Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa như: tác động của sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thế hệ sau s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÝ
SỰ KẾ THỪA NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA,
TỈNH THANH HÓA (Nghiên cứu trường hợp tại phường Quảng Hưng và
phường Đông Thọ )
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÝ
SỰ KẾ THỪA NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA,
TỈNH THANH HÓA (Nghiên cứu trường hợp tại phường Quảng Hưng và
phường Đông Thọ )
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62.31.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Phạm Tất Dong
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những kết quả và số liệu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trên bất cứ tài liệu nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Xã hội học, Phòng Sau đại học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Phạm Tất Dong cùng PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hạnh đã hướng dẫn tận tình, định hướng, chỉ
dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình hoàn thành luận án
Em rất biết ơn thầy Đỗ Thiên Kính, thầy đã hỗ trợ em rất nhiều trong
quá trình hoàn thành nghiên cứu này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các anh chị em đồng nghiệp ở bộ môn Xã hội học – Công tác xã hội, khoa Khoa học Xã hội đã động viên, khích lệ tinh thần, giúp đỡ tôi về mặt chuyên môn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành được luận án
Cuối cùng, tôi xin gửi những lời thân yêu nhất đến gia đình mình Cảm
ơn bố mẹ đã sinh ra tôi, cảm ơn người mẹ đã một mình đi giữa cuộc đời nuôi dưỡng tôi cả về thể chất lẫn tâm hồn Cảm ơn những lời động viên của mẹ, của chồng, của anh em và cả đứa con nhỏ bé của tôi đã khiến tôi vững vàng đi đến chặng đường này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận án không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý kiến từ các thầy cô giáo cùng bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Lý
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC BIỂU 6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lí do chọn đề tài 8
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 10
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 10
4 Ý nghĩa của luận án 12
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích 12
6 Kết cấu của luận án 14
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 15
1.1 Những nghiên cứu nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình 15
1.2 Các nghiên cứu về các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình 21
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 34
2.1.Khái niệm 34
2.1.1 Nghề nghiệp, cách phân loại nghề nghiệp 34
2.1.2 Thế hệ, gia đình 36
2.1.3 Kế thừa và kế thừa nghề nghiệp 36
2.1.4 Sự phân nhóm về địa vị nghề nghiệp: 37
2.2 Các lí thuyết và quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu 38
2.2.1 Lí thuyết phân tầng xã hội 38
2.2.2 Lí thuyết vốn xã hội 47
2.2.3 Lí thuyết xã hội hóa 52
2.3 Phương pháp nghiên cứu 54
2.3.1 Quy trình chọn mẫu nghiên cứu 54
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi 55
Trang 62.3.3 Phương pháp đo lường sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ 56
2.3.3.1 Công thức tính các tỉ lệ kế thừa nghề nghiệp 56
2.3.3.2 Xác định thời điểm đo lường sự kế tục nghề nghiệp giữa các thế hệ 60
2.3.3.3 Việc xác định thế hệ bắt đầu từ cha, mẹ hay con 61
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 61
2.3.5 Phương pháp phân tích tài liệu 62
2.3.6 Phương pháp quan sát 63
2.3.7 Phương pháp nghiên cứu lịch sử trường hợp 63
2.3.8 Phương pháp xử lí thông tin 64
2.4 Chủ trương đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước về phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và thị trường lao động 64
2.4.1 Chính sách kinh tế 65
2.4.2 Chính sách về hội nhập quốc tế 65
2.5 Địa bàn nghiên cứu 66
2.5.1 Vị trí địa lí, kinh tế xã hội của thành phố Thanh Hóa 66
2.5.2 Vị trí địa lí, kinh tế xã hội phường Quảng Hưng 67
2.5.3 Vị trí địa lí, kinh tế xã hội phương Đông Thọ 68
Chương 3: THỰC TRẠNG NGHỀ NGHIỆP VÀ KẾ THỪA NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA 70
3.1 Thực trạng đặc trưng nhân khẩu – xã hội của đối tượng nghiên cứu 70
3.2 Thực trạng nghề nghiệp của các thế hệ tại thành phố Thanh Hóa 72
3.3 Thực trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa 77
3.3.1 Sự kế thừa về vị trí nghề nghiệp 78
3.3.1.1.Sự kế thừa nghề nghiệp của thế hệ thứ hai với thế hệ thứ nhất 78
3.3.1.2 Sự kế thừa nghề nghiệp của thế hệ thứ ba với thế hệ thứ hai 84
3.3.2 Sự kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp 98
3.3.3 Sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp 107
Chương 4 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ KẾ THỪA NGHỀ NGHIỆP GIỮA CÁC THẾ HỆ TRONG GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ THANH HÓA 119
Trang 74.1.Tác động của sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thê hệ sau so với thế hệ
trước đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình 121
4.2 Tác động từ các nhân tố từ gia đình 132
của các thế hệ 135
4.3 Tác động của các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động 142
Tiểu kết chương 4: 147
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148
1 Kết luận 148
2 Một số khuyến nghị và giải pháp 152
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 56
Bảng 2.2: Bảng lí thuyết đo lường di động xã hội từ thế hệ cha sang thế hệ con trai 57 Bảng 3 1: Đặc điểm nhân khẩu xã hội của đối tượng nghiên cứu 71
Bảng 3 2: Ma trận nghề nghiệp giữa cha (thuộc thế hệ thứ nhất) với con (người trả lời thuộc thế hệ thứ hai) 79
Bảng 3.3: Ma trận nghề nghiệp giữa mẹ (thuộc thế hệ thứ nhất) với con (người trả lời thuộc thế hệ thứ hai) 81
Bảng 3.4: So sánh sự kế thừa nghề nghiệp giữa con trai, con gái (thế hệ 2) 83
và cha (thế hệ 1) 83
Bảng 3.5: Ma trận nghề nghiệp giữa cha (thế hệ 2) với con thứ 1 (thế hệ 3) 84
Bảng 3 6: Ma trận nghề nghiệp giữa mẹ (thuộc thế hệ 2) với con (thuộc thế hệ thứ 3) 87
Bảng 3.7: So sánh sự kế thừa nghề nghiệp giữa con trai, con gái thứ nhất (thế hệ 3) với cha (thế hệ 2), con trai, con gái thứ nhất (thế hệ 3) với mẹ (thế hệ 2) 89
Bảng 3.8 : Ma trận nghề nghiệp giữa bố (thuộc thế hệ hai) với con thứ hai (thuộc thế hệ thứ ba) 90
Bảng 3.9: Ma trận nghề nghiệp giữa mẹ (thuộc thế hệ hai) với con thứ hai (thuộc thế hệ thứ ba) 92
Bảng 3 10: So sánh sự kế thừa nghề nghiệp giữa con trai thứ hai, con gái thứ hai với cha, con trai thứ hai, con gái thứ hai với mẹ 93
Bảng 3.11: Hệ số mở cho toàn mô hình và mỗi nhóm nghề 94
Bảng 3.12: Chỉ số Yasuda về di động xã hội qua khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008 96
Bảng 3 13: Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp của cha mẹ mình (Đv: %) 98
Bảng 3 14: Những kĩ năng, kinh nghiệm thế hệ thứ hai thừa hưởng từ thế hệ thứ nhất 99
Bảng 3 15: Những kĩ năng, kinh nghiệm thế hệ thứ ba thừa hưởng 101
từ thế hệ thứ hai 101
Bảng 3.16: Tương quan giữa nghề nghiệp của cha, mẹ (TH1) với gia đình ảnh hưởng lớn nhất đến lựa chọn nghề nghiệp của con 111
Trang 9Bảng 4.1: So sánh cơ cấu nghề của 3 thế hệ (thế hệ 1, thế hệ 2, thế hệ 3) 122
Bảng 4.2: Tỉ lệ di động di động qua các ma trận kế tục nghề nghiệp 124
Bảng 4.3: Đo lường di động xã hội theo 5 tầng lớp ở Nhật Bản 127
Bảng 4.6: Tỉ lệ kế tục nghề nghiệp phân theo địa vị kinh tế - xã hội 135
của các thế hệ 135
Bảng 4.4: Một số đặc điểm của người con (thế hệ 2) kế tục nghề nghiệp của cha mẹ (thế hệ 1) 143
Bảng 4.5: Một số đặc điểm của người con (thế hệ 3) kế tục nghề nghiệp của cha mẹ (thế hệ 2) 145
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1: Nghề nghiệp của người cha 74
thuộc thế hệ 1 khi con có nghề đầu tiên 74
Biểu đồ 3.2: Nghề nghiệp của người mẹ thuộcthế hệ 1 khi con có nghề đầu tiên 74
Biểu đồ 3.3: Nghề nghiệp đầu tiên của người trả lời (là người cha ở thế hệ thứ 2) 74
Biểu đồ 3.4: Nghề nghiệp đầu tiên của người trả lời (là người mẹ ở thế hệ thứ 2) 74
Biểu đồ 3.5: Nghề nghiệp đầu tiên của con thứ nhất 74
Biểu đồ 3.6: Nghề nghiệp đầu tiên của con thứ 2 74
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Khi nền kinh tế nông nghiệp đang dần dần được thay thế bằng nền kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức, nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi nội dung, phương pháp và mẫu mã sản phẩm bởi sự ứng dụng của các công nghệ mới Hiện tượng đó tất yếu dẫn đến sự di động nghề nghiệp của người lao động Hiện tượng xã hội này đang xóa dần đi hiện tượng nghề truyền thống của gia đình và dòng họ, tức là mất đi hiện tượng cha truyền con nối một nghề cụ thể nào đó Vì thế, sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình trở thành một hiện tượng đáng chú ý được các nhà xã hội học quan tâm, nghiên cứu
Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rằng, trong các xã hội đều xuất hiện nhiều tầng lớp cư dân mà những người ở tầng lớp trên bao giờ cũng có những ưu thế về kinh tế hay địa vị xã hội, còn những người ở tầng lớp dưới thường chịu thua thiệt cả về vật chất và tinh thần Những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho biết sự bất bình đẳng đang gia tăng giữa các tầng
lớp xã hội Việt Nam Các tầng lớp nửa trên của tháp phân tầng ở Việt Nam
có sự cải thiện về mức sống hộ gia đình nhiều hơn so với tầng lớp nửa dưới
Đó là sự bất bình đẳng ổn định, mang tính cấu trúc và là thuộc tính của hệ thống phân tầng hình kim tự tháp ở Việt Nam Theo KSMS/VHLSS 2010, hệ số chênh lệch thu nhập bình quân đầu người 1 tháng giữa nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo nhất là 9,2 lần, tăng so với những năm trước (năm 2002 là 8,1 lần, năm 2004 là 8,3 lần, năm 2006 là 8,4 lần và năm 2008 là 8,9 lần) Như vậy,
sự bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo đang gia tăng trong phạm vi cả nước Sự bất bình đẳng về kinh tế dẫn đến sự khác biệt về giáo dục và hướng nghiệp trong gia đình Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Con cái trong những gia đình có bố mẹ làm những nghề có khả năng kinh tế hoặc địa vị xã hội cao dễ có xu hướng muốn kế tiếp nghề của cha mẹ, trong khi đó con cái của những gia đình có khả
Trang 13năng kinh tế hoặc địa vị xã hội thấp thường có xu hướng nỗ lực vươn lên thoát khỏi nghề nghiệp của bố mẹ với mục đích thoát khỏi tầng thấp của tháp phân tầng xã hội mà ở đó có cha mẹ họ Do đó, đã đến lúc cần phải có những nghiên cứu và phân tích một cách hệ thống những quá trình, cơ chế và các yếu tố tác động đến phương thức, khả năng các cá nhân trong từng hoàn cảnh gia đình
cụ thể tìm kiếm hoặc lựa chọn nghề nghiệp
Thành phố Thanh Hoá có diện tích lớn, dân số đông, đa ngành, đa nghề, là một địa phương tích cực hội nhập với xu thế hiện đại hóa của đất nước và thế giới Trong những năm gần đây, thành phố Thanh Hóa có nhiều ngành nghề thuộc các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xây dựng xuất hiện và phát triển mạnh, nông nghiệp có dấu hiệu thu hẹp đáng kể Những thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp làm cho nghề nghiệp của những người trẻ tuổi ở thành phố cũng có những biến chuyển nhất định về cơ cấu Tình trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở một số nhóm đối tượng giảm mạnh, tương ứng với sự di động nghề nghiệp tăng nhanh, tuy nhiên sự di động này sẽ diễn ra không đồng đều ở các nhóm dân cư
Vị thế trên thị trường lao động của mỗi cá nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có những yếu tố liên quan đến phát triển kinh tế xã hội nói chung, các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân: giới tính, trình độ học vấn , có
cả những yếu tố thuộc về nguồn gốc gia đình, hoàn cảnh, môi trường sống của các cá nhân đó Điều này gợi ra rằng: các cá nhân luôn được thừa hưởng những kinh nghiệm và kĩ năng nghề nghiệp từ nguồn gốc gia đình của mình, tuy nhiên địa vị xã hội và kinh tế của mỗi gia đình sẽ tác động khác nhau đến việc cá nhân đó có kế thừa nghề nghiệp của cha mẹ hay không
Như vậy, trong xã hội hiện đại những nghề nghiệp nào thường được kế thừa, những nghề nghiệp nào đang mất dần đi hiện tượng cha truyền con nối? Nguyên nhân nào tác động đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa hiện nay? Giải pháp nào để phát huy những nghề cần được kế thừa phù hợp với xu thế phát triển của xã hội? Đi tìm câu trả lời cho
Trang 14những vấn đề trên là lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài“Sự kế thừa nghề nghiệp
giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (Nghiên cứu trường hợp tại phường Quảng Hưng và phường Đông Thọ)” làm
đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
2.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Tổng luận các công trình nghiên cứu có liên quan với chủ đề nghiên cứu, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí thuyết và phương pháp thực hiện đề tài
Phân tích được thực tế kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa ở các khía cạnh: sự kế thừa về vị trí nghề nghiệp, sự kế thừa về kinh nghiệm nghề nghiệp, kĩ năng nghề nghiệp và sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp giữa thế hệ sau so với thế hệ trước
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa như: tác động của sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thế hệ sau so với thế hệ trước, các yếu tố thuộc về gia đình và cá nhân của những người tham gia khảo sát
Xác định những quan điểm về tác động của sự kế thừa nghề nghiệp đến sự phát triển của xã hội và đề xuất các giải pháp chính sách điều chỉnh sự kế thừa nghề nghiệp phù hợp với sự phát triển xã hội bền vững
3 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế
hệ trong gia đình ở Thành phố Thanh Hóa
Trang 153.2 Khách thể nghiên cứu
Để mô tả bức tranh kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở Thành phố Thanh Hóa, chúng tôi chọn các chủ hộ hoặc vợ (chồng) của chủ hộ gia đình làm mẫu nghiên cứu Chủ hộ hoặc vợ (chồng) của chủ hộ gia đình được chọn để nghiên cứu có ít nhất 1 người con đi làm có thu nhập
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tiến hành nghiên cứu tại hai phường của thành phố
Thanh Hóa: Phường Quảng Hưng và Phường Đông Thọ
- Phạm vi thời gian: từ tháng 10 năm 2012 – đến hết năm 2017
- Phạm vi về nội dung:
Kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình là một chủ đề nghiên cứu có thể xét theo các tiêu chí: sự kế thừa về loại nghề, vị trí nghề nghiệp, tiêu chuẩn nghề nghiệp, kĩ năng nghề nghiệp, giá trị nghề nghiệp Tuy nhiên,trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ phân tích sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở các chiều cạnh: sự kế thừa về vị trí nghề nghiệp, sự kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp và sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp
Trên thế giới, những nghiên cứu trước đây thường chỉ ra sự ảnh hưởng nghề nghiệp của cha đến sự lựa chọn nghề của con Tuy nhiên, trong đề tài này chúng tôi không chỉ xem xét sự kế thừa nghề nghiệp của con trai với nghề của cha mà phân tích kế thừa nghề nghiệp của con với nghề của cả cha lẫn mẹ
Khi nghiên cứu sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ, việc lựa chọn thời điểm so sánh nghề nghiệp của con và của cha mẹ là vấn đề chúng tôi hết sức quan tâm Chúng tôi lựa chọn thời điểm con có nghề nghiệp đầu tiên (nghề nghiệp thứ nhất) của cuộc đời con người Bởi thời điểm này, địa vị xã hội của cha mẹ thường
có ảnh hưởng đến nghề nghiệp đầu tiên của con Đó cũng là thời điểm ghi nhận thành quả hướng nghiệp cho con cái trong suốt quá trình sống phụ thuộc vào cha
mẹ để có nghề nghiệp đầu tiên Nghề nghiệp đầu tiên có thể giống hoặc khác với nghề nghiệp của cha hoặc mẹ tại thời điểm đó Điều này phản ánh sự chuyển biến nghề nghiệp của cha hoặc mẹ sang cho con cái
Trang 164 Ý nghĩa của luận án
4.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án không chỉ rà soát và tổng hợp lại hệ thống lí thuyết xã hội học liên quan đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ mà còn kiểm nghiệm lại các lí thuyết này dựa trên việc phân tích dữ liệu từ mẫu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần hiểu rõ hơn cơ chế hình thành sự phân tầng và duy trì bất bình đẳng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế Những phát hiện từ luận án sẽ góp phần bổ sung tri thức về
sự kế thừa nghề nghiệp, di động nghề nghiệp
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài hướng đến làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của hiện tượng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình và mô tả khái quát bức tranh nghề nghiệp cũng như thực tế kế thừa nghề nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề giữa các thế hệ trong gia đình đang diễn ra ở thành phố Thanh Hóa Luận án được hoàn thành có thể là tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học sử dụng trong quá trình nghiên cứu về kế thừa nghề nghiệp, di động xã hội, di động nghề nghiệp Đồng thời nó cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lí xã hội
để có cơ sở hoạch định chính sách liên quan đến nghề nghiệp và phát triển các
cơ cấu kinh tế trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài đi vào giải đáp những câu hỏi như sau:
Sự kế thừa nghề nghiệp ở các tiêu chí: vị trí nghề nghiệp, kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp và giá trị nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình đang diễn ra theo quy luật nào?
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiện trạng sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa hiện nay?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ được xem xét trên 3 bình
diện: sự kế thừa về vị trí nghề nghiệp, sự kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng nghề
Trang 17nghiệp và sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp Sự kế thừa về vị trí nghề nghiệp có xu hướng giảm dần qua các thế hệ và theo thời gian Sự kế thừa về kinh nghiệm và kĩ năng nghề nghiệp và sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp diễn ra ở tất cả các nhóm nghề song ở các nhóm có địa vị nghề cao sự kế thừa này mang tính chất chủ động (cha truyền con nối), những nhóm nghề có địa vị xã hội thấp sự kế thừa mang tính thụ động nhiều hơn
Giả thuyết 2:Sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành
phố Thanh Hóa chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau như: sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thế hệ sau so với thế hệ trước, các yếu tố từ gia đình và cá nhân người lao động
5.3 Khung phân tích
Hoàn cảnh gia đình
Sự thay đổi cấu trúc nghề
nghiệp, sự chuyển đổi cơ
cấu kinh tế ở thế hệ sau so
với thế hệ trước
Các yếu tố từ cá nhân người lao động ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
Sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hê trong
gia đình ở Thành phố Thanh Hóa
Sự kế thừa về vị
trí, địa vị nghề
nghiệp
Sự kế thừa về kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp
Sự kế thừa về giá trị nghề nghiệp
Trang 186 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở chương này, chúng tôi tổng kết các nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ ở các nghiên cứu trong và ngoài nước với hai mảng: nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình và các yếu tố, điều kiện ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Chương 2: Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm địa bàn nghiên cứu Ở chương 2, chúng tôi cố gắng làm rõ phần khái niệm, lí thuyết ứng dụng vào phân tích vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô tả kĩ địa bàn nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở Thành phố Thanh Hóa Chương 3 nhận diện được thực trạng nghề nghiệp ở thành phố Thanh Hóa qua 3 thế hệ và đánh giá sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình qua 3 tiêu chí: kế thừa về vị trí nghề nghiệp, kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp và kế thừa về giá trị nghề nghiệp
Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế
hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa Dựa vào phương pháp nghiên cứu của Yasuda về ma trận di động nghề nghiệp và các lí thuyết được sử dụng trong nghiên cứu như: lí thuyết phân tầng xã hội, lí thuyết vốn xã hội và lí thuyết xã hội hóa nghề nghiệp để nhận diện và phân tích 3 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ là: sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thế hệ sau so với thế hệ trước, các yếu tố thuộc về gia đình và cá nhân người lao động
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong hướng nghiên cứu về nghề nghiệp ở Việt Nam, những nghiên cứu
về vấn đề hướng nghiệp, định hướng nghề nghiệp, làng nghề là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý Trong khi đó, hướng nghiên cứu
về di động nghề nghiệp hay kế thừa nghề nghiệp còn tương đối ít ỏi Tuy nhiên, trong những nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình có thể tạm chia thành 2 mảng nghiên cứu được chú ý: một là hướng nghiên cứu về nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình, hai là những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kế thừa nghề nghiệp và điều kiện dẫn đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Các nghiên cứu này, có thể
là những nghiên cứu độc lập về từng mảng trên, song đa phần các nghiên cứu đều cố gắng phân tích thực trạng và các điều kiện kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
1.1 Những nghiên cứu nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Trong xã hội học, chủ đề di động xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm E Durkheim, nhà xã hội học người Pháp, là một trong những nhà xã hội học đầu tiên nghiên cứu về di động xã hội.Trong những năm đầu thế kỉ XX, nhà xã hội học Mĩ Sorokin đã bàn về di động xã hội khá hệ thống Ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên xuống như thế nào mà phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới vị trí của mình trong trật tự xã hội Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đẩy và tạo ra sự di động xã hội Những nghiên cứu về di động xã hội của Fichter cũng có những nét tương đồng với
Trang 20Sorokin khi cho rằng, di động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng giai đoạn Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả đề cập đến di
động xã hội như Anthony Giddens ―Introductory Sociology‖ (Xã hôi học đại
cương), Stuart S.Blume ―Toward a political Sociology of Science‖ (Xã hội học chính trị)…
Tuy nhiên, chủ đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ, một vấn đề được coi là hệ quả của di động xã hội lại được nghiên cứu tương đối muộn Cho đến những năm giữa thế kỉ XX, chủ đề sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ mới được các nhà nghiên cứu quan tâm Điển hình như những nghiên cứu từ
Mĩ, Ấn Độ, Anh, Trung Quốc…
Tại Mĩ, trong tác phẩm ―American occupational structure‖ Peter M Blau
và Otis D Duncan (1967) [ dẫn theo 10, tr.172], đã chỉ ra có mối liên hệ giữa nghề nghiệp của cha và con trai Nghiên cứu này đã chỉ ra nghề của con thường có xu hướng lặp lại nghề của cha trong một số lĩnh vực nghề nghiệp Cũng tại Mĩ, nghiên cứu ―Occupational Inheritance in agriculture‖ của Bernard F.Lentz and David N Laband [92], sau khi sử dụng dữ kiện từ năm
1962 gồm 20.700 nam giới có độ tuổi từ 20 đến 64 đã chỉ ra rằng có 82% những người nông dân có cha là nông dân Như vậy, nghiên cứu đã chỉ ra có
sự kế thừa nghề nghiệp giữa cha và con trong lĩnh vực nông nghiệp
Trong nghiên cứu ―Intergenerational Occupational Mobility in Great Britain and the United States since 1850‖ [94], việc so sánh tỉ lệ di động nghề nghiệp và kế thừa nghề nghiệp ở 2 vùng lãnh thổ trong 2 thời điểm khác nhau cho thấy có sự thay đổi và chuyển biến trong sự kế thừa nghề nghiệp và di động nghề nghiệp: ― Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng,ở thế kỉ XIX, khi nghiên cứu các cặp bố con tại 10 quốc gia của 2 vùng trên thì ở Châu Mĩ, tính
di động nghề nghiệp của các cặp bố con nhiều hơn ở Châu Âu trong suốt những năm thập kỉ 1900 và đến những năm 1950 thì tính di động nghề nghiệp giữa các cặp bố con của 2 vùng trên gần như ngang nhau‖
Trang 21Tại Ấn Độ, công trình nghiên cứu ―Intergenerational Occupatinal Mobility in Rural India: Evidence From ten villages‖ của A Bheemeshwar Reddyand Madhura Swaminathan [91], cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp của cha và con trai Nghiên cứu chỉ ra rằng: với 69% người dân sống ở nông thôn thì tính di động nghề nghiệp tại Ấn Độ diễn ra ít mạnh mẽ, nhất là ở những vùng nông thôn rộng lớn và những người lao động chân tay
Sự di động chủ yếu diễn ra ở những người đàn ông trong khu vực làng, xã và
sự di động này cũng chủ yếu là sự dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị Những người cha thường đem theo con trai của mình ra thành thị để làm những việc giống như mình Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra ở khu vực nông thôn Ấn Độ ít có sự di động nghề nghiệp Nếu có sự di động cũng chủ yếu là di động của những người đàn ông và trong sự di động nghề nghiệp của những người đàn ông thì đi kèm với sự di động đó là là sự kế thừa nghề nghiệp giữa người cha và con trai của ông ta tại các đô thị sau khi di cư ra khỏi khu vực nông thôn Cũng tại Ấn Độ, tác phẩm ―Changes in Intergenerational Occupational Mobility in India: Evidence from National Sample Surveys,1983–2012‖ [90], cho thấy: Trong thập kỉ cuối cùng của thế
kỉ trước, khi nền kinh tế Ấn Độ phát triển mạnh mẽ, cơ hội di động nghề nghiệp cao, đặc biệt nam giới có sự di chuyển nghề rất lớn Tuy nhiên, hiện nay đang có sự suy giảm về di động nghề nghiệp giữa các thế hệ Nhà nước đưa ra nhiều chính sách nhà nước khuyến khích việc kế thừa nghề nghiệp
giữa các thế hệ và tỉ lệ này có xu hướng gia tăng Như vậy, việc các thế hệ
trong gia đình sẽ kế thừa nghề nghiệp đã có đang được nhà nước Ấn Độ quan tâm
Ngoài ra, công trình nghiên cứu ―Intergenerational Occupational Mobility
in India‖ [96], của Mehtabul Azam hợp tác với Oklahoma State University and IZA nghiên cứu nghề nghiệp của những người đàn ông sinh từ những năm 1945 đến 1985 và đưa ra những kết luận sau: Có sự tiếp nối nghề
Trang 22nghiệp giữa người con trai và người bố, đặc biệt là những người bố là công nhân cổ trắng Có sự khác biệt về kế thừa nghề nghiệp giữa những người sinh khác thế hệ Những người sinh năm 1945 – 1954 có sự kế thừa nghề nghiệp nhiều hơn những người sinh năm 1974 – 1985 Một nghiên cứu khác
về sự kế thừa nghề nghiệp tại Ấn Độ là nghiên cứu ―Aggregate Implications
of occupatinal inheritance in China and India‖ [98], của Ting Jill đã chỉ ra những điểm tương đồng trong sự kế thừa nghề nghiệp tại Ấn Độ và Trung Quốc Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có sự phổ biến trong việc kế thừa nghề nghiệp giữa con cái và cha mẹ ở cả hai quốc gia này
Những nghiên cứu trên cho thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, sự kế thừa nghề giữa các thế hệ thường chỉ xét mối quan hệ giữa nghề của cha và nghề của con trai mà chưa có những nghiên cứu phân tích, xem xét mối liên hệ của cha và con gái hoặc mẹ và con trai hoặc mẹ và con gái
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ còn tương đối ít ỏi và chắp vá Dường như ít có các cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu mang quan điểm khác nhau, mà chỉ có những thảo luận rời rạc Chủ đề này có vẻ phổ biến hơn trong nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài cũng như những nghiên cứu có sự cộng tác giữa các nhà khoa học nước ngoài và Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu này mang nặng tính mô tả và không có cơ sở lý thuyết rõ ràng Chu Hương Ly trong
nghiên cứu về “Các nguồn lực phân tầng ảnh hưởng như thế nào đến di động
xã hội ở Việt Nam”[56] đã chỉ rõ một số nghiên cứu như: Nguyen, A P
(2002) “Looking beyond Bien Che: The Consideration of Young Vietnamese
Graduates When Seeking Employment in the Doi Moi Era” [ dẫn theo 56] đã
phân tích về tình hình công việc của 1,7 triệu người trẻ tuổi khi có công việc đầu tiên trong quá trình đổi mới kinh tế, chính trị của đất nước Nghiên cứu
Trang 23này đã chỉ ra sự tiếp nối về công việc trong khu vực Nhà nước giữa nhóm mà
họ gọi là tầng lớp trung lưu cũ trước Đổi mới và con cái họ là tầng lớp trung lưu trẻ mới hình thành trong thời kỳ đổi mới Nguyen, P A còn cùng với
Turner, nghiên cứu về „Young entrepreneurs, social capital and Doi Moi in
Hanoi, Vietnam 2005 [ dẫn theo 56], nghiên cứu đã phân tích sự tiếp nối nghề
nghiệp của tầng lớp doanh nhân trẻ tuổi ở Hà Nội với cha mẹ dựa trên những vốn xã hội của họ và gia đình trong thời kì đổi mới Ngoài ra, King, V T.,
Nguyen, P A and Nguyen, H M (2008) „Professional Middle Class Youth
in Post-Reform Vietnam: Identity, Continuity and Change‟ [dẫn theo 56]
cũng đã chỉ ra có sự tiếp nối nghề nghiệp giữa các thế hệ trong tầng lớp trung lưu trẻ Các nghiên cứu của các tác giả trên đã quan sát sự tiếp nối về công việc trong khu vực nhà nước giữa nhóm là tầng lớp trung lưu cũ trong giai đoạn trước đổi mới và tầng lớp trung lưu trẻ trong thời kì đổi mới Theo các tác giả này, thế hệ trước truyền lại những ưu thế mà họ được hưởng dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa cho con cái họ khi nền kinh tế cũ chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả Chu Hương Ly trong nghiên cứu trên cũng đã thống kê và cho thấy: có một số nghiên cứu độc lập, rải rác về di động xã hội và sự kế thừa nghề nghiệp như nghiên cứu của Jee Young Kim (2004) ―Political capital, human capital, and inter- generational occupational mobility in Northern Vietnam‖ Jee Young Kim đã xử lí số liệu điều tra hộ gia đình tại ba tỉnh là Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình vào năm 1995 và đã đưa ra nhận xét: có sự thay đổi rất lớn về cấu trúc nghề nghiệp giữa các thế hệ Sự thay đổi này diễn
ra ở hầu khắp các nhóm nghề, đặc biệt là nhóm nghề trong hệ thống nhà nước
và nhóm nghề có trình độ kĩ năng cao Công trình của Phillip Taylor (2004)
―Social inequality in Vietnam and the challenges to reform” [dẫn theo 56], đã
chỉ ra rằng: chỉ có 16% những người làm công việc trong hệ thống nhà nước
là có thể truyền lại địa vi nghề nghiệp của mình cho con cái và con số này ở
Trang 24nhóm người có trình độ chuyên môn cao là 12% Trong khi đó tỷ lệ khá cao,
¾ số người làm nông nghiệp có con cái cũng làm nông nghiệp Như vậy, ở Việt Nam vẫn đang diễn ra sự tiếp nối nghề nghiệp giữa các thế hệ khá mạnh
mẽ ở vùng nông thôn với những người làm nông nghiệp Ngoài các công trình
nghiên cứu trên các nghiên cứu của Đỗ Thiên Kính về Di động xã hội giữa
các thế hệ trong hai thời kì trước và sau đổi mới ở Việt Nam phần I và phần II
[45,46] đã chỉ ra sự tiếp nối nghề nghiệp giữa thế hệ cha và thế hệ con ở cả hai thời kì trước đổi mới và sau đổi mới
Nhà xã hội học người Nhật Saburo Yasuda đã rất nổi tiếng trên thế giới khi đưa ra phương pháp tính chỉ số di động xã hội khi so sánh nghề nghiệp của con với cha thông qua bảng ma trận nghề nghiệp trong bài viết ―A
Methodological Inquiry into Social Mobility‖, được in trên tạp chí American
Sociological Review, Volume (29), pp(16– 23) Bằng cách tính của nhà xã hội
học Yasuda có rất nhiều nghiên cứu tại Nhật bản đã chỉ ra có sự tiếp nối nghề nghiệp của thế hệ trước với thế hệ sau trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp tính chỉ số di động xã hội của ông để tính toán sự kế tục nghề nghiệp của thế hệ sau so với thế hệ trước Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Thiên Kính cũng đã rất thành công khi ứng dụng phương pháp tính này để tính các chỉ số di động xã hội ở nhiều công trình khác nhau
Những nghiên cứu trên cho thấy, kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở Việt Nam chưa phải là chủ đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Mới chỉ có ý tưởng nghiên cứu về sự tiếp nối nghề nghiệp giữa các thế
hệ trong gia đình xuất hiện Không có nghiên cứu nào cố gắng phân tích một cách hệ thống những quá trình và cơ chế mà thông qua đó những ưu thế và bất lợi xã hội được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau trong xã hội Việt Nam đương đại Câu hỏi ‗ai có gì‘, và điều này ảnh hưởng đến cơ hội sống
Trang 25của họ, đến nghề nghiệp của họ như thế nào, mặc dù đã trở nên cấp thiết hơn nhiều trong nền kinh tế thị trường song vẫn còn bị bỏ ngỏ
1.2 Các nghiên cứu về các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Ngoài hướng nghiên cứu nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế
hệ trong gia đình, các công trình về chủ đề này còn đi vào phân tích các yếu
tố và điều kiện ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Mặc dù, cũng giống như hướng nghiên cứu trên, các đề tài về các yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình còn khá ít ỏi và chưa có nhiều nghiên cứu riêng biệt, đa phần mới chỉ có các công trình nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến sự phân tầng xã hội,
từ đó đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Như phần trên chúng tôi đã phân tích phương pháp tính chỉ số di động xã hội của nhà xã hội học người Nhật Saburo Yasuda, phương pháp này ngoài
ưu điểm có thể tính toán tỉ lệ kế tục nghề nghiệp còn chỉ ra được các nhân tố tác động đến tỉ lệ kế tục cũng như di động nghề nghiệp Yasuda trong nghiên cứu ―A Methodological Inquiry into Social Mobility‖, được in trên tạp chí
American Sociological Review, Volume (29), pp(16– 23), đã xác định rõ cách
tính chỉ số di động cấu trúc và di động tuần hoàn, trong đó chỉ số di động cấu trúc cho thấy sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp, cấu trúc xã hội tác động đến tỉ
lệ di động và kế thừa nghề nghiệp còn chỉ số di động tuần hoàn cho thấy sự thay đổi đồng thời giữa các vị trí nghề nghiệp khi so sánh giữa thế hệ trước với thế hệ sau Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng sử dụng những công thức tính toán của ông để xác định rõ những nhân tố tác động đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến nghề nghiệp của người con cũng như ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa nghề nghiệp của người cha với
Trang 26người con là yếu tố giáo dục Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: giáo dục của người con trai là cầu nối chủ yếu giữa gốc gác gia đình và sự thành đạt nghề nghiệp, một nửa các mối tương quan giữa hai yếu tố này đều thông qua yếu tố trung gian là giáo dục Trẻ em trong những gia đình có đặc quyền là những người có trình độ học vấn cao hơn những đứa trẻ cùng trang lứa xuất thân từ
những gia đình kém hơn‖ [10,tr.143] Trong tác phẩm American occupational
structure của Peter M Blau và Otis D Duncan [dẫn theo 10,tr.143], hai nhà
nghiên cứu này đã phân tích tương đối chi tiết những nhân tố tác động đến việc đạt được vị trí nghề nghiệp của người con và chỉ ra rằng những nhân tố
từ những đặc điểm của người cha như trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn gốc của gia đình có tác động lớn nhất đến nghề nghiệp của người con trai và nghiên cứu cũng đã chỉ ra có mối liên hệ từ trình độ học vấn của người cha với trình độ học vấn của con cũng như nghề nghiệp của cha có ảnh hưởng đến nghề nghiệp của con thông qua nhân tố giáo dục
Công trình về sự kế thừa nghề nghiệp ở Việt Nam cho thấy yếu tố giáo dục trong gia đình có những ảnh hưởng nhất định đến cơ hội nghề nghiệp cũng như sự tiếp nối nghề nghiệp của các thế hệ Nghiên cứu của (Marr and
Rosen 1998) „Chinese and Vietnamese Youth in the 1990s‟[95], đã chỉ ra
rằng: những thanh thiếu niên của Việt Nam và Trung Quốc trong những thập niên 90 của thế kỉ XX, sinh ra trong những gia đình khá giả có sự lựa chọn về giáo dục tốt hơn và cũng được hưởng chất lượng giáo dục tốt hơn và điều này ảnh hưởng đến cơ hội nghề nghiệp của họ, họ có khả năng tìm kiếm những công việc mới trong nền kinh tế thị trường Nghiên cứu này đã chỉ ra giáo dục không chỉ là yếu tố tác động đến cơ hội việc làm mà còn tác động đến khả
năng di động nghề nghiệp của thế hệ trẻ
Yếu tố giáo dục còn được coi là yếu tố trung gian trong mối liên hệ giữa định hướng nghề nghiệp với khả năng di động nghề và kế thừa nghề của thế
hệ trẻ Có nhiều người bàn luận về chủ đề này như: Vũ Hào Quang (2001),
Trang 27Định hướng giá trị của sinh viên con em cán bộ khoa học, Phạm Huy Cường
(2009), Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm
cuối các ngành khoa học xã hội (nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội), Nguyễn Thị Như Trang (2006), Định hướng nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội… Các nghiên cứu này đều gián tiếp cho thấy trình độ học vấn
của cha mẹ có những tác động trong việc định hướng nghề nghiệp cho con cái
và những định hướng này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc con cái kế thừa nghề của cha mẹ hay di động ra khỏi nghề của cha mẹ
Rộng hơn yếu tố giáo dục, vốn văn hóa của mỗi gia đình cũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra có tác động thực sự đến cơ hội nghề nghiệp cũng như
sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Nhà xã hội học người Anh Stenphen Aldrige hay nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu trong các nghiên cứu về nghề nghiệp của mình rất quan tâm đến các nhân tố về văn hóa như phong cách sống Theo Bourrdieu ―điều đáng chú ý tương tự như vốn kinh tế, vốn văn hóa có thể được tích lũy và hoán cải thành các vốn khác (kinh tế, xã hội)‖ [64, tr32] Trong các nghiên cứu của mình, Bourdieu luôn quan tâm xem xét cách thức mà vốn văn hóa có thể tạo nên những ưu thế hay
sự kém ưu thế của nhóm này so với nhóm khác Stenphen Aldrige coi vấn đề
về vốn văn hóa của gia đình, cách dạy dỗ con cái của gia đình là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới giá trị và lối cư xử của cá nhân do đó mà ảnh hưởng đến cơ hội sống của họ sau này và từ đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn nghề nghiệp của các cá nhân Những gia đình có vốn văn hóa, họ sẽ dạy con cách làm, cách lựa chọn nghề nghiệp, con cái trong những gia đình có vốn văn hóa sẽ được bố mẹ chủ động chỉ dạy cho những kinh nghiệm nghề nghiệp, vì vậy sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong các gia đình dồi dào vốn văn hóa thường diễn ra một cách có bài bản, không chỉ là sự kế thừa
Trang 28nghề nghiệp mà còn có sự kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo… trong nghề nghiệp và cuộc sống
Rộng hơn các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hoàn cảnh gia đình hay yếu tố giai cấp mà cá nhân đó tồn tại cũng có ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Nghiên cứu của Chu Hương Ly (2011) cho rằng: Nhờ được sinh ra trong những hoàn cảnh sinh tồn, chúng ta có những nguồn vốn - một số lượng và một số loại nguồn lực và quyền lực cụ thể - mà chúng ta có thể sử dụng được Các loại nguồn vốn này quyết định cơ hội hành động của chúng
ta và cách mà chúng ta hành động Những gì chúng ta có (các nguồn lực phân tầng) quyết định cơ hội của chúng ta trong di động liên thế hệ - sự dịch chuyển giữa những cái mà chúng ta được gắn cho và cái mà chúng ta có thể đạt được [16] Nghiên cứu này của Chu Hương Ly (2011) được dựa trên các quan điểm của nhà xã hội học người Pháp P Bourdieu Bourdieu cho rằng: hoàn cảnh sinh tồn của chúng ta được ghi vào trong chúng ta thành một hệ thống những khuynh hướng hành động gọi là cái ―habitus‖ (thói quen) Cái
―habitus‖ (thói quen) sẽ điều khiển và định hướng chúng ta tới những hành động cụ thể, cũng như những hoàn cảnh cụ thể mà ở đó chúng ta hành động Các cá thể không chỉ thừa hưởng các nguồn lực từ hoàn cảnh sinh tồn của
họ, mà quan trọng hơn họ thừa hưởng cái ‗habitus‖ (thói quen) - sản phẩm cốt lõi của hoàn cảnh sinh tồn của họ mà sẽ quyết định đến khả năng huy động và sử dụng các nguồn lực này Những người được thừa hưởng nhiều lượng và loại nguồn lực thì có ưu thế trong việc sử dụng và biến đổi chúng
để đạt thêm những nguồn lực khác, ngược lại những người được thừa hưởng
ít loại nguồn lực hơn Chính điều này tạo nên sự tái sản sinh những ưu thế và bất lợi của xã hội và tạo nên sự kế thừa hoặc di động nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình [16]
Trang 29Trong một nghiên cứu khác về ―Công việc và việc làm của thanh niên
Việt Nam”, từ những phân tích trên bộ số liệu của điều tra Savy 2003, tác giả
Đặng Nguyên Anh đã phác họa thực trạng việc làm của thanh niên Việt Nam Kết quả cho thấy gia đình là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đối với việc làm của giới trẻ hiện nay
Kết quả nghiên cứu ―Việc làm của thanh niên Việt Nam” (2010), của tác
giả Ngô Quỳnh An được rút ra trên cơ sở phân tích bộ số liệu điều tra Savy
2009 Trong báo cáo của mình, tác giả đã đánh giá mức độ linh hoạt của thanh niên trên thị trường lao động qua các chỉ tiêu: Làm việc đúng nghề đã học, hài lòng với công việc ở hiện tại và tin vào khả năng tìm việc làm trên thị trường Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đa bậc để kiểm tra mức ảnh hưởng của của các yếu tố nhân khẩu học, vốn con người và vốn xã hội đến
thực trạng việc làm của thanh niên Phát hiện nghiên cứu cho thấy vốn con
người và vốn xã hội tạo nên lợi thế cho thanh niên trên thị trường lao động, vì vậy giúp tăng khả năng có được việc làm được trả công, việc làm có kĩ năng
và giảm nguy cơ thất nghiệp cũng như giảm khả năng chấp nhận việc làm không có kĩ năng, không được trả công trong thời gian chờ đợi tìm kiếm việc làm phù hợp
Trong bài viết của Đỗ Thiên Kính (2014), Rào cản đối với tầng lớp
nông dân trong hệ thống phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Xã
hội học, số 2, ông đã phân tích ở Việt Nam hiện nay, khi tầng lớp nông dân còn đông đảo và nằm dưới đáy của tháp phân tầng, thì thế hệ con cái của
họ xuất thân từ tầng lớp này sẽ bị ―yếu thế‖ hơn so với con em các tầng lớp khác trong quá trình vươn tới địa vị xã hội cao hơn Tầng lớp nông dân đông đảo giờ đây lại trở thành một trở lực ―níu kéo‖ thế hệ con cái họ vươn lên cao hơn trên những thang bậc của xã hội Trong khi đó, thế hệ con cái của thế hệ trên đỉnh tháp phân tầng, thì nguồn gốc gia đình lại là lực đỡ để đảm bảo con cái họ khó bị rơi xuống các thang bậc xã hội ở bên dưới
Trang 30[48,tr 10] Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ rõ ảnh hưởng của nguồn gốc gia đình đến sự kế thừa nghề nghiệp Những người ở trên đỉnh của tháp phân tầng dễ dàng truyền lại những ưu thế nghề nghiệp của họ cho con cái
và những người ở dưới đáy của tháp phân tầng cũng khó thoát ra khỏi địa vị nghề nghiệp mà cha mẹ họ đang có
Khi nghiên cứu về Phân tầng xã hội ở Việt Nam trong thời kì chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tác giả Lê Văn Toàn đã
khẳng định:
―Người nào có nguồn gốc xuất thân từ giai tầng xã hội càng cao thì người đó càng có điều kiện thuận lợi để thăng tiến…duy trì địa vị cao của gia đình, dòng tộc (bao gồm cả quyền lực, uy tín xã hội và tài sản).Họ có môi trường thuận lợi để phát triển, một hệ thống pháp luật để bảo vệ, những mối quan hệ quyền lực sẵn có để che chở, hậu thuẫn Họ có điều kiện tốt để chăm sóc sức khoẻ, học tập, nâng cao trình độ ở những cơ sở đào tạo tốt nhất và lựa chọn những
vị trí nghề nghiệp với nhiều lợi thế… Vì vậy, con em của tầng lớp lao động đi lên khó khăn hơn, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nên số lượng các em thành đạt, có mức sống cao cũng ít hơn‖
Như vậy, nguồn gốc xuất thân của một cá nhân có ảnh hưởng rất lớn đến địa vị xã hội của anh ta, do đó nó sẽ có thể là một yếu tố quan trọng tác động đến sự kế thừa nghề nghiệp của mỗi người con trong gia đình
Liên quan đến mối quan hệ này, có thể tham khảo mô hình lí thuyết
cơ bản của Blau và Duncan (1967) về quy trình vươn tới địa vị KT – XH của các thành viên trong xã hội ở các nước trong thời kì công nghiệp hóa
ở phương Tây
Trang 31Từ mô hình trên có thể thấy, có hai nhân tố cơ bản tác động để xác định
địa vị KT – XH của một cá nhân trong hệ thống phân tầng Đó là nguồn gốc
gia đình (bao gồm học vấn/giáo dục và nghề nghiệp/địa vị KT – XH của cha
mẹ như là địa vị gắn sẵn cho thế hệ con cái) và học vấn/giáo dục của bản thân
(đặc biệt là giáo dục bậc cao) như là địa vị đạt được của họ Nền tảng giáo dục mà người cha được hưởng cùng với nghề nghiệp đầu tiên của người cha
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục của con trai anh ta cũng như nghề nghiệp đầu tiên mà con trai anh ta có được Ở một
nghiên cứu khác Caroline: Hodges Persell, 1987: 230 đã khẳng định rằng:
―Địa vị nghề nghiệp giữa các thế hệ của cá nhân có thể được lí giải bằng hai
nhân tố cơ bản- trình độ giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc cao, và nguồn gốc gia đình Bằng cách so sánh sự thành công tương đối của các anh em trai, Jencks và cộng sự (1979) đã thấy rằng nguồn gốc gia đình lí giải được gần
Nghề nghiệp của con trai năm 1962
Nghề nghiệp của bố
Học vấn của con
Học vấn của cha
Nghề nghiệp đầu tiên của con
Trang 32một nửa sự khác biệt về địa vị nghề nghiệp và khoảng ¼ khác biệt về số tiền kiếm được hằng năm.”
(Caroline: Hodges Persell, 1987: 230)
Như vậy, ở những tầng lớp khác nhau các thế hệ sẽ lưu giữ những ưu thế
và bất lợi trong quá trình vươn tới địa vị KT – XH cao hơn và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nghề nghiệp con cái của họ Điều này cho thấy kế thừa nghề nghiệpgiữa các thế hệ trong gia đình là một hiện tượng tất yếu sẽ diễn ra trong mọi xã hội
Ngoài những yếu tố trên, một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra một vài yếu
tố thuộc quan hệ gia đình như giới tính của người con, thứ tự của người con…
có ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp hoặc di động nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình
Trong ―Di động xã hội giữa các thể hệ trong hai thời kì trước và sau đổi
mới ở Việt Nam”của Đỗ Thiên Kính in trên tạp chí số 1 (2009) đã phân tích
vấn đề chọn mẫu nghiên cứu là con trai trưởng hay con trai thứ? Tác giả đã phân tích: văn hóa phương Đông – nơi có truyền thống quyền thừa kế thường dành cho người con trai trưởng, như vậy nếu ta lấy mẫu nghiên cứu chỉ bao gồm những người con trai trưởng thì có thể sẽ quan sát thấy rất sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình sẽ diễn ra mạnh mẽ Tức là nghề nghiệp của người con trai trưởng thường giống nghề của người cha Trong trường hợp nghiên cứu chọn mẫu là người con trai thứ thì kết quả sẽ khác với trường hợp thứ nhất
Như vậy, cả 2 trường hợp trên đều phản ánh những sai lệch về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ Vì vậy, trong các nghiên cứu các nhà xã hội học
sẽ phải tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên để mẫu có thể bao gồm cả người con trai trưởng và người con trai thứ, hoặc mẫu nghiên cứu phải được chọn lựa không dựa vào hai chủ đích trên
Trang 33Một vấn đề khác đặt ra đó là có thể phân tích, xem xét sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình giữa bố với con trai hay bố với con trai
và con gái hoặc với trường hợp của người mẹ cũng tương tự Rất nhiều các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam gặp phải vấn đề này Ngay từ những nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này người ta đã chú trọng đến việc phân tích sự
kế thừa hoặc di động nghề nghiệp giữa người con và người cha (đặc biệt rất coi trọng việc phân tích mối quan hệ giữa con trai và cha) Quan điểm này cũng đã vấp phải sự phản đối của những người thuộc thuyết nữ quyền, người
ta mong muốn quan sát được sự tiếp nối giữa cả cha mẹ và con trai, con gái của họ trong hoạt động nghề nghiệp Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về vấn đề này còn tương đối hạn chế
Cũng trong nghiên cứu này, Đỗ Thiên Kính còn chỉ ra vấn đề trong việc xác định thế hệ nghiên cứu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định được bức tranh sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Ông đã bàn đến trường hợp bắt đầu nghiên cứu từ người con trai làm xuất phát điểm hay đơn vị chọn mẫu để đi tìm thông tin về bố anh ta Tuy nhiên, trên thực tế, một người cha có thể có nhiều hơn một đứa con trai nên nếu bắt đầu từ người con trai thì có thể một người cha sẽ được nghiên cứu nhiều lần Tất nhiên, trong thực tế của mẫu nghiên cứu từ những người con trai thì số con trai cùng chung một người bố có thể không đáng kể Tác giả cũng đã chỉ ra rằng: nếu ta chọn ở mỗi hộ gia đình một người con trai đại diện thì số lượng người bố được tính ―lặp lại‖ sẽ ít đi rất nhiều Nguồn số liệu ở Việt Nam cũng đã rơi vào trường hợp này Trường hợp thứ hai, bắt đầu xuất phát từ người bố Trong trường hợp này mỗi người con trai có tương ứng một người cha riêng biệt, sẽ không có người bố nào bị ―lặp lại‖ đến hai lần Tuy nhiên, trường hợp này cũng có những hạn chế nhất định so với trường hợp thứ nhất
Trong nghiên cứu của Lê Thúy Hằng năm 2013 [26], tác giả đã phân tích
sự khác biệt về giới ―Báo cáo về quá trình chuyển từ đi học sang đi làm của nữ
Trang 34và nam thanh niên Việt Nam”, Annemarie và cộng sự trên cơ sở phân tích thông
tin thu thập từ các nguồn thứ cấp và cuộc điều tra thanh niên và những người sử dụng lao động là thanh niên đã cung cấp những bằng chứng cho thấy sự khác biệt về giới tính có ảnh hưởng đến cơ hội và sự lựa chọn nghề nghiệp nam và nữ Theo nhóm tác giả, mặc dù thái độ xã hội về vai trò và trách nhiệm của giới đang thay đổi nhưng tiến trình còn rất chậm Những chuẩn mực và giá trị truyền thống vẫn tiếp tục có ảnh hưởng đến cơ hội và việc làm của trẻ em gái và trẻ em trai cũng như của phụ nữ và nam giới Phụ nữ vẫn là người đảm nhận những công việc nội trợ trong gia đình, vì vậy nếu phải lựa chọn cho con trai và con gái theo học thì con trai dễ được lựa chọn hơn, cũng như vậy nếu có sự phân chia về tài
sản, công cụ sản xuất người con gái cũng chịu thiệt thòi nhiều hơn Như vậy, có
thể thấy trong sự kế thừa nghề nghiệp của gia đình, người con trai thường được
ưu tiên lựa chọn sao cho có lợi nhất cho anh ta và nếu có sự thừa hưởng thì thường được thừa hưởng nhiều hơn
Một điểm đáng lưu ý trong các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến
sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ là mặc dù sự kế thừa nghề nghiệp là quyết định mang tính cá nhân, nhưng nó không đơn giản chỉ phụ thuộc vào những đặc điểm của người lao động (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, trình độ chuyên môn…) mà còn chịu sự chi phối của sự biến đổi khách quan trong cấu trúc nghề nghiệp trong môi trường chính sách và pháp luật Những thay đổi trong hệ thống chính sách, pháp luật kinh tế tạo nên xu hướng thay đổi cấu trúc nghề nghiệp theo những kì vọng của xã hội và khiến cho tính kế thừa nghề nghiệp giảm đi Bởi lẽ, những thay đổi trong cấu trúc kinh tế khiến người lao động có thể chịu những ép buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp (di động nghề nghiệp ép buộc) hoặc có thêm những cơ hội để thay đổi nghề nghiệp (di động nghề nghiệp tự nguyện)
Nhìn lại quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam những năm vừa qua, Việt Nam đã có nhưng thay đổi bước ngoặt trong quan niệm và định hướng
Trang 35phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ Cùng với quá trình này là quá trình chuyển dịch lao động từ nhóm ngành nông nghiệp sang nhóm ngành nông nghiệp và dịch vụ
Sự dịch chuyển cơ cấu lao động diễn ra mạnh mẽ trong những năm qua nhờ quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đã tác động lớn đến hướng nghiên cứu về sự dịch chuyển cơ cấu lao động ở Việt Nam những năm qua và từ
đó cho chúng ta nhận thấy đây chính là một trong những nguyên nhân khiến sự
kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình có những bước suy giảm Vì thế, sự chuyển đổi tất yếu của nền kinh tế cũng là một trong những nhân tố tác động không nhỏ đến sự suy giảm của hiện tượng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Có nhiều nghiên cứu phân tích về yếu tố này
Hằng năm, Tổng cục thống kê đều có những cuộc điều tra và phân tích
số liệu về vấn đề cơ cấu kinh tế và lao động việc làm Ngoài ra rất nhiều tác giả cũng đã có những phân tích về vấn đề này như Lê Hữu Nghĩa – Lê Ngọc
Hùng (2012) trong tác phẩm ―Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong điều
kiện đối mới ở Việt Nam”, Tạ Ngọc Tấn (2010)―Một số vấn đề biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Thị Vân Anh (2010) “ Chuyển dịch
cơ cấu lao động vùng đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2011 – 2015”,
Nguyễn Thị Vĩnh Hà (2006), ―Tác động của quá trình đô thị hoá đến cơ cấu
lao động và việc làm của các hộ gia đình ở Từ Liêm – Hà Nội”, Nguyễn Đình
Tấn (2010) ―Sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội và vai trò của nó ở Việt
Nam trong phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế”, Lê Hải
Thanh (2005), ―Sự biến đổi cơ cấu lao động việc làm ở nông thôn ngoại
thành thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn An Lịch, “Sự tác động của yếu tố kinh tế đến sự di động xã hội và cơ cấu dân cư ở miền Bắc của Việt Nam”…
Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra, mỗi năm tỷ lệ lao động trong ngành
Trang 36nông nghiệp ở nước ta giảm 1 – 1,5% Năm 2010, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp của cả nước là 43,4% Dự tính con số này sẽ giảm xuống còn hơn 30% vào năm 2020 Như vậy, có sự dịch chuyển lao động trên toàn xã hội trong một thời gian dài Sự dịch chuyển này chắc chắn sẽ khiến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình suy giảm đi
Ngoài ra, mạng lưới xã hội cũng có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ thông tin, giúp tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn, nhất là với lao động nữ
nhập cư Nghiên cứu Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư của Đặng Nguyên Anh [2, tr.20] đã chỉ ra: Mạng lưới di cư không chỉ cung cấp
thông tin mà còn hỗ trợ cả về vật chất và tinh thần giúp người nhập cư tìm kiếm và đưa ra các quyết định về việc làm Đối với họ, mạng lưới này còn có ảnh hưởng quan trọng hơn so với ảnh hưởng của các cơ quan, chính quyền địa phương, các cơ quan truyền thông đại chúng và tổ chức môi giới việc làm Đối với các cá nhân di cư, đa phần họ không kế thừa nghề nghiệp của
cha mẹ, bởi lẽ họ muốn thoát khỏi không gian nghề nghiệp của thế hệ trước Nghiên cứu ―Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa‖ (2007) của Nguyễn Duy Thắng
đã chỉ ra những bằng chứng cho thấy các mạng lưới xã hội chính thức có tác động tích cực đến quá trình chuyển đổi nghề nghiệp của người nông dân ven
đô Hà Nội Việc tham gia các tổ chức công tác xã hội giúp người nông dân ven đô rất nhiều trong việc tìm kiếm thông tin, việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Chính các mạng lưới xã hội chính thức này đã khiến sự di động nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình tăng lên và đồng nghĩa sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình giảm đi
Như vậy, trong hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình, các nghiên cứu cũng đã chỉ
ra một số những nhân tố bao gồm cả những nhân tố mang tính chất cá nhân
Trang 37như: giáo dục, vốn văn hóa của gia đình, nguồn gốc gia đình và những nhân
tố mang tính chất xã hội như: sự dịch chuyển của nền kinh tế, sự thay đổi của các chính sách về kinh tế, xã hội
Những phân tích trên cho thấy những nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp ở Việt Nam còn tương đối ít ỏi Không có nghiên cứu nào cố gắng phân tích một cách hệ thống những quá trình và cơ chế mà thông qua đó những ưu thế và bất lợi xã hội được truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau trong xã hội Việt Nam đương đại Câu hỏi ‗ai có gì‘, và điều này ảnh hưởng đến cơ hội sống của họ như thế nào, mặc dù đã trở nên cấp thiết hơn nhiều trong nền kinh tế thị trường, vẫn còn bị bỏ ngỏ
Trong bối cảnh khoa học xã hội còn thiếu vắng những nghiên cứu về vấn
đề này, nghiên cứu của tôi sẽ tiếp cận để làm rõ sự kế thừa nghề nghiệp của các nhóm nghề nghiệp cụ thể trong sự dịch chuyển của nền kinh tế thị trường cũng như quá trình và cơ chế mà thông qua đó những ưu thế và bất lợi xã hội được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Bên cạnh đó, luận án sẽ có những
so sánh, đối chiếu sự kế thừa nghề nghiệp không chỉ giữa hai thế hệ cha mẹ
và con cái mà mong muốn của chúng tôi là luận án sẽ đưa ra được bức tranh
so sánh sự kế thừa nghề nghiệp giữa thế hệ thứ nhất với thế hệ thứ hai, thế hệ thứ hai và thế hệ thứ ba Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ quan tâm đến sự kế thừa nghề nghiệp của cha và mẹ với các con (con trai và con gái) của họ
Trang 38Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 2.1.Khái niệm
2.1.1 Nghề nghiệp, cách phân loại nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Theo từ điển xã hội học oxford: ―Nghề nghiệp là một dạng tổ chức công việc Nghề nghiệp là một hình thức tổ chức, bao gồm một thực thể điều tiết trung ương nào đó nhằm đảm bảo cho các thành viên cá nhân thực hiện theo tiêu chuẩn đề ra; một điều lệ để các thành viên tuân theo; một sự quản lí chặt chẽ về kiến thức liên quan đến trình độ chuyên môn, là những yếu tố cấu thành cơ sở của hoạt động nghiệp vụ; và cuối cùng nó bao hàm việc kiểm soát số lượng, việc tuyển lựa và đào tạo các thành viên mới.‖ [ 10, tr.374]
Một số tiêu chí để phân loại nghề nghiệp:
Theo từ điển xã hội học oxford: ―đơn vị nhỏ nhất của một phân loại nghề là khái niệm công việc (a job), được xác định nghĩa như nhiệm vụ do một cá nhân thực hiện, được xác định chung bằng một tên gọi công việc Nghề (occupation) thường đồng nghĩa với công việc(job), nhưng cũng có thể nói đến một nhóm những công việc tương tự như nhau được xác định bằng một tên gọi chung Công việc và nghề có thể được mô tả không chỉ bằng nhiệm vụ, mà còn bằng những tính chất kết hợp như: kĩ năng, trách nhiệm, thu nhập, tiêu chuẩn tuyển dụng và uy tín Còn nhiều tính chất rộng hơn có thể rút ra từ những phận sự khác nhau của các nghề, như lối sống, kiểu văn hóa v.v [ 10, tr 434]
Như vậy, nghề nghiệp có những tiêu chí riêng biệt sau: nghề nghiệp là một loại hình công việc, mỗi công việc có vị thế riêng của nó, mỗi loại nghề nghiệp có những tiêu chuẩn riêng, mỗi một loại nghề nghiệp có những yêu cầu cụ thể về kiến thức liên quan đến trình độ chuyên môn, mỗi một loại nghề nghiệp có giá trị riêng của nó Phân loại nghề nghiệp:
Để đạt được mục đích nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận 10
Trang 39nhóm xã hội nghề nghiệp Cơ sở để phân loại 10 nhóm xã hội nghề nghiệp là
dựa vào Danh mục nghề nghiệp mà Tổng cục Thống kê xây dựng nhằm phục vụ
cho các cuộc khảo sát mức sống hộ gia đình ở nước ta như sau:
- Nhóm nghề lãnh đạo, quản lí: là những người nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn thể từ trung ương đến địa phương
- Nhóm nghề doanh nhân: là những người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan liên hiệp, tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp
- Nhóm nghề chuyên môn cao: là những người có trình độ chuyên môn cao,
kĩ thuật cao trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học kĩ thuật…
- Nhóm nghề nhân viên: là những người phục vụ trong các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, giáo dục, y tế, văn phòng
- Nhóm nghề công nhân: là những người thợ chuyên nghiệp và có kĩ thuật
Họ vận hành, lắp ráp máy móc, lái xe, điều khiển các máy móc
- Nhóm nghề buôn bán - dịch vụ: là những người bán hàng, làm dịch vụ, người mẫu, bảo vệ, tiếp thị hàng hóa
- Nhóm nghề lao động giản đơn: bao gồm những người lao động giản đơn trong khai thác mỏ, xây dựng và các lĩnh vực khác
- Nhóm nghề nông dân: bao gồm những người lao động trong nhóm nghề nông, lâm, ngư, nghiệp
- Nhóm lực lượng vũ trang: gồm những người hiện đang phục vụ trong quân đội, kể cả lực lượng hậu cần, không phân biệt phục vụ tự nguyện hay bắt buộc và do Bộ Quốc phòng quản lí
Khi tìm hiểu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa, nghề nghiệp của các cá nhân được chúng tôi hỏi với
những thông tin cơ bản như sau: nghề nghiệp cụ thể của các cá nhân, chức vụ
cũng như tên cơ quan mà cá nhân đó tham gia hoạt động nghề nghiệp, thời gian tham gia hoạt động nghề nghiệp đó Những thông tin trên được mô tả một cách
chi tiết và chúng tôi coi đó là cơ sở để mã hóa nghề nghiệp của các cá nhân trong nghiên cứu vào 10 nhóm nghề cơ bản như hướng dẫn của Tổng cục thống kê
Trang 402.1.2 Thế hệ, gia đình
Thế hệ:
Theo từ điển xã hội học Oxford, ―Thế hệ là một hình thức nhóm theo độ tuổi, nó bao gồm những thành viên trong xã hội sinh trong cùng một khoảng thời gian nào đó‖ [10, tr 548]
Gia đình:
Theo từ điển xã hội học Oxford, ―Là một nhóm thân thuộc hợp thành từ nhứng người có liên hệ với nhau bằng những ràng buộc dòng máu, bạn tình hay những ràng buộc pháp luật Nó là một đơn vị xã hội rất dẻo dai đã tồn tại và thích nghi theo thời gian‖ [10,tr 196]
Thế hệ trong gia đình: là những nhóm thân thuộc có thứ tự sắp đặt trong gia đình giống nhau và gắn bó với nhau bằng những ràng buộc dòng máu hay pháp luật
2.1.3 Kế thừa và kế thừa nghề nghiệp
Kế thừa: Theo từ điển Tiếng Việt, kế thừa có 2 nghĩa: (1) sự thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy (cái có giá trị tinh thần), (2) hưởng của người chết để lại cho [61, tr 486]
Di động nghề nghiệp:
Theo từ điển xã hội học Oxford: ―Di động nghề nghiệp là sự vận động của chính một nhóm nghề, hoặc của một cá nhân thành viên của một nghề, hoặc của một chỗ trống nghề nghiệp diễn ra trong hệ thống phân tầng của không gian xã hội‖ [10,tr.140] Hầu hết các nghiên cứu đều áp dụng vị thế nghề nghiệp để đánh giá tính di động nghề nghiệp Di động ―đi xuống‖ thì nói đến tính thua thiệt, mất mát, còn di động ―đi lên‖ là sự nâng cao uy tín nghề nghiệp Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu kinh điển ở Mĩ và Châu Âu, có sự khác biệt rõ rệt khi nghiên cứu di động bên trong của một thế hệ (ví dụ các khuôn mẫu thăng tiến) và di động giữa hay liên thế hệ Bảng vòng quay cha - con (Father - Son Turnover Table), cho biết các cha mẹ trong một loại nghề nghiệp nào đó có con cái làm nghề gì và ngược lại những người con đang làm