đoạn 2009-2012 48 Biểu đồ 11- 2.11 FDI theo ngành của Nhật Bản vào Việt Nam 50 Biểu đồ 12- 2.12 10 địa phương thu hút nhiều đầu tư của doanh nghiệp Nhật Bản tính đến năm 2012 53 Biểu đồ 13- 2.13: Xu hướng ODA song phương của Nhật Bản theo khu vực năm 2011 61 Biểu đồ 14- 2.14 Cam kết vốn ODA cho Việt Nam của các nhà tài trợ thời kì 1993-
2012 62 Biểu đồ 15- 2.13 Tổng vốn ODA cam kết, ký kết, giải ngân giai đoạn 1993-2012 67 Biểu đồ 16- 2.14 Cam kết, ký kết, giải ngân vống ODA thời kỳ 1993-2012 68
Trang 7C DANH MỤC BẢNG
Bảng 1- 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn
2001 - 2010 32
Bảng 2- 2.2 Tỉ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam- Nhật Bản giai đoạn 2007-2013 35
Bảng 3- 2 3 Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam (1997-2008) 42
Bảng 4- 2.4 Danh sách các quốc gia đứng đầu trong đầu tư trực tiếp vào Việt Nam tính tới ngày 19/12/2008 44
Bảng 5- 2.5 10 nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất trong 6 tháng đầu năm 2013 46
Bảng 6- 2.6 FDI theo ngành của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 1988-2002 49
Bảng 7- 2.7: ODA của Nhật Bản cho Việt Nam từ 2008 - 2012 63
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, dù trên thực tế, sự bất ổn và các điểm nóng trên thế giới và khu vực vẫn đang còn tồn tại nhưng hòa bình, hợp tác vẫn là nguyện vọng chính đáng và là mong muốn của nhân loại Đặc biệt, liên kết, hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực đã trở nên nổi trội hơn bao giờ hết và mở cửa hội nhập trở thành yêu cầu khách quan để gắn kết các nền kinh tế với nhau và tăng cường các hoạt động kinh
tế ở các cấp từ song phương, đa phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu Đến nay, châu Á là khu vực đang nổi lên với tốc độ hội nhập và mức độ sẵn sàng liên kết hợp tác một cách nhanh chóng Hợp tác kinh tế của các nước trong khu vực tăng lên mạnh
mẽ, đặc biệt là quan hệ kinh tế Nhật Bản – ASEAN – Trung Quốc Ngày 4/11/2002, Nghị định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc được ký kết Trên cơ sở đó, Hiệp định về thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc ra đời và chính thức có hiệu lực từ tháng 1/2010 Ngày 8/10/2003, Nhật Bản và các nước ASEAN cũng đã ký Thỏa thuận khung về Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN
- Nhật Bản Sau các vòng đàm phán luân phiên, ngày 1/12/2008, Hiệp định về quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa Nhật Bản và ASEAN được ký kết và chính thức có hiệu lực Các thỏa thuận hợp tác đã hình thành những khu vực thương mại tự do lớn khiến khu vực này trở nên sôi động hơn bao giờ hết Hợp tác khu vực và xu thế toàn cầu hóa tạo ra cơ hội thuận lợi để các nước đẩy nhanh hợp tác kinh tế song phương và đa phương hiện nay và trong tương lai
Bên cạnh đó, cùng với sự thay đổi của cục diện thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỉ XXI, kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến khá phức tạp Thời kì 1991-2000 tốc
độ tăng trưởng kinh tế thế giới đạt 3,1%/năm Bước sang thập kỷ mới, nền kinh tế thế giới phục hồi với tốc độ tăng trưởng 4,04% giai đoạn 2001-2007 Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính từ nửa cuối năm 2008-2009 đã kéo tốc độ phát triển trung bình cho cả giai đoạn 2001-2010 xuống còn 3,2%/năm Từ năm 2010, nền kinh tế thế giới bắt đầu phục một cách chậm chạp Trong khi đó, khu vực châu Á lại nổi lên là một điểm sáng trong bức tranh nền kinh tế toàn cầu Các nước ASEAN và châu Á vẫn phát triển năng động, mức tăng trưởng năm 2013 duy trì ở 6,6%, cao hơn mức 6% của năm 2012
Trang 9Kinh tế khu vực này vẫn đóng vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế thế giới tăng trưởng
Nền kinh tế Nhật Bản, sau giai đoạn tăng trưởng cao độ, bắt đầu trì trệ, đặc biệt
là sau sụp đổ bong bóng, nền kinh tế đã rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài vẫn được gọi là “hai thập kỷ mất mát” Để vực dậy nền kinh tế, Chính phủ, doanh nghiệp Nhật Bản đã áp dụng nhiều giải pháp mạnh mẽ nhằm cải tổ khu vực tài chính ngân hàng, cải cách cơ cấu kinh tế và doanh nghiệp, tự do hóa hơn nữa thị trường và đầu tư mạnh
mẽ cho khoa học công nghệ Nền kinh tế Nhật Bản đã có những dấu hiệu phục hồi, sự tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2002 – 2006 được coi là thời kỳ tăng trưởng dài nhất kể từ sau chiến tranh Tuy nhiên, sau khi Thủ tướng Koizumi kết thúc nhiệm kỳ vào năm 2006, nền kinh tế Nhật Bản lại bắt đầu suy thoái và rơi vào tình trạng đặc biệt nghiêm trọng trong những năm 2008-2009 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Sau đó, nhờ những giải pháp khắc phục khủng hoảng của Chính phủ Nhật Bản, nền kinh tế Nhật Bản dần có những bước phát triển khả quan nhưng không bền vững Tháng 12/2012, Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền và thực hiện chính sách “ba mũi tên” Abenomics, đưa nền kinh tế Nhật Bản ra khỏi khủng hoảng và có những dấu hiệu khởi sắc Cùng với những chính sách kinh tế trong nước, Chính phủ Nhật Bản tuyên bố tham gia đàm phán Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)- một đàm phán thương mại tự do nhiều bên, với mục tiêu thiết lập một khu vực thương mại tự do chung cho các nước đối tác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Đồng thời đề ra những chính sách liên quan đến chiến lược phát triển như lập cơ chế thúc đẩy xuất khẩu trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế và đàm phán các hiệp định đối tác kinh tế (EPA) Điều này cho thấy, việc đẩy mạnh và tăng cường quan hệ kinh tế với các nước, nhất là các nước trong khu vực châu Á vốn là thị trường trọng điểm của Nhật Bản luôn đóng một vai trò quan trọng trong các chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 7,5%, thấp hơn nửa đầu thập niên
1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam luôn giữ ở mức cao và ổn định Năm 2003 tăng 7,3% ;
Trang 102004 : 7,7% ; 2005 : 8,4% ; 2006 : 8,2% ; 2007 : 8,5% và năm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế là 6,2% Giai đoạn 2001-2010, đặc biệt trong năm 2008, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng khá, nền kinh tế liên tục tăng bình quân đạt 7,26%, đã đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển với mức thu nhập trung bình Trong 3 năm 2011-
2013, mặc dù tăng trưởng kinh tế đạt tỷ lệ thấp (bình quân chỉ tăng 5,52%/năm) nhưng trong điều kiện cụ thể với tình hình kinh tế thế giới trì trệ thì đây là mức tăng trưởng thành công của Việt Nam Giai đoạn 2011 – 2015 được coi là nền tảng quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 Dù còn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, song kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng ấn tượng Đây là cơ sở để Việt nam tiếp tục phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu
đã đề ra [Error! Reference source not found.] Và để đạt được những chỉ tiêu này thì mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới có ý nghĩa hết sức quan trọng
Việt Nam và Nhật Bản, hai nước “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” với rất nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội đã có mối quan hệ bang giao từ những năm cuối thế kỷ XVI Đặc biệt, kể từ ngày 21 tháng 9 năm 1973, với việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên sâu sắc Năm 2014 đánh dấu mốc phát triển vô cùng quan trọng trong quan hệ ngoại giao hai nước Sau
40 năm xây dựng, mặc dù có nhiều biến động quốc tế, khu vực và trong mỗi quốc gia ảnh hưởng đến cả hai nước, mối quan hệ kinh tế, chính trị và văn hóa giữa Việt Nam
và Nhật Bản vẫn liên tục được đẩy mạnh phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu
Căn cứ vào quá trình phát triển, người ta đã chia quan hệ giữa hai nước thành các giai đoạn: 1973-1978, 1979-1991, 1991-2006 và 2006 – nay (tính đến tháng 6/2014) trong đó giai đoạn từ năm 2006 có thể coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Với những mốc dấu quan trọng, đó là Tuyên bố
chung “hướng tới đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á” giữa các nhà
lãnh đạo cấp cao hai nước (10/2006) với 06 nội dung chính trong đó có 03 nội dung
đề cập đến hợp tác kinh tế và khoa học kĩ thuật; đó là mục tiêu, đường lối, phương châm chỉ đạo nhất quán trong hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam tại
Trang 11Đại hội Đảng X (4/2006): Tiếp tục giương cao hơn nữa ngọn cờ hoà bình, hợp tác và
phát triển; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và xây dựng của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững; tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực; và đặc biệt là
những thành tựu nổi bật trong công tác đối ngoại của Việt Nam 2006: Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), được đề cử là ứng
cử viên duy nhất của châu Á làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khóa 2008-2009 và tổ chức thành công Hội nghị Lãnh đạo Kinh tế APEC
14 Cùng với những chuyển biến trong xu thế hội nhập, sự biến động của của nền kinh
tế thế giới, khu vực và nội tại hai nước, đi đôi với nó là sự điều chỉnh chính sách của mỗi Chính phủ, tất cả đã tạo ra một giai đoạn phát triển ý nghĩa, có thể nói là giai đoạn rực rỡ nhất trong lịch sử quan hệ hai nước Việt Nam – Nhật Bản
Lấy mốc thời gian từ năm 2006 để phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được trong quan hệ kinh tế hai nước, học viên mong muốn nhấn mạnh hơn nữa về giai đoạn phát triển đặc biệt này và đóng góp một phần nhỏ bé nhận định của bản thân về triển vọng phát triển của mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn đó, học viên quyết định lựa chọn tên đề tài luận văn
“Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến nay”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở từng góc độ tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau, cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, bài viết về mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản Tại Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về Nhật Bản được Chính phủ Việt Nam đặc biệt chú trọng Năm 1993, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra Quyết định thành lập Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản (nay là Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nhật Bản cũng như mối quan hệ hai nước Việt Nam – Nhật Bản của các nhà Nhật Bản học của Việt Nam Các nghiên cứu này đã tập trung phân tích quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, khái quát về mối quan hệ kinh tế, thương mại, hoạt động của nguồn vốn ODA, hợp tác giáo dục, văn hóa, du lịch… bao gồm sách, bài viết đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành hoặc tham luận tại các hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước Có thể kể đến nghiên cứu của các tác giá:
Trang 12- Vũ Văn Hà với cuốn “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong những năm
1990 và triển vọng” xuất bản năm 2000 Tác giả trình bày thực trạng quan hệ thương
mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam trong những năm 1990 trong bối cảnh mới của kinh tế quốc tế, khu vực và sự đổi mới chính sách đối ngoại của hai nước, từ đó dự báo triển vọng và đề xuất các giải pháp phát triển
- Dương Phú Hiệp – Vũ Văn Hà về “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong
bối cảnh quốc tế mới” xuất bản năm 2004 Các tác giả tập trung phân tích tác động
của bối cảnh quốc tế và khu vực đến quan hệ song phương giữa hai quốc gia; khảo sát, đánh giá thực tiễn hợp tác trên các mặt thương mại, đầu tư và ODA từ sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực châu Á 1997-1998; phân tích các quan điểm hợp tác,
dự báo triển vọng cũng như đề xuất các giải pháp để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hợp tác
- Tác giả Trần Anh Phương và cuốn “Thương mại Việt Nam – Nhật Bản trong
tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nước xuất bản 2009 Trên cơ sở những thành
tựu đạt được trong quan hệ thương mại giữa hai nước giai đoạn 1973 -2008, tác giả tổng kết, phân tích, đánh giá và tìm ra nguyên nhân của thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn 1973-2008 và đề ra các giải pháp thúc đẩy quan
hệ thương mại giữa hai nước phát triển
- Các tác giả Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Tất Giáp và cuốn “Quan hệ Việt Nam –
Nhật Bản sau chiến tranh lạnh” xuất bản năm 2013 Thông qua cuốn sách, các tác giả
đã làm rõ thực trạng về quan hệ Việt Nam và Nhật Bản trên các lĩnh vực chính trị - đối ngoại, kinh tế và các lĩnh vực khác từ năm 1991 đến năm 2012 và đưa ra dự báo triển vọng quan hệ hai nước đến năm 2020, đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản
Đặc biệt, nhân kỉ niệm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước, các nhà nghiên cứu Việt Nam và Nhật Bản đã có rất nhiều ấn phẩm, bài viết
đóng góp cho lịch sử nghiên cứu vấn đề như cuốn 25 năm quan hệ Việt Nam – Nhật
Bản 1973-1998 của các tác giả Dương Phú Hiệp, Ngô Xuân Bình, Trần Anh Phương
nhân kỉ niệm 25 năm; Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai
của các tác giả Trần Quang Minh, Ngô Xuân Bình nhân kỉ niệm 30 năm; và gần đây
Trang 13nhất, nhân kỉ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao hai nước, Việt Nam đã tổ chức nhiều hội thảo quốc tế quan trọng với sự tham gia của rất nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, Nhật Bản và quốc tế Công trình nghiên cứu của các tác giả đã được tập hợp lại và
xuất bản thành các cuốn kỷ yếu Hội thảo: “Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: 40 năm
nhìn lại và định hướng tương lai”, “40 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản: thành quả
và triển vọng”, “Lịch sử, văn hóa và ngoại giao văn hóa: sức sống của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh mới của quốc tế và khu vực” Các ấn phẩm này là tập
hợp các công trình nghiên cứu nổi bật về Nhật Bản và Việt Nam, được phân chia thành các lĩnh vực quan hệ chính trị - ngoại giao, quan hệ kinh tế và quan hệ giao lưu văn hóa, trở thành một trong những nguồn tài liệu quan trọng và có ý nghĩa đối với những người quan tâm về mối quan hệ giữa hai quốc gia
Có thể nói, mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản là một đề tài thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Đến nay, các công trình nghiên cứu đã bao quát được mối quan hệ này cả về lĩnh vực hợp tác và lịch sử phát triển Tuy nhiên, để nghiên cứu về mối quan hệ kinh tế nói riêng và trong giai đoạn từ năm 2006 đến giữa năm 2014 hiện nay thì chưa có công trình nào, tác giả nào thực hiện Vì vậy, học viên
hi vọng rằng đề tài luận văn “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến
nay” sẽ góp một phần nhỏ bé nhưng mới mẻ về quan hệ ngoại giao giữa hai nước nói
chung, quan hệ trên lĩnh vực kinh tế nói riêng, đặc biệt là về giai đoạn phát triển mới đẩy triển vọng này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận văn sẽ đề cập tới quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam
và Nhật Bản trên ba lĩnh vực chính là hợp tác thương mại, đầu tư và viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
Về thời gian, luận văn sẽ trình bày thực trang phát triển của mối quan hệ này trong giai đoạn từ năm 2006 đến hết tháng 6 năm 2014
Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trên lĩnh vực kinh tế gồm quan hệ thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam Từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá đối với triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong thời gian tới
Trang 144 Nguồn tài liệu tham khảo
Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản cho đến nay đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, sách chuyên khảo hoặc các bài báo, tạp chí chuyên ngành Để hoàn thành luận văn này, học viên đã sử dụng những nguồn tài liệu gốc và nguồn tài liệu thứ cấp chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh Những nguồn tài liệu gốc được học viên khai thác như các Hiệp định, Tuyên bố chung trong quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời gian vừa qua Các nguồn tài liệu thứ cấp có thể kể tới trong luận văn như sau:
- Sách, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học các cấp: các ấn phẩm của học viện Ngoại giao, Đại học Quốc gia, các công trình sách của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á
- Báo, tạp chí nghiên cứu, tài liệu tham khảo đặc biệt: các tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Các vấn đề quốc tế, Nhịp cầu tri thức, Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Đối ngoại (của Ban đối ngoại Trung ương)…
- Nguồn tin tức từ Internet: các trang web của Bộ ngoại giao, Chính phủ Nhật Bản, Bộ ngoại giao Việt Nam, báo điện tử Vietnamnet…
5 Phương pháp nghiên cứu
Do luận văn có đề cập tới mối quan hệ kinh tế song phương diễn ra trong một giai đoạn nhất định nên phương pháp được sử dụng chủ yếu ở đây là các phương pháp phương pháp phân tích, so sánh, logic, tổng hợp, kiểm tra, đánh giá tư liệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụ cho nghiên cứu được chi tiết, xác thực hơn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp của đề tài
Nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích chính của luận văn nhằm làm rõ sự phát triển
của quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản và những đặc điểm của mối quan hệ trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay Luận văn cũng đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về các thuận lợi cũng như khó khăn thách thức; giải pháp nào cho những tồn tại đó và triển vọng của hai nước trong tương lai
Đóng góp của đề tài: “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến
nay” là một đề tài có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Những đóng góp chủ yếu
của luận văn bao gồm: trước nhất là về mặt tư liệu Luận văn đã tập hợp được những
Trang 15tư liệu cần thiết, có tính chất cập nhật có liên quan đến đề tài để nghiên cứu phân tích
và có thể làm tài liệu tham khảo sau này Thứ hai, luận văn cũng đã phân tích 3 lĩnh vực chính trong quan hệ kinh tế 2 nước: Thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới hiện nay, từ đó giúp cho việc đánh giá những kết quả đã đạt được và dự báo triển vọng của mối quan
hệ trong tương lai
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục bảng biểu, Danh mục biểu đồ, Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sở mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
Chương II: Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2006 đến nay Chương III: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
trong thời gian tới
Nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản là một đề tài không mới, tuy nhiên luận văn đi sâu nghiên cứu mối quan hệ này trong một khoảng thời gian ngắn từ năm 2006 đến hết tháng 6 năm 2014 nên đòi hỏi tính cập nhật và sự phân tích, đánh giá về quan hệ kinh tế nói riêng và quan hệ đối ngoại giữa hai nước nói chung Tuy có nhiều nguồn tài liệu phong phú nhưng với tầm nhìn còn hạn chế, sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, học viên hi vọng sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu của quý thầy
cô, các nhà khoa học và các bạn học viên có quan tâm để đề tài được hoàn thiện và có giá trị tham khảo cũng như nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN TỪ NĂM 2006
ĐẾN NAY 1.1 Các điều kiện tiền đề
1.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Nhật Bản có một vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên không thuận lợi Nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương và ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất, Nhật Bản thường xuyên phải chịu các động đất và sóng thần Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra ngày 11/03/2011 đã để lại hậu quả vô cùng nặng nề với gần 16.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương và hơn 2.600 người mất tích Về địa hình, 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản là núi non trong đó có không ít ngọn núi là núi lửa Đây là loại địa hình không thích hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp
và cư trú
Nhật Bản lại là nước đặc biệt nghèo tài nguyên thiên nhiên ngoại trừ gỗ và hải sản Từ các loại khoáng sản như như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì và bạc đến các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than Nhật Bản đều phải nhập khẩu Từ giữa những năm 70, để bộ máy công nghiệp hoạt động bình thường, Nhật Bản phải nhập phần lớn các loại khoáng sản, kim loại, có loại nhập khẩu 100% như dầu lửa, uranium [12] Càng thực hiện công nghiệp hóa cao độ, Nhật Bản càng cần đến một khu vực có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mình Khu vực đầy tiềm năng đó là Châu
Á – Thái Bình Dương mà cửa ngõ đi vào khu vực này là Đông Nam Á
Đối với toàn khu vực Đông Nam Á, Việt Nam chiếm một vị trí đặc biệt Nằm giữa một khu vực “Ấn Trung” bao gồm Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia và Philippin, Indonesia, từ xưa Việt Nam đã là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa lớn: văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Quốc Hiện nay, trên bình diện chính trị và quân sự, Việt Nam được coi là quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu ở khu vực Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam là cầu nối quan trọng giữa Đông Á – Nam Á và các quần đảo khác trong khu vực Thái Bình Dương với vị trí án ngữ các con đường giao thông và là cửa ngõ đi vào lục địa Đông Nam Á
Việt Nam còn là nước có nguồn tài nguyên vô cùng phong phú về cả tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, tài nguyên du lịch và nhiều loại khoáng sản và
Trang 17trở thành một trong những nước xuất khẩu tài nguyên Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cơ bản vẫn ở dạng thô, chưa được chế biến tinh nên giá trị xuất khẩu chưa cao Hơn nữa, việc tập trung khai thác tài nguyên để xuất khẩu hiện nay đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thất thoát lãng phí tài nguyên, chảy máu tài nguyên
và đánh mất các cơ hội phát triển những ngành công nghiệp quan trọng, những lĩnh vực phụ trợ và làm triệt tiêu động lực phát triển khoa học công nghệ trong nước
Một đất nước Nhật Bản với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên cũng như tài nguyên thiên nhiên không thuận lợi, từ rất sớm phải phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu từ các nguyên, nhiên liệu cơ bản đến khí đốt và lương thực thực phẩm và một nước Việt Nam với vị trí địa lý chiến lược và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng sẽ là những đối tác quan trọng của nhau, cùng khai thác những lợi ích kinh tế và cả lợi ích chính trị an ninh khu vực
1.1.2 Điều kiện kinh tế hai nước
Điều kiện kinh tế Việt Nam
Trước năm 1986, Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa Năm 1986 Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định Hiện nay, Việt Nam là nền kinh tế đứng thứ 6 trong
số 10 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 128 thế giới xét theo tổng sản phẩm bình quân đầu người Việt Nam chủ trương xây dựng một hệ thống kinh tế thị trường, tính đến tháng 4/2014 đã có 45 quốc gia trên thế giới tuyên bố công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam trong đó có Nhật Bản [31]
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, để đẩy mạnh và phát triển hơn nữa nhằm tiến tới mục tiêu “đến năm 2020 về cơ
bản Việt Nam là nước công nghiệp phát triển”, ngoài việc phát huy nội lực Việt Nam
cần phải dựa vào sự hợp tác với nước ngoài, nhất là các quốc gia có trình độ khoa học
công nghệ phát triển như Nhật Bản Thứ nhất, Việt Nam rất cần nguồn vốn từ Nhật
Bản Do đặc điểm của quá trình công nghiệp hoá rút ngắn nên nhu cầu vốn đầu tư của
Việt Nam càng cao Nhật Bản lại là đầu nguồn của dòng vốn đầu tư Thứ hai, hiện
trạng trình độ công nghệ của Việt Nam rất thấp so với các nước trong khu vực Để đẩy
Trang 18mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc xây dựng hạ tầng công nghệ hiện đại là rất cần thiết Hơn nữa khoa học công nghệ lạc hậu sẽ lại là bất lợi trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư Chính vì vậy, cần mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia
phát triển, là đầu nguồn của dòng vốn và công nghệ như Nhật Bản Thứ ba là thị
trường xuất nhập khẩu Với việc đẩy mạnh chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu, nhu cầu về thị trường bên ngoài ngày càng gia tăng cùng với hướng tăng trưởng của nền kinh tế Trong thời gian vừa qua Nhật Bản thể hiện là thị trường quan trọng hàng đầu trong xuất khẩu của Việt Nam thể hiện ở tỉ trọng hàng xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Nhật Bản ngày càng tăng với các mặt hàng chủ yếu là dầu thô, may mặc, thủy hải sản Bên cạnh đó Việt Nam cũng cần nhập khẩu hàng hoá từ thị trường Nhật Bản nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước đặc biệt là máy móc thiết bị công nghệ bởi đây cũng chính là đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Điều kiện kinh tế Nhật Bản
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1951) phát triển cao độ (1952-1973) làm thế giới phải kinh ngạc Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản" Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc) Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế và mới chỉ bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2011 Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, Nhật Bản có nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới
Trên thực tế, Nhật Bản là một trong những quốc gia hàng đầu trong thực hiện đầu tư ra nước ngoài Quá trình bành trướng kinh tế thông qua FDI của Nhật được thực hiện ngay từ những năm 1950, song quy mô và tốc độ tăng mạnh là thời kỳ những năm 1970, 1980 và đặc biệt là từ năm 1985 đến nay Quá trình đồng yên tăng giá cùng với chính sách tự do hoá và ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao trong nước nhiều công ty Nhật đã gia tăng chuyển các cơ sở, những ngành sản xuất cần
Trang 19nhiều lao động ra nước ngoài Điều này vừa cho phép Nhật Bản phát huy những ưu thế về công nghệ đồng thời tận dụng được nguồn lao động giá rẻ ở các quốc gia bản địa, khai thác tài nguyên thu lợi nhuận đồng thời tạo nguồn sản phẩm cung cấp phục
vụ thị trường trong nước Các nước ASEAN luôn đứng đầu danh sách các nước tiếp nhận đầu tư của Nhật Bản với nguồn vốn chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng và khai thác các nguồn nguyên nhiên liệu, và trong những năm gần đây ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo
Trong quan hệ với Việt Nam, Nhật nhìn nhận Việt Nam là thị trường đầu tư tiềm năng còn ít được khai thác so với các quốc gia lân cận Nhật có nguồn tài chính lớn cần nơi đầu tư Việt Nam có thể tiếp nhận vốn và kỹ thuật của Nhật Bản để đầu tư xây dựng các ngành công nghiệp của mình
1.1.3 Dân cư, nguồn lao động
Nhật Bản tuy nghèo về tài nguyên thiên nhiên nhưng lại rất giàu về nguồn nhân lực con người Dân số Nhật Bản hiện nay có khoảng 127 triệu người đứng thứ 10 thế giới (2010) với trình độ dân trí cao Ngay từ những năm 70, 100% dân số Nhật Bản
đã biết chữ Trải qua các thời kì lịch sử và quá trình giáo dục, sản xuất, Nhật Bản đã đào tạo được đội ngũ lao động lành nghề, có kỷ luật và tác phong công nghiệp Dân tộc Nhật Bản vốn là một quốc gia thuần chủng có cùng chủng tộc, màu da và tiếng nói nên trong nhân dân có sự đoàn kết và ý thức cộng đồng cao Hơn nữa điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, luôn bị đe dọa bởi động đất và núi lửa đã rèn luyện tính cách con người Nhật Bản: tinh thần trách nhiệm cao, lao động cần cù và sáng tạo Đây là những
tố chất quan trọng đáng quý giúp cho Nhật Bản đạt được nhiều thành tựu về kinh tế và trở thành tấm gương cho các dân tộc khác học tập Tuy nhiên, tình trạng già hóa dân
số một cách nhanh chóng thời gian gần đây không chỉ làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách, mà còn được xem là thách thức lớn với Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe trong nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trái với Nhật Bản, Việt Nam hiện đang trong thời kì dân số vàng Cuối năm
2013, dân số Việt Nam đạt mức 90 triệu người, đứng thứ 14 trong số các quốc gia đông dân nhất trên thế giới Kết cấu dân số trẻ, nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động rất dồi dào là cơ hội tốt để Việt Nam vươn lên phát triển trong thời gian tới Tuy nhiên theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ
Trang 20tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước Thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài để hợp tác khai thác lực lượng lao động dồi dào đồng thời tập trung đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành vấn đề then chốt trong để phát triển kinh tế trong thời gian tới Với đặc điểm con người và đất nước có nhiều nét tương đồng là bản tính cần cù, chịu khó, tinh thần học hỏi, phấn đấu vươn lên và lối sống cộng đồng chặt chẽ, Việt Nam và Nhật Bản đã có nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác đào tạo nguồn lực con người
1.1.4 Kênh ngoại giao nhân dân
Có thể nói, một trong những nền tảng vững chắc cho quan hệ Việt Nam – Nhật Bản là sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác chiến lược Bên cạnh các chuyến thăm và các cuộc họp lãnh đạo cấp cao giúp củng cố lòng tin chính trị và nâng cao hiệu quả hợp tác song phương, ngoại giao nhân dân cũng là một kênh quan trọng giúp tăng tính bền vững của mối quan hệ, đảm bảo sự tăng trưởng mạnh mẽ của nó trong tương lai Sự tương đồng giữa hai dân tộc “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” là yếu tố quan trọng tạo nên sự gần gũi trong nhân dân
Thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức từ năm 1973, nhưng hoạt động bang giao giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản đã diễn ra từ rất sớm khi các thương gia Nhật Bản đến Việt Nam và xây dựng “phố Nhật Bản” tại Hội An vào cuối thế kỉ XVI Trải qua một thời kỳ đen tối, do sự chiếm đóng của quân đội Nhật Bản ở Đông Dương trong Thế chiến thứ hai và sự ủng hộ của nước này với chính sách của
Mỹ để chống lại “đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản miền Bắc Việt Nam, quan hệ hai nước vẫn được duy trì nhờ hòa giải thành công giữa hai dân tộc Vấn đề lịch sử đã không trở thành yếu tố hủy diệt mối quan hệ này Nhật Bản, được coi là kẻ thù xâm lược đã chấp nhận trách nhiệm và bày tỏ thiện chí để “chữa lành vết thương” và Việt nam, là nạn nhân, sẵn sàng bỏ qua để xây dựng mối quan hệ mới Từ đó đến nay, Chính phủ Nhật Bản tự nguyện thực hiện việc bồi thường chiến tranh cho Việt Nam dưới hình thức viện trợ không hoàn lại và viện trợ phát triển chính thức ODA Nhờ quá trình hòa giải thành công, đến nay hình ảnh Nhật Bản và Việt Nam trong nhân
Trang 21dân hai nước vẫn rất tốt đẹp Tình cảm mà người dân Việt Nam dành cho nhân dân Nhật Bản trong thảm họa sóng thần động đất năm 2011 và sự ngưỡng mộ đối với cách
họ xử lý và vượt qua khó khăn là minh họa cụ thể mối quan hệ tốt đẹp giữa hai dân tộc
Chính những đặc điểm có tính chất tương đồng cũng như tính phụ trợ này đã khiến cho mối quan hệ giữa hai nước được hình thành từ rất sớm và ngày càng được củng cố và đẩy mạnh phát triển Và trở thành một trong những cơ sở tiền đề quan trọng của mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản nói chung và quan hệ kinh tế hai nước nói riêng
1.2 Việt Nam – Nhật Bản trước năm 2006
Từ khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản được chính thức thiết lập kể từ ngày 21/9/1973, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên quan hệ giữa hai nước cũng đã trải qua những bước thăng trầm Căn cứ vào quá trình phát triển, có thể chia khoảng thời gian trước năm 2006 thành các giai đoạn nhỏ: 1973-
1978, 1979-1991, 1991-2006
1.2.1 Giai đoạn 1973-1978
Trong giai đoạn trước năm 1975, do hai miền Nam-Bắc Việt Nam còn bị chia cắt nên quan hệ Việt – Nhật lúc này chưa có điều kiện phát triển Từ sau ngày 30/4/1975, khi Việt Nam thống nhất đất nước, quan hệ giữa hai nước đã có những bước đi quan trọng đầu tiên, đó là việc trao đổi Đại sứ và mở Đại sứ quán ở thủ đô của mỗi nước vào tháng 01 tháng 1976 và đặc biệt là thỏa thuận bồi thường chiến tranh của Chính phủ Nhật Bản cho Việt Nam với danh nghĩa Viện trợ không hoàn lại trị giá 13,5 tỉ Yên Tháng 8 năm 1977, trong chuyến thăm đến Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ hai tổ chức tại Manila, Thủ tướng Nhật Bản Takeo Fukuda đã đưa ra phương châm chính sách về Đông Nam Á mà sau này gọi là học thuyết Fukuda, nhấn mạnh cam kết giúp đỡ các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển đất nước
1.2.2 Giai đoạn 1979-1991
Bước sang giai đoạn 1979-1991, giai đoạn khó khăn và lạnh nhạt trong quan hệ hai nước mà nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm trong vấn đề Campuchia Phía Nhật Bản đơn phương ngừng các mối quan hệ chính thức, đóng băng các khoản
Trang 22viện trợ đã cam kết và đưa ra yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia làm điều kiện để phía Nhật mở lại viện trợ Đồng thời, Nhật Bản đã phối hợp với Mỹ và phương Tây thực hiện bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam, ngăn cản các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế cho Việt Nam vay tiền… Tuy nhiên, do vị trí chiến lược của Việt Nam trong khu vực Đông Á, nơi Nhật Bản đang hướng chính sách đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của mình và lợi ích nhiều mặt trong quan hệ kinh tế thương mại lâu đời giữa hai nước nên bên cạnh các chính sách cứng rắn, Nhật Bản vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với Việt Nam Đến cuối năm 1986, khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới theo đường lối mở cửa và từng bước rút quân đội khỏi Campuchia, hai nước
đã nối lại quan hệ bằng các chuyến thăm Nhật Bản của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch vào tháng 10 năm 1990 và chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Nhật Bản Nakayama vào tháng 6 năm 1991 cùng với đó là việc nối lại viện trợ nhân đạo, y tế, văn hóa và giáo dục cho Việt Nam tuy vẫn còn ở quy mô nhỏ
1.2.3 Giai đoạn 1992-2006
Giai đoạn 1992-2006, quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ gắn liền với những đặc trưng của bối cảnh khu vực và quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc, toàn cầu hóa, khu vực hóa là xu thế phát triển của thời đại Các nhân tố bên ngoài này cộng với những nhu cầu bên trong mỗi nước đã khiến cho quan hệ Việt Nam – Nhật Bản có những bước tiến lớn trên nhiều lĩnh vực Nếu như ở các giai đoạn trước việc viếng thăm của quan chức cấp cao hai nước rất hiếm hoi thì trong giai đoạn này rất nhiều cuộc viếng thăm quan trọng đã diễn ra Trong các năm từ 1993 đến 2006 diễn ra liên tiếp các cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo cấp cao hai nước: Phía Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản đã đến thăm Việt Nam 5 lần (Tomiichi Murayama 8/1994, Ryutaro Hashimoto 1/1997, Keizo Obuchi 12/1998, Junichiro Koizumi 4/2002, Shinzou Abe 2012), Ngoại trưởng Nhật thăm chính thức 2 lần (1996 và 2004) Về phía Việt Nam, Thủ tướng Việt Nam đã đến thăm Nhật Bản 6 lần (1993, 1999, 2001, 2003 - 2 lần - và 6/2004), Tổng
Bí thư thăm chính thức 2 lần (1995 và 2002), Chủ tịch Quốc hội và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng đã thăm Nhật Bản Qua các chuyến đi này, mối quan hệ tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước được nâng cao, là cơ sở thuận lợi để phát triển các quan hệ nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng
Trang 23Năm 2002, sau chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi (4/2002) và chuyến thăm Nhật Bản của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh
(10/2002), hai nước thống nhất xây dựng mối quan hệ theo phương châm “đối tác tin
cậy, ổn định lâu dài” Tháng 7 năm 2004, trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung “Vươn tới tầm cao mới của
đối tác bền vững” Đặc biệt là sau chuyến thăm Nhật Bản tháng 10 năm 2006 của Thủ
tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, quan hệ hai nước được nâng lên một tầm cao mới
với việc hướng tới xây dựng “đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
Trên cơ sở các tuyên bố chung, rất nhiều văn bản hợp tác có ý nghĩa quan trọng đã
được ký kết Năm 2003, hai bên đã nhất trí bắt đầu “Sáng kiến chung Nhật-Việt” với
mục tiêu xây dựng chiến lược thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và
cải thiện môi trường đầu tư Cũng trong năm này, Hiệp định đầu tư Nhật-Việt (Hiệp
định bảo hộ, xúc tiến và tự do hóa đầu tư) được ký kết và có hiệu lực từ tháng 12 Năm 2006, lãnh đạo hai nước đã quyết định chính thức thành lập Ủy ban Hợp tác
Nhật – Việt
Có thể thấy, trong giai đoạn 1973-2006, dù quan hệ hai nước đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm song khi được khởi động trở lại thường diễn ra khá nhanh chóng, hiệu quả và các quan hệ kinh tế thường mở đầu cho việc thiết lập quan hệ hai nước
Có thể nhận thấy điều này khi hai nước đã cùng nhau vượt qua khó khăn trở ngại để thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1973 Trong rất nhiều yếu tố thúc đẩy hai nước đi đến việc bình thường hóa quan hệ như chính trị, kinh tế, an ninh… thì một điều không thể phủ nhận là chính lợi ích kinh tế của hai phía Tiếp đó là “giai đoạn
mở đầu chậm chạp” (1973-1978) và thời kỳ “quan hệ Việt – Nhật lạnh nhạt và có nhiều khó khăn” (1979-1991) thì các mối quan hệ kinh tế vẫn được thực hiện nhằm duy trì kênh liên lạc và giữ cầu nối để khỏi bị gián đoạn Quan hệ kinh tế hai nước chỉ thực sự tăng nhanh ở giai đoạn từ năm 1992 đến nay, đặc biệt là từ năm 2006 khi lãnh đạo cấp cao hai nước ký Tuyên bố chung nâng quan hệ hai nước lên một tầm cao mới với việc hướng tới xây dựng mối “quan hệ đối tác chiến lược” với 6 nội dung cơ bản trong đó nhấn mạnh việc thúc đẩy quan hệ kinh tế hai nước Như vậy, quan hệ kinh tế luôn đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành, phát triển và củng cố quan hệ Việt Nam – Nhật Bản Chính việc tăng cường các mối quan hệ này không chỉ có ý nghĩa về
Trang 24mặt kinh tế mà còn là cơ sở quan trọng để tạo ra sự tin cậy thúc đẩy quan hệ ở các lĩnh vực khác
1.3 Chính sách của Việt Nam
1.3.1 Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế
Từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986 đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm khắc kiểm điểm sự
lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích những sai lầm, khuyết điểm, rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn và đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mở ra bước ngoặt mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trải qua gần 3 thập kỷ đổi mới với nhiều nỗ lực thay đổi tư duy, quan điểm và hành động, quá trình hội nhập của Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, tài chính, ngân hàng, phát triển kinh tế - xã hội…
Năm 1993, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Đông Nam Á (ADB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Ngày 25/7/1995, Việt Nam đã chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đồng thời tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) thực hiện các cam kết và nghĩa vụ trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA Tháng 3/1996, Việt Nam đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), với tư cách là thành viên sáng lập Ngày 15/6/1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn kinh tế châu Á- Thái bình đương (APEC) Đến tháng 11/1998 được công nhận là thành viên chính thức của APEC Việt Nam đang cùng các nước APEC thực hiện chương trình hành động quốc gia (IAP); trong đó hình thành các cam kết trên 15 lĩnh vực về thuế, phi thuế, dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam còn tham gia Chương trình hành động tập thể (CAP) Đặc biệt là nước ta tham gia chương trình Hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH) – một lĩnh vực rất cần cho sự phát triển đất nước Đặc biệt là sau 11 năm kiên trì đàm phán và tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết, ngày 11/01/2007, nước ta đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO Đó là thời điểm đánh dấu sự khởi đầu của một quá trình mới –
Trang 25Việt Nam tham gia vào nền kinh tế toàn cầu bình đẳng với tất cả các thành viên khác của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh
Kết quả là từ một quốc gia bị phong tỏa, cấm vận kinh tế; từ một nền kinh tế kém phát triển và có xu hướng “đóng cửa”, sau hơn 28 năm đổi mới, thực hành chính sách đối ngoại rộng mở, “đa phương hóa, đa dạng hóa” Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới, tạo thế đứng vững chắc của mình Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với trên 170 nước và vùng lãnh thổ; mở rộng quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó đã ký kết 90 hiệp định thương mại song phương với 68 quốc gia và thỏa thuận về quy chế tối huệ quốc (MEN) với 89 nước và vùng lãnh thổ; ký kết khoảng 40 hiệp định tránh đánh thuế 2 lần Tham gia tích cực vào các chương trình tự do hóa đầu tư trong ASEAN, APEC, GMS và WTO, nên đã có trên
80 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (trong đó có các nước châu Á chiếm khoảng 80% vốn đăng ký); Tranh thủ được viện trợ chính thức phát triển của 45 nước
và định chế tài chính quốc tế Ngoài ra, Việt Nam đã có quan hệ tốt với các nước và các nền kinh tế lớn Đó là 5 nước trong thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, các nước trong G8 và thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và một số nước khác
Động lực chính khi hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là nhằm tìm kiếm nhiều
cơ hội tiếp cận thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia như: tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Trên cơ sở thế và lực của mình,
xây dựng mối quan hệ hợp tác với các nước nhằm “phát huy cao độ nội lực, ra sức
khai thác ngoại lực, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước”
Trang 26chính sách Đông Nam Á giai đoạn này của Nhật Bản, mà đỉnh cao là học thuyết Fuduka, đã trở thành động lực thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ
Từ năm 1979-1991, quan hệ đối ngoại với các nước bị tạm ngừng, vấn đề Campuchia khiến Việt Nam rơi vào một giai đoạn phát triển tồi tệ với lệnh cấm vận
và cô lập quốc tế Tuy nhiên, đây lại là yếu tố cơ bản tạo điều kiện cho quá trình đổi mới toàn diện của Việt Nam Về đối ngoại Việt Nam từng bước giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với các nước lớn Mỹ, Trung Quốc, tái thiết lập quan hệ với các nước tư bản trong đó có Nhật Bản và các tổ chức quốc tế, bắt đầu các cuộc đàm phán để trở thành thành viên khối ASEAN Năm 1991, Liên Xô và khối các nước xã hội chủ nghĩa – nền tảng của chính sách đối ngoại của Việt Nam sụp đổ, Việt Nam chính thức chấm dứt tư tưởng đối ngoại liên minh, hướng tới một chính sách “đa phương hóa, đa dạng hóa” “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, Việt Nam hướng tới duy trì và đảm bảo nền hòa bình và tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia trên trường quốc tế Về kinh tế, nhận thức được mối đe dọa tụt hậu so với các nước trọng khu vực, Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết định khởi động một cuộc cải cách kinh tế toàn diện trong nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần định hướng thị trường, và bắt đầu mở cửa nền kinh tế cho thương mại và đầu tư nước ngoài Các công ty của Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên rót vốn vào Việt Nam bất chấp mọi rào cản và trở ngại về cơ sở hạ tầng, khu pháp lý và môi trường đầu tư Bên cạnh những cam kết về viện trợ mới cho Việt Nam, Chính phủ Nhật Bản còn đóng vai trò quan trọng trong việc kêu gọi cộng đồng quốc tế và các tổ chức tài chính tiền tệ như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khôi phục lại mối quan hệ và hỗ trợ phát triển kinh tế cho Việt Nam Năm 1999, Việt Nam và Nhật Bản trao đổi trạng thái tối huệ quốc Các mối quan hệ kinh tế song phương hai nước ngày càng phát triển
Nền kinh tế tăng trưởng mạnh (7-8% tăng trưởng GDP hàng năm trong giai đoạn 1992-2006) đã phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội mà chính sách đối ngoại đổi mới đem lại Tuy nhiên, nó cũng đặt ra một thách thức mới để duy trì và phát triển nền
Trang 27kinh tế không bị gián đoạn Nhiệm vụ kinh tế ngày càng thể hiện rõ nét trong hoạt động ngoại giao, khái niệm “ngoại giao kinh tế” “ngoại giao vì mục tiêu phát triển kinh tế” xuất hiện Theo đó, ngoại giao chính trị được kết hợp chặt chẽ với các hoạt động kinh tế đối ngoại với mục đích huy động nguồn lực từ bên ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu và thiết lập quan hệ với các đối tác để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020 Là đối tác kinh tế hàng đầu và là nhà cung cấp ODA và các nguồn vốn, khoa học công nghệ hàng đầu, Nhật Bản đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam
Từ năm 2006, Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA hàng đầu chiếm 30% tổng số vốn viện trợ nước ngoài cho Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất cả về vốn đăng ký và giải ngân, và là đối tác thương mại lớn thứ 3 sau Mỹ và Trung Quốc Nhật Bản cũng là nước đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) năm 2006 và nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường đầy đủ của Việt Nam năm 2011 Cho đến nay, Nhật Bản là nước duy nhất cam kết hỗ trợ Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế, thể hiện ở
“Chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2030” Tại cuộc hội đàm với Thủ tướng
Shinzo Abe trong chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của ông sau khi đắc cử nhiệm kì
thứ 2, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định “tăng cường và củng cố quan hệ
hữu nghị và hợp tác với Nhật Bản không chỉ là chủ trương nhất quán và ưu tiên hàng đầu của chính sách đối ngoại mà còn là lựa chọn chiến lược của Đảng và Chính phủ Việt Nam” [37]
Bên cạnh vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, sự hiện diện của Nhật Bản còn có ý nghĩa về mặt an ninh, giúp đảm bảo một môi trường quốc tế ổn định của khu vực, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi Trung Quốc đang nổi lên trở thành một nền kinh tế mạnh, ngày càng muốn khẳng định vị trí và sức mạnh quyền lực Trong chính sách khu vực, Việt Nam thể hiện sự coi trọng mối quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc
và các nước ASEAN nhằm xây dựng một hàng rào chống lại mối đe dọa tiềm năng đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc cả về an ninh và kinh tế Chiến lược hợp tác của Việt Nam với Nhật Bản cũng như các nước lớn khác là tạo sự cân bằng,
Trang 28phụ thuộc lẫn nhau nhưng không dựa quá nhiều vào bất kỳ bên nào Từ một nước không có đồng minh chính thức nào trong thời kì trước Chiến tranh lạnh, đến nay Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia: Nga (2001), Nhật Bản (2006),
Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (2009), Vương quốc Anh (2010), Đức (2011), Ý, Pháp, Indonesia, Singapore và Thái Lan (2013) và quan hệ đối tác toàn diện với Úc (2009) và Hoa Kỳ (2013) Có thể thấy việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với các đối tác quan trọng đã trở thành xu hướng trong chính sách đối ngoại cân bằng và đa chiều của Việt Nam Trong các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam, với Nga và Trung Quốc được coi là các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, là mức cao nhất trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, thể hiện
sự cam kết hợp tác trên mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ Trong quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, gần đây nhất, trong chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (16-19/3/2014), hai bên đã quyết định nâng cấp Quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản lên một tầm cao mới thành Quan hệ Đối tác Chiến lược Sâu rộng vì Hòa bình và Phồn vinh ở Châu Á, phản ánh nhận thức về tầm quan trọng ngày càng tăng của mối quan hệ với Nhật Bản trong tổng thể quan hệ đối ngoại của Việt Nam
1.4 Chính sách của Nhật Bản
1.4.1 Chính sách hướng Đông và xoay trục Đông Nam Á
Trong nhiều thập kỷ, theo đuổi mục tiêu hòa bình và củng cố liên minh an ninh với Mỹ là nền tảng của chính sách đối ngoại của Nhật Bản Tuy nhiên, kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, Nhật Bản đã tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Á Học thuyết Fukuda năm 1977 đánh dấu cam kết đầu tiên của Nhật Bản đối với Đông Nam Á Sự tham gia trong việc giải quyết cuộc xung đột ở Campuchia bằng cách cung cấp địa điểm cho các cuộc họp và gửi quân gìn giữ hòa bình tới Campuchia dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc là bước tiến lớn trong việc thiết lập vị trí của Nhật Bản trong khu vực Trong những năm 90, Nhật Bản bắt đầu hỗ trợ và tham gia tích cực trong các thỏa thuận đa phương ở Đông Á, đồng thời tăng cường quan hệ song phương với các nước ASEAN Dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, Đông Nam Á được đặt ở vị trí cao trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản với ba trụ cột: tăng cường liên minh Mỹ - Nhật; củng cố và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác với các nước láng
Trang 29giềng; và tăng cường ngoại giao kinh tế làm phương tiện thúc đẩy sự phục hồi của nền kinh tế trong nước
Tuy nhiên, chính sách khu vực của Nhật Bản đang đối mặt với nhiều thách thức Ở trong nước là một nền kinh tế phát triển chậm lại và sự thay đổi lãnh đạo thường xuyên sau hai thập kỷ mất mát kết quả đã khiến Nhật Bản gặp khó khăn trong việc thực hiện những cam kết của mình ở Châu Á Ở khu vực là sự nổi lên của Trung Quốc như một cường quốc mới, những mâu thuẫn trong cam kết khu vực của Mỹ do hạn chế về ngân sách trong nước và quá trình chuyển giao quyền lực đang diễn ra trong một khu vực thiếu khuôn khổ đa phương hiệu quả để hạn chế những nguy cơ về
an ninh và các cuộc xung đột tiềm năng Với không gian địa chính trị suy giảm ở khu vực Đông Bắc Á, Nhật Bản ngày càng hướng sang phía Nam, thể hiện qua các quan
hệ đối tác chiến lược với Úc (2006), Ấn Độ (2007), Hiệp hội các nước Đông Nam Á
và năm quan hệ đối tác chiến lược song phương với các thành viên ASEAN Hướng Nam và xoay trục Đông Nam Á đã thể hiện các mục tiêu chính của chính sách đối ngoại dưới thời Shinzo Abe: Tái thiết nền kinh tế, an ninh hàng hải, và mở rộng phạm
vi ảnh hưởng Trong toàn khu vực, Nhật Bản coi Việt Nam là “đối tác chiến lược chia
sẻ những lợi ích chung”
Có thể nói, ngoại giao kinh tế là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe Nhật Bản dành rất nhiều ưu đãi cho khu vực Đông Nam Á Hội nhập ASEAN, một thị trường rộng lớn giúp Nhật Bản khôi phục nền kinh tế đang bị mắc kẹt trong tình trạng lạm phát với dân số ngày càng già hóa Việt Nam, Thái Lan và Indonesia được xếp hạng đầu trong danh sách của các nhà đầu tư Nhật Bản Trong đó, Việt Nam là nước có nhiều lợi thế thu hút đầu tư với dân số đông, lực lượng lao động có tay nghề, kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm và đặc biệt là sự an ninh và ổn định Hơn nữa Việt Nam được đánh giá là sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA trong việc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cơ sở
hạ tầng, chống ô nhiễm môi trường, bệnh truyền nhiễm, và trong công tác xóa đói giảm nghèo… Những kết quả ấn tượng trong phát triển kinh tế xã hội nhờ ODA của Nhật Bản những năm gần đây đã khuyến khích Nhật Bản xem xét tăng ODA cho Việt Nam Thực tế, từ năm 2011, Việt Nam là nước tiếp nhận ODA lớn nhất của Nhật Bản
và là đối tác ODA quan trọng nhất
Trang 30Khu vực Đông Nam Á còn được coi là yếu tố có ảnh hưởng tới chính sách ngoại giao quyền lực của Nhật Bản, đặc biệt trong việc giành được ủng hộ vào vị trí thường trực tại Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc Về mặt này, với vị thế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trong ASEAN đã thu hút sự quan tâm chú ý của Nhật Bản và được coi là nhân tố quan trọng trong chính trị khu vực Đông Á Việt Nam và Nhật Bản đã phối hợp hiệu quả trên các diễn đàn quốc tế cũng như trong khu vực như Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), Hội nghị cấp cao ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN + 3) Hơn nữa, xem xét trong danh sách các đối tác quan trọng của Việt Nam và Nhật Bản, dễ dàng thấy rằng họ có nhiều đối tác chung, phổ biến ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Cơ hội để Việt Nam và Nhật Bản hợp tác vượt ra khỏi khuôn khổ hợp tác song phương là hoàn toàn có thể
1.4.2 Vị trí của Việt Nam
Trong việc thiết lập và phát triển quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam, có thể thấy Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng cả về mặt kinh tế và chính trị đối với Nhật Bản
Về kinh tế, Việt Nam là nơi chuyển giao công nghệ kỹ thuật từ Nhật Bản Nhật Bản là nước có năng lực rất lớn về công nghiệp Ngay từ những năm 80 của thế kỷ trước, nền kinh tế Nhật Bản đã bước vào giai đoạn chín muồi của một nền kinh tế công nghiệp hoá Các ngành tiêu biểu cho nền kinh tế công nghiệp phát triển đã đạt được trình độ hàng đầu thế giới Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó đặt ra hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội làm cho chi phí sản xuất sản phẩm ngày càng tăng dẫn đến giảm lợi thế so sánh trong cạnh tranh Trong khi đó công nghệ mới và sự phát triển của khoa học đã và đang mở ra những lĩnh vực và ngành kinh doanh mới phù hợp với điều kiện của xã hội phát triển Nền kinh tế Nhật Bản chuyển từ nền công nghiệp chín muồi sang nền kinh tế tri thức Trong quá trình chuyển đổi đó một mặt Nhật Bản phải tập trung đầu tư nghiên cứu công nghệ mới nhằm xây dựng các ngành công nghiệp mới, mặt khác các công ty Nhật phải đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ kỹ thuật và quản lý thông qua đầu tư trực tiếp trong những ngành đòi hỏi nhiều lao động
và nguyên liệu Đây là cơ hội gia tăng thu hút vốn đầu tư và tạo lập, phát triển những ngành công nghiệp như sắt, thép, ô tô, xi măng, hoá chất đối với những nước đang phát triển và đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam
Trang 31Về chính trị, với vai trò chiến lược và vị thế của Việt Nam hiện nay trong khu vực Đông Nam Á, hợp tác với Việt Nam giúp Nhật Bản nâng cao uy tín, đồng thời hạn chế sự ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực này Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Á, Nhật Bản hiện nay không chỉ phải phục hồi nền kinh tế
mà còn phải thực hiện một cuộc cải cách toàn diện, nhằm tạo lập một nước Nhật Bản mới không chỉ mạnh về kinh tế mà còn có vai trò chính trị quan trọng trong khu vực cũng như trên trường quốc tế Nhật Bản vốn là một cường quốc kinh tế đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ trong suốt hai thập niên qua, song do tình trạng suy thoái kinh tế,
vị trí vai trò kinh tế của Nhật Bản đang bị thách thức với sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc ASEAN trở thành địa bàn chiến lược để cả Trung Quốc và Nhật Bản khẳng định vai trò kinh tế và chính trị của mình trong khu vực Nhật Bản và ASEAN
đã có quan hệ truyền thống gắn bó tốt đẹp Trong bối cảnh mới khi các quốc gia lớn đều có chiến lược tranh thủ ASEAN, coi ASEAN là bàn đạp ban đầu để thúc đẩy mở rộng hợp tác trong khu vực đòi hỏi Nhật cũng phải có những điều chỉnh Và thực tế đã cho thấy trong những năm gần đây các nhà lãnh đạo Nhật trong các bài phát biểu của mình đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác Nhật Bản- ASEAN Việt Nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn thứ hai trong ASEAN và có tiềm lực phát triển Vai trò đóng góp của Việt Nam trong ASEAN ngày một tăng Hợp tác với Việt Nam, Nhật Bản có nhiều điều kiện khai thác các tiềm năng của Việt Nam đồng thời nâng cao uy tín, vai trò của mình trong khu vực Bên cạnh đó nhu cầu gia tăng hợp tác của Nhật Bản với Việt Nam còn xuất phát từ việc muốn đẩy nhanh quá trình tạo lập nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và qua đó tách Việt Nam khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc Điều này không chỉ là mong muốn của Nhật Bản mà còn nằm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Trên thực tế, cả Nhật Bản và Mỹ đều lo ngại Trung Quốc, đặc biệt trong những năm gần đây khi nền kinh tế Trung Quốc không ngừng tăng trưởng Do
đó việc đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam, một mặt tạo cơ hội để Nhật Bản gia tăng quan hệ với các quốc gia Đông Dương, mặt khác giúp kiềm chế vai trò, sự ảnh hưởng lan toả của Trung Quốc xuống phía này
Thủ tướng Nhật Bản lựa chọn Việt Nam cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của ông trong nhiệm kỳ thứ hai khẳng định vị trí quan trọng và có ý nghĩa chiến lược của Việt Nam trong chính sách khu vực nước này
Trang 321.4.3 Chính sách “Abenomics” dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe
Nền kinh tế Nhật Bản hiện đang đứng thứ ba thế giới nhưng lại đứng đầu về tỷ
lệ nợ công, Nhật Bản cũng đang phải vượt qua những khó khăn mà các nước phát triển khác gặp phải: Xã hội già hóa gây áp lực cho hệ thống an sinh xã hội, những chương trình trợ cấp liên tiếp được tung ra để kích cầu nền kinh tế tạo ra khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ, hệ thống thuế chưa hợp lý và nhiều bài toán đặt ra cần giải quyết cho Chính phủ Nhật Bản
Thống kê tình hình nền kinh tế Nhật Bản có thể thấy, trong quý IV/2013, chỉ số tiêu dùng chiếm tới 60% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản, mức chi vốn của doanh nghiệp (DN) tăng 1,3% và đầu tư vào nhà ở tăng 4,2% Theo báo cáo sơ bộ của Văn phòng Nội các Nhật Bản, GDP của Nhật Bản trong năm 2013 tăng 1,6% Qua đó, có thể thấy, nền kinh tế Nhật Bản đã được cải thiện đáng kể kể từ khi Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền vào cuối tháng 12/2012 và xây dựng bộ ba chính sách trong chiến lược phát triển kinh tế “Abenomics”
Bộ ba chính sách bao gồm: (1) Chính sách nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ, (2) Chính sách tài khóa linh hoạt và (3) Chính sách thúc đẩy tăng trưởng Những chính sách này bước đầu đã đem lại một số thành tựu bước đầu cho nền kinh tế Nhật Bản Chính sách nới lỏng tiền tệ của Thủ tướng Shinzo Abe tác động trực tiếp làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu của Nhật Bản Việc đồng Yên mất giá
đã tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản Chính phủ Nhật Bản cũng tăng cường quy mô tài chính cho các chính sách kinh tế và mở rộng đầu tư công với trọng tâm phát triển cơ sở hạ tầng Cùng với tuyên bố tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nhật Bản cũng đề ra những chính sách liên quan đến cơ chế thúc đẩy xuất khẩu trong lĩnh vực
cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế với sự kết hợp của cả khu vực
tư nhân và nhà nước Cùng với đó, Chính phủ nước này xúc tiến đàm phán các Hiệp định đối tác kinh tế (EPA)
Trang 33Mặc dù trình độ phát triển kinh tế của hai nước chênh lệch rất lớn song tiềm năng phát triển thương mại, đầu tư giữa hai nước cũng không phải là nhỏ Điều này là do quan
hệ truyền thống hợp tác lâu dài giữa hai nước, đồng thời cũng do Chính phủ hai nước luôn xác định phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam- Nhật Bản là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu trong chính sách đối ngoại
Hiện nay, Nhật Bản đang trong tiến trình cải cách, chuyển đổi cơ cấu nền kinh
tế từ một nền công nghiệp hiện đại đã vào giai đoạn chín muồi sang nền kinh tế tri thức, cộng với tình trạng dân số già, thiếu lực lượng lao động sản xuất trong nước và nguồn tài nguyên làm gia tăng nhu cầu chuyển các ngành sản xuất giản đơn, đòi hỏi nhiều lao động, tài nguyên, các ngành công nghiệp phụ trợ sang các nước trong khu vực để tập trung các nguồn lực trong nước phát triển nền kinh tế mới
Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn lực con người dồi dào, lại đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nhiều công nghệ, vốn, kinh nghiệm sản xuất và quản lý Trong bối cảnh đó, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam- Nhật Bản là giải pháp vô cùng hữu hiệu để giải quyết các vấn đề của mỗi quốc gia Mặt khác, trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi các nước ngày càng gia tăng ảnh hưởng, khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế, mối quan hệ kinh tế giữa hai nước còn có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng
Thực trạng mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn từ năm 2006 đến nay (tính đến hết tháng 6/2014 ) như thế nào? Chương II sẽ cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quát về quan hệ hai nước trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư và hỗ trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam, những mặt
đã đạt được, những điểm còn tồn tại để từ đó đưa ra giải pháp cho những năm sắp tới
Trang 34Tháng 11 năm 2007, hai bên ký Tuyên bố chung “làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật Bản” và “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”
Tháng 4 năm 2009, hai bên đã ra tuyên bố chung, khẳng định xây dựng
“Quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
Tháng 10 năm 2010, lãnh đạo hai nước ra Tuyên bố chung về “Thúc đẩy toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
Tháng 10 năm 2011, tuyên bố chung về “Triển khai hành động trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” được ký kết
Tháng 3 năm 1014, trong chuyến thăm Nhật Bản của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, lãnh đạo hai bên đã quyết định nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản lên một tầm cao mới thành “quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
Trên cơ sở các tuyên bố chung, rất nhiều hoạt động hợp tác cụ thể giữa hai bên được thực hiện trong giai đoạn này Năm 2006, lãnh đạo hai nước đã quyết định chính thức thành lập Ủy ban Hợp tác Nhật – Việt và khai mạc phiên đầu tiên vào tháng 5 năm 2007 Tháng 1 năm 2007, đàm phán chính thức về Hiệp định đối tác kinh tế Nhật – Việt (VJEPA) được khởi động, tháng 12 năm 2008, Hiệp định được
ký kết và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2009 Tháng 12 năm 2008, Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật bản cũng đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ…
Trang 35Việc nâng tầm mối quan hệ hai nước từ “quan hệ đối tác chiến lược” đến
“quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng” thể hiện sự tin cậy về chính trị và phản ánh sự phát triển ngày càng sâu rộng của quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa… Và chính các hiệp định, thỏa thuận được ký kết sẽ là tiền đề quan trọng của quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
2.1 Quan hệ thương mại
2.1.1 Các sự kiện nổi bật
Nhật Bản và Việt Nam xây dựng quan hệ đối tác chiến lược trên cơ sở lợi ích của cả hai quốc gia và vì sự phát triển, ổn định của cả khu vực Trong thời gian qua
cả hai nước đã nỗ lực thúc đẩy mối quan hệ đối tác chiến lược này
Một tháng sau Tuyên bố chung về “hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình
và phồn vinh ở châu Á”, tháng 11 năm 2006, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Abe, lãnh đạo hai nước đã quyết định chính thức thành lập Ủy ban Hợp tác Nhật – Việt Tháng 5 năm 2007, Ủy ban Hợp tác Nhật – Việt đã khai mạc tại Tokyo và hàng năm được luân phiên tổ chức tại hai nước Đến nay, tổ chức này đã tiến hành 6 phiên họp và góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ hai nước nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng
Cũng sau Tuyên bố năm 2006, từ tháng 1 năm 2007, đàm phán chính thức về Hiệp định đối tác kinh tế Nhật – Việt (VJEPA) đã được khởi động Trải qua nhiều vòng đàm phán trong hai năm , ngày 25 tháng 12 năm 2008 tại Tokyo, Hiệp định VJEPA đã được ký kết và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2009 Sự
ra đời của Hiệp định VJEPA mở ra triển vọng phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới
Bên cạnh đó, Việt Nam và Nhật Bản đã cùng xây dựng và thực hiện Sáng kiến chung Việt – Nhật về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam từ tháng 11 năm 2003 đến nay đã hoàn tất giai đoạn 4, dự kiến sẽ tiếp tục thực hiện dự
án giai đoạn 5 Tháng 12 năm 2008, Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật bản cũng đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ Các hiệp định, thỏa thuận đã tạo ra khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước
Trang 362.1.2 Kim ngạch buôn bán song phương
Trong nhiều năm qua, Nhật Bản cùng với Trung Quốc và Mỹ luôn là ba đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam – Nhật Bản tăng đều qua các năm, trừ năm 2009 do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên kim ngạch giảm 17,99% Nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân hàng năm giữa hai nước giai đoạn 2006 – 2010 là 16,16%, cao hơn 3,89% so với giai đoạn 2001-2005, trong đó tỉ lệ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu đạt 14,36%/năm và tỉ lệ tăng trưởng của kim ngạch nhập khẩu đạt 15,23%/năm
Quy mô thương mại giữa hai nước cũng không ngừng gia tăng Trong vòng 5 năm 2006-2010, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 13.892,56 triệu USD, tăng 2,24 lần giai đoạn trước và chiếm 11% trong số 56 tỉ USD tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước Trong đó xuất khẩu đạt 6.771,86 triệu USD tăng 2,16 lần chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu, và nhập khẩu đạt 7.120,70 triệu USD tăng 2,32 lần chiếm 10% tổng kim ngạch nhập khẩu
Giai đoạn 2006-2010 Việt Nam nhập siêu từ Nhật Bản 1.744,20 triệu USD, trong đó 2 năm 2009 và 2010 Việt Nam liên tục nhập siêu tới hơn 1.200 triệu USD/năm
Bảng 1- 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2001 - 2010
Đơn vị tính: triệu USD
Năm
Cán cân thương mại
Kim ngạch
Tăng trưởng (%)
Kim ngạch
Tăng trưởng (%)
Kim ngạch
Tăng trưởng (%)
Trang 37Nguồn: Tổng cục Hải quan [17]
Có thể thấy được quy mô và tốc độ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu hai nước trong cả giai đoạn 2001-2010 qua biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 1- 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2001 - 2010
Đến năm 2011, mặc dù trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế toàn cầu
và kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn nhưng thương mại hàng hoá song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản vẫn tăng với tốc độ 26,5% và đạt 21,2 tỉ USD Năm
2012, thương mại giữa hai nước đạt 24,7 tỉ USD, với tốc độ tăng trưởng là 16%, thấp hơn 1 điểm phần trăm so mức bình quân tăng trưởng của cả giai đoạn 2005-
2011 [Error! Bookmark not defined.]
Trang 38Theo số liệu thống kê được công bố gần đây của Tổng cục Hải quan, kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam-Nhật Bản trong năm 2013 đạt 24,3 tỉ USD, tăng 2,4% so với năm 2012 Trong đó, Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này 13,65 tỉ USD hàng hóa, cao hơn 4,5 điểm % so với kết quả của một năm trước đó Trong khi đó, nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam
có xuất xứ từ Nhật Bản đạt trị giá 11,61 tỉ USD, hầu như không thay đổi so với năm
2012 Số liệu trong Biểu đồ dưới đây cho thấy tính từ năm 2009 đến năm 2013, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này đã cao gấp 2,15 lần; trong khi
đó sau 5 năm thì nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam từ Nhật Bản chỉ gấp 1,55 lần
Trong những năm gần đây, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam luôn
ở trạng thái xuất siêu (thặng dư) trong buôn bán với Nhật Bản Năm 2011, Việt Nam xuất siêu 0,4 tỉ USD; chuyển sang năm 2012 con số này đã là 1,5 tỉ USD và năm 2013 Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường Nhật Bản trị giá 2,04 tỉ USD, tăng mạnh 39% so với con số ghi nhận được trong năm 2012 [32]
Biểu đồ 2- 2.2 Kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2009-2013
Trang 39Tuy có những bước tăng trưởng khả quan và đáng ghi nhận trong kết quả buôn bán thương mại giữa hai quốc gia nhưng Việt Nam vẫn chưa khai thác được tối đa tiềm năng của một trong những thị trường lớn nhất thế giới này Theo nguồn số liệu được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) công bố vào giữa tháng 9 năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong năm 2012 của Nhật Bản sang tất cả các nước, vùng lãnh thổ đạt gần 799 tỉ USD, trong khi đó con số thống kê nhập khẩu hàng hóa từ các nước, vùng lãnh thổ vào Nhật Bản là 886 tỉ USD Như vậy, trị giá hàng hóa mà Việt Nam xuất khẩu hay nhập khẩu từ thị trường đầy tiềm năng này vẫn chỉ chiếm một thị phần vô cùng nhỏ bé chưa đến 2%
Tuy vậy, Nhật Bản vẫn luôn là thị trường thương mại quan trọng của Việt Nam, chiếm tỉ trọng lên đến 10% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với tất cả các thị trường trên thế giới Trong năm 2013, tổng kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản xếp thứ 4 trong tất cả các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa; trong đó, xếp thứ 2 về xuất khẩu và xếp thứ 3
Nguồn: Tổng cục Hải quan [32]
(Ghi chú: Thị phần xuất khẩu, nhập khẩu là tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu, nhập
khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam với tất cả các nước/thị trường trên thế giới
Trang 40Thứ hạng xuất khẩu, nhập khẩu là thứ hạng xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản so với tất cả các thị trường/nước mà Việt Nam xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá)
Theo ước tính của Tổng cục Hải quan, trong 2 tháng đầu năm 2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam-Nhật Bản đạt khoảng 4,02 tỉ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 2,2 tỉ USD, tăng mạnh 22,8% và nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hàng hóa có xuất xứ Nhật Bản đạt trị giá 1,7 tỉ USD, tăng 6,3%
2.1.3 Cơ cấu sản phẩm xuất nhập khẩu
Thực tế cho thấy quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản từ nhiều năm qua dựa trên cơ sở đồng thuận về lợi ích kinh tế trao đổi song phương giữa hai nước Tuy Việt Nam và Nhật Bản là hai nước có sự khác biệt lớn về chế độ chính trị
- xã hội và nhất là về trình độ phát triển kinh tế, trong quan hệ thương mại hai nước được đặt trên cơ sở bình đẳng về trao đổi các lợi thế so sánh Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và có các mặt hàng xuất khẩu mà phía Nhật Bản rất cần Đó là các sản phẩm như dầu thô, than đá, thủy sản, hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ, giầy dép, nông lâm sản, đồ gỗ nội thất, nhựa gia dụng, dây điện, cáp điện… Ngược lại, Nhật Bản do lợi thế là cường quốc công nghiệp nên đã là nguồn cung cấp cho Việt Nam nhiều loại máy móc, thiết bị hiện đại, các quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến, đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam [32]
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật Bản
Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn vừa qua đã có sự cải thiện theo chiều hướng tích cực Tỉ trọng các sản phẩm chế biến và tinh chế tăng lên, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế Giai đoạn từ 1991-2000, nhóm hàng nguyên liệu thô và sản phẩm chưa chế biến chiếm 80% thì nay giảm còn 60%
Trong giai đoạn 2001-2010, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản bao gồm: thủy sản, dầu thô, dệt may, dây điện và dây cáp điện, gỗ và sản phẩm gỗ, máy vi tính và linh kiện, than đá và giày dép các loại Sáu mặt hàng này chiếm 61,78% kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này