Mục đích làm việc của chúng tôi trong đề tài này là nghiên cứu địa danh Quảng Trị trên các mặt đặc điểm về mặt cấu tạo, phương thức định danh gắn với những đặc điểm về ý nghĩa của các y
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TỪ THU MAI
NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 5.04.31
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN TRÍ DÕI
HÀ NỘI - NĂM 2004
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục 3
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt 7
Danh mục các biểu bảng 8
Danh mục các mô hình, sơ đồ 8
MỞ ĐẦU 9
I Tính thời sự của đề tài 9
II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
III Lịch sử vấn đề 11
IV Đối tượng và nội dung nghiên cứu 14
V Đóng góp mới của luận án 15
VI Tư liệu, cứ liệu và cách xử lí 15
VII Phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận án 17
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ 19
1.1 Cơ sở lí thuyết 19
1.1.1 Định nghĩa về địa danh 19
1.1.2 Phân loại địa danh 21
1.1.3 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học 24
1.1.4 Hướng tiếp cận và phát triển khi nghiên cứu địa danh Việt Nam 27
1.2 Vấn đề tư liệu về địa bàn và địa danh Quảng Trị 26
1.2.1 Những vấn đề về địa bàn có liên quan đến địa danh Quảng Trị 26
1.2.1.1 Về địa lí 26
1.2.1.2 Về lịch sử 27
1.2.1.3 Về địa giới hành chính 30
1.2.1.4 Về đặc điểm dân cư 33
1.2.1.5 Về văn hoá 35
Trang 31.2.1.6 Về ngôn ngữ 37
1.2.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh 42
1.2.2.1 Kết quả thu thập địa danh 42
1.2.2.1 Kết quả phân loại địa danh 42
1.3 Tiểu kết 51
Chương 2 : NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ .54
2.1 Kiểu mô hình cấu tạo phức thể địa danh 54
2.1.1 Giới thiệu chung 54
2.1.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh 56
2.1.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh 56
2.1.2.2 Quan hệ giữa thành tố chung với địa danh 57
2.2 Thành tố chung 57
2.2.1 Khái niệm về thành tố chung 57
2.2.1.1 Về tên gọi của thành tố chung 57
2.2.1.2 Khái niệm thành tố chung 58
2.2.2 Vấn đề thành tố chung trong địa danh Quảng Trị 58
2.2.2.1 Số lượng các thành tố chung trong các loại hình địa danh 58
2.2.2.2 Cấu tạo của thành tố chung 59
2.2.2.3 Sự phân bố các thành tố chung 61
2.2.2.4 Chức năng của thành tố chung 63
2.2.2.5 Về khả năng kết hợp của thành tố chung với địa danh 67
2.3 Địa danh 74
2.3.1 Giới thiệu chung 74
2.3.2 Đặc điểm cấu tạo của địa danh Quảng Trị 76
2.3.2.1 Về số lượng các yếu tố trong địa danh 76
2.3.2.2 Nhận xét khái quát về các kiểu cấu tạo địa danh 79
2.3.2.3 Đặc điểm của một số kiểu cấu tạo địa danh do các phương thức định danh chi phối 86
2.3 Tiểu kết 93
Trang 4Chương 3: TÌM HIỂU PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH TRONG ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ 96
3.1 Một số vấn đề liên quan đến phương thức định danh 96
3.1.1 Vấn đề ý nghĩa và phương pháp xác định nghĩa của các yếu tố 96
3.1.1.1 Vấn đề ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh Quảng Trị 96
3.1.1.2 Phương pháp xác định nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh 98
3.1.2 Phương thức định danh đối tượng địa lí 100
3.1.2.1 Về tên gọi phương thức định danh 100
3.1.2.2 Phân biệt phương thức và cách thức định danh 100
3.1.2.3 Mối quan hệ giữa phương thức định danh với ý nghĩa của các yếu tố 101
3.1.2.4 Các phương thức định danh trong địa danh Quảng Trị 102
3.2 Đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh 105
3.2.1 Những đặc điểm chính về ý nghĩa của các yếu tố 105
3.2.1.1 Ý nghĩa của các yếu tố được tạo nên nhờ phương thức cấu tạo mới 105
3.2.1.2 Tính rõ ràng về nghĩa của các yếu tố trong địa danh được qui định bởi những nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau 107
3.2.1.3 Các yếu tố trong địa danh Quảng Trị phản ánh tính đa dạng của các loại hình đối tượng địa lí và mang tính cảnh quan rõ nét 109
3.2.2 Cách phân loại ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh 114
3.2.3 Những nhóm ý nghĩa thể hiện qua các yếu tố cấu tạo địa danh 115
3.2.3.1 Nhóm ý nghĩa thứ nhất 117
3.2.3.2 Nhóm ý nghĩa thứ hai 126
2.3 Tiểu kết 131
Chương 4: MỘT VÀI ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA TRONG ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ 135
4.1 Một số vấn đề về văn hóa và ngôn ngữ 135
4.1.1 Về cách hiểu khái niệm văn hoá 135
4.1.2 Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 136
4.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện trong địa danh 139
4.2.1 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua thành tố ngôn ngữ 139
4.2.1.1 Đặc trưng địa - văn hoá qua các thành tố chung 139
Trang 54.2.1.2 Đặc trưng văn hóa thể hiện qua các yếu tố ngôn ngữ trong địa danh 140
4.2.1.3 Tính đa tầng, hội nhập văn hóa qua các yếu tố ngôn ngữ trong địa danh151 4.2.1.4 Các chế định ngôn ngữ - văn hóa trong địa danh Quảng Trị 155
4.2.2 Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hóa trong địa danh 159
4.2.2.1 Về sự giao lưu văn hóa 159
4.2.2.2 Đặc trưng văn hóa trong địa danh Quảng Trị qua hiện tượng phản ánh sự tồn tại của các di sản vật thể 160
4.2.2.3 Đặc trưng văn hóa trong địa danh Quảng Trị qua hiện tượng phản ánh sự tồn tại các di sản phi vật thể 161
4.2.3 Sự thể hiện các phương diện văn hóa trong địa danh Quảng Trị 165
4.2.3.1 Sự thể hiện phương diện văn hóa sinh hoạt 165
4.2.3.2 Sự thể hiện phương diện văn hóa sản xuất 174
4.2.3.3 Sự thể hiện phương diện văn hóa vũ trang 176
4.3 Tiểu kết 179
KẾT LUẬN 183
Những bài báo của tác giả có liên quan đến luận án đã được công bố 190
Tài liệu tham khảo 191
Phụ lục 200
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
1 Qui ước về cách viết tắt địa danh các huyện, thị xã
- CL : Huyện Cam Lộ - DL : Huyện Do Linh
- ĐH : Thị xã Đông Hà - ĐK : Huyện Đakrông
- HH : Huyện Hướng Hóa - HL : Huyện Hải Lăng
- QT : Thị xã Quảng Trị - TP : Huyện Triệu Phong
- VL : Huyện Vĩnh Linh
2 Qui ước về cách viết tắt các loại hình địa danh
- ĐDCTGT : địa danh các công trình giao thông
- ĐDCTXD : địa danh các công trình xây dựng
- ĐDCTNT : địa danh các công trình nhân tạo
- ĐDĐHTN : địa danh địa hình tự nhiên
- ĐDĐVDC : địa danh các đơn vị dân cư
- ĐVDCHC : địa danh các đơn vị dân cư do chính quyền hành chính đặt ra
- ĐVDCPK : địa danh các đơn vị dân cư có từ thời chính quyền phong kiến
- SD : sơn danh
- TD : thủy danh
- ĐDVĐN : địa danh các vùng đất nhỏ phi dân cư
3 Qui ước về cách dùng kí hiệu phiên âm
- Tất cả những kí hiệu dùng để phiên âm đều được ghi theo kí hiệu phiên âm
quốc tế (Phonetic Symbol Guide, G.K Pullum and W.A Ladusaw, the University
of Chicago press, Chicago and London 1986, 266 p)
Trang 7- Những phụ âm khi xuất hiện ở vị trí âm đầu của âm tiết sẽ được kí hiệu bằng một dấu nối đặt sau kí hiệu phiên âm âm vị Ví dụ: /z-/
- Những phụ âm và bán âm khi xuất hiện ở vị trí âm cuối của âm tiết sẽ được
kí hiệu bằng một dấu nối đặt trước kí hiệu phiên âm Ví dụ: /- i/, /-ŋ/
Bảng 2.1 Kết quả thống kê cấu tạo của các thành tố chung
Bảng 2.2 Sự phân bố thành tố chung khi chuyển hoá vào các yếu tố trong
địa danh
Bảng 2.3 Kết quả thống kê địa danh theo số lượng các yếu tố
Bảng 2.4 Kết quả thống kê địa danh theo kiểu cấu tạo
Bảng 2.5 Kết quả thống kê số lượng địa danh được cấu tạo theo cách thức
chuyển hoá thành tố chung
Bảng 3.1 Kết quả thống kê địa danh theo phương thức định danh
Bảng 3.2 Kết quả thống kê địa danh theo tiêu chí ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo
DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH, SƠ ĐỒ
Mô hình 1.1 Sự phân bố các loại hình ở địa danh Quảng Trị
Mô hình 1.2 Sự phân bố các loại hình địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ
Mô hình 2.1 Cấu trúc phức thể địa danh
Mô hình 2.2 Cấu trúc phức thể địa danh khi thành tố chung chuyển hoá vào yếu
tố thứ nhất trong địa danh
Trang 8Mô hình 2.3 Cấu trúc phức thể địa danh khi thành tố chung chuyển hoá vào yếu
tố thứ hai và yếu tố thứ ba trong địa danh
Sơ đồ 1.1 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên- không tự nhiên
MỞ ĐẦU
I TÍNH THỜI SỰ CỦA ĐỀ TÀI
1 Nghiên cứu địa danh là một lĩnh vực rất quan trọng và rất cần thiết trong
ngôn ngữ học truyền thống cũng như ngôn ngữ học hiện đại Nó không chỉ làm sáng
tỏ những đặc điểm, những qui luật nội bộ của địa danh, góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ một vùng miền, một đất nước mà còn có ý nghĩa liên quan đến một số vấn
đề khác, đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá Nghiên cứu cấu tạo, phương thức định danh và ý nghĩa của các yếu tố cũng như những qui luật biến đổi trong sự tương tác với văn hóa của địa danh nói chung và của địa danh Quảng Trị nói riêng cũng hướng đến những ý nghĩa, giá trị trên
2 Địa danh bao giờ cũng có những mối quan hệ gắn bó, những ảnh hưởng, tác
động qua lại với văn hóa, lịch sử, địa lí và dân cư, ngôn ngữ nơi nó tồn tại Nghiên cứu địa danh trong những mối quan hệ với các mặt có liên quan đó sẽ phác thảo được bức tranh toàn cảnh về cơ cấu và sự giao thoa giữa các yếu tố có ảnh hưởng lẫn nhau trên một vùng đất, từ quá khứ đến hiện tại Đặc biệt, nghiên cứu địa danh cũng là một trong những bộ môn ngôn ngữ học góp phần nghiên cứu văn hóa một vùng lãnh thổ, một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay
3 Nghiên cứu địa danh Quảng Trị là góp phần tìm hiểu vấn đề văn hóa ở khía
cạnh ngôn ngữ học tại một khu vực của một vùng lãnh thổ nói riêng và của Việt Nam nói chung Tỉnh Quảng Trị là ranh giới của sự chia cắt nhiều lần trong lịch sử
Do vậy, sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ, văn hóa ở vùng đất này cũng được diễn ra tương ứng Nghiên cứu địa danh Quảng Trị sẽ thấy được sự phát triển của tiếng Việt và của tiếng địa phương Quảng Trị trong các lĩnh vực ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp được phản ánh qua các giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 94 Địa danh Quảng Trị là một "mảnh đất" chứa đầy tiềm năng của sự hấp dẫn,
thú vị với những giá trị có ý nghĩa về nhiều mặt như đã trình bày ở trên Tuy vậy, chưa có những công trình ngôn ngữ học chú ý đến Là một người đang sống và công tác tại địa phương, nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, bản thân tôi đã mạnh dạn chọn đối tượng này để nghiên cứu
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Mục đích nghiên cứu
1.1 Mục đích làm việc của chúng tôi trong đề tài này là nghiên cứu địa danh
Quảng Trị trên các mặt đặc điểm về mặt cấu tạo, phương thức định danh gắn với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cũng như đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa qua mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử, địa lí, tiếng địa phương và sự biểu hiện các thành tố văn hóa để nhận biết bức tranh chung cũng như dấu ấn các tầng văn hoá ở Quảng Trị Từ đó, giúp chúng ta nhận thấy sự ảnh hưởng, giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa và lịch sử ở vùng đất này
1.2 Thông qua việc thu thập, miêu tả và phân tích địa danh, luận án sẽ khảo
sát những yếu tố hình thành nên đặc điểm của địa danh Quảng Trị Đó là những yếu
tố địa hình, lịch sử, dân cư, văn hóa và ngôn ngữ Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích các đặc điểm của đối tượng, luận án góp phần nghiên cứu địa danh văn hóa ở Quảng Trị nói riêng và ở Việt nam nói chung, một vấn đề tuy đã có những công trình nghiên cứu nhưng vẫn còn rất nhiều những vấn đề cần được khai thác
1.3 Thu thập địa danh để góp phần phục vụ cho việc mở rộng thêm những vấn
đề mà có thể bản dự thảo địa chí địa phương Quảng Trị chưa hoàn thiện Trong điều kiện cho phép, những cứ liệu được thu thập, thống kê sẽ là cơ sở để xây dựng cuốn
từ điển địa danh Quảng Trị
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Bước đầu nghiên cứu các vấn đề lí luận về địa danh và có liên quan đến quá
trình nghiên cứu địa danh Đó là các vấn đề thuộc về lí thuyết định danh như định nghĩa về địa danh, cách phân loại địa danh Các phương thức, cách thức định danh
Trang 10mang tính phổ biến và cụ thể cũng sẽ được nghiên cứu kĩ để làm cơ sở cho việc tìm hiểu những đặc điểm chính của địa danh Quảng Trị
+ Điền dã, khảo sát thực tế các địa danh thuộc các loại hình khác nhau được
phân bố và tồn tại theo các đối tượng địa lí trong phạm vi những địa bàn chủ yếu có người Việt sinh sống và được đặt tên theo tiếng Việt
+ Thống kê, miêu tả và phân tích cứ liệu để rút ra những nhận xét về mặt cấu
tạo, phương thức định danh, nguồn gốc ngôn ngữ và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh Quảng Trị cũng như mối quan hệ của nó với các yếu tố địa lí, lịch sử, dân cư và văn hóa Từ đó, khái quát được bức tranh địa danh vùng này trong sự giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa và lịch sử
+ Trong điều kiện có thể, ở một số nội dung cần thiết, chúng tôi sẽ so sánh,
đối chiếu một vài đặc điểm của địa danh Quảng Trị với địa danh các vùng khác đã được nghiên cứu (địa danh Hải Phòng và địa danh thành phố Hồ Chí Minh) để khái quát cao hơn và khắc sâu hơn những nhận xét về các đặc điểm riêng của địa danh Quảng Trị
III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Với những ý nghĩa to lớn, giá trị thiết thực và sự hấp dẫn, tiềm ẩn trong bản thân của địa danh, đối tượng này đã được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm từ rất sớm Vào những năm giữa thế kỉ XX, đã có hàng loạt những công trình nghiên cứu về địa danh ra đời và mang lại những kết quả tốt đẹp, khẳng định được những thành công bước đầu của một chuyên ngành ngôn ngữ học còn non trẻ vào lúc bấy giờ
Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng hệ thống lí luận về lí thuyết định danh là các nhà địa danh học Xô Viết Cụ thể, N.I.Niconov (1964) và E.M.Murzaev (1964) trong quá trình tìm hiểu các khuynh hướng nghiên cứu địa danh và địa danh học đã cùng quan tâm đến vấn đề khuynh hướng nghiên cứu chung Cùng góp phần cho sự sáng tỏ về lí thuyết, A.I.Popov (1964) đưa ra những nguyên tắc cơ bản của công tác nghiên cứu địa danh, trong đó chú trọng hai nguyên tắc chính là phải dựa vào tư liệu
Trang 11lịch sử của các ngành ngôn ngữ học, địa lí học, lịch sử học và phải thận trọng khi
sử dụng phương pháp thành tố để phân tích ngữ vĩ của địa danh Ngoài các tác giả trên, Iu.A.Kapenco (1964) với những suy nghĩ bàn về địa danh học đồng đại và N.V.Podonxkaja trong phân tích, lí giải địa danh mang những thông tin gì cũng đã góp thêm những ý kiến cho sự nghiên cứu địa danh đi sâu vào bản chất bên trong của đối tượng
Đặc biệt, A.V.Superanskaja (1985) với “Địa danh là gì” đã đặt ra những vấn
đề vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính khái quát, tổng hợp cao Trong nội dung trình bày, tác giả đi sâu vào những vấn đề có liên quan thiết thực đến việc nhận diện
và phân tích địa danh Ngoài việc đưa ra cách hiểu về khái niệm địa danh, tác giả này còn quan tâm đến các vấn đề khác như tính liên tục của tên gọi, không gian tên riêng và các loại địa danh (địa danh kí hiệu, địa danh mô tả, địa danh đăng kí, địa danh ước vọng) cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo loại hình Có thể nói đây là một công trình lớn có giá trị tổng kết những kết quả nghiên cứu mới, làm cơ
sở vững chắc cho sự nghiên cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang Xô Viết trước đây Ngoài các nhà địa danh học Xô Viết, những người nghiên cứu địa danh ở các nước khác cũng đã góp phần cho sự phong phú, đa dạng về những vấn đề nghiên
cứu trong lĩnh vực này Chẳng hạn, Ch.Rostaing (1965) với “Les noms de lieux” đã
chú trọng trong việc nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của một địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương Đây là một chuyên luận bổ sung thêm cho vấn đề nghiên cứu mà A.I.Popov đã đưa ra trước đó
2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Cùng theo xu hướng phát triển của ngôn ngữ học, đặc biệt là của địa danh học trên thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh cũng được đặt ra ở Việt Nam từ những
năm 1960 Hoàng Thị Châu (1964) đã đề cập đến địa danh sông qua “Mối liên hệ về
ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” Lê Trung Hoa (1991) khi
nghiên cứu “Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra những vấn đề lí thuyết
làm cơ sở cho sự phân tích và chỉ ra các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa,
Trang 12về mặt phản ánh hiện thực và sự chuyển biến của địa danh một thành phố lớn ở
miền Nam Đến năm 1996, Nguyễn Kiên Trường với luận án “Những đặc điểm
chính của địa danh Hải Phòng“ đã bổ sung thêm những vấn đề về lí thuyết định
danh mà Lê Trung Hoa dẫn ra trước đó Đặc biệt, luận án khái quát được những đặc điểm về cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa danh Hải Phòng trong vài nét đối sánh với địa danh Việt Nam
Nhằm góp phần cho sự đa dạng của các khuynh hướng, các phương pháp nghiên cứu địa danh, Trần Trí Dõi đã có một loạt những bài viết về địa danh theo
hướng so sánh - lịch sử Đó là các bài viết “Về địa danh Cửa Lò” (2000), “Về một
vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa” (2000), "Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam)" (2001) và "Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị" (2001)
Nếu như các tác giả trên đều nghiên cứu địa danh theo cách tiếp cận ngôn ngữ học, xuất phát từ chính bản thân đối tượng địa danh thì Nguyễn Văn Âu (2000) với
"Một số vấn đề địa danh học Việt Nam" lại nghiên cứu địa danh không phải từ
hướng ngôn ngữ học mà từ cách tiếp cận địa lí- lịch sử - văn hóa
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng ở Việt nam, các khuynh hướng nghiên cứu địa danh rất phong phú và đa dạng Chính sự phong phú, đa dạng ấy đã cho phép chúng ta nhìn nhận địa danh ở những khía cạnh khác nhau Và điều quan trọng là để làm sáng tỏ vấn đề địa danh thì sự tiếp cận liên ngành là rất cần thiết
3 Vấn đề nghiên cứu địa danh Quảng Trị
Địa danh Quảng Trị đang là đối tượng hết sức mới mẻ, chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu Hiện chỉ có một vài bài báo nhỏ có tính chất điểm xuyết về một vài địa danh với những tên đất, tên làng mang màu sắc dân gian, văn hóa Cụ
thể, Nguyễn Lương Tài (1996) đã đề xuất "Nên nói đúng, viết đúng và hiểu đúng
tên đất, tên làng" và Mai Chiếm Trung (2001) với cách liệt kê đơn giản về "Địa danh Đông Hà qua các thời kì lịch sử" Tương tự, bản dự thảo địa chí địa phương
Quảng Trị cũng chỉ dừng lại ở mức độ nêu lên những vấn đề thuộc tiếng địa phương
Trang 13ở vùng này và liệt kê ra một số địa danh có tính chất văn hóa, lịch sử mà chưa đề cập đến việc nghiên cứu địa danh theo đúng bản chất của nó Nhìn chung, những bài viết này chỉ mới đề cập đến một vài địa danh nhỏ, có tính chất riêng lẻ ở Quảng Trị với mức độ liệt kê rời rạc mà chưa có được tính hệ thống, tính cấu trúc của việc nghiên cứu một đối tượng thuộc một chuyên ngành ngôn ngữ học
Tóm lại, mặc dù vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới đã được đặt ra rất sớm và đã có nhiều công trình đi sâu khai thác với những mặt khác nhau nhưng ngành địa danh học ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu xây dựng một lí luận đầy
đủ cho việc nghiên cứu của mình đối với một đối tượng địa danh hoàn toàn khác biệt với địa danh các nước phương Tây ở loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tiết Các công trình nghiên cứu địa danh ở nước ta vì thế cũng đang ở bước đầu với những cuốn sách, những bài viết khả dĩ đi vào từng vùng địa danh cụ thể hoặc chỉ là cái nhìn bao quát địa danh Việt nam dưới góc độ văn hoá - địa lí - lịch sử Có thể nhận thấy rằng vấn đề nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học đang còn chưa đủ mạnh, mỗi người tiếp cận và nghiên cứu theo một hướng khác nhau mà chưa có sự tập trung cao Với hướng tiếp cận và nghiên cứu địa danh Quảng Trị từ góc độ ngôn ngữ học, người viết muốn góp một phần của mình cho sự ngày càng hoàn thiện lí luận nghiên cứu địa danh nói chung ở Việt Nam
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tên gọi các đối tượng địa lí được đặt bằng tiếng Việt và tồn tại trên địa bàn chủ yếu có người Việt sinh sống Địa bàn này bao gồm vùng đồng bằng ven biển, trung du ở các huyện, thị xã như Vĩnh Linh, Do Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, thị xã Đông Hà, thị xã Quảng Trị và một số
xã kinh tế mới ở hai huyện miền núi Đakrông và Hướng Hóa
Để có cứ liệu nghiên cứu về đối tượng, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát các địa danh chỉ địa hình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh chỉ các công trình nhân tạo có trên địa bàn đã được khoanh vùng ở trên
2 Nội dung nghiên cứu
Trang 14Hướng nghiên cứu của luận án là tìm hiểu địa danh Quảng Trị trên các mặt đặc điểm về cấu tạo địa danh, về phương thức định danh gắn với tính lí do trên cơ
sở nghĩa và ý nghĩa của các yếu tố cũng như những đặc trưng văn hóa của địa danh qua mối quan hệ giữa nó với các yếu tố có liên quan như địa lí, lịch sử, dân cư, tiếng địa phương và văn hóa Trong nghiên cứu mối quan hệ giữa địa danh với các yếu tố liên quan đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu một vài sự biến đổi có tính chất tương đối rõ nét của địa danh Quảng Trị qua các chế định của văn hóa vùng này Tất cả sự nghiên cứu như thế đều được đặt trong sự tương tác giữa địa danh với văn hóa
V ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1 Luận án sẽ mô tả bức tranh tổng thể và khái quát những đặc điểm về cấu tạo
của địa danh Quảng Trị Qua đó, giúp chúng ta thấy được những đặc điểm về cách thức cấu tạo, các kiểu quan hệ thể hiện trong địa danh Luận án cũng sẽ tìm hiểu và chỉ ra sự tác động, ảnh hưởng của các phương thức định danh trong mối quan hệ với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh Quảng Trị
Với việc bước đầu nghiên cứu một vài đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của địa danh trong mối quan hệ với địa lí, lịch sử, dân cư, tiếng địa phương và văn hóa, luận
án khái quát được những ảnh hưởng của các mặt này đối với địa danh và đối với ngôn ngữ nói chung Trên cơ sở ấy, góp phần bổ sung thêm cho lí luận nghiên cứu địa danh Việt Nam cũng như nghiên cứu văn hoá Việt Nam
2 Luận án tiếp tục làm sáng tỏ thêm bản chất của địa danh thông qua đặc
trưng văn hóa, lịch sử của nó, làm rõ sự tiếp xúc ngôn ngữ trên các bình diện ngữ
âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp trên từng vùng địa lí, được thể hiện qua địa danh
VI TƯ LIỆU, CỨ LIỆU VÀ CÁCH XỬ LÍ
1 Nguồn tư liệu
Với mục đích cố gắng phản ánh tương đối đầy đủ, có cơ sở và có hệ thống với các nội dung được đặt ra khi nghiên cứu địa danh Quảng Trị, chúng tôi đã thu thập,
tập hợp tư liệu cần thiết từ các nguồn như sau:
+ Tư liệu lưu trữ hành chính từ tỉnh, huyện, xã với các vấn đề liên quan là những tư liệu ghi chép được trên cơ sở các biểu mẫu thống kê phục vụ cho công tác
Trang 15hành chính (bầu cử, điều tra dân số, quản lí hành chính, danh bạ điện thoại ) Đây
là tư liệu quan trọng nhất, có tính pháp lí để đảm bảo tính minh xác của những điều được trình bày trong luận án
+ Bản đồ các loại của tỉnh Quảng Trị và của các huyện thị trong tỉnh là tư liệu quí giá giúp cho việc xác định tọa độ, vị trí, địa điểm của từng địa danh Qua nguồn
tư liệu này có thể tìm được những mối quan hệ đồng nhất, độc lập hay chuyển hóa giữa các địa danh trong thực tế có liên quan với nhau
+ Các bài viết, tạp chí, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu được thu thập, ghi chép và chọn lọc để phục vụ cho các nội dung về lí thuyết định danh và về cách phân loại, cách phân tích đặc điểm của địa danh
+ Trong quá trình điền dã, chúng tôi đã thu thập được một vài tư liệu của các dòng họ ở các làng và sự ghi chép về lịch sử của làng Dù là ít ỏi (do hậu quả của thiên tai và các cuộc chiến tranh triền miên) nhưng nguồn tư liệu này cho phép người nghiên cứu có được những hiểu biết về nguồn gốc của một số địa danh có liên quan đến các cuộc di dân từ miền Bắc, Thanh - Nghệ vào Quảng Trị qua các thời kì, các biến cố lịch sử và hiện tượng mang theo địa danh cũ đến đặt cho các đối tượng mới, một hiện tượng khá phổ biến trong địa danh đơn vị dân cư ở vùng đất này
2 Cứ liệu và cách xử lí cứ liệu
Cứ liệu địa danh Quảng Trị được tập hợp từ điều tra, ghi chép điền dã gồm
4883 địa danh được thu thập từ hai nguồn là văn bản hành chính các cấp, bản đồ các loại và từ thực tế địa danh tồn tại trên cộng đồng Số lượng cứ liệu điều tra cho phép
sự nghiên cứu có được những kết quả, những số liệu làm cơ sở thực tiễn cho từng nội dung vấn đề được đặt ra
Số lượng địa danh thu thập được sẽ được thống kê, phân loại và xử lí theo những thông tin về các loại đối tượng địa danh theo thứ tự sau đây: 1 Địa danh (tên gọi đối tượng); 2 Loại hình địa danh (danh từ chung chỉ loại đối tượng); 3 Tên gọi khác của đối tượng (những tên gọi khác có trước hoặc song song tồn tại với tên gọi hiện nay); 4 Ý nghĩa từng tên gọi (ghi rõ ý nghĩa của từng tên gọi, có thể là ý nghĩa
Trang 16chiết tự, ý nghĩa về nguồn gốc của đối tượng); 5 Nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu
tố (ghi rõ yếu tố Hán Việt, yếu tố thuần Việt trong tiếng toàn dân và yếu tố thuần Việt biến âm theo tiếng Quảng Trị hay yếu tố trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số khác có quan hệ); 6 Số lượng yếu tố (ghi rõ địa danh được cấu tạo bằng mấy yếu tố); 7 Kiểu cấu tạo (ghi rõ kiểu cấu tạo đơn yếu tố hay kiểu cấu tạo phức theo các quan hệ chính phụ , đẳng lập hay chủ vị ); 8 Vị trí hiện nay (ghi lại tên đối tượng địa lí lớn hơn đang chứa đối tượng địa lí được thống kê) Sự phân loại, xử lí này dựa trên cơ sở sự định hướng các nội dung cần khai thác trong luận án
Sau khi xử lí, phân loại theo mẫu, chúng tôi tiến hành tổng hợp sơ đồ, biểu bảng với số lượng và tỉ lệ cần thiết, sát hợp với mục đích, yêu cầu của từng nội dung sẽ được trình bày trong luận án Trên cơ sở các biểu mẫu, sơ đồ, rút ra những nhận xét từ cụ thể đến khái quát, theo hướng qui nạp để đưa vào từng phần, từng chương, mục của luận án
VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT CẤU LUẬN ÁN
1 Phương pháp nghiên cứu
1.1 Phương pháp chung
Do đặc điểm của địa danh học nói chung, khi nghiên cứu đề tài này người viết
sử dụng phương pháp qui nạp Tức là đi từ cứ liệu cụ thể để mô tả các sự kiện, sau
đó nhận xét và rút ra kết luận khái quát chung Với định hướng về phương pháp chung, chúng tôi quan niệm rằng chỉ bằng phương pháp ngôn ngữ học mới có thể kiểm tra được những giả thuyết có liên quan đến xuất xứ của hàng loạt địa danh và mới nghiên cứu vấn đề về cấu tạo cũng như tính lí do thể hiện qua các phương thức định danh gắn với ý nghĩa của các yếu tố một cách khoa học
1.2 Những thao tác cụ thể
Trong quá trình thu thập cứ liệu, chúng tôi sử dụng các thao tác của phương pháp điền dã thực tế Trên cơ sở những mẫu phiếu điều tra đã được xây dựng, người khảo sát tiến hành điều tra, thu thập cứ liệu và ghi chép lại những thông tin để phục
vụ cho việc thực hiện đề tài
Trang 17Khi có đủ cứ liệu cần thiết, người nghiên cứu sẽ sử dụng các thao tác thống
kê, miêu tả, phân tích theo định tính, định lượng Sau đó tổng hợp kết quả dựa trên
cơ sở các cứ liệu đã được phân tích
Căn cứ vào kết quả tổng hợp được, người viết sẽ miêu tả những đặc điểm về mặt cấu tạo của địa danh, phương thức định danh và những biểu hiện văn hóa của địa danh ở các loại hình khác nhau Do vậy, nghiên cứu địa danh ở bình diện từ vựng - ngữ nghĩa theo đồng đại để hiểu cấu tạo của địa danh và ý nghĩa của các yếu
tố cấu tạo nên chúng là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận án Với phương pháp này, chúng tôi sẽ sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp và khái quát hóa để nâng cao vấn đề nội dung được trình bày
Trong một số trường hợp, các thao tác của phương pháp so sánh - lịch sử được
sử dụng để nghiên cứu những sự biến đổi mang tính qui luật ở địa danh Quảng Trị Đồng thời, các thao tác so sánh đối chiếu cũng được dùng để nghiên cứu sự khác nhau về một số đặc điểm của địa danh vùng này với các vùng địa danh khác
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và tư liệu về địa bàn, địa danh Quảng Trị Chương
này sẽ trình bày những vấn đề lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai các chương mục tiếp theo Ngoài ra, vấn đề tư liệu về địa lí, lịch sử, dân cư, văn hóa và ngôn ngữ trên địa bàn Quảng Trị cùng một số kết quả thu thập, phân loại và thống kê được từ cứ liệu cũng
sẽ được trình bày tóm tắt, làm cơ sở thực tế cho các phần nội dung luận án
Chương 2: Những đặc điểm về cấu tạo của địa danh Quảng Trị Chương này
sẽ nói rõ cách xác định địa danh và cấu trúc của phức thể địa danh ở cả thành tố chung
Trang 18chỉ loại và các yếu tố trong địa danh Nội dung của chương sẽ đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo của địa danh Quảng Trị
Chương 3: Tìm hiểu phương thức định danh trong địa danh Quảng Trị
Chương này sẽ trình bày các phương thức định danh trong mối quan hệ với những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh Qua đó giải thích được lí do đặt tên cho các đối tượng địa lí được phản ánh trong địa danh Quảng Trị qua hệ thống các trường nghĩa và bộ phận nghĩa của các yếu tố cấu tạo
Chương 4: Một vài đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong địa danh Quảng Trị
Chương này nghiên cứu những đặc trưng văn hóa của địa danh Quảng Trị từ cách tiếp cận các yếu tố của ngôn ngữ - văn hóa Để có được kết quả như mong muốn, nội dung của chương sẽ khai thác những ảnh hưởng của địa lí, lịch sử, sự thay đổi địa giới hành chính, dân cư, tiếng địa phương và những thành tố khác của văn hóa đối với địa danh cũng như sự biểu hiện của các dạng thức, các phương diện văn hóa thông qua địa danh Qua đó, tìm hiểu, nghiên cứu sự ảnh hưởng, giao thoa giữa ngôn ngữ với văn hóa đã mang đến màu sắc riêng cho địa bàn Quảng Trị như thế nào và nó được phản ánh trong địa danh ra sao
Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN, ĐỊA DANH
QUẢNG TRỊ
1.1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.1 Định nghĩa về địa danh
Cuộc sống con người gắn với những điểm địa lí khác nhau Những địa điểm này được gọi tên bằng những từ ngữ riêng Đó là những tên gọi địa lí Những tên gọi này tạo nên một hệ thống riêng và tồn tại trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Những tên gọi địa lí ấy được thể hiện bằng thuật ngữ
Trang 19toponima hay toponoma (từ tiếng Hi Lạp: topos - địa điểm và onoma /onima - tên gọi) với ý nghĩa "tên gọi điểm địa lí"
Khái niệm địa danh cần phải được hiểu đúng theo phạm vi xuất hiện của nó Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa danh là tên đất Thế nhưng, là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học, khái niệm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với từng vùng đất cụ thể mà là tên gọi của tất cả các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất
Nó có thể là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lí cư trú hay là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí Vì vậy, nó hoạt động và chịu sự tác động, sự chi phối của các qui luật của ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng- ngữ nghĩa và ngữ pháp
Nói về địa danh, hiện có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những cách định nghĩa khác nhau theo cách lập luận và hướng tiếp cận của mình Nhà ngôn ngữ học Nga
A.V Superanskaja trong cuốn "Địa danh là gì" đã cho rằng “Tên gọi các địa điểm
được biểu thị bằng những từ riêng Đó là các tên gọi địa lí, địa danh hay toponimia” [3 ; tr.1] và chỉ rõ “Những địa điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể
tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi” [3 ; tr.13] Như vậy, theo tác giả này
thì địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi các địa điểm, mục tiêu địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học đã chia thành hai nhóm nghiên cứu là nghiên cứu địa danh theo góc độ địa lí - văn hoá và nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học Từ cách tiếp cận địa danh theo góc độ địa lí - văn hóa,
Nguyễn Văn Âu quan niệm "Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc hay
là tên các địa phương, các dân tộc" [9 ; tr 5 ]
Trang 20Với cách tiếp cận địa danh theo góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa đưa ra cách
hiểu "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều" [60; tr 21], còn Nguyễn Kiên Trường lại diễn đạt quan niệm của mình bằng định nghĩa "Địa danh
là tên riêng của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [120 ; tr 16 ]
Theo chúng tôi, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau nhưng các đối tượng địa lí bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể độc lập Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để định danh, tạo tên riêng cho đối tượng Tên riêng của các đối tượng này xuất hiện muộn hơn các tên chung chỉ loại
Do vậy, có thể nói rằng địa danh là những kí hiệu ngôn ngữ đặc biệt được tạo thành
từ một hệ thống kí hiệu đã có để định danh cho một đối tượng cụ thể, được xác định Nó chính là đơn vị định danh bậc hai trên cơ sở vốn từ chung Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đề nội tại trong bản thân đối tượng Trước hết, mỗi địa danh đều phải có tính lí do, phải giải thích được nguyên nhân đặt tên cho đối tượng Chức năng gọi tên và cá thể hóa, khu biệt đối tượng là tiêu chí thứ hai Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải là các đối tượng địa lí tồn tại trên bề mặt trái đất Các đối tượng này có thể là đối tượng địa lí tự nhiên hay đối tượng địa lí không tự nhiên
Từ những vấn đề trên, có thể hiểu địa danh theo cách hiểu của A.V
Superanskaja Nói cách khác, địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối
tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất Đây cũng chính là nội hàm
nghiên cứu trong luận án này Tức là, luận án sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất ở địa bàn Quảng Trị Sự chấp nhận cách định nghĩa của chúng tôi là để làm việc Ngược lại, kết quả nghiên cứu có được sẽ trở lại góp phần định nghĩa cho khái niệm địa danh là
gì Sự tương tác hai chiều này thể hiện được giá trị của lí luận chung trong việc
Trang 21nghiên cứu địa danh cũng như giá trị của kết quả nghiên cứu địa danh đối với việc xây dựng một lí luận chung về một bộ môn khoa học
1.1.2 Phân loại địa danh
1.1.2.1 Cách phân loại của các nhà địa danh học phương Tây
Phân loại địa danh là vấn đề rất phức tạp Sự phức tạp này là do sự tác động,
sự qui định ngay trong bản thân của tập hợp vô vàn địa danh được tồn tại trong vô
số các loại hình địa danh có trên thực tế Hiện nay vẫn chưa có mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể dùng chung, phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận, những quan điểm nghiên cứu khác nhau mà người ta thường chỉ quan tâm đến một loại đối tượng cụ thể theo hướng khai thác của từng
cá nhân Vì vậy, việc hệ thống lại các cách phân loại đã có sẽ đưa đến cho người nghiên cứu địa danh có được cách phân loại phù hợp với nội dung và phương pháp làm việc
Mỗi nhà địa danh học tùy theo cách tiếp cận, theo đối tượng, phương pháp và mục đích của mình đã đưa ra những cách phân loại địa danh thích hợp cho sự nghiên cứu Có những nhà nghiên cứu tuy không đặt vấn đề phân chia địa danh một cách tách bạch, rõ ràng nhưng thứ tự các chương mục, các vấn đề trong kết quả nghiên cứu cũng đã phản ánh được phần nào tiêu chí phân loại của họ
A.Dauzat trong "La toponymie Francaise" (1948) và Ch.Rostaing trong "Les
noms de lieux" (1963) đều dựa vào tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ để phân loại địa
danh A.Dauzat chia địa danh làm bốn phần và mỗi phần đều gắn với vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ Đó là: 1.Vấn đề những cơ sở tiền Ấn - Âu; 2 Các danh từ tiền La Tinh về nước trong thủy danh học; 3 Các từ nguyên Gô Loa - La Mã; 4 Địa danh học Gô Loa - La Mã của vùng Auvergne và Velay [131]
Nếu như A.Dauzat thiên về phân chia địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ thì Ch.Rostaing lại lấy tiêu chí của sự hỗn hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng (dù chỉ nói đến ba đối tượng là đường phố, sông, núi) để phân chia địa danh thành
11 loại Các địa danh theo sự phân chia của Ch.Rostaing như sau: 1 Những cơ sở tiền Ấn - Âu; 2 Các lớp tiền Xêntich; 3 Lớp Gô Loa; 4 Những phạm vi Gô Loa -
Trang 22La Mã; 5 Các sự hình thành La Mã; 6 Những đóng góp của tiếng Giécmanh; 7 Các hình thức của thời phong kiến; 8 Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9 Những hình thái hiện đại; 10 Các địa danh và tên đường phố; 11 Tên sông và núi [132]
Với mức độ sâu hơn, khái quát hơn và rõ ràng hơn, A.V.Superanskaja trong
"Địa danh là gì" đã chia địa danh thành tám loại: Điểm dân cư (oiconim), địa điểm
phi dân cư (micro toponim), tên gọi sông (ghiđronim), tên gọi núi (oronim), tên đường phố (hođonim), tên mạng lưới giao thông (đromonim), tên quảng trường (agoronim), tên các công trình bên trong thành phố (urbanonim) [3; tr 3]
1.1.2.2 Cách phân loại của các nhà địa danh học ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà địa danh học ở Việt Nam đã đưa ra
những tiêu chí theo cách lập luận của mình để phân loại địa danh
Nguyễn Văn Âu đã dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí và xã hội để đưa
ra cách phân chia theo loại địa danh, kiểu địa danh và dạng địa danh Theo ông, có hai loại địa danh là địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội Trong hai loại này lại có 7 kiểu địa danh là thủy danh, sơn danh, lâm danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố và quốc gia Trong các kiểu địa danh đó, Nguyễn Văn Âu đã đưa ra 11 dạng địa danh nhỏ hơn là sông ngòi, hồ đầm, hải đảo, đồi núi, rừng rú, truông trảng, làng xã, huyện quận, tỉnh, thành phố và quốc gia
Có thể thấy rằng cách phân loại địa danh của tác giả Nguyễn Văn Âu là không dựa vào các tiêu chí ngôn ngữ học mà chỉ dựa vào đặc điểm địa lí- xã hội Vì vậy, kết quả phân loại ở đây thiếu lôgic, không tuân theo một trật tự có tính chất khái quát để nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học
Lê Trung Hoa dựa vào đối tượng và căn cứ vào tiêu chí "tự nhiên - không tự nhiên" để chia địa danh thành phố Hồ Chí Minh thành hai loại lớn, đó là địa danh tự nhiên và địa danh không tự nhiên Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo Loại địa danh không tự nhiên bao gồm địa danh gọi tên các công trình xây dựng, địa danh gọi tên các đơn vị hành chính và địa danh gọi tên vùng
Trang 23Mặt khác, căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ, tác giả này đã phân loại địa danh thành hai nhóm lớn là địa danh thuần Việt và địa danh không thuần Việt
Nguyễn Kiên Trường đưa ra ba tiêu chí và phân loại địa danh Hải Phòng như sau: Căn cứ tiêu chí đối tượng địa lí, có thể phân chia địa danh thành hai nhóm là địa danh tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn Trong đó, nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn bao gồm hai tiểu nhóm Tiểu nhóm thứ nhất là địa danh đơn vị dân cư - hành chính và địa danh gắn với hoạt động, tiểu nhóm thứ hai là địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng Căn cứ tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, có thể phân chia địa danh thành năm nhóm: địa danh Hán Việt, địa danh thuần Việt, địa danh từ tiếng Pháp hoặc các ngôn ngữ Châu Âu, địa danh từ tiếng Quảng Đông và địa danh từ những ngôn ngữ quan hệ với tiếng Việt như Tày - Thái, Việt - Mường, Chăm, Môn - Khơ Me Căn cứ tiêu chí chức năng giao tiếp, có thể phân chia địa danh thành các loại tên chính thức, tên cũ, cổ và các tên khác
Trong những cách phân loại nói trên thì cách phân loại của Lê Trung Hoa là phù hợp với mục đích và cách làm việc của chúng tôi Từ cách phân loại theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên kết hợp với phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ, qua quá trình mô tả, phân tích chúng ta sẽ chứng minh được sự ảnh hưởng của lịch sử, địa lí, ngôn ngữ, văn hóa và xã hội đối với sự phát triển của ngôn ngữ Đặc biệt, nếu bám sát cách phân loại này, kết quả nghiên cứu sẽ giúp chúng ta thấy được đặc điểm cấu tạo của từng địa danh cụ thể và của cả từng lớp địa danh cũng như lí do định danh, sự thay đổi, chuyển hóa của các địa danh và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh Ngoài ra, chúng còn góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa của địa danh Quảng Trị Đây chính là sự định hướng về mục đích, nội dung nghiên cứu của luận án
Để tạo được sự thống nhất, thuận tiện trong nghiên cứu, chúng tôi dùng khái niệm "loại hình địa danh" để làm tiêu chí phân loại Vì rằng bản thân khái niệm này
đã là một thuật ngữ địa lí thể hiện được cấu tạo theo cấu trúc danh từ chung đứng trước tên riêng
Trang 24Tóm lại, sự phân loại địa danh bao giờ cũng phụ thuộc vào mục đích và phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu Nhằm đáp ứng mục đích và phương pháp nghiên cứu như đã trình bày ở trên, cách phân loại chủ yếu của chúng tôi sẽ là phân loại theo loại hình của đối tượng địa lí với tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên Riêng sự phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ của các yếu tố chỉ được thống kê và sử dụng vào trong từng nội dung nghiên cứu cụ thể một cách hợp lí
1.1.3 Vị trí của địa danh học trong ngôn ngữ học
Nghiên cứu về vị trí của địa danh học trong mối quan hệ với các chuyên ngành ngôn ngữ học khác, những nhà nghiên cứu đi trước đã đưa ra một sơ đồ có tính chất thống nhất Theo đó, ngôn ngữ học gồm có ba ngành chính là ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học Trong từ vựng học có ngành danh xưng học nghiên cứu các qui luật, phương thức định danh nói chung
Ngành danh xưng học tự bản thân nó lại chứa ba ngành nhỏ hơn là nhân danh học, vật danh học và địa danh học Trong đó, nhân danh học nghiên cứu lịch sử, cấu tạo tên người; vật danh học nghiên cứu tên gọi của các sự vật, hiện tượng không phải là người và không phải là các đối tượng địa lí còn địa danh học nghiên cứu về lịch sử hình thành, về cấu tạo, phương thức định danh và chức năng của các tên gọi địa lí
Bản thân địa danh học cũng được chia làm các tiểu ngành nhỏ hơn như sơn danh học, thủy danh học, phương danh học và phố danh học Theo đó, sơn danh học nghiên cứu tên gọi các đồi núi, địa hình dương so với mặt đất; thủy danh học nghiên cứu tên gọi các đối tượng liên quan đến nước và các dòng chảy; phương danh học nghiên cứu tên gọi các địa điểm cư trú của con người (đối tượng của phương danh học được nghiên cứu trong luận án chính là các địa danh đơn vị dân cư) còn phố danh học nghiên cứu tên gọi các đường phố và các đối tượng trong thành phố (đối tượng của phố danh học mà luận án đề cập đến chính là địa danh các công trình nhân tạo, bao gồm tên các công trình giao thông và các công trình xây dựng)
Vấn đề nghiên cứu tên gọi các công trình xây dựng và các vùng đất nhỏ phi dân cư chưa được các nhà nghiên cứu đặt tên môn học, môn nghiên cứu Căn cứ vào
Trang 25thực tế tồn tại các loại địa danh, chúng tôi xếp địa danh chỉ các công trình xây dựng vào loại hình địa danh các công trình nhân tạo Tương tự, chúng tôi cũng đã xếp các địa danh chỉ các vùng đất nhỏ phi dân cư vào loại hình địa danh chỉ địa hình thiên nhiên Phần này chúng tôi sẽ trình bày ở chương 2 của luận án
1.1.4 Hướng phát triển và tiếp cận khi nghiên cứu địa danh Việt Nam
Hướng phát triển của vấn đề nghiên cứu địa danh được đặt ra hiện nay là nghiên cứu địa danh từng vùng miền để khái quát lên những đặc điểm của địa danh Việt Nam nói chung một cách có hệ thống về các mặt cấu tạo, phương thức định danh và đặc trưng văn hóa Sau đó đối chiếu với địa danh của các nước khác được ghi bằng các ngôn ngữ cùng chung loại hình, chung khu vực địa lí, nhằm làm nổi bật những đặc điểm cơ bản của địa danh Việt Nam trong sự phát triển riêng và trong
sự giao thoa, ảnh hưởng chung với các dân tộc, các quốc gia có quan hệ
Mỗi nhà nghiên cứu đều có một hướng tiếp cận chủ yếu, cơ bản, tùy theo nội dung nghiên cứu của mình Tuy vậy, có thể khái quát được các hướng tiếp cận chung, cơ bản khi nghiên cứu địa danh như sau :
+ Tiếp cận địa danh theo hướng đồng đại khi phân tích, tìm hiểu các đặc điểm
về mặt cấu tạo địa danh và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên chúng
+ Tiếp cận theo hướng lịch đại khi tìm hiểu phương thức định danh và truy tìm nguồn gốc, nghiên cứu sự biến đổi của địa danh
+ Hướng tiếp cận địa danh dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa là hướng tiếp cận mới đang được các nhà địa danh học quan tâm và là một vấn đề thời sự hiện nay Thực chất của việc nghiên cứu địa danh theo hướng này là xem xét địa danh đã phản ánh những đặc điểm của văn hóa như thế nào và văn hóa được phản ánh qua địa danh ra sao Nghiên cứu địa danh Quảng Trị trong sự tìm hiểu, nghiên cứu các thành tố văn hóa có khả năng tương tác với địa danh là một hướng đi mà người viết lựa chọn với mong muốn góp phần bổ sung thêm cho sự nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong từng vùng đất và sự thể hiện của nó trên từng vùng địa danh
1.2 VẤN ĐỀ TƯ LIỆU VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỊA DANH QUẢNG TRỊ
Trang 261.2.1 Những vấn đề về địa bàn có liên quan đến địa danh Quảng Trị
1.2.1.1 Về địa lí
Quảng Trị là một tỉnh nhỏ nằm ở giữa eo thắt trên bản đồ Việt Nam Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên -Huế, phía Đông chạy dài ven biển, phía Tây tiếp giáp với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Quảng Trị là một dải đất đồng bằng xen kẽ đồi núi, lượn dài giữa hai dải địa hình rừng núi và đồi cát ven biển Với vị trí nghiêng về Bắc Trung Bộ, Quảng Trị là vùng nối giữa Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ Đây là vùng chuyển tiếp địa lí - địa hình cũng như địa
lí - lịch sử, địa lí - văn hóa, địa lí - ngôn ngữ giữa hai miền Bắc - Nam của đất nước
Đặc điểm cơ bản của địa hình lãnh thổ Quảng Trị là sự phân hóa rõ rệt về mặt
tự nhiên từ Nam ra Bắc, từ Đông sang Tây theo chiều thẳng đứng và các hợp phần
tự nhiên trong hệ thống các bồn khu vực được tạo ra do những nhánh của dải Trường Sơn đâm ngang ra biển Hầu hết phần hạ lưu của các con sông đều được che chắn bởi các dải cồn cát biển cao hơn hẳn đồng bằng ở nơi cửa sông
Đất tự nhiên ở Quảng Trị có hai hệ thống là hệ đất phù sa hình thành trên các trầm tích do sông suối, do biển bồi đắp và hệ đất feralit phát triển trên nền địa chất
đa dạng ở các địa hình đồi núi Rừng núi ở Quảng Trị chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, phần lớn là rừng rậm, địa hình hiểm trở Vùng ven biển Quảng Trị có nhiều đầm phá Hệ thống đầm phá này tồn tại đan xen nhau và tạo nên những mảnh vụn địa hình cho các vùng đất nhỏ phi dân cư
Quảng Trị có hai cửa biển chính là Cửa Việt ở Do Linh và Cửa Tùng ở Vĩnh Linh Sông ngòi ở Quảng Trị phân bố đều từ phía Bắc đến phía Nam của tỉnh Ba
hệ thống sông lớn là Hiền Lương, Thạch Hãn và Ô Lâu cùng các con sông nhỏ như Hiếu, Lai Phước, Nhùng và các nhánh sông khác đã tạo thành mạng lưới giao thông thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong và ngoài tỉnh Quảng Trị có đường quốc lộ 1A và đường xe lửa xuyên Việt chạy qua, có quốc lộ 9 xuyên Á và cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu quốc gia La Lay Chính những sự kiến tạo này đã làm cho Quảng Trị có điều kiện để trở thành một trung
Trang 27tâm giao lưu kinh tế ,văn hóa, ngôn ngữ giữa miền đồng bằng và miền núi, giữa miền Trung với miền Bắc và miền Nam, giữa Quảng Trị với Lào, Thái Lan
Quảng Trị gồm 7 huyện và hai thị xã nhỏ (Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Đakrông, Hướng Hóa và thị xã Đông Hà, thị xã Quảng Trị) phân
bố đều từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây ở vùng đồng bằng ven biển và trung du, miền núi (xem bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị ở phụ lục 1)
1.2.1.2 Về lịch sử
Theo “Ức Trai di tập- Dư địa chí” của Nguyễn Trãi và “Việt sử xứ Đàng
Trong” của Phan Khoang thì vào thời cổ đại, thuở Vua Hùng lập quốc, vùng đất
Quảng Trị nằm trong bộ Việt Thường, một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang-
Âu Lạc Đầu thời Hán thuộc, Quảng Trị thuộc đất quận Nhật Nam Cuối thế kỉ thứ hai, đời Sơ Bình, vào năm 192 nhân dân quận Nhật Nam nổi dậy khởi nghĩa chống phong kiến Hán tộc, lập nên nước Lâm Ấp Sau đó Lâm Ấp sáp nhập với tiểu Vương quốc Panduranga ở phía Nam để lập thành vương quốc Chăm Pa Như vậy,
từ năm 192 vùng đất Quảng Trị thuộc vương quốc Chăm Pa
Trong thời kì giao tranh Chăm - Việt đã có nhiều sự kiện lịch sử đặc biệt được ghi dấu trên vùng đất Quảng Trị Năm 1069 vua Lí Thánh Tông thân chinh thống lĩnh năm vạn quân cùng Lí Thường Kiệt đánh thẳng vào kinh đô Trà Bàn của Chiêm Thành, bắt được vua Chăm là Chế Củ Để chuộc tội, Chế Củ xin dâng ba châu Bố Chính, Địa lí, Ma Linh (Châu Ma Linh thuở ấy là vùng đất từ Cửa Việt trở
ra Bắc, giáp châu Địa Lí, bao gồm đất của các huyện Vĩnh Linh, Do Linh và một phần đất của thị xã Đông Hà, Cam Lộ, Hướng Hoá ngày nay) Kể từ đó, một phần đất phía Bắc Cửa Việt của tỉnh Quảng Trị đã hội nhập vào lãnh thổ người Việt Như vậy, từ năm 1069, Quảng Trị là vùng đất thuộc cả hai nước Đại Việt (châu Ma Linh) và Chăm Pa (châu Ô), lấy Cửa Việt - Sông Hiếu làm ranh giới
Năm 1074, vua Chăm là Harivarma lên ngôi thay Chế Củ, đem quân cướp lại
cả ba châu trước đây và vùng Bắc Quảng Trị lại thuộc về đất Chăm Pa Năm 1075, vua Lí Nhân Tông lại sai Lí Thường Kiệt đem quân đi đánh và giành lại được đất
Trang 28của cả ba châu và đổi châu Ma Linh làm châu Minh Linh Đây chính là mốc lịch sử
mà nền văn minh Đại Việt bắt đầu phát triển vào phương Nam
Năm 1306, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đi thăm Chiêm Thành và kết tình hoà hiếu Vua Chăm lúc đó là Chế Mân đã dâng biểu cầu hôn xin cưới Công Chúa Huyền Trân và dâng hai châu là châu Ô, châu Rí làm vật sính lễ Vào năm 1309 nhà Trần đổi châu Ô thành Thuận Châu, châu Rí thành Hoá Châu
Năm 1361, Chế Bồng Nga lên ngôi, đem quân sang đánh Đại Việt Quân Chiêm vượt qua các châu Minh Linh, Địa lí và dấn sâu, chiếm được cảng Đà Lí (cảng Lí Hoà ở Quảng Bình) và lấy lại gần hết phần đất Chăm
Năm 1376 Trần Duệ Tông sai Hồ Quí Li mang quân đi đánh Chiêm Thành nhưng bị Chế Bồng Nga đánh bại tại thành Trà Bàn Trước sự thắng lợi này, Chế Bồng Nga kéo thẳng quân tiến ra đánh Thăng Long lần thứ ba, cai trị các châu Hoan, Diễn, Bố Chính, Ma Linh, Ô, Rí Vì thế, địa giới nước Chiêm Thành dưới thời Chế Bồng Nga được nới rộng ra đến Thanh Hoá Mãi đến năm 1389 khi Chế Bồng Nga bị tử trận trong lần ra đánh Thăng Long thì vua Trần mới sai Hồ Quí Li đem quân thu hồi toàn bộ các châu trên
Như vậy, từ năm 1307 đến 1400 Quảng Trị gồm đất của các châu Minh Linh
và châu Thuận là một bộ phận của nước Đại Việt thời Trần Trong suốt hơn ba thế
kỉ trên, Quảng Trị là một vùng địa đầu cực Nam của nước Đại Việt với những cuộc giằng co biên giới Việt - Chăm
Tháng 8 năm 1470, Chiêm Thành lại đem hơn mười vạn quân đánh Thuận Hoá Vua Lê Thánh Tông tự thân làm tướng, đem quân đi đánh và giải vây cho hai châu này Sau đó, vua xuống chiếu kêu gọi dân phiêu tán ở các tỉnh miền Bắc di cư vào lập ấp ở châu Bố Chính, Minh Linh theo cách lấy nghề nghiệp cũ làm nghề sinh sống là chủ yếu Hiện tượng này đã làm cho nền văn minh sông Hồng có những ảnh hưởng rõ nét ở châu Minh Linh
Trong thời kì phân tranh Trịnh - Nguyễn, vào năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, tự xưng Hoàng đế ,lập ra nhà Mạc, gây ra nội chiến và cát cứ kéo
Trang 29dài Trước tình hình đó, năm 1533 một công thần nhà Lê là Nguyễn Kim chạy sang Lào, tìm các thế lực chống Mạc Năm 1540, Nguyễn Kim làm chủ cả vùng Thanh- Nghệ, hình thành cục diện Nam - Bắc Triều Giai đoạn này, con rể của Nguyễn Kim
là Trịnh Kiểm được vua Lê phong cho chức Thái Sư Trịnh Kiểm bắt đầu củng cố địa vị bằng cách hạn chế thế lực của con cháu Nguyễn Kim Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim sợ bị ám hại nên đã xin đi trấn thủ Thuận Hoá Trước khi đi, Nguyễn Hoàng cho người ra Bắc tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm hỏi kế hành động Nguyễn Bình Khiêm trả lời "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (tức là một dải núi ngang dung thân muôn đời) Nguyễn Hoàng hiểu ý Nguyễn Bỉnh Khiêm và
quyết xin đi trấn thủ Thuận Hoá
Năm 1558, ngay khi được vua Lê đồng ý, Nguyễn Hoàng đem một nghìn quân theo đường biển đi thẳng vào cửa Việt Yên (Cửa Việt), đóng quân trên gò Phù Sa ở
xã Ái Tử, huyện Vũ Xương và chọn xã Ái Tử đóng dinh
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, lịch sử Quảng Trị đã ghi lại những biến cố trọng đại của một vùng đất thép, đất lửa Vĩ tuyến 17 ác liệt đã
một thời đi vào lịch sử với những trang chói lọi nhất
Tóm lại, trải qua nhiều thiết chế chính trị - xã hội khác nhau, Quảng Trị từng được coi là "trọng trấn", "trấn biên", "phên dậu" phía Nam của Tổ quốc, là "tiêu điểm" ác liệt nhất, là "tuyến đầu" của những cuộc trường chinh chống thù trong giặc ngoài Đây là mảnh đất đã hai lần được chọn làm thủ phủ của đất nước Đó là Dinh Cát với 68 năm của chúa Nguyễn trong buổi đầu dựng nghiệp Đàng Trong và Cam
Lộ - thủ phủ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam trong những năm cao điểm của chiến trường ngoại giao chống Mỹ Những yếu tố lịch sử này đã
có sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sự phát triển của văn hóa, ngôn ngữ và địa danh Quảng Trị
1.2.1.3 Về địa giới hành chính
Vào thời nhà Lí, Quảng Trị có châu Minh Linh (tức châu Ma Linh thưở trước) thuộc phủ Tân Bình còn Châu Thuận (châu Ô) được cải thành hai huyện là huyện Vũ Xương và huyện Hải Lăng Riêng miền Tây Quảng Trị có hai châu là
Trang 30châu Sa Bôi và châu Thuận Bình Tất cả các huyện Vũ Xương, Hải Lăng và hai
châu Sa Bôi, Thuận Bình đều thuộc phủ Triệu Phong
Vào đời nhà Mạc 1553, theo “Ô châu cận lục” của Dương Văn An thì Quảng
Trị vẫn tồn tại huyện Vũ Xương, huyện Hải Lăng và ba châu Minh Linh, Sa Bôi,
Thuận Bình Thời kì phân tranh Trịnh - Nguyễn, hai huyện Hải Lăng, Đăng Xương
và hai châu Sa Bôi, Thuận Bình vẫn thuộc phủ Triệu Phong còn châu Minh Linh
được đổi thành huyện Minh Linh và vẫn thuộc phủ Quảng Bình
Thời Gia Long (1801), Nguyễn Ánh đã lấy các huyện Hải Lăng, Đăng Xương
và Minh Linh lập ra dinh Quảng Trị Riêng phía Tây, lấy hai châu Sa Bôi, Thuận Bình lập lại thành đạo Cam Lộ, thuộc dinh Quảng Trị Năm 1806 Quảng Trị được
mở thành dinh trực lệ thẳng vào kinh sư Huế
Năm 1823, châu Hướng Hoá được đặt, thuộc đạo Cam Lộ Năm 1827, dinh Quảng Trị được đổi thành trấn Quảng Trị, không còn trực lệ kinh sư Huế Cửu châu
Ki Mi được đặt thuộc đạo Cam Lộ Năm 1830, triều đình giao cho tri phủ Triệu Phong kiêm lí luôn Minh Linh, thống hạt Đăng Xương, Hải Lăng
Năm 1831 trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị và cải đạo Cam Lộ thành phủ Cam Lộ, đặt chức tri phủ kiêm lí châu Hướng Hóa Năm 1834 cải châu Hướng Hoá thành huyện Hướng Hoá
Năm 1836 đặt huyện Địa Linh (huyện Do Linh ngày nay) từ huyện Minh Linh (phần còn lại của huyện Minh Linh vẫn giữ nguyên tên gọi Minh Linh, sau này đổi
là Chiêu Linh,Vĩnh Linh) và giao cho tri phủ Triệu Phong kiêm lí Đăng Xương ,thống hạt ba huyện Minh Linh, Địa Linh, Hải Lăng
Năm 1850, đổi huyện Hướng Hoá làm huyện Thành Hoá Đến năm 1853, vua
Tự Đức bỏ tỉnh Quảng Trị, lập thành đạo Quảng Trị và sáp nhập vào phủ Thừa Thiên Các huyện Minh Linh, Địa Linh và Thành Hoá, Cửu châu Ki Mi và Cam Lộ đều thuộc đạo Quảng Trị, do phủ Thừa Thiên quản lí
Thời kì chống Pháp địa giới tỉnh Quảng Trị cũng có sự thay đổi Năm 1876 đạo Quảng Trị lại được đổi thành tỉnh Quảng Trị và đặt lại hai phủ Triệu Phong, Cam Lộ như trước Các huyện Minh Linh, Địa Linh, Đăng Xương, Hải Lăng,
Trang 31Thành Hoá đều thuộc tỉnh Quảng Trị Trong suốt thời gian từ 1876 đến 1890 tên gọi của bốn huyện thuộc Quảng Trị dần dần thay đổi Huyện Đăng Xương đổi thành huyện Thuận Xương Huyện Địa Linh đổi thành huyện Do Linh Năm 1885, đời Hàm Nghi vì kiêng huý chữ "minh" nên đổi tên huyện Minh Linh thành huyện Chiêu Linh Sau đó, năm 1889 vua Thành Thái thứ nhất vì kiêng huý chữ "chiêu" lại đổi huyện Chiêu Linh thành huyện Vĩnh Linh Huyện Hải Lăng vẫn giữ nguyên tên gọi cũ
Ngày 3/5/1890, toàn quyền Đông Dương ra nghị định hợp tỉnh Quảng Trị với Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị dưới quyền công sứ Đồng Hới Ngày 23/01/1896, toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định rút Quảng Trị ra khỏi địa hạt thuộc quyền công sứ Đồng Hới, để hợp cùng Thừa Thiên dưới quyền khâm sứ Trung kì
Năm 1900, toàn quyền Đông Dương lần nữa ra nghị định tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên để lập thành một tỉnh riêng biệt gồm bốn phủ là phủ Triệu Phong, phủ Hải Lăng, phủ Vĩnh Linh, phủ Cam Lộ Ngày 17/02/1906 ra nghị định thành lập thị xã Quảng Trị (center Urbain de Quang Tri)
Năm 1908, phủ Cam Lộ tách ba tổng người Kinh lập thành huyện Cam Lộ và lấy chín tổng người dân tộc thiểu số làm Cửu châu Ki Mi tách biệt Huyện Thành Hoá được đổi làm huyện Hướng Hoá đặt ở phủ Cam Lộ Tên các phủ từ năm 1900 đều được đổi thành huyện Tỉnh Quảng Trị lúc đó có hai phủ, sáu huyện (phủ Triệu Phong có bốn huyện là Thuận Xương, Hải Lăng, Vĩnh Linh, Do Linh; phủ Cam Lộ
có hai huyện là Cam Lộ, Hướng Hóa) và chín châu Ki Mi Ngày 5/9/1929, Khâm sứ Trung Kì ra nghị định thành lập thêm thị trấn Đông Hà (center de Dong Ha) thuộc huyện Thuận xương, phủ Triệu Phong
Như vậy, dưới thời Pháp thuộc về cơ bản hệ thống hành chính cơ sở ở Quảng Trị vẫn được giữ như cũ nhưng chỉ thay đổi địa giới, tên gọi một số huyện Cả tỉnh Quảng Trị lúc này có sáu huyện là Hải Lăng, Thuận Xương, Do Linh, Vĩnh Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá và hai trung tâm đô thị là thị xã Quảng Trị và thị trấn Đông
Hà Thị xã Quảng Trị là nơi đặt trụ sở hành chính cửa thực dân Pháp
Trang 32Cách mạng tháng Tám thành công, các cấp phủ đổi thành cấp huyện, bỏ đơn vị hành chính cấp tổng, thành lập cấp xã Từ tháng Tám năm 1945 đến hoà bình lập lại năm 1954, về cơ bản thì địa giới, tên gọi của đơn vị hành chính cơ sở ở Quảng Trị
không có gì thay đổi lớn so với trước
Cuối tháng 7 năm 1954, theo hiệp định Giơnevơ, sông Hiền Lương được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia đôi tỉnh Quảng Trị Phía Bắc sông Hiền Lương là huyện Vĩnh Linh, do chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà quản lí và được quyết định thành lập đặc khu trực thuộc Trung ương, tương đương với đơn vị hành chính cấp tỉnh Phía Nam sông Hiền Lương do chính quyền Mỹ - Ngụy Sài Gòn quản lí Các đơn vị hành chính vẫn giữ nguyên, riêng phía Nam sông Hiền Lương có thành lập ba thêm ba quận mới là quận Ba Lòng, quận Mạc Lĩnh và quận
Trung Lương
Năm 1973 sau hiệp định Pari, vùng giải phóng được mở rộng đến Thạch Hãn Đông Hà trở thành thị xã tỉnh lị mới của tỉnh Quảng Trị vừa giải phóng Cam Lộ được chọn làm nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam
Tháng 3/1975, tỉnh Quảng Trị được giải phóng hoàn toàn Đông Hà vẫn là thị
xã tỉnh lị, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh
Từ tháng 7 năm 1976 đến tháng 6 năm 1989, sau khi thống nhất nước nhà, theo quyết định của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quảng Trị cùng với các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và đặc khu Vĩnh Linh thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất thành lập tỉnh mới là tỉnh Bình - Trị - Thiên Bấy giờ một
số huyện, thị xã của tỉnh Quảng Trị cũng được sáp nhập lại với qui mô lớn hơn gồm một thị xã và 3 huyện Thị xã Đông Hà gồm Đông Hà và Cam Lộ Huyện Bến Hải gồm Vĩnh Linh và Do Linh Huyện Triệu Hải gồm Hải lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị Huyện Hướng Hoá gồm Hướng Hoá và Đakrông ngày nay
Tháng 7/1989, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại quyết định chia tỉnh Bình - Trị - Thiên thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế như trước đây Quảng Trị trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương
Trang 33từ ngày 1/7/1989 cho đến nay Riêng năm 1991 có sự thay đổi biên địa giới và tên gọi một số huyện, thị xã Cụ thể, huyện Bến Hải được tách ra thành lập huyện mới
là huyện Vĩnh Linh và huyện Do Linh, thị xã Đông Hà tách ra thành lập huyện Cam
Lộ và thị xã Đông Hà, huyện Triệu Hải được tách ra thành thị xã Quảng Trị, huyện Triệu Phong và huyện Hải Lăng
Năm 1996, huyện Hướng Hoá được tách ra thành lập hai huyện mới là huyện Hướng Hoá và huyện Đakrông Đồng thời địa giới một số xã có sự điều chỉnh và thành lập mới một số thị trấn (Cam Lộ, Do Linh, Khe Sanh, Lao Bảo, Ái Tử, Diên Sanh, Hồ Xá, Bến Quan) và một số phường trực thuộc các huyện, thị xã
Đến cuối năm 2000, thực trạng các đơn vị hành chính cơ sở của tỉnh Quảng Trị cơ bản được ổn định với 2 thị xã, 7 huyện và 136 xã, phường, thị trấn
Quảng Trị đã có những thay đổi về địa lí hành chính, do đó những địa danh tỉnh, huyện, làng xã cũng đã có nhiều sự biến đổi theo các sự kiện lịch sử Ít có những mảnh đất nào chịu nhiều xáo trộn, biến động, chia tách, hợp nhập như Quảng Trị Những tên đất, tên làng, tên xã, tên huyện vẫn còn đó và mỗi tên gọi đều mang một ý nghĩa, một giá trị riêng
1.2.1.4 Về đặc điểm dân cư
a Nguồn gốc dân cư Quảng Trị
Dân cư Quảng Trị có hai lớp là lớp cổ và lớp mới Lớp cổ gồm người Chăm và người dân tộc thiểu số cùng một ít người Việt cổ Lớp mới là lớp người Việt thời Lí
và người Việt thời Nguyễn Họ là những người Kinh từ miền Bắc, Thanh - Nghệ di
cư vào Quảng Trị theo các đợt khác nhau như sau:
Đợt thứ nhất là vào năm 1069 khi quan lại và binh lính thuộc các trấn ở miền Bắc theo Lí Thường Kiệt vào đánh Chiêm và một số ít ở lại châu Ô Đây là lớp cư dân người Việt đầu tiên đến định cư ở vùng đất Quảng Trị và là lớp cư dân tiền bối
ở vùng Bắc Cửa việt Theo “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang thì “nhiều
người đã từ Bắc, đa số là từ miền Nghệ An ở gần đây bắt đầu đến đất này khai khẩn làm ăn” [66; tr 47]
Trang 34Đến năm 1307, vua Trần Anh Tông sau khi đổi hai châu Ô, Lí thành Thuận Châu và Hóa Châu đã cắt cử một số vị quan quân có gốc gác từ miền Bắc vào trấn nhậm ở vùng Thuận, Hóa và họ đã ở lại lập nghiệp nơi này Đây là lớp người thứ hai từ miền Bắc vào Quảng Trị và là lớp dân di cư đầu tiên vào phía nam Cửa Việt Năm 1470, theo lời chiếu gọi của vua Lê Thánh Tông, một lớp dân phiêu tán ở các tỉnh phía Bắc lại vào làm ăn, sinh sống ở châu Thuận Lớp dân cư này cũng sinh sống chủ yếu ở vùng đất thuộc phía Bắc Cửa Việt
Vào năm 1558, lúc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa thì một số quan lại, binh lính và dân nghèo từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An cũng hưởng ứng cuộc di
dân vào lập làng sinh sống chủ yếu ở phía Nam Cửa Việt trở vào “Nhân dân Thuận Hóa lúc bấy giờ gồm những thành phần rất phức tạp những người tù đày, những người du đãng phiêu lưu từ các miền Thanh - Nghệ hoặc xa hơn nữa xâm nhập qua các thời đại những người Chàm còn ở lại ” [66; tr 110]
Như vậy, ở Quảng Trị chỉ có một số ít người Việt tại gốc còn chủ yếu là người Việt từ miền Bắc và từ Thanh Hoá, Nghệ An di cư vào Ngoài ra, trong quá trình cộng cư, mở rộng mọi hoạt động trong sự điều phối các tộc người và ưu tiên phát triển miền núi thì số lượng cư dân thuộc các dân tộc thiểu số ở miền núi cũng đã bổ
sung thêm sắc màu dân cư vùng này
b Các cộng đồng dân cư
Hiện nay trên địa bàn Quảng Trị có ba cộng đồng dân tộc chính cùng cư trú là người Kinh, người Vân Kiều, người Pa Kô Ngoài ra còn có dân ngụ cư mới đến lẻ
tẻ sau này Đó là gần 200 người thuộc các dân tộc Thái, Hoa, Dao, Mường, Tày, Cà
Tu, Ê Đê, Xtiêng, Banah, Xu Đăng mới tới định cư gần đây Trong tổng số dân cư của tỉnh thì người Kinh đông nhất, chiếm trên 90% tổng dân số
Các dân tộc cư trú trên địa bàn Quảng Trị tuy trình độ khác nhau nhưng bản sắc văn hóa lại rất phong phú, đa dạng và độc đáo Chế độ ruộng đất chủ yếu là công điền, công thổ cùng với sự giao lưu kinh tế đã tạo ra những xóm làng theo kiểu cấu trúc mở Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến văn hoá, ngôn ngữ của cư dân ở vùng này
Trang 35Con người Quảng Trị bằng sự cộng cư của các dân tộc người thuộc ngữ hệ Việt - Mường và Môn- Khmer (tất nhiên là cả tầng Chăm) đã đoàn kết gắn bó trong cuộc sống, sáng tạo của mình để hình thành nên những giá trị văn hoá, ngôn ngữ đặc sắc Những giá trị này sẽ có tác động lớn đến cách đặt địa danh ở vùng địa bàn
được nghiên cứu
1.2.1.5 Về văn hoá
a Dấu tích văn hóa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Từ buổi nguyên sơ, Quảng Trị đã từng là nơi hội tụ nhiều nền văn hoá của con người tiền sử Khảo cổ học vùng này đã khai sáng hàng loạt vấn đề, gây sự chú ý trong giới khoa học Việc tìm ra đồ đá cũ thuộc nền văn hoá Sơn Vi ở Cùa (CL), Krôn (HH) và việc tìm ra đồ đá giữa thuộc nền văn hoá Hòa Bình, Bắc Sơn ở Lao Bảo (HH), Khe Sanh (HH), Tân Lâm (CL) đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về văn hoá nơi đây Với các phát hiện trên, không gian văn hoá Sơn Vi vùng sông Lam, sông Mã và không gian văn hoá Hoà Bình vùng thung lũng Karstic Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã được mở rộng đến vùng đất này
Cụ thể, hàng loạt những bộ sưu tập về rìu đá mài loại tứ giác và có vai ở Hướng Hoá, Ba Lòng (ĐK), Cồn Tiên (DL), Hải Lăng từ những năm đầu thế kỉ XX đến nay đã chứng minh rằng văn hoá nông nghiệp trồng khô hay trồng nước đều phát triển ở các vùng đồi, vùng cồn - bàu, trằm ruộng trên hai dãy cồn cát Đông -Tây từ 2500 năm đến 5000 năm trước
Dọc hai bờ sông Đakrông, phía thượng nguồn sông Thạch Hãn và ở nhiều nơi khác ở vùng Hướng Hoá, nhân dân khi khai khẩn đất đai cũng đã tình cờ phát hiện
ra dấu vết về thời đại đồ đồng Cùng với nó, nhiều thứ đồ mang phong cách của văn hoá Đông Sơn (Bắc Bộ) được phát hiện ở Pa Tầng thuộc huyện Hướng Hóa cho thấy sự đan xen, giao lưu mạnh mẽ giữa nhiều nền văn hoá lớn khác nhau ở địa bàn Quảng Trị
b Dấu tích văn hóa Chăm Pa
Trang 36Trên đất Quảng Trị ở đâu cũng thấy những di duệ văn hoá mà người xưa để lại Ba cuộc khai quật ở ba di chỉ Bình Tra (ở Vĩnh Giang- Vĩnh Linh), Lòi Rú - Bàu Đông và Cồn Chùa (ở Do Mai- Do Linh) giúp chúng ta hình dung được bước phát triển liên tục của văn hoá Quảng Trị từ cuối đá mới đến sơ kì kim khí (văn hoá
Sa Huỳnh) lên văn minh bản địa tiền Việt (văn minh Chăm Pa)
Nền văn minh Chăm Pa có mặt gần như đầy đủ ở mọi loại hình di tích tại Quảng Trị Đó là các đền tháp, miếu cổ, thành luỹ, mộ táng và đặc biệt là hệ thống các công trình dẫn thuỷ cổ được xếp bằng đá ong có một không hai tại vùng Tây Do Linh, Đông Do Linh và Cam Lộ Ở Quảng Trị hiện nay có ít nhất là hai mươi địa điểm có dấu tích về sự hiện diện của các công trình đền tháp ở các địa danh như Duy Viên, Nam Sơn, Huỳnh Xá Thượng (VL), An Xá, Phường Sỏi, Hà Trung (DL), Kim Đâu, Trương Xá, Định Xá, Lâm Lang (CL), Dương Lệ, Trà Liên, Bích La Trung, Nhan Biều, Ái Tử, Phương Sơn (TP) và Trà Lộc, Câu Hoan, Trung Đơn (HL) Đặc biệt, phế tích tháp Chàm được phát hiện gồm nhiều ngẫu tượng Linga, Yoni, tượng nữ thần Uma, tượng bò thần Năng Đinh và phù điêu thần Siva múa đều là những minh chứng về dấu tích văn hóa Chăm
Nhìn chung, văn hóa Chăm ở Quảng Trị không được tiếp nối qua cư dân người Việt mà chỉ là những mảnh âm vang từ những tàn tích đền tháp đổ nát, những tên gọi, những biểu tượng tôn giáo Điều này có ảnh hưởng ít nhiều đến địa danh Quảng Trị Thực tế địa danh vùng này như chúng ta sẽ thấy rõ hơn nữa ở các phần trình bày sau, nó chỉ lưu lại rất ít dấu vết Chăm cổ chứ không có sự kế thừa, phát triển thành những tên gọi chính thức
Qua dấu vết của các lớp văn hoá đã tìm thấy, chúng ta có thể thấy được đặc điểm nổi bật của văn hoá Quảng Trị là sự hội nhập qua các thời kì và sự ảnh hưởng của nó đến các tầng ngôn ngữ đang chồng lên nhau, hoặc giao nhau Đó là các sự kiện văn hoá của người Việt cổ, văn hoá Hán, văn hoá Chăm được đan xen với văn hoá Việt hiện đại hay sự giao thoa giữa văn hoá dân tộc Kinh với văn hoá các dân
Trang 37tộc thiểu số khác Điều tất yếu là sự ảnh hưởng này ít nhiều được thể hiện trong địa danh vùng này
Tóm lại, song song với sự phát triển, biến đổi về địa lí, lịch sử và hành chính thì văn hoá Quảng Trị cũng có sự biến đổi theo Rõ ràng, dưới tầng văn hoá, ngôn ngữ Việt là các lớp văn hoá, ngôn ngữ khác như Chăm, Hán, Vân Kiều, Pa Kô Do vậy, khi nghiên cứu địa danh Quảng Trị chúng ta phải tìm hiểu nhiều về các lĩnh vực địa lí, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, văn hoá của vùng đất này qua các thời kì lịch
sử khác nhau
1.2.1.6 Về ngôn ngữ
a Tiếng Quảng Trị trong khu vực phương ngữ Bắc Trung Bộ
Theo cách phân chia các vùng phương ngữ trong tiếng Việt thì tiếng Quảng Trị cùng với tiếng Quảng Bình và tiếng Thừa Thiên - Huế hợp thành tiếng địa phương Bình - Trị -Thiên, phân biệt với tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh trong nội bộ phương ngữ Bắc Trung Bộ Trong phạm vi khu vực chung Bình- Trị - Thiên, tiếng Quảng Trị là tiếng trung gian giữa tiếng Quảng Bình và tiếng Thừa Thiên - Huế về phương diện ngữ âm (mặc dù về cơ bản nó có nhiều đặc điểm giống với tiếng Quảng Bình hơn)
Tiếng Quảng Trị mang những đặc điểm chung của vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung mà gần hơn là tiếng địa phương Bình - Trị - Thiên Đó là hiện tượng biến âm xảy ra hàng loạt ở các yếu tố cấu tạo nên âm tiết Ngoài ra, hiện tượng đa dạng về các biến âm trong nội bộ tiếng địa phương cũng là hiện tượng đặc biệt Hiện tượng này không chỉ xảy ra giữa các làng, xã khác nhau mà nó còn xảy ra trong phạm vi một làng
b Những vùng khác nhau trong tiếng Quảng Trị
Nếu đi sâu xem xét tiếng nói của dân cư chúng ta sẽ thấy tiếng Quảng Trị chia
ra hai vùng khác nhau Vùng Bắc Quảng Trị bao gồm tiếng nói của các huyện Vĩnh Linh, Do Linh, Cam Lộ và vùng Nam Quảng Trị bao gồm tiếng nói của các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và hai thị xã Đông Hà, Quảng Trị
b.1 Đặc trưng của tiếng Bắc Quảng Trị
Trang 38Đặc trưng nổi bật nhất của tiếng Bắc Quảng Trị là sự có mặt của hai phụ âm
đầu /l/ và /d/ Trong đó, âm /l/ là một tổ hợp phụ âm đầu gồm / t c / và /l/, xuất hiện trong các từ “trên”, “trâu”,” trời”; còn âm /d/ là âm đầu lưỡi, răng, hữu thanh, mềm hoá, nghe gần như giữa /z/ và /d/, xuất hiện trong các từ như “dao”, “dừa”, “do”
Đặc trưng thứ hai của tiếng nói vùng này là sự có mặt các vần eng - éc; oong - ooc và in - it tương ứng với các vần anh - ách; ong - oc; inh - ich trong tiếng Việt toàn dân Đây là những dấu hiệu chứng tỏ sự bảo lưu của các yếu tố Việt- Mường trong tiếng Quảng Trị
b.2 Đặc trưng của tiếng Nam Quảng Trị
+ Không có các phụ âm đầu quặt lưỡi như là / t c/, /c s/ Các âm này được chuyển thành các âm /t/, /s/ Ví dụ: tre - te (cây tre); sông - xông (sông nước) + Không có các âm cuối /-n/ và /-t/ Các âm này được chuyển thành các âm /- ŋ/ và /-k/ Ví dụ: ăn - ăng (ăn cơm); gặt- gặc (gặt lúa); cất - cấc (cất giấu)
+ Các vần "inh", "ênh" được phát âm thành vần "ân" Ví dụ: bệnh tình - bận tần ; linh tinh - lân tân ; lênh khênh - lân khân
+ Vần "oi" được phát âm thành vần "oai" Ví dụ: đòi hỏi - đoài hoải
+ Vần “ôi” được phát âm thành vần “uôi” Ví dụ: đồi núi - đuồi núi
c Một vài đặc điểm của tiếng Quảng Trị
c.1 Về ngữ âm
* Về một số phụ âm trong tiếng Quảng Trị
Đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Quảng Trị thể hiện rõ ở cách phát âm các phụ âm So với tiếng toàn dân, tiếng Quảng Trị có những âm tương ứng theo hệ thống được thể hiện trong bảng1.1
Bảng 1.1: Sự tương ứng các âm trong tiếng Quảng Trị và tiếng Việt toàn dân
Ví dụ Tiếng
QuảngTrị
TiếngViệt toàn dân
Trang 391 / b / / m / Bứa - mứa (bỏ mứa), bồ - mồ (mồ hôi)
2 / b / / v / Bai - vai (vai áo), bui - vui, bằm- vằm
3 / f / / b / Phỏng - bỏng, phịa - bịa, phừng - bừng
4 / f / / v / Phổ - vỗ, phở - vỡ, phắt - vặt (ăn vặt)
5 / k / / ɣ / Ca - gà, cắt - gặt (gặt lúa), cấu - gạo, kẻn -
ghẻ
6 / n / / k / Nọc - cọc (đóng cọc), năng - căng (dây căng)
7 / z / / ỗ / Giân giân - nhân dân, giu giập - du nhập
9 / d / / z / Đa - da (da thịt), điều - diều, đôốc - dốc
10 / s / / z / Xắt - giặt, xối - dội, giẹp - xép
11 / l / / ỗ / Lặt - nhặt, lằng - nhặng, lát - nhát, lạt - nhạt
12 / l / / t c / Lôông - trồng, lổ - trổ, leo - trèo
13 / l / / t’/ Lè - thè , lò - thò, lủng - thủng, lưa - thừa
14 / t c / / c / Truồng - chuồng, trày - chày, trừa - chừa
15 / c / / z / Chiếng - giếng, chớc - giấc, chi - gì
16 / t c / / z / Tra - già, trỉa - giặm, tron - giòn, trầm - giầm
17 / c s / / t’/ Siu - thiu, sưa - thưa, sèm - thèm
18 / t c / / c s / Tràng - sàng, trào - sào, trảy - sảy, trọ - sọ
19 / t / / z c / Tắn - rắn, tít - rết, tấy - ráy, tún - rốn
20 / d / / z c / Đuốc - ruốc, đùng - rùng (rùng mình)
21 / x / / k / Khứa - cứa, khoèo - quèo, khuấy - quấy
23 / x / / ɣ / Khải - gãi, khỏ - gõ, khót - gọt, khẻ - ghè
24 / t / / t c / Tời - trời, tơn - trơn, tắng - trắng (trắng trẻo)
25 / m / / b / Mấy - bấy, mùn cun, mùa cua - bồ quân
27 / c s / /z c / Rờ - sờ, rượng - sướng
Trang 40* Về phần vần
Phần vần trong tiếng Quảng Trị có những sự khác biệt so với phần vần trong tiếng Việt toàn dân Đặc điểm này được thể hiện trong các hiện tượng sau:
+ Nguyên âm /ɔ/ ngắn được phát âm thành /ɔ/ dài khi kết hợp với các phụ âm
cuối /-ŋ / và /-k/ Ví dụ: vần ong - oong trong các từ trong - troong, họng - hoọng;
vần oc - ooc trong các từ mọc - hoọc, móc - moóc, thóc - thoóc
+ Nguyên âm /o/ ngắn được phát âm thành /o/ dài khi kết hợp với các phụ âm
cuối /-ŋ/ và /-k/ Ví dụ: vần ông - ôông trong các từ nông - nôông; vần ốc - ôốc trong các từ dốc - đốôc, rộc - rôộc
+ Nguyên âm /ứ/ được phát thành /i/ khi kết hợp với âm cuối /-t/ hoặc phát âm thành /∂/ khi kết hợp với âm cuối /- ŋ/ Ví dụ: vần “ưt” biến thành vần “it” trong các
cặp từ đồng nghĩa như bứt - bít, mứt - mít ; vần “ưng” biến thành vần “ơng” trong các cặp từ như bưng - bơng, mừng - mờng, thưng - thơng
+ Nguyên âm /∂/ ngắn chuyển thành /∂/ dài hoặc /ứ / khi kết hợp với âm cuối /-ŋ/ hoặc /-k/ Ví dụ: vần “âng” biến thành vần “ưng” hay vần “ơng” trong các từ
ngẩng - ngửng - ngởng; vần “âc” biến thành vần “ưc” hay vần “ơc” trong các từ bậc - bực, giấc - chớc,
+ Nguyên âm /∂/ ngắn nếu kết hợp với âm cuối /-u/ thì vần "âu" chuyển thành
vần "u" Ví dụ: sâu - su, cỏ gấu - cỏ cú, thâu - thu, dâu - du
+ Nguyên âm /a/ được chuyển thành /∂/ trong một số trường hợp Ví dụ: đàn -
đờn, rạng - rợng (rạng sáng), cái - cấy, trái - trấy, gai - cây
+ Nguyên âm đôi /ứ ∂/ được phát âm thành /∂/ hoặc /a / Ví dụ: cưỡi - cợi,
trượt - trợt, giường - chờng, lửa - lả, rựa - rạ, lưới - lái
+ Nguyên âm /o/ được phát âm thành /u/ khi kết hợp với âm cuối /- i/ hay âm cuối /- n/ Ví dụ: môi - mui, tối - túi, khôn - khun, rốn - rún - tún
+ Nguyên âm /i/ ngắn được phát âm thành /i/ dài khi kết hợp với âm cuối /-c/,
tức vần “ich” được phát âm thành vần “it” Ví dụ: thích- thít, bình tĩnh - bìn tỉn
+ Nguyên âm /e/ ngắn được phát âm thành /e/ dài khi kết hợp với âm cuối /-ỗ/
và vần “ênh” được phát âm thành vần “êng” Ví dụ: bênh vực - bêng vực