Vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu về đề tài “Sự xâm lược Đại Việt của triều Minh trong bối cảnh Đông Á đầu thế kỷ XV” có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS VŨ DƯƠNG NINH
Hà nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Sự xâm lược Đại Việt của triều
Minh trong bối cảnh Đông Á đầu thế kỷ XV” là công trình nghiên cứu của tôi
Các trích dẫn và kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 14 tháng 08 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Nhật Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong luận án, tôi xin dành để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với GS Vũ Dương Ninh, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho tôi những vấn đề chuyên môn, các nhận xét, đóng góp quý giá trong suốt thời gian tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn GS TS Nguyễn Văn Kim, người luôn gợi mở cho tôi những định hướng nghiên cứu, các ý tưởng chuyên môn, truyền cho tôi niềm say mê khoa học Thầy đã dìu dắt và giúp đỡ tôi cả trong công việc và cuộc sống
Tôi xin cảm tạ các thầy cô trong khoa Lịch sử và bộ môn Lịch sử Thế giới, nơi tôi được học tập và công tác đã tạo điều kiện cho tôi rất nhiều Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, nhà nghiên cứu, đồng nghiệp tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các viện
và cơ quan nghiên cứu đã hỗ trợ, giúp đỡ và chia sẻ với tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Xin cảm ơn Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ tôi rất nhiều!
Hà nội, ngày 14 tháng 08 năm 2018
Trang 5Chương 2: BỐI CẢNH ĐÔNG Á VÀ QUAN HỆ GIỮA TRIỀU MINH VỚI ĐẠI
2.2 Quan hệ giữa triều Minh với Đại Việt cuối thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV 60
Trang 6Chương 3: CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VÀ CHẾ ĐỘ CAI TRỊ CỦA
3.1.2 Xung đột, vấn đề biên giới và quan hệ giữa Đại Việt với triều Minh và với
3.3.3 Chính sách văn hóa của triều Minh và hệ quả đối với văn hóa, xã hội Đại Việt 129
Chương 4: NHẬN XÉT VỀ CUỘC XÂM LƯỢC VÀ THỐNG TRỊ CỦA TRIỀU
4.2.Ảnh hưởng của cuộc xâm lược Đại Việt của triều Minh với Đông Nam Á 144
4.3 Ảnh hưởng của cuộc xâm lược Đại Việt của triều Minh với Đông Bắc Á 156
4.4 Hệ quả của sự xâm lược, thống trị của triều Minh với Đại Việt thế kỷ XV 169
Trang 7sử Việt Nam Điều đó được thể hiện thông qua những chính sách bóc lột tàn bạo của Trung Quốc đối với nguồn tài nguyên, nền kinh tế và văn hóa Đại Việt, đồng thời để lại nhiều ảnh hưởng trong hệ thống hành chính, thiết chế chính trị và văn hóa Trung Hoa ở Việt Nam Mặc dù vậy, nguồn gốc của cuộc chiến tranh xâm lược cùng những ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi lịch sử Trung Quốc, Việt Nam mà còn có những tác động với một số quốc gia ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á Điều này đặt ra vấn đề về tầm quan trọng của việc nghiên cứu về sự xâm lược và thống trị của triều Minh ở Việt Nam trong bối cảnh Đông Á cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV
Nửa cuối thế kỷ XIV và thế kỷ XV cũng là một thời kỳ đầy biến động của Đông Á với sự hình thành, hưng thịnh, suy vong của nhiều triều đại và các quốc gia2 Những thay đổi đó gắn liền với nhiều chuyển biến phức tạp về cương vực lãnh thổ của nhiều quốc gia và những quan hệ chính trị, ngoại giao phức tạp của khu vực thời kỳ này Thế kỷ XIV-XV còn là khoảng thời gian
mà các dân tộc và quốc gia ở Đông Á dự nhập mạnh mẽ vào những quan hệ
1 Cuối thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV, quốc hiệu của Việt Nam có những thay đổi Vương triều Lý (1009-1225)
và Trần (1225-1400) sử dụng tên nước Đại Việt; vương triều Hồ (1400-1407) đặt quốc hiệu là Đại Ngu Từ góc độ của triều Minh và một số nước Đông Á, Việt Nam được biết đến với tên gọi “An Nam” Quốc hiệu Đại Ngu được sử dụng chỉ một thời gian rất ngắn trong lịch sử Việt Nam Từ năm 1407, sau khi triều Hồ thất bại trong kháng chiến chống Minh, quốc hiệu Đại Ngu không được sử dụng nữa.Triều Minh sau khi xâm lược đã sáp nhập lãnh thổ Đại Ngu thành quận “Giao Chỉ” Năm 1428, sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vương triều Lê (1428-1527) được thành lập, quốc hiệu Đại Việt lại được sử dụng Trong luận án, chúng tôi thống nhất sử dụng cách gọi Đại Việt để chỉ Việt Nam trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ XIV
và nửa đầu thế kỷ XV
2 Điển hình của những sự biến sôi động đó của Đông Á là sự suy vong của Cao Ly (Goryeo, 918–1392), sự thiết lập của vương triều Lý (Yi, 1392-1897) ở Triều Tiên, sự hình thành, sụp đổ của vương triều Hồ (1400- 1407) và nước Đại Ngu, sự hưng khởi của triều Lê (1428-1527) ở Đại Việt, sự diệt vong của vương triều Angkor (802-1434) ở Campuchia, sự trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ của vương quốc Ayutthaya (1351-1767),
sự suy yếu của Majapahit (1293-1527), sự diệt vong của vương quốc Vijaya (978-1471)…
Trang 8buôn bán mang tính khu vực và thế giới3 Từ đầu thế kỷ XV, Đông Á cũng đã bắt đầu đón nhận những ảnh hưởng ngày càng rõ rệt từ khu vực Tây Á và châu Âu trên phương diện kinh tế, thương mại và tôn giáo Những hiện tượng kinh tế, chính trị và tôn giáo đó, cùng các mối liên hệ giữa các nước Đông Á với thế giới đã làm nên sự đa dạng trong lịch sử, văn hóa các nước này nói riêng và một thời đại lịch sử sôi động của khu vực Đông Á nói chung
Vương triều Minh (1368-1644) hưng khởi đã chấm dứt sự tồn tại và thống trị của triều Nguyên (1271-1368) cùng những ảnh hưởng của người Mông Cổ, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Trung Quốc và khu vực từ nửa cuối thế kỷ XIV Dưới thời nhà Minh, Trung Quốc không những có tiến bộ lớn về kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp, thương mại mà còn mở rộng mạnh mẽ những ảnh hưởng chính trị và văn hóa đến các nước láng giềng dựa trên những chuyến thám hiểm hàng hải của Trịnh Hòa ở Đông Nam Á và sự thiết lập quan hệ ngoại giao, thương mại với các nước này
Một trong những biến động đáng chú ý trong bối cảnh chính trị của Đông Á đầu thế kỷ XV là cuộc chiến tranh xâm lược mà vương triều Minh tiến hành ở Đại Việt (1406-1407) và quá trình thống trị, khai thác và bóc lột kéo dài 20 năm (1407-1427) Trong xu hướng của Trung Quốc sử dụng các mối quan hệ ngoại giao để mở rộng ảnh hưởng ở Đông Á, cuộc chiến tranh trên lãnh thổ Đại Việt chính là một sự kiện đặc biệt khi triều Minh dùng lực lượng quân sự lớn để tiến hành cuộc xâm lược Dưới thời vua Minh Thành
Tổ, ngoại trừ những cuộc tấn công bằng quân sự để đẩy lui quân Mông Cổ còn kéo dài đến năm 1424, hiện tượng Trung Quốc dùng vũ lực xâm lược như
ở Đại Việt gần như không xảy ra với một quốc gia láng giềng nào khác
Do vậy, việc nghiên cứu về sự kiện năm 1407 trong bối cảnh Đông Á
sẽ góp phần cho thấy tổng thể chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc, mối liên hệ giữa lịch sử triều Minh với các quốc gia láng giềng và Đông Á
Sự lý giải về nguyên nhân triều Minh xâm lược Đại Việt có thể hướng đến những nhận thức về vị thế của Đại Việt trong nền chính trị, quân sự, ngoại giao và các mối liên hệ kinh tế, thương mại của châu Á đầu thế kỷ XV
3
Điều đó được thể hiện qua ảnh hưởng và vai trò ngày càng lớn của những thương cảng ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á, vai trò của các thương nhân Đông Á trong buôn bán, thương mại của khu vực và trong việc những hàng hóa có giá trị của các nước này được buôn bán và chuyên chở tới nhiều vùng trên thế giới
Trang 9Sự xâm lược Đại Việt của triều Minh là một bước ngoặt trong quan hệ hai nước vào đầu thế kỷ XV Trong cuộc chiến tranh xâm lược và sự thống trị
của nhà Minh ở Đại Việt, thuyết Hoa-Di và những tư tưởng, chính sách đối
ngoại của Trung Quốc được thể hiện rõ rệt nhất khi mối quan hệ triều cống - sách phong giữa hai nước đột ngột chuyển sang trạng thái phụ thuộc và sự mất đi nền độc lập của Đại Việt Vì lý do ấy, nghiên cứu về quá trình chuyển biến của mối quan hệ đó sẽ đóng góp vào việc làm rõ những nguyên nhân, mục đích, thủ đoạn và âm mưu thực sự của nhà Minh trong việc dấy binh
“chinh phạt An Nam”, thay vì nguyên cớ “phù Trần diệt Hồ” vốn đuợc triều Minh bố cáo và được ghi chép trong nhiều tài liệu4
Vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu về đề tài “Sự
xâm lược Đại Việt của triều Minh trong bối cảnh Đông Á đầu thế kỷ XV” có ý
nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức về bản chất mối quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia ở Đông Bắc Á - Đông Nam Á nói chung và mối quan
hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam trong lịch sử nói riêng Vì thế, đề tài này còn góp phần làm rõ truyền thống lịch sử ngoại giao giữa Trung Quốc với khu vực và biểu hiện của nó trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XV Ngoài ra, cuộc chiến tranh xâm lược (1406-1407) và sự thống trị của vương triều Minh ở Đại Việt (1407-1427) không chỉ có nguồn gốc từ đặc điểm lịch sử Đông Bắc Á, Đông Nam Á, mà còn tạo ra những tác động trở lại với Trung Quốc và Đông
Á Do vậy, luận án còn có đóng góp vào việc nhận thức những mối quan hệ nhiều chiều giữa Trung Quốc, Đại Việt và các quốc gia trong khu vực trong những năm đầu thế kỷ XV
4 Nhiều tài liệu và nghiên cứu trên thế giới giải thích nguồn gốc cuộc chiến tranh dựa vào những lý do như:
do họ Hồ chống lại sự can thiệp của vương triều Minh vào nền chính trị Đại Việt; do triều Minh trợ giúp họ Trần giành lại ngôi vị; do những xung đột giữa Đại Việt với Champa và xung đột ở biên giới Đại Việt với
Trung Quốc Những nhận định này phần lớn dựa trên ghi chép của lịch sử Trung Quốc trong Minh thực lục,
Minh sử , và đặt biệt là dựa trên những lý do được nêu ra trong Bình định An Nam chiếu thư mà nhà Minh
ban bố năm 1407
Nhiều thư tịch Việt Nam ghi chép lịch sử cũng dựa trên các nguồn này, chẳng hạn, Việt sử Tiêu án (1775) có
chép: “Nhà Minh xuống chiếu tìm con cháu họTrần, kỳ lão nói: "Bị Lê Quý Ly giết hết cả, không còn ai nối dõi họ Trần được An Nam vốn xưa là đất Giao Châu, xin phục lại quân huyện như xưa, để đổi mới cho dân" Nhà Minh bèn đặt ra quận Giao Chỉ, có chức Bố chính Án sát và các phủ huyện nha môn” Đoạn này có nội
dung tương tự nhưng điều bố cáo trong Bình định An Nam chiếu thư Dù vậy, tác giả cũng có lời bình: “Nhà
Minh cầu con cháu nhà Trần, đâu phải là chân tâm, cốt để che tai mắt người nước Nam đó; quốc dân cũng biết như hế, chẳng là thuận theo chúng cho xong, chứ có thích gì lập ra phủ huyện” [63, tr 114]; [119, tr 229-230]
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích trọng tâm của luận án là phân tích vị thế của Đại Việt và mối quan hệ Minh – Đại Việt trong sự chuyển biến và tương tác quyền lực khu vực Đông Á, từ đó luận giải về về nguyên nhân và hệ quả của cuộc chiến tranh xâm lược và những chính sách thống trị của triều Minh với Đại Việt trong bối cảnh Đông Á cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV Để phục vụ mục đích đó, những nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm của luận án là:
1 Luận án phân tích rõ bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của Đông Á cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, vị thế của Đại Việt trong bối cảnh ấy và trong những toan tính chính trị của vương triều Minh để từ đó luận giải những nguyên nhân, mục tiêu và tiền đề dẫn đến cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt Theo đó, luận án nghiên cứu sự hình thành và quá trình chuyển biến trong quan hệ ngoại giao giữa triều Minh với các nước láng giềng và những vấn đề của lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ
XV cùng những ảnh hưởng dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược năm
1406-1407, từ đó làm rõ âm mưu và mục đích của triều Minh trong cuộc xâm lược Đại Việt;
2 Luận án đánh giá quy mô, mức độ của cuộc chiến tranh trong so sánh với âm mưu của của triều Minh với Đại Việt;
3 Luận án phân tích những hệ quả của sự xâm lược và thống trị của triều Minh đối với Đại Việt, Trung Quốc và với Đông Á đầu thế kỷ XV để từ
đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt đối với Trung Quốc, Việt Nam và một số quốc gia ở Đông Á trong những năm đầu thế kỷ XV
Trong việc nghiên cứu và đưa ra nhận định về nguyên nhân và ảnh hưởng của cuộc chiến tranh và sự xâm lược của triều Minh ở Đại Việt, luận
án hướng tới việc giải quyết 3 vấn đề chủ yếu: 1/ Vì sao trong bối cảnh Đông
Á cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV triều Minh quyết tâm xâm lược Đại Việt; 2/ Cuộc chiến tranh xâm lược và những chính sách thống trị của triều Minh ở Đại Việt đã có ảnh hưởng như thế nào đối với Đông Á đầu thế kỷ XV; 3/ Những kinh nghiệm và bài học lịch sử trong quan hệ ngoại giao của Đại Việt
Trang 11với Trung Quốc và cuộc kháng chiến chống Minh có ý nghĩa như thế nào đối với các nước Đông Á
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Sự xâm lược Đại Việt của triều Minh trong bối cảnh Đông
Á đầu thế kỷ XV”, trọng tâm của luận án khảo cứu về một sự kiện cụ thể là
cuộc chiến tranh xâm lược năm 1406-1407 mà triều Minh tiến hành ở Đại Việt trong những mối liên hệ của tình hình chính trị, kinh tế Đông Á và các tác động của nó trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XV Mặc dù vậy, luận án
xác định rõ 2 vấn đề liên quan đến phạm vi nghiên cứu: thứ nhất, những
chuyển biến của lịch sử đầu thế kỷ XV chỉ có thể được hiểu một cách toàn diện khi đặt trong khung thời gian rộng hơn: cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ
XV; thứ hai, sự xâm lược Đại Việt của triều Minh cần được nghiên cứu trong
tổng thể quan hệ hai nước, cùng với các vấn đề khác như: quan hệ ngoại giao trước chiến tranh, chính sách cai trị của triều Minh và vấn đề sau sự xâm lược
và thống trị
Chính vì vậy, trong luận án, chúng tôi luôn xem xét trọng tâm nghiên cứu từ cả góc nhìn hẹp (small view): tập trung vào các vấn đề cụ thể của cuộc chiến tranh xâm lược đầu thế kỷ XV; và góc nhìn rộng (broad view): đặt trọng tâm ấy trong bối cảnh rộng hơn về khung thời gian (cuối thế kỷ XIV, đầu thế
kỷ XV), không gian (Đông Bắc Á, Đông Nam Á) và các mối quan hệ chính trị, kinh tế, quân sự khu vực
Do đó, 3 nội dung mà luận án tập trung đến là: những vấn đề của bối
cảnh Trung Quốc, Đông Á, quan hệ Minh - Đại Việt cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV; cuộc chiến tranh xâm lược và sự thống trị Đại Việt của triều Minh; những hệ quả của nó đối với lịch sử Việt Nam và một số quốc gia Đông Á Vì đã có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình và diễn biến của cuộc chiến tranh Minh – Đại Việt, những vấn đề về quân sự, sách lược của Trung Quốc và Việt Nam, hay nguyên nhân thất bại của triều Hồ trong kháng chiến chống Minh nên trong luận án này, chúng tôi không đi quá sâu vào những chủ đề ấy Luận án chỉ đề cập tới những vấn đề nói trên để từ đó thấy
rõ diễn tiến của tình hình Trung Quốc, Việt Nam trước, trong và sau sự kiện năm 1406-1407 này
Trang 12Vì đối tượng nghiên cứu của đề tài có bao gồm bối cảnh Đông Á và các mối liên hệ của bối cảnh ấy với sự xâm lược năm 1406-1407, phạm vi về mặt
không gian của luận án là khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á5 Mặc dù vậy, luận án không nghiên cứu lịch sử Đông Bắc Á, Đông Nam Á nói chung
mà tập trung vào các vấn đề có liên hệ với trọng tâm của đề tài là cuộc chiến xâm lược của triều Minh và liên quan đến quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực
Khung thời gian hẹp luận án tập trung nghiên cứu là thời gian đầu thế
kỷ XV, với những sự biến trong nền chính trị Đại Việt và triều Minh (vương triều Hồ, sự lên ngôi của Minh Thành Tổ, cuộc chiến tranh xâm lược Đại
Việt) Khung thời gian rộng luận án đề cập là từ cuối thế kỷ XIV đến đều thế
kỷ XV Hai khoảng của khung thời gian rộng này bao gồm: 1/ khoảng từ năm
1368 cho đến năm 1407 với những vấn đề về chính sách, quan hệ ngoại giao, các biến động lịch sử (bối cảnh và nguồn gốc dẫn tới những biến động chính trị và quân sự đầu thế kỷ XV vac cuộc xâm lược Đại Việt); 2/ khoảng từ năm
1407 đến năm 1428 với các vấn đề hậu chiến tranh xâm lược (chính sách cai trị của triều Minh, các cuộc kháng chiến của người Việt, ảnh hưởng, hệ quả của cuộc chiến tranh xâm lược và sự thống trị của vương triều Minh)
4 Các nguồn tư liệu và phương pháp tiếp cận
a Các nguồn tư liệu
Những công trình nghiên cứu, chuyên khảo, sách và bài viết liên quan tới quan hệ ngoại giao Đông Á cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, về lịch sử Trung Quốc, Việt Nam, Đông Bắc và Đông Nam Á trên phương diện kinh tế, chính trị và văn hóa đều là các nguồn tham khảo với đề tài “Sự xâm lược Đại Việt của triều Minh trong bối cảnh Đông Á đầu thế kỷ XV” Trong số những nguồn nói trên, tư liệu quan trọng nhất với nghiên cứu này là những thư tịch
cổ của lịch sử Việt Nam và Trung Quốc Ở đây, chúng tôi thống kê một số nguồn chủ yếu có vai trò lớn đối với việc cung cấp thông tin và cứ liệu lịch sử cho đề tài
5 Trong luận án này, chúng tôi dựa theo quan điểm cho rằng các nước Đông Bắc Á bao gồm không gian của các quốc gia hiện này là Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam, trong đó, Việt Nam là một trường hợp tương đối đặc biệt, mà theo Trần Quốc Vượng “Việt nam vừa thuộc context Đông Nam Á, vừa thuộc context Đông Á” [75, tr 33]
Trang 13Nguồn Minh thực lục 6 cung cấp một khối lượng thông tin lớn và cụ thể Sách Minh thực lục ghi chép chi tiết đến từng ngày, tháng, năm diễn ra những
sự việc trong triều đình Trung Quốc Nguồn tư liệu này cung cấp thông tin quan trọng về quan hệ ngoại giao giữa triều Minh với các cuộc gia láng giềng thông qua những ghi chép về thái độ của triều Minh trong việc tiếp đãi sứ giả, những diễn biến trong hoạt động các sứ đoàn triều cống, chúc mừng, thỉnh
sách phong… Những thông tin mà Minh thực lục cung cấp cho phép tái hiện
quá trình thiết lập quan hệ triều cống giữa hai triều Minh-Trần kể từ năm
1371, và quá trình duy trì trạng thái bang giao tương đối hòa bình giữa hai
quốc gia trong suốt nửa cuối thế kỷ XV Từ đầu thế kỷ XV, Minh thực lục là
nguồn chủ yếu và quan trọng nhất cho thấy những biến đổi dẫn tới chiến tranh trong quan hệ Minh-Hồ cũng như những sắc lệnh của Minh Thành Tổ (1360-
1424, tại vị từ 1403 đến 1424) trong việc dấy binh đánh Đại Việt và chỉ huy cuộc chiến tranh, diễn biến của cuộc chiến và những chính sách cai trị của triều Minh thời hậu chiến Đối với nội dung đề tài quan tâm, thông tin nguồn
này cung cấp chủ yếu tập trung trong Minh Thái tổ thực lục và Minh Thành
Tổ thực lục (ghi chép thời gian từ nửa cuối thế kỷ XIV đến năm 1424)
Một nguồn thư tịch Trung Quốc hết sức quan trọng khác là Minh sử 7 Minh sử là nguồn tư liệu không thể thiếu đối với đề tài Một bộ phận quan
trọng của Minh sử ghi chép về việc Minh Thái Tổ (1328-1398, cai trị từ 1368
đến1398) chiêu dụ các nước Đông Nam Á ngay từ sau khi vương triều hình
thành Những sự kiện trong Minh sử cũng được ghi chép chi tiết đến từng ngày, tháng Cũng giống như Minh thực lục, Minh sử cung cấp số lượng
thông tin phong phú về quá trình chuyển biến dẫn tới bùng nổ cuộc chiến tranh và sự quá trình đô hộ của nhà Minh ở Đại Việt
6
明實錄, 中央研究院歷史語言研究所校印, 臺北, 1966 [Minh thực lục, Viên nghiên cứu Lịch sử và Ngôn ngữ Trung ương, Đài Bắc, 1966] Do những sự kiện liên quan tới lịch sử Việt Nam trong Minh thực lục đã
được chuyển ngữ sang tiếng Việt, chúng tôi cũng sử dụng bản dịch của dịch giả Hồ Bạch Thảo đối với những
ghi chép về Việt Nam được chọn lọc từ Minh thực lục Với những phần về các quốc gia khác chưa được biên dịch, chúng tôi sử dụng nguyên bản chữ Hán Minh thực lục, Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam thế kỷ XIV-
XVII, Tập 1 và 2, Hồ Bạch Thảo dịch và chú thích, NXB Hà Nội, 2010
7 Nguồn Minh sử chúng tôi sử dụng được lưu trong tư liệu khoa Lịch sử, bao gồm: Minh sử, trích trong Nhị
thập tứ sử, phần về các nước Đông Nam Á, tư liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Hà Nội; và: Minh sử, trích Nhị thập tứ sử theo Súc ấn bách nạp, Những việc liên quan đến Việt Nam
trong lịch sử Trung Quốc, tài liệu khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội
Trang 14Sách Việt kiệu thư [54] cũng là một bộ sử được biên soạn dưới thời Minh nhưng lại có nhiều ghi chép khác biệt với hai bộ chính sử là Minh thực
lục và Minh sử Cuốn sách này có những thông tin mà Minh thực lục và Minh
sử không ghi lại hoặc đã chép giản lược đi Những tư liệu của cuốn sách này
là một nguồn bổ khuyết quan trọng đối với việc nghiên cứu lịch sử Đại Việt, chiến tranh của triều Minh với Đại Việt và quan hệ ngoại giao của hai nước trong những khoảng ba thập niên đầu thế kỷ XV Bộ sách được biên soạn bởi
Lý Văn Phượng, người từng được giao việc chuyên trách quân vụ Quảng Đông và có điều kiện tham duyệt nhiều tài liệu liên quan đến Đại Việt, trong
đó có những sắc dụ của Minh Thành Tổ đối với chiến sự và những chính sách đối với đất “Giao Chỉ” sau cuộc chiến tranh Đó là những cơ sở vững chắc
cho tác giả biên soạn bộ sử này Do vậy, Việt kiệu thư được xem là một tác
phẩm cực kỳ quý giá trong việc nghiên cứu lịch sử Đại Việt trong thời gian
đó8
Sách Tây Dương triều cống [66] được biên soạn dưới thời nhà Minh
cũng là một nguồn tư liệu có giá trị mang lại nhiều thông tin về sự triều cống
Trung Quốc của các nước Đông Nam Á Tây Dương triều cống là một ghi
chép phong phú về những sản vật của các nước và những cống vật những nước này dâng lên thiên từ nhà Minh
Những sai khác giữa các ghi chép của Trung Quốc đòi hỏi những nguồn đối chiếu trong thư tịch cổ Việt Nam Các bộ sử sách của Việt Nam còn là nguồn quan trọng cho thấy những sự kiện lịch sử trong quan hệ hai nước, sự phế lập vương triều ở Đại Việt nhìn từ góc độ của người Việt (điều này rất quan trọng vì theo các nguồn Trung Quốc, trong những nguyên nhân của cuộc chiến tranh “chinh phạt An Nam” có sự thỉnh cầu của con cháu họ Trần với việc khôi phục vương triều, hay thỉnh cầu kỳ lão và nhân dân “An Nam” với việc diệt Hồ, sáp nhập đất “Giao Chỉ” vào lãnh thổ Trung Hoa) Ở nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới một số nguồn tiêu biểu, mà theo đó trong
8 Sách Việt kiệu thư có những ghi chép khác biệt với những thông tin trong Minh thực lục và Minh sử, đặc
biệt bộ sách có ghi chép những đạo sắc dụ của Minh Thành Tổ ban ra trong thời gian của cuộc chiến tranh
Minh - Việt mà Minh thực lục không ghi chép Thêm vào đó, cả đối với một văn bản quan trọng như Bình
định An Nam chiếu thư, Việt kiệt thư cũng chép có những điểm khác biệt với bản trong Minh thực lục [5, tr
85-99]
Trang 15những thư tịch Việt Nam quan trọng nhất là Đại Việt sử ký Toàn thư [10] và
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục [57]
Ngoài các bộ sử nói trên, nhiều tác phẩm khác cũng là các nguồn tham khảo quý giá không chỉ đối với những biến chuyển trong ngoại giao hai nước đầu thế kỷ XV mà còn về lịch sử Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian trước và sau thời kỳ thuộc Minh (1407-1427) Có thể đề cập tới một số nguồn
tiêu biểu như: Đại Việt thông sử [12], Lam Sơn thực lục [66a], Vân Đài Loại
Ngữ [14], Việt sử Tiêu án [63], An Nam chí nguyên [71], Đại Việt Sử ký Tiền biên [63a], Nam Ông Mộng lục [71a] Sách Lịch triều Hiến chương loại chí
[8] và nhiều thư tịch khác cũng là chứa đựng nhiều ghi chép về bang giao, những nguyên tắc trong quan hệ hai nước và định lệ trong triều cống sách phong Đại Việt-Minh9
Ngoài ra, các nguồn tư liệu và ghi chép về lịch sử của các quốc gia ở Đông Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Champa… cũng là nguồn tham khảo cần
thiết đối với đề tài Chẳng hạn, bộ Triều Tiên vương triều thực lục10 được vương triều Joseon (Triều Tiên) ghi chép vừa là một nguồn đối chiếu và so sánh quan trọng đối với những thông tin từ các nguồn sử liệu Trung Quốc, đồng thời là sử liệu cho phép làm rõ những mối liên hệ giữa Trung Quốc, Đại Việt với lịch sử Triều Tiên trong khoảng đầu thế kỷ XV Một ví dụ điển hình
là khi so sánh các dị bản của Bình định An Nam chiếu thư do Minh Thành Tổ ban bố (năm 1407) trong 3 tài liệu Minh thực lục, Việt kiệu thư và Triều Tiên
vương triều thực lục thì có thể thấy rằng bản trong Minh thực lục đã được
lược bỏ khá nhiều chi tiết trong đoạn Minh Thành Tổ tố cáo họ Hồ; trong khi
bản chép của Triều Tiên thực lục và Việt kiệu thư lại về cơ bản tương đồng [54, tr.90-91] Triều Tiên thực lục còn là sử liệu quan trọng để cho thấy sự
những ảnh hưởng từ cuộc xâm lược của triều Minh ở Đại Việt và sự phản ứng của triều đình Joseon trước một sự biến chính trị xảy ra ở một quốc gia Đông Nam Á Ngoài những tư liệu, ghi chép, các công trình nghiên cứu liên quan tới lịch sử Việt Nam, Trung Quốc nói riêng và Đông Á nói chung cũng là nguồn tham khảo quan trọng với luận án
Trang 16b Phương pháp nghiên cứu
Luận án tiếp cận và nghiên cứu vấn đề từ góc độ của khoa học Lịch sử
Sự thiết lập, duy trì và chuyển biến của quan hệ giữa triều Minh với Đại Việt nửa cuối thế kỷ XIV và nửa đầu thế kỷ XV được nhìn nhận, đánh giá như một quá trình vận động, biến đổi của diễn trình lịch sử Việt Nam và Trung Quốc Bên cạnh đó, vì luận án nghiên cứu đặt trọng tâm cuộc chiến tranh xâm lược trong bối cảnh lịch sử Đông Á nên chúng tôi đặt các sự kiện và những nhân tố nội sinh trong quan hệ Minh – Đại Việt với những tác nhân từ bên ngoài trong
sự đối sánh, tương liên để làm rõ sự tương tác và các tác động nhiều chiều giữa các vấn đề trong lịch sử các nước trong khu vực
Để đảm bảo tính trung thực và khách quan của luận án, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu, đặc biệt là các tư liệu chính sử, các thư tịch và ghi chép để đối chiếu, so sánh và đánh giá mức độ tin cậy của tư liệu
Luận án cũng tuân thủ các phương pháp nghiên cứu và trình bày của khoa học lịch sử là phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp lôgic để nghiên cứu và diễn giải các vấn đề theo trình tự thời gian và các mối liên quan giữa các sự kiện, hiện tượng của lịch sử Đông Á
5 Đóng góp của luận án
Luận án nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt và những nguyên nhân, hệ quả của nó trong lịch sử Việt Nam, Trung Quốc và Đông Á Hướng tiếp cận và phân tích,
lý giải các mối quan hệ và tác động qua lại giữa lịch sử hai nước với lịch sử các quốc gia khác ở Đông Á cho phép nhận thức đầy đủ và toàn diện về sự kiện quan trọng này không chỉ trong diễn trình của lịch sử Việt Nam hay Trung Quốc mà trong lịch sử tổng thể của toàn khu vực
Từ việc nghiên cứu quá trình chuyển biến từ quan hệ ngoại giao sang cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, luận án đóng góp vào sự nhận thức những chính sách ngoại giao, những âm mưu và tham vọng của vương triều Minh với Đại Việt nói riêng và những truyền thống của quan hệ giữa Trung Quốc với các láng giềng nói chung Nghiên cứu về quá trình vận động
và biến đổi của lịch sử ngoại giao đó cùng với sự hưng khởi và suy vong của các vương triều, sự thành bại của đấu tranh ngoại giao và kháng chiến chống
Trang 17xâm lược góp phần vào sự nhìn nhận vấn đề một cách hệ thống, khoa học và cho phép rút ra những bài học lịch sử mang ý nghĩa thực tiễn
Thông quá nghiên cứu một sự kiện đặc biệt đầu thế kỷ XV, luận án thảo luận và góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề khoa học về lịch sử Đông Á Việc khảo cứu các nguồn tài liệu và những nghiên cứu liên quan cho phép phân tích và chứng minh các đặc điểm quan hệ ngoại giao khu vực thời tiền cận đại, bản chất của quan hệ Trung Quốc với các láng giềng, các vấn đề về thể chế, sự chính thống của các vương triều và những mối liên hệ nhiều chiều giữa lịch sử các dân tộc ở Đông Á
6 Cấu trúc của luận án
Phần nội dung của luận án gồm 4 chương:
- Chương 1: “Tổng quan về tình hình nghiên cứu” tập trung vào các
công trình trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan tới đề tài của luận án, phân tích những thành tựu mà các nghiên cứu đi trước đã đạt được và một số vấn đề còn cần được giải quyết
- Chương 2: “Bối cảnh Đông Á và quan hệ giữa triều Minh với Đại Việt
cuộc thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV” nghiên cứu về bối cảnh khu vực, quan hệ
ngoại giao giữa các nước với trọng tâm là mối quan hệ giữa triều Minh với Đại Việt, từ đó làm rõ vị thế của Đại Việt trong chính sách đối ngoại của triều Minh, những chuyển biến của lịch sử cuối thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV để thấy được những tiền đề dẫn tới sự xâm lược Đại Việt của triều Minh
- Chương 3: “Cuộc chiến tranh xâm lược và chế độ cai trị của triều
Minh ở Đại Việt” nghiên cứu về nguồn gốc, sự bùng phát của cuộc chiến
tranh xâm lược và chế độ và các chính sách cai trị của triều Minh ở Đại Việt
- Chương 4: “Nhận xét về sự xâm lược và cai trị của triều Minh ở Đại
Việt trong bối cảnh Đông Á” luận giải về các vấn đề lên quan tới cuộc xâm
lược và sự cai trị của triều Minh ở Đại Việt, đặc biệt là những hệ quả của nó với Đại Việt, Trung Quốc và Đông Á, những mối liên hệ và tác động của nó tới các nước ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á và sự mở rộng ảnh hưởng của triều
Minh
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cuộc chiến xâm lược và sự thống trị của triều Minh ở Đại Việt đầu thế
kỷ XV là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam và Trung Quốc cũng như trong lịch sử quan hệ ngoại giao hai nước, được đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu của học giả Việt Nam và quốc tế Vấn đề này cũng luôn được trình bày trong phần lớn các bộ thông sử của Việt Nam, Trung Quốc và lịch
sử vương triều Minh, vương triều Trần, Hồ và vương triều Lê sơ Trong phạm
vi luận án, chúng tôi đề cập tới những nghiên cứu tiêu biểu, quan trọng, có nội dung gần với đề tài và liên quan mật thiết tới luận án
1.1 Những nghiên cứu của Việt Nam
Do những mối liên hệ thường xuyên giữa lịch sử Trung Hoa và Việt Nam, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam được nhắc đến rất nhiều trong sách lịch
sử, các chuyên khảo, các công trình nghiên cứu Trong phần lớn tài liệu có đề cập tới ngoại giao Trung-Việt thế kỷ XIV, XV đều nhắc tới cuộc xâm lược của triều Minh ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, theo thống kê của chúng tôi, số lượng các nghiên cứu tập trung vào vấn đề này không nhiều Chúng tôi xin nêu ra một số công trình tiêu biểu có liên quan như sau:
Trong những tài liệu viết về quan hệ Trung-Việt trong lịch sử, hai cuốn
sách cuốn sách Chuyện đi sứ, tiếp sứ thời xưa (2001) [39] và bộ sách về Bang
giao Đại Việt (2005) [38 & 38] của tác giả Nguyễn Thế Long đã phác dựng
một về diễn trình và những sự kiện xảy ra trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong thời phong kiến Trong những tác phẩm này, việc đi lại và các hoạt động sứ giả được nêu lên khá chi tiết, nhưng tác giả chủ yếu trình bày theo hình thứ kể và mô tả hoạt động, diễn tiến các sự kiện, không nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống về các vấn đề lý thuyết trong quan hệ hai nước
Vì lý do ấy, trong các công trình này, tác giả chỉ đề cập đên sự xâm lược của triều Minh với Đại Việt như một phần trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước, một sự kiện dẫn tới sự đô hộ của Trung Quốc tại Việt Nam mà không nghiên cứu về những tác động của khu vực dẫn tới sự kiện này hay những ảnh hưởng trở lại của nó với lịch sử khu vực
Trang 19Cuốn chuyên khảo Ngoại giao Việt Nam từ thưở dựng nước đến trước
cách mạng tháng Tám 1945 (2001) [20] của Học viện quan hệ quốc tế có nội
dung bao trùm lịch sử Việt Nam từ thời Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Việt Nam cho tới nửa đầu thế kỷ XX Đối với vấn đề mà đề tài quan tâm, cuốn sách đã tập trung nhiều vào chiến tranh và hoạt động quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc, mô tả và thống kê nhiều sự kiện lịch sử, chiến sự được ghi chép trong các thư tịch cổ Điểm mạnh của công trình này là đã phần nào phục dựng lại được diễn biến và diện mạo những sự kiện lịch sử, trong đó có cuộc xâm lược của triều Minh Tuy thế, những mặt khác của hoạt động ngoại giao giữa hay nước như hoạt động sứ giả, quá trình đấu tranh ngoại giao của triều Hồ, sự thay đổi thái độ của Minh Thành Tổ, và những mối liên hệ giữa quan hệ hai nước với bối cảnh chung của Đông Á… còn chưa được nghiên cứu ở tầm mức tương xứng Hơn thế nữa, do dựa chủ yếu vào những ghi chép
từ các thư tịch cổ nhiều thuật ngữ được sử dụng trong cuốn sách và cách lý giải và lý thuyết được nêu ra trong cuốn sách, theo chúng tôi, còn nhiều chỗ chưa chính xác và thỏa đáng
Chuyên khảo Tấu biểu đấu tranh Ngoại giao của Nguyễn Trãi (2003) [49] của tác giả Nguyễn Văn Nguyên là một công trình nghiên cứu công phu,
trong đó tác giả đã trình bày về bản chất, truyền thống của chính sách đối ngoại và tư tưởng của người Trung Hoa về các dân tộc xung quanh Trên cơ
sở đó, chuyên khảo khảo cứu chi tiết về công văn qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn cuối và sau thời kỳ thống trị của triều Minh (1407-1427) cũng như quá trình đấu tranh ngoại giao của sứ giả và triều Lê sơ
để khẳng định nền độc lập Công trình này là một nguồn có giá trị tham khảo
về những lý thuyết về tư tưởng Hoa-Di và chính sách ngoại giao của Trung
Quốc và về mặt sử liệu về thời gian của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và từ khi Đại Việt giành lại nền độc lập và vương triều Lê sơ hình thành Dù vậy, nghiên cứu này không đề cập nhiều tới cuộc xâm lược của triều Minh và bối cảnh Đông Á trong khoảng đầu thế kỷ XV
Trong số những nghiên cứu liên quan tới đề tài, có rất nhiều bài viết, chuyên khảo về quan hệ Trung-Việt, về những ảnh hưởng của Trung Quốc với Việt Nam và Đông Á, hay về các vấn đề lý thuyết liên quan đến bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị Đại Việt và Đông Á cho đến thế kỷ XV như: Nghiên
Trang 20cứu Sự bành trướng ra biển của người Trung Hoa (1980) của Stepanov đã được dịch sang tiếng Việt [63]; công trình Chủ nghĩa bành trướng bá quyền
Trung Quốc ở Đông Nam Á (1983) của Nhuận Vũ [74]; công trình: Bước đầu tìm hiều tiếp xúc và giao lưu văn hóa Việt-Hoa trong lịch sử (1998) của Trung
tâm nghiên cứu xã hội và phát triển [70]; công trình Ngoại giao Đại
Việt-Trung Quốc (2000) của tác giả Lưu Văn Lợi [40]; bài viết “Nguyên nhân di
cư và các dạng di trú của người Hoa trong lịch sử” (2000) của tác giả Trần Khánh [19]; bài viết “Sự khẳng định chủ quyền quốc gia của các nhà nước
quân chủ Việt Nam” (2004) của tác giả Vũ Thị Phụng [53]; luận văn Ngoại
thương Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVII (2005) của Dương Văn Huy [18]; bài viết “Đại Việt và thương mại biển
Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XV” (2004) của Momoki Shiro (bài viết tiếng
Anh được dịch sang tiếng Việt) [45&112]; cuốn sách Lịch sử ngoại giao Việt
Nam – Trung Quốc (từ khởi thủy đến thế kỷ XVIII) (2018) của Văn Tân [64a]
Trong số nhiều nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến sự bành trướng ảnh hưởng và thế lực của Trung Quốc và những truyền thống ngoại giao của Trung Quốc trong lịch sử, đáng chú ý có bài viết “Về chính sách ngoại giao của Trung Quốc với Việt Nam trong lịch sử” (1979) của tác giả Văn Tân đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử [64] Trong bài viết của mình, tác giả đã trình
bài đường lối ngoại giao và những ấm mưu, sự xâm lược Việt Nam của Trung Quốc theo từng vương triều từ thời Tống cho tới hết thời vương triều Thanh
và lên án mạnh mẽ những chính sách bành trướng của người Trung Quốc Tuy nhiên, khi bàn về chính sách ngoại giao của Trung Quốc thời Minh, tác giả chỉ đề cập tới cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt, sự thống trị của triều Minh ở Việt Nam và quá trình người Việt đấu tranh giành độc lập Các vấn đề liên quan tới sự thiết lập và duy trì ngoại giao thời kỳ trước Minh Thành Tổ,
và sự tái thiết bang giao sau khi vương triều Lê ở Đại Việt hưng khởi không được nhắc đến Tương tự như vậy, bài viết “Quan hệ Trung – Việt và Việt –
Trung” (1979) của tác giả Văn Phong trên Nghiên cứu Lịch sử [50] dù có
phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian từ thời Tần tới hết thời Mãn Thanh, nhưng cũng chủ yếu tập trung đến chính sách bành trướng của Trung Quốc, ít
đề cập tới những biểu hiện khác của quan hệ ngoại giao Nhiều nghiên cứu của Việt Nam trong khoảng thời gian cuối thập niên 1970 và thập niên 1980
Trang 21đều có những nội dung tương tự Tôi cho rằng việc bỏ qua những biểu hiện của sự thiết lập quan hệ bang giao là thiếu sót, vì như vậy khó có thể cho thấy bản chất và nguồn gốc của sự bành trướng và xâm lược của Trung Quốc với Việt Nam trong các mối liên hệ giữa hai quốc gia về kinh tế và chính trị và các truyền thống trong ngoại giao hai nước
Trong xu thế nghiên cứu về lịch sử thương mại ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á đang được nhiều người quan tâm đã nổi bật lên các công trình liên quan tới lịch sử thương mại Đông Á thế kỷ XV Trong số những công trình xem xét mối liên hệ giữa ngoại giao và thương mại, có thể kể tới cuốn sách
Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV-XVII (2003) [26] và bài
viết “Quan hệ của vương quốc Ryukyu với các nước Đông Nam Á thế kỷ XIV-XVI” (2003) [25] của tác giả Nguyễn Văn Kim Trong hai tác phẩm trên, tác giả đã nêu lên sự kết hợp giữa các mục đích về ngoại giao và mục đích thương mại trong những mối liên hệ của các nước Đông Bắc Á với Trung Quốc và với Đông Nam Á trong khoảng thời gian mà đề tài quan tâm
Ngoài những công trình nêu trên, có một số nghiên cứu đã tập trung trực tiếp vào quan hệ sách phong và triều cống của Trung Quốc với Đại Việt
và các quốc gia Đông Nam Á trong thế kỷ XIV-XVII Luận văn Quan hệ
triều cống các nước Đông Nam Á với Trung Quốc thời Minh (2007) của
Nguyễn Nhật Linh đã nghiên cứu về Bối cảnh Trung Quốc và Đông Nam Á trong thế kỷ XIV-XVII, về sự hình thành và các hoạt động triều cống của các quốc gia Đông Nam Á với Trung Quốc, trong đó, Việt Nam là một trường hợp điển hình; và cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt được đánh giá là một sự biến có ý nghĩa quan trọng tạo ra bước chuyển đột ngột trong ngoại giao hai nước, khiến lãnh thổ Đại Việt trở thành một bộ phận của
Trung Hoa trong thời gian từ 1407 đến 1427 Luận án Quan hệ sách phong,
triều cống Minh-Đại Việt (2013) và cuốn sách có nội dung tương tự: Về quan
hệ sách phong, triều cống Minh – Đại Việt (2016) của Nguyễn Thị Kiều
Trang [68&69] đã nghiên cứu về cơ sở của quan hệ sách phong, triều cống Minh-Đại Việt và quan hệ sách phong, triều cống giữa triều Minh với nhà Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc và Lê Trung Hưng ở Việt Nam Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Kiều Trang đề cập tới cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt của triều Minh như sự đứt đoạn của quan hệ sách phong – triều cống
Trang 22giữa hai nước và đặt vấn đề về một số nguyên nhân của cuộc chiến tranh như: nguyên cớ “phù Trần” và “phạt tội Hồ Quý Ly”, những căng thẳng trong quan
hệ Minh – Đại Việt những năm đầu thế kỷ XV… Theo tôi, những công trình này vẫn để lại khoảng trống trong việc nghiên cứu cuộc chiến tranh xâm lược trong bối cảnh chung của các mối quan hệ phức tạp về chính trị, kinh tế của
Đông Á và Đông Nam Á lúc bấy giờ Bên cạnh đó, các công trình: Quan hệ
giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI (1995) của nhà sử
học Tạ Ngọc Liễn [36] và cuốn sách Bang giao Việt Nam với Trung Quốc
dưới triều Trần từ năm 1226 đến năm 1400 (2015) của tác giả Nguyễn Thu
Hiền [16] cũng đề cập đến các vấn đề quan hệ ngoại giao của triều Minh với Đại Việt trước, trong và sau sự xâm lược và thông trị Đại Việt của triều Minh
Đáng chú ý, hai bài viết của tác giả Nguyễn Văn Kim: “Chính sách kinh tế của nhà Minh với Đại Việt (1407-1427)” (2014) [22] và “Chính sách văn hóa của nhà Minh với Đại Việt (1407-1427)” (2015) [23] đã nghiên cứu
về chính sách thống trị của triều Minh, sự thiết lập hệ thống quản lý và cai trị,
sự khai thác và bóc lột kinh tế, các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên biển, và sự tàn phá đối với nền kinh tế Đại Việt, cũng như sự hủy diệt về văn hóa và các nhân tố bảo tồn nền văn hóa Đại Việt để hướng tới sự đồng hóa văn hóa Từ đó, tác giả nêu bật lên bản chất bóc lột và phá hoại của sự đô hộ của triều Minh, những hệ quả nặng nền của thời kỳ Minh thuộc, nhưng đồng thời nhấn mạnh sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt qua thời kỳ bị lệ thuộc và đồng hóa cũng như đã làm rõ một vấn đề quan trọng đối với sự sinh tồn của lịch sử và văn hóa Việt Nam: đó là sự lựa chọn con đường phát triển và lối đi riêng của nền văn hóa Đại Việt trong các vương triều độc lập Lý-Trần, Lê sơ hay trong cả thời kỳ bị đô hộ và đồng hóa
Bên cạnh những công trình về quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trong lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề cụ thể của lịch sử vương triều Hồ và mối quan hệ giữa triều Minh và triều Hồ Điển hình trong
số đó có công trình của nhà sử học Phan Huy Lê: “Cải cách của Hồ Quý Ly
và sự thất bại của triều Hồ” [30], nghiên cứu “Nhìn lại vấn đề Hồ Quý Ly trong lịch sử” của tác giả Trương Hữu Quýnh [50], cuốn sách Hồ Quý Ly Nguyễn Danh Phiệt [51], cuốn sách Hồ Quý Ly, nhà cải cách, Võ Xuân Đàn
[11] Nhiều tác giả cũng xuất bản các công trình nghiên cứu về kháng chiến
Trang 23chống Minh ở Đại Việt, đặc biệt là về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Các công
trình nổi tiếng trong số đó là cuốn Khởi Nghĩa Lam Sơn (2005) của tác giả Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn [34]; cuốn Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước
(2003) của tác giả Nguyên Lương Bích [4], bài viết “Các cuộc đấu tranh ngoại giao với triều đình nhà Minh đầu thế kỷ XV và những chứng tích còn lại” (2010) của tác giả Nguyễn Văn Nguyên [48] Ngoài ra, các vấn đề của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, trong đó có cuộc chiến tranh xâm lược và sự thống trị của triều Minh ở Đại Việt, lịch sử vương triều
Hồ, các cuộc kháng chiến chống Minh và sự thiết lập của vương triều Lê sơ còn được đề cập trong những bộ thông sử được biên soạn công phu của nhiều tập thể tác giả Nổi tiếng nhất trong số các bộ thông sử đó có các công trình
của về lịch sử Việt Nam như Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ
XIX (1956) (quyển thượng và hạ) [34], Đất nước Việt Nam qua các đời (1995)
của Đào Duy Anh [1]; bộ Đại cương Lịch sử Việt Nam (2008) (tập 1) của Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh [58]; bộ Tiến trình
Lịch sử Việt Nam (2000) của Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) [48]; bộ Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884 (2000) của Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân
Đàn [56]; bộ Lịch sử Việt Nam (2012) của tập thể tác giả Phan Huy Lê,
Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân [33]
và nhiều bộ sách khác
1.2 Những nghiên cứu quốc tế
Lịch sử Đông Á và sự bành trướng của người Trung Quốc xuống phía Nam đầu thế kỷ XV, trong đó sự xâm lược và thống trị của vương triều Minh
ở Việt Nam và quan hệ bang giao giữa hai quốc gia trong lịch sử cùng những vấn đề lý thuyết về trật tự chính trị của khu vực thời tiền cận đại được rất nhiều học giả quốc tế quan tâm Trong nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc, lịch sử mối quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Á nói chung và về cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt nói riêng, luận án thống kê được rất nhiều nghiên cứu liên quan tương đối gần với nội dung của đề tài Theo đó, những nghiên cứu mà đề tài quan tâm đề cập phần lớn có liên quan đến các vấn đề như: nền tảng lý thuyết về tư tưởng dân tộc và chính sách ngoại giao của người Trung Quốc, hệ thống các quan hệ
Trang 24ngoại giao giữa Trung Quốc với các dân tộc và nước láng giềng cho trong những thế kỷ XIV tới XVII – với sự hình thành và ảnh hưởng quả trật tự mà nhiều học giả gọi là “Trật tự Trung Hoa” hay “Trật tự thế giới Trung Hoa”, hay những đề tài về biến đổi biên giới giữa các quốc gia, vấn đề về ý thức chủ quyền của các vương triều Những công trình đề cập đến lịch sử triều Minh
ở Trung Quốc, sự hưng thịnh và suy vong của vương triều Hồ, sự khởi lập vương triều Lê ở Việt Nam cũng như mối quan hệ giữa các vương triều phong kiến này cũng được chúng tôi quan tâm Đặc biệt, có nhiều công trình đã trực tiếp nghiên cứu và trình bày những vấn đề của cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh trong những năm 1406-1407 từ những góc độ và khía cạnh khác nhau
Trong nhiều nghiên cứu liên quan đến “Trật tự Trung Hoa” hay “Thế giới Trung Hoa”, đáng chú ý nhất là những công trình của John King Fairbank, người đã có nhiều năm nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc và những đặc trưng trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc đặc biệt là trong thời Minh – Thanh và các học giả khác có cùng quan điểm với ông11 Tiêu biểu
cho những lý thuyết này là cuốn sách The Chinese World Order; Traditional
China's Foreign Relations (1968) [90] là một tập hợp bài viết của nhiều tác
giả được Fairbank biên tập Trong cuốn sách này, bài viết của Fairbank: “The early treaty system in the Chinese world order”, của Lien-Sheng Yang:
“Historical notes on the Chinese world order”, của Wang Gungwu: “Early Ming relations with Southeast Asia: a background essay” đã phác dựng lên một mối quan hệ được định hình trong ngoại giao Trung Quốc với các láng giềng dựa trên nền tảng tư tưởng về người Trung Hoa với các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là từ thời Minh cho tới vương triều Thanh
Trong một số nghiên cứu khác, Fairbank cũng đã trình bày những lý thuyết về bản chất trong mối liên hệ Trung Quốc với các nước, mà hệ thống triều cống là nhân tố cốt lõi Trong bài viết “Tributary Trade and China's Relations with the West” (1942) [91, tr 129-149], ông cho rằng nguồn gốc và
11 Nhiều tác giả cho rằng, hai nhà nghiên cứu lịch sử có vai trò trong việc hệ thống hóa lý thuyết về “Trật tự thế giới Trung Hoa” là John King Fairbank và Wang Gungwu Theo đó, Wang Gungwu cho rằng sự hòa nhập của những yếu tố Trung Hoa với thế giới bên ngoài đã là nhân tố đóng góp vào sự hình thành trật tự thế giới, Fairbank cũng đề cập tới sự tham gia của Trung Quốc với thế giới rộng lớn bên ngoài vừa đúng lúc với
sự sụp đổ của nó [95, tr 30]; [92, tr Xvii; Dẫn lại theo: 86, tr 42]
Trang 25trọng điểm mà trên cơ sở đó hệ thống triều cống được xác lập là sự chi phối của văn hóa Trung Hoa ở Đông Á, sức mạnh của hoàng đế dựa trên nền tảng dân tộc Trung Hoa, hệ thống lễ nghi và quy tắc trong lệ triều cống, đặc biệt là vai trò và tác dụng của triều cống với tư cách là phương tiện của chính sách phòng thủ quốc gia, của thương nghiệp và sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc Bài viết “On the Ch‟ing tributary system” (1941) [87, tr 135-246] mặc
dù tập trung vào hệ thống triều cống thời Thanh nhưng trong công trình này, các tác giả cho rằng hệ thống đó dựa trực tiếp và chủ yếu trên sự kế thừa từ trật tự được hình thành từ trước trong thời kỳ vương triều Minh đặc biệt là giai đoạn cuối Minh Bài viết này cũng đã đề cập đến những quy tắc và định
lệ trong triều cống các nước phía Nam và Đông của Trung Quốc cùng một số vấn đề khác của hệ thống triều cống thời Thanh
Nhiều công trình khác cũng chịu ảnh hưởng của lý thuyết về “Trật tự Trung Hoa” hoặc có đề cập tới những liên hệ giữa ngoại giao Trung Quốc với
trật tự thiên hạ được định hình trong thuyết Hoa-Di và những tư tưởng truyền
thống của người Trung Quốc Đáng chú ý có một số nghiên cứu như: bài viết
“Traditional Chinese World Order” (2002) của học giả Li Zhaojie [102], bài viết “The Political System of Imperial China” (1923) [108, tr 551-566] của Harold Scott Quigley, bài viết “The Ch'ing tribute system: an interpretive essay” (1968) của Mark Mancall [104], bài viết “Sino - Korean tributary relations in the Ch'ing period” (1968) của Hae-Jong Chun [82], bài viết
“Investiture of Liu-Ch'iu kings in the Ch'ing period” (1968) của Ta-Tuan
Ch'en [81], cuốn sách Manchuria trade and tribute in the Ming dynasty: a
study of Chinese theories and methods of control over border peoples (1937)
của T.C.Lin [103]…
Bên cạnh những nghiên cứu về lý thuyết và mô hình mối quan hệ Trung Quốc với các láng giềng, trong đó Đại Việt là một nhân tố quan trọng, nhiều tác phẩm về lịch sử Trung Quốc, lịch sử các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV cũng có nhiều giá trị tham khảo với nội dung mà đề tài quan tâm khi thường phải đề cập tới cuộc chiến tranh
Minh Việt Có thế kể đến các công trình tiêu biểu như: cuốn thông sử The
Cambridge History of China (tập 7 và 8), cuốn Cambridge History of
Southeast Asia, volume 1: From Early time to c.1800 (1994) [116], cuốn
Trang 26Ming tribute grain system (1981) của Ayao Hoshi and Mark Elvin [100], cuốn
Southeast Asia in the 9 th to the 14 th Centuries (1985) của Davids G.Marr và
A.C.Milner [105], cuốn Southeast Asia’s Political systems (1974) của Lucian W.Pye [107], cuốn Brides of the Sea: port cities of Asia from 16 th -20 th centuries (1989) của Frank Broeze [80], cuốn Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680: Volume One: The Lands below the Winds (1988) của
Anthony Reid [110] và rất nhiều các công trình nghiên cứu, sách và chuyên khảo khác
Một số lượng lớn các nghiên cứu quốc tế đã đề cập tới những chính sách mở rộng ảnh hưởng chính trị, văn hóa và bành trướng lãnh thổ bằng con đường quân sự của Trung Quốc nói chung và vương triều Minh nói riêng Có
thể đề cập tới cuốn sách của FitzGerald: The Southern Expansion of the
Chinese People (1972) [64], cuốn sách của Wang Gungwu: China and the Chinese overseas (1991) [96], cuốn Sojourners and Settlers, Long term Chinese Interaction with Southeast Asia (1996) của Anthony Reid [109], bài
viết về mối liên hệ của những chính sách chinh phạt với tư tưởng của người Trung Hoa; bài viết “China and Intervention: Theory and Practice” (1973) của Jerome Alan Cohen [84,tr.471-505], bài viết của Truong Buu Lam:
“Intervention versus tribute in Sino-Vietnamese Relation, 1788-1790” [118,tr.165-179] …
Những công trình của tác giả Geoff Wade về quan hệ giữa các nước Đông Nam Á với Trung Quốc dưới thời nhà Minh cho phép hiểu một cách tổng thể về tình hình chính trị của Đông Bắc Á, Đông Nam Á trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XV Trong các bài viết như: “Ming China and Southeast Asia in the 15th Century: A Reappraisal” (2004) [123], “The Mingshi
Account of Champa” (2003) [124], “The Zheng He Voyages: A
Reassessment” (2004) [125], bài viết “Engaging the South: Ming China and
Asia in the fifteenth century: The China factor (2010) [121] và nhiều công
trình khác, Geoff Wade đã dựa trên các nguồn thư tịch Trung Quốc là Minh
thực lục và Minh sử để làm rõ về những ảnh hưởng và vai trò của Trung Quốc
nói chung và triều Minh nói riêng đối với lịch sử chính trị và kinh tế các quốc gia ở Đông Bắc Á
Trang 27Nhiều công trình có nội dung gần nhất với vần đề mà luận án quan tâm khi tập trung vào nghiên cứu mối quan hệ Trung Quốc –Việt Nam cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV hoặc nghiên cứu trực tiếp về sự xâm lược và cai trị Đại Việt của triều Minh từ nhiều góc độ khác nhau Chẳng hạn, bài viết “Ming-Qing China‟s Policy towards Vietnam as a Mirror of Its Policy towards Korea: With a Focus on the Question of Investiture and „Punitive Expeditions” (2007) của tác giả Fuma Susumu [114] xem những chính sách đối ngoại của Trung Quốc thời Minh-Thanh đối với Triều Tiên là một phản ánh và là hệ quả của những biến chuyển trong quan hệ Trung Quốc-Việt Nam Nghiên cứu của Woodside: “Early Ming expansionism (1406-1427): China‟s abortive conquest of Vietnam” (1963) [132] đánh giá sự xâm lược và thống trị của triều Minh ở Đại Việt là một quá trình cai trị nửa vời không mang đem lại hiệu quả ở phương Nam Luận văn của Nguyễn Nhật Linh:
“Nhận thức của triều đình Triều Tiên về cuộc chiến tranh Minh Việt
(1406-1407) – nền tảng của sự xác lập chính sách Sự đại” (2013) [135] nghiên cứu
về những thông tin và nhận thức mà sứ giả và triều đình Joseon có được về nguồn gốc, diễn biến và những hệ quả của cuộc chiến tranh Minh Việt và sự phản ánh của nhận thức đó trong việc người Triều Tiên xây dựng chính sách
Sự đại – với nội dung cơ bản là thực hiện nghiêm cẩn những lễ nghi và quy
tắc trong hoạt động triều cống và bang giao với Trung Hoa để duy trì quan hệ hòa bình và giữ vững nền độc lập; bài viết của Sun Lai Chen "Chinese Gunpowder Technology and Đại Việt, ca 1390-1497" (2006) [113] cũng đề cập đến vấn đề này khi đặt nó trong mối liên hệ giữa hai nước đối với kỹ thuật thuốc súng
Chuyên khảo của John Whitmore Vietnam, Ho Quy Ly and the Ming
(1371 – 1421) (1985) [128] là một nghiên cứu quan trọng, trong đó ông đã
làm rõ về những diễn biến trong ngoại giao Minh - Đại Việt kể từ sau khi mối quan hệ này được thiết lập (năm 1368-1369), sự suy tàn của triều Trần và hưng khởi của họ Hồ trong bối cảnh Đại Việt cuối thế kỷ XIV Cuốn sách cũng khảo cứu chi tiết về diễn biến của cuộc chiến tranh (1406-1407) và quá trình cai trị của triều Minh ở Đại Việt với nhiều chính sách khai thác và bóc lột kinh tế, hủy diệt và đồng hóa văn hóa, gây ra nhiều biến đổi với xã hội và nền văn hóa Đại Việt từ khoảng nửa đầu thế kỷ XV
Trang 28Những năm gần đây, lịch sử quan hệ ngoại giao Minh – Đại Việt thu hút nhiều sự chú ý của học giá quốc tế trên các khía cạnh chiến tranh và biên giới lãnh thổ Chẳng hạn, luận văn của Alexander Ong Eng Ann “Of wei 威 and de 德: Revisiting the Yongle emperor's military and cultural offensives in Vietnam, 1406-1427” (2004) [78] trực tiếp đặt vấn đề về sự xâm lược và thời
kỳ thống trị của vương triều Minh tại Việt Nam từ góc độ quân sự và văn hóa
để làm rõ các vấn đề về “uy” và “đức” mà Minh Thành Tổ tuyên bố khởi binh chinh phạt triều Hồ Luận văn nghiên cứu cả về sự xây dựng chính sách ngoại giao của nhà Minh với Đại Việt cuối thế kỷ XIV, chính sách thời Minh Thành
Tổ, xem xét những nguyên nhân của cuộc chiến tranh xuất phát từ sự khác biệt tư tưởng và văn hóa giữa vương triều Hồ với Trung Hoa và những ảnh hưởng văn hóa của Trung Quốc với Việt Nam trong thời thuộc Minh Trong
nghiên cứu của tác giả Kathlene Baldanza Ming China and Vietnam:
Negotiating Borders in Early Modern Asia (2016) [79], lịch sử biên giới
chính trị giữa hai quốc gia trong suốt lịch sử vương triều Minh được trình bày Công trình này đã đề cập tới cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt như một phần trong sự bành trướng của Trung Quốc, tham vọng của Minh Thành Tổ ở Đông Nam Á và chính sách đối ngoại của triều Minh đầu thế kỷ XV Tác giả đã tiếp cận cuộc chiến xâm lược và sự diệt vong của nước
Đại Việt thông qua nghiên cứu tác phẩm Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên
Trừng để cho thấy thân phận của một người Nam mất nước, niềm hoài vọng
về thời huy hoàng Đại Việt, giấc mơ về gia đình và lòng trung thành Nghiên cứu này cũng đồng thời cho thấy sự phân biệt, đối sánh và tương quan giữa hai quốc gia, chính thể và thế lực giữa phương Nam và phương Bắc
Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều nghiên cứu theo khuynh hướng tiếp cận các mối quan hệ nhiều chiều, so sánh và đặt lịch sử các quốc gia Đông Á trong tương quan Chẳng hạn, tác giả Kim Bongjin trong nghiên cứu “The Korean semi-tribute (Kyorin) system and it collapse” và Nguyễn Nhật Linh trong “Joseon‟s Understanding of Ming – Viet relation in the early of 15th
century” đề cập tới chính sách Sự đại và Giao lân của của triều đình Triều
Tiên trong quan hệ với Trung Quốc trong so sánh vơi Đại Việt và chịu ảnh hưởng từ những nhận thức về cuộc chiến tranh Minh – Việt (1406-1407) Tương tự, nghiên cứu của tác giả Sixiang Wang “Sovereignty contention and
Trang 29dynamics of ritual and knowledge: diplomacy in early modern Korea, Vietnam and China” phân tích những lễ nghi và hoạt động ngoại giao để xem xét mối liên hệ giữa vấn đề chủ quyền trong thực tế với chủ quyền/phụ thuộc trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước “chư hầu”12
1.3 Những thành tựu đạt đƣợc và một số vấn đề cần giải quyết
Những nghiên cứu của các học giả Việt Nam và quốc tế đã đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu trên một số phương diện như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu có nhiều thành tựu về khai thác và sử dụng tư liệu Tổng thể các nghiên cứu cho thấy những nguồn tư liệu khai thác được rất
đa dạng, trong đó nguồn tư liệu được khai thác nhiều nhất là các nguồn chính
sử Các nguồn quan trọng như Minh thực lục đã được biên dịch sang tiếng
Việt (phần liên quan tới lịch sử Việt Nam, dịch giả Hồ Bạch Thảo dịch) và tiếng Anh (phần liên quan tới các nước Đông Nam Á) Các tư liệu lịch sử của Việt Nam phần lớn cũng được biên dịch sang chữ Quốc Ngữ Đó chính là điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, tham khảo và nhận thức về các vấn đề liên quan đến luận án
Bên cạnh đó, phần lớn các nghiên cứu liên quan đến cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt, lịch sử vương triều Minh, vương triều Trần và Hồ đều khai thác các nguồn tư liệu thư tịch cổ ở mức độ nhất định Những công trình nghiên cứu dựa trên tư liệu thư tịch như vậy cho mức độ tin cậy cao và cung cấp các quan điểm từ những cách tiệp cận khác nhau với vấn
đề nghiên cứu, là những thành tựu nghiên cứu rất có giá trị
Thứ hai, các công trình nghiên cứu nói trên có nhiều đóng góp về phương pháp luận Ngoài việc sử dụng các phương pháp và các tiếp cận truyền thống của khoa học lịch sử, nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế đã
có nhiều đóng góp về lý thuyết trong việc xây dựng các mô hình, và kết luận
về quy luật phát triển của Trung Quốc, Việt Nam và Đông Á trong lịch sử
12 Kim Bongjin (2017), “The Korean semi-tribute (Kyorin) system and it collapse” & Nguyễn Nhật Linh,
“Joseon‟s Understanding of Ming – Viet relation in the early of 15 th century” & Sixiang Wang “Sovereignty contention and dynamics of ritual and knowledge: diplomacy in early modern Korea, Vietnam and China”,
trong Hội thảo Quốc tế Vietnam and Korea as "Longue Durée" Subject of Comparison: From the
Pre-modern to the Early Modern Periods, Vietnam National Unversity, Hanoi
Trang 30thời tiền cận đại Nổi bật trong những đóng góp này là các công trình nghiên cứu về trật tự thế giới Trung Hoa, quan hệ triều cống, sự bành trướng của người Trung Quốc, và lịch sử quan hệ ngoại giao Trung Quốc, Việt Nam Có thể nói, nhiều trong số các công trình nói trên của các tác giả Fairbank, Wang Gungwu, Li Zhaojie… dựa trên tư tưởng coi Trung Hoa là trung tâm để nghiên cứu lịch sử quan hệ ngoại giao khu vực và nhấn mạnh vai trò và ảnh hưởng của Trung Quốc Phương pháp tiếp cận như vậy có ưu thế trong việc tìm kiếm những nguyên nhân của biến động chính trị giữa Trung Quốc với Đại Việt dựa trên những nguyên nhân nội tại của Trung Quốc và những quy luật, tư tưởng truyền thống chi phối tư duy của những người cai trị Trung Quốc Ngoài ra, các nghiên cứu đa dạng về lịch sử Trung Quốc và Đông Nam
Á thời gian này có nhiều thành tựu trong việc xem xét các vấn đề chính trị và lịch sử ngoại giao trong các mối liên hệ với kinh tế, thương mại và văn hóa
Thứ ba, những nghiên cứu trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho nhận thức lịch sử Những đóng góp cơ bản về nhận thức lịch sử là trên các phương diện lịch sử Trung Quốc, Việt Nam và quan hệ hai nước, lịch sử Đông Bắc Á, Đông Nam Á, quá trình thống trị, khai thác và bóc lột của triều Minh ở Đại Việt các vấn đề về tư tưởng truyền thống Trung Quốc, một số ảnh hưởng văn hóa, tư tưởng, chính trị của Trung Quốc ở Việt Nam từ thế kỷ XV
về sau Đối với đề tài nghiên cứu của chúng tôi, thành tựu nổi bật của những nghiên cứu đã có là việc chỉ ra nhiều nhân tố tư tưởng và truyền thống của Trung Quốc và Việt Nam ảnh hưởng tới lịch sử đầu thế kỷ XV, những quy luật về quan hệ Trung Quốc với các láng giềng được mô hình hóa và những ảnh hưởng của bối cảnh khu vực tới lịch sử ngoại giao hai nước
Mặc dù những công trình của các học giả trong nước và quốc tế đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng theo chúng tôi, việc nghiên cứu vấn đề cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Đại Việt đầu thế kỷ XV vẫn còn một
số vấn đề được đặt ra như sau:
Thứ nhất, trong khai thác tư liệu, mặc dù các nguồn tư liệu thư tịch đã được sử dụng nhiều trong nghiên cứu nhưng hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận và ý kiến bất đồng về tính chính xác và mưc độ đáng tin cậy, hơn kém
của các nguồn tài liệu (chẳng hạn như nguồn Minh thực lục và Việt kiệu thư
có nhiều thông tin khác nhau) Điều đó đặt ra vấn đề về việc phải sử dụng
Trang 31nhiều nguồn tài liệu, so sánh đối chiếu để tìm kiếm nguồn đáng tin cậy nhất
và có được nhận thức khách quan, trung thực Thêm vào đó, việc sử dụng các thư tịch không chỉ của Việt Nam, Trung Quốc mà cả các quốc gia khác ở Đông Á có thể cho phép phục dựng nhận thức tổng thể hơn về lịch sử Việt Nam, Trung Quốc trong bối cảnh Đông Á nói chung
Thứ hai, về phương pháp tiếp cận, mặc dù nhiều lý thuyết, mô hình về quan hệ Trung Quốc với các nước láng giềng đã được xây dựng, tôi cho rằng nhiều trong số các lý thuyết ấy dựa trên quan điểm lấy Trung Hoa làm trung tâm, coi những vấn đề của lịch sử Trung Quốc là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các biến động lịch sử khu vực, hay đặt vấn đề tính ưu việt của nền văn hóa, tư tưởng và kinh tế Trung Quốc là nhân tố quan trọng ảnh hưởng không chỉ tới lịch sử Trung Quốc mà cả các láng giềng Theo tôi, cách nhìn nhận như vậy là chưa đầy đủ và không cho thấy hết được những tác động nhiều chiều giữa các quốc gia ở Đông Á Thêm vào đó, dù hiện nay xuất hiện nhiều công trình về lịch sử ngoại giao Trung Quốc với Đông Bắc Á, Trung Quốc với Đông Nam Á nhưng những công trình về mối liên hệ giữa 3 đối tượng này gần như chưa xuất hiện, việc nghiên cứu về tiếp cận những tác động lịch sử của một đối tượng (ngoài Trung Quốc) với các đối tượng khác chưa được quan tâm đến
Do vậy, thứ ba, về nhận thức lịch sử, gần như không có công trình nào
đề cập đến những ảnh hưởng của các sự kiện xảy ra ở Việt Nam đầu thế kỷ
XV với khu vực Đông Bắc Á Những công trình và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài thường chỉ trình bày về cuộc chiến tranh và sự xâm lược của Trung Quốc ở Đại Việt một cách ngắn gọn với tư cách là một trong những chuỗi sự kiện trong lịch sử hai nước Một số công trình lại chỉ xem xét cuộc chiến tranh này từ một khía cạnh cụ thể mà tác giả các công trình đó quan tâm hoặc trình bày một cách tản mạn về vấn đề này Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào thực sự đặt cuộc chiến tranh này trong những mối liên hệ của
nó với tình hình chính trị, kinh tế của Đông Á vào khoảng đầu thế kỷ XV Mối liên hệ trực tiếp sớm giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Bắc Á mới được nghiên cứu ở mức độ hạn chế Chẳng hạn, trong quan hệ Việt Nam – Triều Tiên, mối liên hệ được nhắc tới sớm nhất là vào giữa thế kỷ XVI (xướng họa thơ văn Phùng Khắc Khoan, Lý Túy Quang) [135a] Vì thế, tôi
Trang 32cho rằng việc sử dụng tư liệu của cả các quốc gia Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài là cuộc chiến tranh xâm lược năm 1406 dựa trên bối cảnh của toàn khu vực và những tác động ngược lại của cuộc chiến tranh ấy là cần thiết để có nhận thức khách quan và tổng thể về sự kiện này nói riêng và về mối liên hệ sớm giữa các quốc gia trong khu vực nói chung
Vì những nhận thức như vậy, đề tài luận án của tôi có mục đích là tái hiện một cách khác quan, chân thực quá trình chuyển biến của mối quan hệ Minh – Việt trong những năm đầu thế kỷ XV, những nguyên nhân và tiền đề dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược của triều Minh ở Việt Nam, nghiên cứu sự hình thành và quá trình chuyến biến trong quan hệ ngoại giao giữa triều Minh với các nước láng giềng và những vấn đề của lịch sử Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XV và những ảnh hưởng dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược năm 1406-1407, từ đó làm rõ những âm mưu và mục đích của triều Minh trong sự xâm lược Đại Việt Đồng thười, một trong những mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm giải đáp vấn đề về mức độ ảnh hưởng của cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt đối với lịch sử Trung Quốc, lịch sử Việt Nam và lịch sử một số quốc gia ở Đông Á trong những năm đầu thế kỷ XV
Trang 33Chương 2
BỐI CẢNH ĐÔNG Á VÀ QUAN HỆ GIỮA TRIỀU MINH
VỚI ĐẠI VIỆT CUỐI THẾ KỶ XIV –ĐẦU THẾ KỶ XV
2.1 Bối cảnh Đông Á cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV
2.1.1 Các nước Đông Á cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV
Nửa cuối thế kỷ XIV và những năm đầu thế kỷ XV là thời gian ở Đông
Á có nhiều biến động lớn về chính trị, kinh tế và văn hóa Sự hưng khởi và suy vong của các triều đại và quốc gia cũng như hình thành và sự trỗi dậy mạnh mẽ của những thế lực chính trị, quân sự, kinh tế hùng mạnh và các mối liên hệ trong kỷ nguyên thương mại đã tạo ra thời đoạn sôi động của lịch sử Đông Á, lôi cuốn tất cả các quốc gia trong khu vực dự nhập vào các mối quan
hệ phức tạp về ngoại giao, các quan hệ buôn bán, giao lưu văn hóa, các cuộc chiến tranh và xung đột Quan hệ Minh – Đại Việt là một phần và chịu tác động không nhỏ từ bối cảnh chung ấy
Một biến động lớn và quan trọng của lịch sử Đông Á trong nửa cuối thế
kỷ XIV là sự diệt vong của đế quốc Nguyên (1271–1368) ở Trung Quốc, kéo theo sự suy yếu và biến mất của thế lực và ảnh hưởng của người Mông Cổ trong khu vực, thay vào đó là sự tái lập những ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ
từ vương triều Minh của người Hán Trong thế kỷ XIII, các nước Đông Á đều chịu sức ép từ các cuộc chiến tranh xâm lược của người Mông Cổ Sự suy giảm sức mạnh và ảnh hưởng của người Mông Cổ ở Đông Á đã là một nền tảng quan trọng để các quốc gia trong khu vực khôi phục nền độc lập hoặc nâng cao sự tự chủ của mình trong các quan hệ ngoại giao
Một trường hợp điển hình đã thoát khỏi sức ảnh hưởng và sự chi phối nặng nề của đế quốc Nguyên là nước Goryeo (Cao Ly) Từ năm 1231, sau những rạn nứt trong quan hệ ngoại giao, Mông Cổ tiến hành xâm lược Goryeo
và gặp phải sự kháng cự quyết liệt của Goryeo Trong suốt gần 30 năm sau
đó, quân Mông Cổ đã 6 lần tấn công Goryeo, buộc triều đình Goryeo phải dời
đô về Gwanghwa Trong các cuộc tấn công của mình, người Mông Cổ đã tàn phá nền kinh tế của Goryeo, bắt và tàn sát dân Goryeo và phá hủy nhiều công
Trang 34trình văn hóa ở đây Sức kháng chiến của Goryeo ngày càng suy giảm; chính trị, kinh tế, xã hội lâm vào khủng hoảng Hệ quả là từ năm 1259, triều đình Goryeo phải đề nghị thiết lập hòa bình với Mông Cổ và trở thành nước phụ thuộc, chịu ảnh hưởng và sự can thiệt nặng nề của người Mông Cổ13 Chỉ tới nửa sau thế kỷ XIV, khi đế quốc Mông Cổ suy yếu, Goryeo mới dần thoát khỏi sự chi phối và can thiệp đó Dưới thời vua Gongmin (1351 – 1374), lãnh chúa Yi Ja-chun14 – một thiên hộ trưởng ở Ssangseong (Song Thành), bấy giờ nằm dưới sự thống trị của đế quốc Nguyên do Goryeo phải cắt đất xưng thần – đã đánh tan đạo quân Nguyên tại Enhin vào năm 1359, chỗ dựa chủ yếu của người Nguyên tại Goryeo, đem Shuangcheng trở lại với lãnh thổ của Goryeo
Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng, mở đầu cho việc Goryeo ngày càng thoát khỏi những ảnh hưởng của triều Nguyên Sau khi triều Minh thành lập vào năm 1368, vua Gongmin đã tuyên bố Goryeo không còn lệ thuộc Mông Cổ,
đề ra chính sách thân Minh, và tiến hành nhiều cuộc cải cách để xóa bỏ những ảnh hưởng và tàn dư của Mông Cổ [3, tr 156-159 &169-172]
Sự thành lập của triều Minh cũng mang lại những chuyển biến trong quan hệ giữa Trung Quốc với Nhật Bản Từ nửa cuối thế kỷ XIII, hai cuộc chiến tranh xâm lược Nhật Bản của triều Nguyên đã tạo ra trạng thái tương đối căng thẳng giữa hai nước và giữa Nhật Bản với Goryeo Từ năm 1266, Kublai (Hốt Tất Liệt) đã cử nhiều sứ giả sang Nhật Bản yêu cầu Nhật Bản xưng thần, và đe dọa dùng quân sự chinh phạt15
Bên cạnh đó, quan hệ giữa
13
Về chính trị, Goryeo buộc phải phục tùng Mông Cổ Sau khi vương triều Nguyên thành lập, Goryeo phải xưng thần, trở thành chư hầu của nhà Nguyên, chịu can thiệp và chi phối nặng nề của nhà Nguyên Nhà Nguyên đã buộc Goryeo phải tham gia vào hai cuộc tấn công xâm lược Nhật Bản (năm 1274 và 1281) Hai cuộc chiến tranh thất bạn càng làm suy giảm thực lực của Goryeo khiến họ gần như mất đi quyền tự chủ Các hoàng tử của Goryeo phải làm con tin ở Bắc Kinh cho tới khi kế vị; thậm chí ngay cả khi lên ngôi, vẫn bị giữ lại ở triều Nguyên làm con tin Các vua Goryeo buộc phải kết hôn với con gái của vua Nguyên, trở thành con
rể của nhà Nguyên Triều Nguyên thậm chí còn có phế truất vua Goryeo hay chỉ định người kế vị Goryeo
14
Yi Ja-chun (1315 – 1361) là một thiên hộ trưởng ở châu Ssangseong, vùng đất của Goryeo do người Mông
Cổ năm giữ và thống trị Dù là người Goryeo nhưng Yi Ja-chun giữ một chức quan nhỏ được phong bởi nhà Nguyên Năm 1359, ông dùng quân đội dưới quyền mình chống lại nhà Nguyên, đánh bại quân Mông Cổ ở Ssangseong Sự kiện này có ý nghĩa to lớn với quá trình Goryeo kháng chiến chống Nguyên nói riêng và với lịch sử Triều Tiên nói chung Khi Yi Ja-chun đưa Ssangseong trở lại thành một bộ phận của Goryeo, ông được vua Gongmin ban tước và phong ông là vạn hộ trưởng (người cai quản, ăn lộc vạn hộ) Đây là sự khởi đầu của thế lực dòng học Yi (Lý) trong lịch sử Triều Tiên Con trai Yi Ja-chung là Yi Song-Gye (Lý Thành Quế) đã nhân sự suy yếu của Goryeo, xây dựng vương triều Joseon từ năm 1392
15 Một bức thư gửi bởi triều Nguyên vào tháng 8 năm 1266 và tới Nhật Bản vào tháng 1 năm 1268 đã có tuyên bố về cách đế quốc Nguyên duy trì quan hệ với Goryeo, chỉ rõ mối quan hệ chủ - thần giữa triều Nguyên với Goryeo giống như quan hệ “cha-con” và Goryeo là “chư hầu phía Đông” của Mông Cổ Bức thư này yêu cầu Nhật Bản thiết lập quan hệ tương tự hoặc đe dọa sử dụng chiến tranh
Trang 35triều Nguyên với Nhật Bản còn thông qua trung gian là Goryeo Phái đoàn của Goryeo tới Mạc phủ Kamakura và sau đó tới triều đình Kyoto đã mang thư với nội dung tương tự từ Goryeo và từ triều Nguyên Dù vậy, Mạc phủ đã
từ chối hồi đáp [99, tr 414-420] Do không nhận được sự phản hồi, triều Nguyên dùng quân đội bao gồm người Mông Cổ, người Goryeo, người Nữ Chân và người Trung Quốc tấn công Nhật Bản Mặc dù thất bại trong hai cuộc tấn công xâm lược Nhật Bản trong những năm 1274 và năm 1281, nhà Nguyên vẫn có những chuẩn bị cho cuộc chinh phạt lần thứ ba để ép Nhật Bản đầu hàng Quan hệ giữa Nhật Bản với triều Nguyên và Goryeo vẫn căng thẳng cho tới tận nửa sau thế kỷ XIV Chỉ sau khi triều Minh thành lập, quan
hệ giữa Nhật Bản với Trung Quốc mới được nối lại và được giữ ở mức tương đối hòa bình Điều này đồng thời là cơ sở cho sự phát triển trở lại giữa các quan hệ buôn bán giữa hai nước vốn trước đây bị ngăn trở bởi những vấn đề ngoại giao16
Những hiện tượng tương tự xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á Ngoài
ba lần tấn công Đại Việt thất bại, những cuộc chiến tranh xâm lược khác của triều Nguyên ở Đông Nam Á đã dẫn đến những chuyển biến quan trọng trong khu vực Chẳng hạn, đồng thời với việc xâm lược Đại Việt, quân Nguyên đã vượt biển tấn công Champa vào năm 1282, và chỉ rút về nước vào năm 1285 Trong năm 1283 và năm 1287, triều Nguyên cũng hai lần đưa quân tiến đánh
và tiêu diệt Pagan, đặt cơ sở cho sự mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á lục địa và mở đường đánh xuống vùng hải đảo Những cuộc tấn công của triều Nguyên vào các vương quốc của người Thái (những năm 1292-1293 và 1301-1302) và vương quốc Singosari (năm 1292 – 1293) cũng dẫn đến những xáo trộn trong tình hình kinh tế, chính trị của khu vực Sau sự diệt vong của Pagan, một số quốc gia của người Thái cũng được hình thành để đối địch với thế lực Mông Cổ, nổi bật trong số đó là quốc gia Sukhothai hùng mạnh ở Đông Nam Á lục địa Những thế lực đó của người Thái cũng đồng thời làm suy giảm sức mạnh của người Khmer Họ đã nhân cơ hội đó kiểm soát toàn
bộ lưu vực Chaophraya và thượng nguồn sông Mekong, dẫn tới sự thu hẹp
16 Minh Thái Tổ sau khi lên ngôi đã gửi phái đoàn tới Nhật Bản, tuy nhiên phái đoàn này đã bị bắt và giết bởi cướp biển người Nhật Sứ đoàn thứ hai sang Nhật Bản cũng bị từ chối và bị giết bởi lãnh chúa Kaneyoshi của Nam triều (có lẽ vì bị hiểu lầm là sứ giả của triều Nguyên) Kaneyoshi chỉ chấp nhận thần thuộc và triều cống triều Minh sau khi phái đoàn lần thứ ba (tháng 3 năm 1370) được cử sang chiêu dụ Nhật Bản [15a & 99, tr 324-325]
Trang 36lãnh thổ, ảnh hưởng và sự mất ổn định của vương quốc Angkor [116, tr 163] Những ảnh hưởng của triều Nguyên cũng là một tác nhân dẫn tới sự sụp
162-đổ của Singosari và sự ra đời của Majapahit Dù vậy, trong suốt nửa sau thế
kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV, sự đề phòng và đối đầu của các quốc gia Đông Nam Á với triều Nguyên vẫn là khuynh hướng chủ yếu trong quan hệ ngoại giao thời kỳ này Sự hình thành của vương triều Minh đã là một nhân tố chủ đạo chấm dứt xu hướng đó, mở ra thời kỳ mà những quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc với Đông Nam Á được duy trì trong nửa cuối thế kỷ XIV
Thời gian cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV còn là khi những mối giao lưu thương mại và văn hóa ở Đông Á trở nên nhộn nhịp Trong thế kỷ XIII, bất chấp cuộc chiến tranh giữa triều Nguyên (và chư hầu Goryeo) với Nhật Bản, nhiều lãnh chúa Nhật Bản vẫn tiến hành buôn bán riêng với Goryeo Các thương thuyền Nhật Bản cũng duy trì tiến hành buôn bán với Trung Quốc Dù vậy, vương triều Nguyên do muốn kìm hãm thương mại của người Nhật, đã
có thái độ cứng rắn với các thuyền buôn của từ Nhật Bản Phản ứng lại hiện tượng đó, người Nhật đã tự vũ trang để gây sức ép với triều Nguyên để tránh việc bị quan lại triều Nguyên bắt giữ và hành quyết và để duy trì sự buôn bán của mình Các toán cướp biển người Nhật cũng tiếp tục tấn công vào Trung Quốc Sự thành lập của vương triều Minh đã đặt cơ sở trở lại cho sự giao lưu
ở khu vực Đông Á Bên cạnh sự thiết lập ngoại giao với triều Minh, Nhật Bản cũng có mối xây dựng quan hệ hòa bình hơn với Goryeo Vào tháng 2 năm
1375, khi vua Goryeo gửi sứ giả yêu cầu Nhật Bản ngăn chặn bọn cướp biển, chính quyền của mạc phủ Muromachi đã đáp lễ bằng cách gửi sứ đoàn tới Goryeo, mang theo tặng phẩm là vải nhuộm, màn gấp có vẽ hình, kiếm dài, bình rượu và các tặng phẩm khác [99, tr 427]
Ở Đông Nam Á, sau “kỷ nguyên thương mại sớm (900-1300)”, thương mại Đông Nam Á cuối thế kỷ XIV trở nên nhộn nhịp [112, tr 28-36]; [98, tr 325-342] Trong thời kỳ này, có nhiều thế lực mạnh về thương mại đã trỗi dậy Sự buôn bán các mặt hàng, trong đó có gia vị và hương liệu và gốm sứ
đã tạo điều kiện cho nhiều quốc gia mở rộng sự giao lưu thương mại của mình Sự buôn bán giữa lục địa và hải đảo kích thích sự hình thành của các mạng lưới buôn bán giữa các trung tâm chính trị - kinh tế với các vùng và các cảng thị Các quốc gia như Đại Việt, Champa, Angkor, Majapahit… đều tham
Trang 37gia mạnh mẽ vào các mối quan hệ giao lưu và buôn bán ấy Đặc biệt, trong thời kỳ này, cùng với sự tham gia của thương nhân Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á, các thương nhân Hồi giáo đã góp phần tạo nên những mối liên
hệ chặt chẽ về thương mại giữa Trung Quốc, Đông Nam Á với Ấn Độ và Tây
để năm lấy quyền lực chính trị và quân sự, phế truất vua Gongyang của Goryeo, tiến tới thành lập vương triều Joseon vào năm 1392 Thời gian từ
1336 tới 1392 cũng là thời kỳ Nam Bắc triều trong lịch sử Nhật Bản với sự chi phối cuộc chiến tranh giữa Bắc triều là mạc phủ Muromachi ở Kyoto và Thiên hoàng Nam triều ở Yoshino Từ năm 1392, sau khi Thiên hoàng Nam triều Go-Kameyama (1383-1392) thoái vị, lịch sử Nhật Bản chuyển sang thời
kỳ Chiến Quốc với các cuộc xung đột quân sự liên tục cho tới tận giữa thế kỷ XVI [15a]
Ở Đông Nam Á, ngoài sự hưng thịnh của các quốc gia Ayutthaya, Majapahit, Vijaya và Angkor, lịch sử Đại Việt cũng có những biến động lớn Vương triều Trần sau thịnh thế trong thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV bắt đầu suy yếu từ nửa cuối thế kỷ XIV Do sự suy yếu của nền kinh tế, những xung đột trong nội bộ chính quyền, nạn quyền thần và sự suy trị của triều đình, Đại Việt rơi vào tình trạng rối loạn về kinh tế và chính trị Trong bối cảnh đó, Hồ Quý Ly đã dựa vào việc xây dựng được chỗ dựa, đồng minh trong triều đình và khắp mọi nơi, ngày càng chi phối quyền lực trong nước
17 Các thương nhân Hồi giáo được cho là đã tới Đông Á từ thế kỷ VII Tuy vậy, chỉ đến thế kỷ XIV-XV, Hồi giáo và các thương nhân người Hồi mới thực sự thể hiện rõ nét vai trò của mình trong cả thương mại và chính trị ở Đông Nam Á, tạo ra sự kết nối giữa nhiều trung tâm thương mại và chính trị của người Hồi giáo trong khu vực và với Tây Á
Trang 38Cho tới năm 1400, ông phế ngôi Trần Huệ Đế, lập ra vương triều Hồ, tiến hành nhiều chính sách về kinh tế, xã hội và văn hóa
Có thể nói, sự thịnh suy của các thể chế, quốc gia, vương triều, các mối quan hệ nhộn nhịp về kinh tế, văn hóa chính là bối cảnh chung của Đông Á cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, trong đó các mối quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị của triều Minh với các nước Đông Á nói chung và với Đại Việt nói riêng là một bộ phận của nó Các mối quan hệ đó vừa chịu ảnh hưởng của bối cảnh chung ấy, đồng thời cũng để lại những dấu ấn trong lịch sử Đông Á trong thời gian này
2.1.2 Vương triều Minh và chính sách đối ngoại với Đông Á
2.1.2.1 Sự hưng khởi của vương triều Minh
Một trong những nhân tố quan trọng nhất của bối cảnh Đông Á nửa cuối thế kỷ XIV là sự thiết lập của vương triều Minh Sau chiến thắng trong cuộc khởi nghĩa lật đổ vương triều Nguyên và đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Quốc18, Chu Nguyên Chương sáng lập triều đại Minh, lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Vũ, mở ra một thời kỳ phát triển cường thịnh của lịch sử Trung Quốc Sau khi lên ngôi, ông tiến hành nhiều chính sách cải cách để phát triển kinh tế, xây dựng bộ máy trung ương tập quyền, thủ tiêu các thế lực cát cứ và tiếp tục tiêu diệt các lực lượng còn lại của vương triều Nguyên Nhờ việc thi hành nhiều chính sách khoan thư sức dân, phát triển kinh tế và khắc phục hậu quả của 20 năm chiến tranh chống Mông Cổ, triều Minh đã tạo điều kiện cho nông dân Trung Quốc khai khẩn đất hoang, phát triển thủy lợi, trồng trọt sản xuất Kinh tế Trung Quốc cũng có sự phát triển
18 Từ cuối thế kỷ XV, sự thành lập và thống trị của vương triều Nguyên với nhiều chính sách áp bức và nô dịch người Hán đã làm dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó cuộc khởi nghĩa lớn và có ảnh hưởng mạnh
mẽ nhất là do Chu Nguyên Chương lãnh đạo Chu Nguyên Chương tham gia vào một cuộc khởi nghĩa từ năm
1352 và sau đó nhanh chóng trở thành người lãnh đao, xây dựng lực lượng của bản thân Lực lượng của ông
đã gia nhập với quân khởi nghĩa của Hồng Cân (người đứng đầu lực lượng khởi nghĩa của một vài tôn giáo ở Trung Quốc bấy giờ), nhưng sau đó lực lượng của Hồng Cân bị phân tán nhanh chóng Chu Nguyên Chương sau khi giành được nhiều thăng lợi bằng việc chiếm đóng Kim Lăng (1356), tăng cường tiềm lực và nhân số của quân đội, đã tự mình trở thành thế lực lớn nhất chống đối quân Mông Cổ Trong những năm 1360, Chu Nguyên Chương làm căn cứ địa, từ đó liên tiếp giành được thắng lợi Đến năm 1367, ông đã kiểm soát gần như toàn bộ các vùng đất ở lưu vực sông Dương Tử, nhanh chóng thống nhất toàn bộ các lực lượng khác trong khu vực này Đầu năm 1368, ông xưng đế, lập ra nhà Minh, lấy niên hiệu là Hồng Vũ, định đô ở Nam Kinh, tiếp tục tiến hành bắc phạt với mục đích đẩy lui toàn bộ người Mông Cổ khỏi lãnh thổ Trung Quốc [119, tr.68-100]
Trang 39mạnh mẽ trong công thương nghiệp với nhiều công trường thủ công có quy
mô sản xuất lớn và trình độ chuyên môn hóa cao Thủ công nghiệp cũng có nhiều tiến bộ trong các ngành luyện sắt, dệt lụa hay làm gốm sứ Nghề đóng thuyền của Trung Quốc vốn phát triển từ rất sớm, đến thời Minh đã có những bước tiến lớn Người Trung Quốc đã đóng được những loại thuyền lớn dùng cho hàng hải Thư tịch của Trung Quốc có ghi chép việc những con thuyền trong chuyến viễn du của Trịnh Hòa vào đầu thế kỷ XV nặng tới 1500 tấn, dài 44 trượng19
, rộng 18 trượng với 9 cột buồm và 12 cánh buồm Do những chính sách cải cách và phát triển kinh tế, củng cố bộ máy quan liêu và hệ thống chính quyền, từ năm 1371 đến năm 1380, vương triều Minh đã xác lập lại sự thống nhất, ổn định và nền tảng kinh tế vững chắc
Từ khi lên ngôi, Minh Thái Tổ đã rất chú ý xây dựng nhà nước tập quyền mạnh Ông ban ruộng đất cho nhiều công thần, lập ra quốc tử giám ở trung ương và các trường học ở địa phương, đào tạo tầng lớp đại địa chủ và tầng lớp trí thức làm chỗ dựa cho vương triều Triều Minh tiến hành nhiều biện pháp cải cách hành chính, thiết lập nên hệ thống quận huyện mới với việc chia đất nước thành 12 quận thay cho hệ thống hành chính cũ thời Nguyên và cử quan tổng đốc cai quản các quận [134, tr.1-21]
Minh Thái Tổ cũng khôi phục nhiều truyền thống văn hóa của người Trung Quốc, hệ thống hóa lại nghi lễ và tư tưởng, quan niệm của người Trung
Quốc về Thiên hạ, về người Hoa và các dân tộc xung quanh Các tế lễ Trời
Đất của triều đình, tế lễ mùa màng, cây cỏ truyền thống của người Trung Quốc được tổ chức thường xuyên Những điều đó không chỉ góp phần phục dựng truyền thống văn hóa của Trung Quốc mà còn giúp tạo dựng nên tạo nên niềm tin của người Trung Quốc bấy giờ về mối liên hệ của vương triều với sứ mệnh cai trị thiêng liêng được “Thiên mệnh phó thác” [120, tr 125-139]
Từ những năm 1370, Minh Thái Tổ cũng đã tiến hành xây dựng hệ thống quân đội mạnh và ổn định của vương triều dựa trên lực lượng quân đội
đã có từ trước và biến đó thành lực lượng đòn trú các địa phương.Triều đình ban hành nhiều chính sách để các đơn vị quân đội tự sản xuất và tự cấp nhu yếu phẩm dựa trên hệ thống ruộng đất công dành cho quân đội Ở các tỉnh,
19 1 trượng bằng khoảng 330 cm
Trang 40chính quyền địa phương sử dụng quân đội để thực hiện cả các chức năng phòng thủ cũng như nhiều hoạt động dân sự Các tướng lĩnh nắm các lực lượng quân đội cũng được Minh Thái Tổ ban tước vị, trở thành lực lượng quý tộc và được triều đình cho phép thế tập Ông cũng cho quân đội tiến hành khai hoang, lập đồn điền duy trì cung ứng Lực lượng quân sự mạnh và ổn định đã giúp triều Minh không chỉ đủ sức đương đầu với quân Mông Cổ ở phía Bắc,
mà cả ở phía Tây và phía Nam, triều Minh cũng đã mở rộng được những ảnh hưởng của mình Trong những năm 1380, vùng Vân Nam và Tứ Xuyên cũng
đã nằm trong sự kiểm soát của nhà Minh [120, tr 106]
Đầu thế kỷ XV, thời kỳ trị vì của Minh Thành Tổ (1403-1424) được coi
là một giai đoạn phát triển hưng thịnh của vương triều Minh Cùng với sự xây dựng bộ máy trung ương tập quyền mạnh, ông thiết lập một bộ máy chính quyền hoàn bị ở các địa phương dựa trên việc tuyển chọn các quan lại được đào tạo bài bản, và kế thừa hệ thống quản lý ổn định và vững chắc dựa vào sự duy trì trên diện rộng các lực lượng quân đội Ngoài việc xây dựng bộ máy quan liêu, Minh Thành Tổ đã tiến hành cải tổ gần như tất cả bộ máy hành chính và quân đội Việc tiến hành cải tổ song song cả bộ máy chính quyền và quân đội đã giúp vương triều Minh trở nên ổn định và vững chắc, tiếp theo đó đạt được nhiều thắng lợi trong cả sự mở rộng bằng ảnh hưởng chính trị, quân
sự và thương mại ở phía Nam, trong cuộc chiến tranh chống quân Mông Cổ
và cả trong cuộc chiến xâm lược Đại Việt năm 1406-1407 Cũng năm 1406, không chỉ phát động chiến tranh với Đại Việt, Minh Thành Tổ đã ra lệnh xây dựng thành Bắc Kinh, chuẩn bị cho việc dời đô Trước đó một năm (1405), ông cũng bắt đầu tài trợ và tổ chức các đoàn thuyền cho các chuyến viễn du của Trịnh Hòa xuống vùng biển Đông Nam Á cho tới tận năm 1422 (2 năm một chuyến đi, hành trình kéo dài 2 năm) Sau khi ông mất (1424), phải đến năm 1431 viễn du cuối cùng mới khởi hành Những lần “hạ Tây Dương” của Trịnh Hòa không chỉ là các cuộc thám hiểm hàng hải mà còn nhằm mục đích kinh tế và sự mở rộng ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc ở Đông Nam Á Thêm nữa, sau khi xâm lược và đặt ách thống trị ở Đại Việt, từ năm 1410 đến
1422 việc Minh Thành Tổ 5 lần thân chinh xuất binh chinh phạt Mông Cổ (đều xuất binh từ Bắc Kinh) Như thế, ông đã không chỉ quan tâm tới việc tiếp tục mở rộng và củng cố những ảnh hưởng của triều Minh ở phương Nam