Địa danh là một hiện tượng ngôn ngữ, tìm hiểu địa danh về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa sẽ có được nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, quy luật diễn biến của ngôn ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
Vi Hồng Bình (Wei Hong Ping)
KHẢO SÁT ĐỊA DANH CHOANG
(CÓ LIÊN HỆ VỚI ĐỊA DANH TÀY - NÙNG
Ở TỈNH LẠNG SƠN, VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
- -
Vi Hồng Bình (Wei Hong Ping)
KHẢO SÁT ĐỊA DANH CHOANG
(CÓ LIÊN HỆ VỚI ĐỊA DANH TÀY - NÙNG
Ở TỈNH LẠNG SƠN, VIỆT NAM)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan và được trích dẫn trong Luận án có chú thích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi nhận định, kiến giải, kết luận
là của bản thân, không sao chép từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 08 năm 2017
Người viết
Vi Hồng Bình (Wei Hong Ping)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ hết sức tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, nhất là các thầy
cô giáo của Khoa Ngôn ngữ học và Phòng đào tạo Sau đại học; các thầy cô
và bạn đồng nghiệp Khoa Tiếng Việt của Học viện Ngoại ngữ - Đại học Dân tộc Quảng Tây Trung Quốc Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án Tôi rất mong muốn được tiếp thu những ý kiến nhận xét, chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, của hội đồng chuyên môn và các bạn đồng nghiệp
để khắc phục những thiếu sót, hạn chế để luận án được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Người viết
Vi Hồng Bình (Wei Hong Ping)
Trang 52 Quy ƣớc trình bày Luận án
Luận án của chúng tôi trình bày theo những quy định chung của Trường
+ Viết hoa toàn bộ: nhân danh, địa danh, quốc hiệu
+ Viết hoa chữ cái đầu: tên thời đại (Xuân thu, Chiến quốc), tên công trình, tên một đơn vị tổ chức (Thư viện Đại học Bắc Kinh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
+ In nghiêng: tên công trình (An Nam chí lược, Nam Giao hảo âm)
+ Chú thích: nếu trích dẫn tư liệu thì mở ngoặc vuông [ , ]; trong
đó chữ số đầu là số thứ tự tư liệu được trích, chữ số sau là số trang
Trang 6Danh mục các biểu bảng:
Bảng 1Cây phổ hệ của họ Thái - Kađai theo cách phân chia của M.Ferlus
[15;tr.96] 1
Bảng 1 Bản đồ về phạm vi nghiên cứu 5
Bảng 1.1 Đối tượng địa danh 31
Bảng 1.2 Hình thức ngôn ngữ 32
Bảng 1.3 Phương pháp định danh 33
Bảng 2.1 mô hình cấu tạo địa danh 53
Bảng 2.2 Đặc điểm cấu tạo địa danh Choang 54
Bảng 2.3 Đặc điểm cấu tạo địa danh Tày/Nùng 55
Bảng 2.6 Tổng hợp sự chuyển hoá thành tố chung thành thành tố riêng 58
Bảng 2.4 Số lượng thành tố chung địa danh Choang 62
Bảng 2.5 Yếu tố chỉ phương vị hoặc cây cối trong địa danh Choang 66
Bảng 2.6 Số lượng thành tố chung trong địa danh Tày-Nùng 67
Bảng 2.7 Các phương vị từ trong địa danh Choang và địa danh Tày-Nùng 72
Bảng 2.8 So sánh thành tố chung của các địa danh Tày Choang 73
Bảng 2.9 Loại hình cấu tạo địa danh Choang 81
Bảng 2.10 Thống kê địa danh Choang Sùng Tả theo các quan hệ cấu tạo 85
Bảng 2.11 Thống kê địa danh Tày-Nùng theo các quan hệ cấu tạo 86
Bảng 3.1 Hệ thống phương thức định danh 101
Bảng 3.2 Thống kê địa danh Sùng Tả theo phương thức định danh 102
Bảng 3.3 Thống kê địa danh Lạng Sơn theo phương thức định danh 128
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Phạm vi đối tượng nghiên cứu và nguồn tư liệu 4
5 Đóng góp của luận án 6
6 Bố cục của luận án 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
LÝ THUYẾT 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới 8
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Trung Quốc 10
1.1.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam 14
1.1.4 Các hướng nghiên cứu địa danh Choang ở Trung Quốc 19
1.1.5 Tình hình nghiên cứu địa danh Tày - Nùng ở Việt Nam 26
1.2 Cơ sở lý thuyết 27
1.2.1 Khái niệm địa danh 27
1.2.2 Chức năng của địa danh 30
1.2.3 Phân loại địa danh 31
1.2.4 Hướng nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học 34
1.3 Một số vấn đề về địa bàn nghiên cứu liên quan đến địa danh 38
1.3.1 Thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) 38
1.3.2 Tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) 39
1.3.3 Mối quan hệ giữa dân tộc Choang với các dân tộc Tày, Nùng và cảnh huống ngôn ngữ 40
1.4 Tiểu kết 43
Trang 8Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH CHOANG Ở TP SÙNG TẢ, QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC (Có liên hệ với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng
Sơn, Việt Nam) 46
2.1 Nhận diện địa danh Choang 46
2.2 Mô hình cấu tạo địa danh 48
2.2.1 Sự hình thành của thành tố chung(TTC) và thành tố riêng(TTR) 51
2.2.2 Mô hình cấu tạo địa danh Choang 54
2.2.3 Liên hệ so sánh với địa danh Tày-Nùng 55
2.2.4 Thành tố chung và thành tố riêng 56
2.2.5 Nhận xét so sánh 72
2.3 Phương pháp tạo từ địa danh Choang 76
2.3.1 Địa danh nguyên sinh 77
2.3.2 Địa danh phái sinh 78
2.3.3 Địa danh chuyển hoá 79
2.3.4 Địa danh vay mượn 80
2.4 Quan hệ cấu tạo địa danh Choang 80
2.4.1 Địa danh đơn 80
2.4.2 Địa danh từ phức theo quan hệ chính phụ 81
2.4.3 Địa danh từ phức theo quan hệ đẳng lập 84
2.4.4 Địa danh từ phức theo quan hệ chủ vị 85
2.4.5 Có liên hệ so sánh với địa danh Tày-Nùng 86
2.5 Dấu ấn biến đổi về hình thức cấu tạo địa danh Tày Choang 86
2.5.1 Quá trình biến đổi của các địa danh Choang 88
2.5.2 Dấu ấn biến đổi của địa danh Tày-Nùng 90
2.5.3 Nhận xét so sánh 91
2.6 Tiểu kết 92
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA – VĂN HOÁ CỦA ĐỊA DANH CHOANG Ở TP SÙNG TẢ TRUNG QUỐC (có liên hệ với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng Sơn Việt Nam) 95
Trang 93.1 Dẫn nhập 95
3.2 Mối quan hệ giữa văn hoá với ngôn ngữ trong nghiên cứu địa danh 95
3.2.1 Mối quan hệ giữa địa danh và văn hóa 98
3.2.2 Đặc trưng văn hoá thể hiện qua đặc điểm ngữ nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh Choang 99
3.3 Vấn đề ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh Choang 100
3.4 Phân loại ý nghĩa trong phương thức định danh Choang ở Sùng Tả 101
3.4.1 Địa danh mô tả 102
3.4.2 Các địa danh trần thuật 115
3.4.3 Các địa danh mang tính gửi gắm 124
3.5 Liên hệ với địa danh Tày-Nùng 127
3.6 Tìm hiểu địa danh Choang qua sự tiếp xúc ngôn ngữ, vấn đề Hán ngữ hóa, Việt hóa địa danh Tày Choang 130
3.6.1 Những dấu ấn địa danh trong quá trình di cư của dân tộc 130
3.6.2 Đặc trưng tiếp xúc văn hoá thể hiện qua hình thức cấu tạo địa danh Choang 132
3.7 Những yếu tố địa danh tiêu biểu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất của địa danh Tày Choang 134
3.8 Tiểu kết 142
KẾT LUẬN 145
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 152
PHỤ LỤC 1
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Choang, Tày, Nùng là ba trong số những dân tộc xuyên biên giới ở giữa Trung Quốc và Việt Nam Dân tộc Choang, Tày và Nùng là các dân tộc có cùng
họ ngôn ngữ Các ngôn ngữ này thuộc tiểu nhóm Tày Choang, nhánh Tày - Thái
trong họ Thái-Kađai Những khung màu trắng trong cây phổ hệ dưới đây, chính
là hệ thống họ ngôn ngữ Tày Choang (Để dễ trình bày trong luận án, chúng tôi dùng từ ―địa danh Tày Choang‖ để biểu thị chung cho cả địa danh Choang, địa danh Tày và địa danh Nùng)
Bảng 1 Cây phổ hệ của họ Thái - Kađai theo cách phân chia của M.Ferlus [15;tr.96]
Các dân tộc này sống tại hai nước khác nhau Theo đà phát triển xã hội và văn hoá chủ thể khác nhau Vì thế, các dân tộc này đã phát triển theo những hướng riêng biệt Nghiên cứu so sánh sự diễn biến của địa danh giữa các dân tộc
Trang 11Tày Choang, không những có thể tìm hiểu vấn đề văn hóa và cội nguồn của dân tộc trong địa bàn này, mà còn có thể tìm hiểu xu thế thay đổi về các vấn đề địa văn hoá chung của các địa bàn có các cư dân Tày, Nùng và Choang cư trú Tuy ngôn ngữ của người Tày và Nùng có những nét khác biệt nên đôi khi cách viết địa danh cũng có sự khác biệt nhất định, nhưng trong lĩnh vực địa danh, hai dân tộc này có cách gọi tên gần như thống nhất Chính vì vậy, chúng tôi gọi chung là địa danh Tày-Nùng để biểu thị địa danh Tày và địa danh Nùng
Địa danh là một hiện tượng ngôn ngữ, tìm hiểu địa danh về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa sẽ có được nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ, quy luật diễn biến của ngôn ngữ, địa văn hóa, và lịch sử văn hoá dân tộc v.v…Chúng tôi muốn thông qua việc so sánh phân tích và nghiên cứu cấu tạo và
ý nghĩa địa danh Tày-Nùng - Choang một cách hệ thống, để tìm hiểu sự giống nhau và khác nhau cũng như sự diễn biến văn hoá của nó Qua nghiên cứu này cũng có thể cung cấp tư liệu hữu ích cho những người quan tâm về văn hóa cũng như nguồn gốc của dân tộc thiểu số hai nước
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:
-Trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu địa danh và cơ sở lý thuyết về địa danh cũng như các vấn đề có liên quan đến quá trình nghiên cứu địa danh Khái quát về địa bàn thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) và tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
-Điền dã, khảo sát thực tế hệ thống địa danh Tày Choang thuộc các loại hình, đối tượng địa lý khác nhau được phân bố và tồn tại trong phạm vi thành phố Sùng Tả và Tỉnh Lạng Sơn Thống kê, miêu tả và phân tích cứ liệu để nghiên cứu các vấn đề về cấu tạo địa danh Choang ở Sùng Tả (Trung Quốc), đồng thời có so sánh với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
- Phân tích đặc điểm ý nghĩa, phân loại, cách thức định danh Choang ở Thành phố Sùng Tả, Trung Quốc có liên hệ với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá cũng như đặc trưng văn hóa biểu hiện qua hệ thống địa danh Tày Choang ở hai khu vực này
3 Phương pháp nghiên cứu
-Trong quá trình thu thập cứ liệu, luận án sử dụng phương pháp điều tra điền
dã thực tế, thông qua việc thu thập cứ liệu, ghi chép những thông tin và tìm đọc tài liệu để sưu tầm và tập hợp các tư liệu liên quan đến những địa danh phân bố trên địa bàn thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) và tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
-Sau khi thu thập đầy dủ các cứ liệu cần thiết, chúng tôi sử dụng phương pháp
qui nạp Chúng tôi sẽ sắp xếp các địa danh theo sự phân loại của các loại ý nghĩa yếu tố cũng như các hình thức cấu tạo địa danh Dựa vào đặc trưng các trường nghĩa và đặc điểm hình thức cấu tạo, tìm ra quy luật biến đổi của địa danh trong địa bản nghiên cứu
Sau đó sử dụng phương pháp miêu tả, chủ yếu là miêu tả đồng đại Khi sử dụng phương pháp miêu tả, các thủ pháp phân loại và thống kê định lượng, hệ thống hoá tư liệu cùng đồng thời được sử dụng để phân tích và miêu tả đặc điểm
ý nghĩa và các kiểu cấu tạo địa danh Khi phân tích đặc điểm ý nghĩa của các địa
Trang 13danh, luận án còn phối hợp với phương pháp phân tích ngôn ngữ Cách làm cụ thể là phân tích từng yếu tố địa danh sau đó tổng hợp lại các loại yếu tố khảo sát một cách tổng quan để tìm hiểu bản chất văn hóa của nó
-Trong luận án chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh-đối chiếu và
phương pháp nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ-văn hoá-tộc người để so sánh đối chiếu về mặt cấu tạo, phương thức định danh cũng như địa văn hoá của địa danh Choang với địa danh Tày-Nùng Trong một vài trường hợp các thao tác phương pháp so sánh – lịch sử được sử dụng để làm rõ sử biến đổi về âm thanh, ngữ nghĩa của địa danh trong sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ Hán Việt, Tày, Nùng và Choang
Chúng tôi kết hợp các kiến thức liên ngành như: phương pháp sử học, dân tộc học và văn hoá học, cách nhìn vừa đồng đại vừa lịch đại Trong đó chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp ngôn ngữ học nghiên cứu địa danh ở bình diện từ vựng-ngữ để tìm hiểu đặc trưng cấu tạo và ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo địa danh (chủ yếu trên bình diện đồng đại)
4 Phạm vi đối tƣợng nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
Đối tượng khảo sát trong luận án là lớp địa danh gốc Choang ở thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) có so sánh với địa danh Tày-Nùng tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) Vì các địa danh hành chính trong trung tâm thành phố đa số đã bị Hán hoá
và trở thành địa danh Hán, tiếng Choang ở các vùng khác nhau lại sử dụng phương ngữ khác nhau, để có thể phân tích nghiên cứu một cách hiệu quả, chúng tôi chủ yếu chọn những vùng nông thôn mà người dân còn nói tiếng Choang để điền dã và thu thập các địa danh hành chính Cụ thể, chúng tôi chọn địa danh của bốn huyện: Đại Tân, Long Châu, Bằng Tường, và Ninh Minh thuộc Sùng Tả Lý
do lựa chọn là vì tiếng Choang của bốn huyện này tương đối giống nhau và bốn huyện này giáp với tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
Trang 14Bảng 1 Bản đồ về phạm vi nghiên cứu
-Để có thể tổng quát về hệ thống địa danh ở các địa bàn nghiên cứu một cách minh xác và trung thực, chúng tôi còn sử dụng tổng hợp các cách thức sưu tầm tập hợp các địa danh phân bố trên địa bàn và trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Hệ thống địa danh mà chúng tôi đã tập hợp còn được lấy từ các nguồn tư liệu sau:
-Tư liệu rút trong các văn bản sưu tầm, các sách nghiên cứu về văn hoá dân
Trang 15gian, về lịch sử, địa chí văn hoá các huyện và những thư tịch khác có liên quan -Bản đồ, tài liệu địa lý các loại
-Sau khi khảo sát thu thập tư liệu chúng tôi sắp xếp, thống kê, phân loại địa danh theo những hệ thống khác nhau để phục vụ cho các mục đích, nhiệm vụ của đề tài Đồng thời có liên hệ đối chiếu với địa danh ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) Bởi
tư liệu của chúng tôi được thu thập với khối lượng lớn lại trải dài trên hai địa bàn
ở hai quốc gia khác nhau nên khối tư liệu khá phức tạp Tuy nhiên, do sự hạn chế về nhiều mặt và do khuôn khổ luận án, chúng tôi chủ yếu xem xét các địa danh đã thu thập và đã được kiểm chứng tính xác thực của chúng Số lượng địa
danh mà luận án khảo sát: 1147 địa danh Choang và 375 địa danh Tày-Nùng (căn
cứ vào Phụ lục) Trong một số trường hợp cụ thể, chúng tôi đưa thêm vào các địa
danh khác với mục đích so sánh và làm rõ những vấn đề liên quan đến địa danh trong hai khu vực thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) và tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
-Mặt khác chúng tôi sẽ coi hai địa bàn nghiên cứu như một khu văn hóa, coi đó như một tổng thể, trình bày quy luật phân bố của khu vực này, làm rõ sự diễn biến của đặc trưng văn hóa vùng này qua việc nghiên cứu các bình diện ngôn ngữ trên từng vùng địa lý, được thể hiện qua địa danh Và cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử học, địa lý học và dân tộc học, qua việc tra cứu các tư liệu và khảo sát thực tiễn để phân tích cội nguồn văn hóa của các dân tộc Tày Choang trong khu vực Trên cơ sở này, kết quả luận án cũng có thể góp phần bổ sung thêm cho việc nghiên cứu nguồn gốc văn hóa các dân tộc Thái-Ka đai nói chung và địa danh Tày Choang nói riêng
-Việc nghiên cứu sẽ cung cấp những cứ liệu để hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến địa danh và địa danh học ở Việt Nam và Trung Quốc, cũng như trong khu vực Kết quả nghiên cứu trong đề tài sẽ là nguồn cứ liệu quý giá góp phần làm rõ bức tranh địa-văn hoá của khu vực
Trang 16- Trong tương lai, việc tiếp tục nghiên cứu địa danh gốc Thái-Ka Đai ở trong khu vực, cùng với việc nghiên cứu các đơn vị địa danh Choang ở Trung Quốc và địa danh Tày-Nùng ở Việt Nam theo hướng ngôn ngữ văn hoá chắc chắn cũng sẽ
là một hướng mở và hứa hẹn đóng góp nhiều kết quả cho việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ-văn hoá-dân tộc
6 Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận và các phụ lục ra, luận án của chúng tôi được chia thành 3 chương như sau:
CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương này sẽ trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu địa danh Choang ở Trung Quốc và tình hình nghiên cứu địa danh Tày-Nùng ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về địa danh ở Trung Quốc và Việt Nam Đồng thời trình bày những vấn đề lý thuyết về địa danh làm cơ sở cho việc triển khai các chương mục tiếp theo của luận án
CHƯƠNG 2: Đặc điểm cấu tạo địa danh Choang ở TP Sùng Tả Quảng Tây Trung Quốc (có liên hệ với địa danh Tày/Nùng ở tỉnh Lạng Sơn
Việt Nam)
Chương này sẽ trình bày cấu trúc địa danh, đi sâu tìm hiểu những đặc điểm
về cấu tạo, phương thức định danh Choang ở Sùng Tả (Trung Quốc) và có so sánh với mô hình cấu tạo cũng như cách thức định danh Tày/Nùng ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam)
CHƯƠNG 3: Đặc điểm ngữ nghĩa văn hóa của địa danh Choang ở Sùng Tả Quảng Tây Trung Quốc (có liên hệ với địa danh gốc Tày/Nùng ở tỉnh Lạng Sơn Việt Nam)
Đi sâu khai thác ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh gốc Choang ở Sùng Tả Trung Quốc Tìm hiểu những ảnh hưởng của địa lý, lịch sử, văn hoá, dân tộc, khí hậu đối với một số địa danh trong địa bàn So sánh với các ý nghĩa của địa danh gốc Tày/Nùng ở tỉnh Lạng Sơn Việt Nam Qua đó thấy được đặc điểm và sự biến đổi của địa danh Tày -Choang của hai khu vực này
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Địa danh học (toponymy) là một phân ngành nghiên cứu địa danh, bao gồm nguồn gốc, nghĩa sử dụng và nghĩa biểu trưng của địa danh Thuật ngữ tiếng Hy
Lạp ―toponymy‖ bắt nguồn từ ―tópos‖ tương ứng với place, chỉ ―địa điểm, nơi chốn‖ và từ ―ónoma‖ tương ứng với name chỉ ―tên gọi‖ Địa danh học là một
nhánh của danh xưng học (onomastics) Theo từ điển Oxford, ―toponym‖ lúc đầu xuất hiện ở nước Anh, nhưng về sau từ này được giới nghiên cứu địa danh thay thế bẳng thuật ngữ ―place name‖
Địa danh học mới bắt nguồn từ thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, nhưng đã phát triển rất nhanh Thời kỳ ban đầu là nghiên cứu tên địa phương và lấy việc khảo sát địa danh làm chính hoặc khảo chứng các địa danh lớn như tên quận huyện hay tên nước, theo hướng nghiên cứu lịch sử văn hóa Nội dung nghiên cứu thời
kỳ này chủ yếu là nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Những nhà nghiên cứu địa danh đầu tiên của nước Anh là bác học và nhà thơ; ban đầu họ chỉ lấy nguồn gốc địa danh làm câu chuyện thông báo cho mọi người cùng biết Dần dần, các nhà bác học phát hiện ra ngữ âm, từ vựng và ngữ nghĩa của địa danh có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu địa danh: địa danh học góp phần nghiên cứu địa lý lịch sử của một khu vực nhất định và cung cấp thông tin độc đáo rất có giá trị Ví
dụ như Địa danh ký (62 cuốn, năm 1803) của Utiyama Sinnryuu (内山真龙) và
Địa danh Vương triều Owari của Tsuda Masao 津田正生 đều là những công trình
nổi tiếng ở Nhật Bản[71;tr.71-76]
Vào thế kỷ 20, địa danh học đã trở thành hướng nghiên cứu liên ngành sử học, địa lý học và ngôn ngữ học Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận ngôn ngữ học là một phương pháp rất cần thiết và quan trọng Giai đoạn này bắt đầu tiến hành những nghiên cứu lý thuyết; lý luận nghiên cứu chín muồi và đã hình thành một số trường phái nghiên cứu trong lĩnh vực địa danh học với nhiều kết quả
Trang 18nghiên cứu rất lớn Ví dụ Địa danh học Nhật Bản của Kagami Kanji (镜味完二)
vận dụng phương pháp ngôn ngữ địa lý học và phương pháp nghiên cứu lịch sử tộc người, tiếp thu thành quả nghiên cứu Đức đã phân tích loại hình phân bố địa danh cũng như trật tự phân tầng niên đại địa danh[59;tr.17] Về mặt lý thuyết, có
Lý luận địa danh của Ichiro Yamaguchi Keiichirou (山口惠一郎, năm 1984), Nhập môn địa danh học của Kagami Akira (镜味明克 năm 1984)
Ở Anh, việc nghiên cứu địa danh có hệ thống là do nhà ngôn ngữ học A Mawer Do ông đề xướng, năm 1923 tại London đã thành lập Hiệp hội địa danh học Năm 1929, A Mawer lần đầu tiên giảng dạy môn học về địa danh ở Trường
Đại học London và viết cuốn sách Vấn đề địa danh học Trong công trình này, tác
giả trình bày tỉ mỉ các vấn đề về mối quan hệ giữa địa danh với lịch sử đất nước, các lớp khác nhau của ngôn ngữ cư dân thời cổ cũng như ý nghĩa của địa danh,
v.v…Năm 1954, dịch giả F.M.Powicke cho rằng ―Nghiên cứu và sử dụng địa
danh học, đã làm phong phú và kiểm tra sự phát hiện của khảo cổ học, sử học và qui luật ngôn ngữ, không chỉ giải thích mô hình cư trú tộc người mà còn có thể phân tích các thời kỳ di dân khác nhau‖ [128;tr.140]
J Gilliron xuất bản ―Tập bản đồ ngôn ngữ háp‖, cho thấy quy luật phân
bố ngôn ngữ theo khu vực, đưa ra cách hiểu về quan hệ hạn chế giữa ngôn ngữ
và địa lý, tác giả chú trọng nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lý học
Năm 1926, A Dauzat (Pháp) với ―Nguồn gốc và diễn tiến của địa
danh‖[134;tr.24], đã đi sâu vào nghiên cứu phân tầng niên đại điạ danh bằng
phương pháp văn hoá - địa lý học, tác giả cho rằng các nét văn hoá cổ đại như phát triển kinh tế, chiến tranh, di chuyển tộc người, v.v thường được thể hiện bằng những đặc trưng lịch sử của địa danh ở địa phương Người đặt nền móng
cho địa danh học của Pháp là A.Longnon, Cuốn sách Địa danh nước Pháp
[135;tr.36] của tác giả phân tích nguồn gốc và sự diễn biến địa danh của các khu vực dân cư, sông ngòi và rừng núi Mục đích và phương pháp nghiên cứu địa danh Pháp của ông là chỉ ra nguồn gốc và diễn biến của địa danh, phân tích sự cấu thành địa danh ở nước Pháp, đưa ra quan niệm nên coi địa danh học là một
Trang 19ngành khoa học nghiên cứu độc lập, với mối quan hệ giữa địa danh học với các
khoa học khác Ngoài ra còn có Địa danh nước Pháp của A.Vincent; Địa danh
của huyện Rabastens tỉnh Tarn của E.Nerge Trong thời kỳ này, các nước khác
cũng xuất bản rất nhiều cuốn từ điển địa danh
Năm 1930, Mỹ thành lập Uỷ ban Địa danh Năm 1952 thành lập Hiệp hội
chuyên về tên gọi Năm 1953, Hiệp hội chuyên về tên gọi sáng lập ra tạp chí Names
Tap chí này có đăng những bài về địa danh học, đa số là liên quan với địa danh Mỹ Trong số đó, nhiều bài trình bày về nguồn gốc địa danh và đặc trưng địa danh trong khu vực, cũng có một số bài liên quan đến tên gọi các nước khác Ở các nước khác như Canada, Đức, Thụy Điển, Arập, v.v… cũng có nhiều công trình về địa danh học Năm 1960, Liên Hợp Quốc thành lập tổ chuyên gia địa danh Liên Hợp Quốc,
đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị tổ chuyên gia địa danh và hội nghị tiêu chuẩn hóa địa danh Liên Hợp Quốc, việc nghiên cứu địa danh đã phát triển mở rộng đến khắp nơi trên thế giới
Nói chung các nước phương Tây chủ yếu nghiên cứu địa danh từ thực tiễn và trong nghiên cứu có nhắc đến phương pháp và lý luận Còn các công trình chuyên
về lý luận và phương pháp nghiên cứu thì ở Liên Xô, Nhật Bản, Trung Quốc tương đối nhiều
1.1.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Trung Quốc
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu thời cổ
Thuật ngữ ―địa danh‖ được ghi chép sớm nhất trong cuốn sách Chu lý, là
công trình ở thời kỳ Chiến quốc Công trình chủ yếu viết về quan chế thời nhà Chu và chế độ kinh tế chính trị của các nước thời kỳ Chiến quốc Thời kỳ này lần
lượt ra đời các cuốn sách Sơn hải kinh và Vũ cống, có ghi khoảng 1100 địa danh Các địa danh ghi trong Vũ Cống có đóng góp rất lớn cho đời sau Sau đó, dần dần
có nhiều sách giải thích về nguồn gốc địa danh Thủy kinh chú ghi nhận hơn
20.000 địa danh, có 2400 chỗ giải thích về nguồn gốc địa danh Tuy nhiên trong thời kỳ phong kiến, việc nghiên cứu địa danh Trung Quốc chỉ thiên về việc ghi chép địa danh, giải thích nguồn gốc, tìm hiểu lịch sử địa danh, khái quát nguyên
Trang 20tắc định danh và quy phạm hóa địa danh Các nghiên cứu này thiếu tính hệ thống
và tính tổng hợp, cũng chưa có những khám phá mới và chưa hề hình thành ngành khoa học độc lâp
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu cận đại
Sau cuộc chiến tranh Nha phiến, những người truyền giáo bắt đầu dịch và giới thiệu những công trình nghiên cứu địa danh Ngoài những ảnh hưởng của
các nước phương Tây, vấn đề nghiên cứu địa danh cũng lấy Thủy kinh chú, Thủy
kinh chú đồ, Lịch đại dư địa đồ của Dương Thủ Kính và Tiểu phương hồ trai dư địa tùng Sao,; Bồng lai hiên địa học lý tùng thư làm những công trình tham
khảo tiêu biểu Để kỷ niệm 60 năm thành lập Thân Báo, Đinh Văn Giang và Tăng Thế Anh xuất bản Bản đồ mới Trung Hoa Dân Quốc, trở thành một tập bản
đồ Trung Quốc có ghi địa danh nhiều nhất trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lúc đó, về phương pháp nghiên cứu, phương pháp so sánh ngôn ngữ học được đưa vào nghiên cứu địa danh là một bước tiến mới và đã giành được thành quả khá lớn Phòng Thừa Quân và La Thường Bồi là những
nhà nghiên cứu tiêu biểu Đầu những năm 30 thế kỷ trước đã xuất bản Trung
Quốc địa danh đại từ điển và Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển cùng với
những chú thích về lịch sử địa danh và vị trí địa danh trên hơn 40.000 địa danh
đã thu thập Từ đó các nhà khoa học Trung Quốc bắt đầu áp dụng các phương pháp địa danh học để nghiên cứu địa danh với thành quả là một loạt các công
trình về địa danh học đã ra đời Nghiên cứu địa danh của Cát Tuy Thành, Điạ
Danh Thông Luận và Địa danh học Khái Luận của Kim Tổ Mạnh là những cuốn
sách rất có giá trị trong việc trình bày địa danh và địa danh học từ góc độ khoa học cận đại, thể hiện sự phát triển mới của địa danh học cận đại Trung Quốc Năm 1960, giáo sư Tăng Thế Anh lần đầu tiên đưa ra ý kiến địa danh học phải xây dựng thành một khoa học mới, giáo sư chỉ ra rằng việc tìm hiểu nguồn gốc
và ý nghĩa địa danh là nhiệm vụ của địa danh học, nó đã tách khỏi địa lý học và ngôn ngữ học mà trở thành một khoa học độc lập ở Liên Xô [75;tr.95-100]
Sự phát triển về địa danh học cận đại Trung Quốc đã bắt đầu có xu thế
Trang 21nghiên cứu lý luận và nghiên cứu tổng hợp trên nền tảng đã có từ trước.Thời kỳ này, việc nghiên cứu địa danh Trung Quốc chủ yếu tập trung ở các hướng nghiên cứu như: tổng kết thành quả nghiên cứu trong lịch sử và thúc đẩy địa danh tiêu chuẩn hóa cũng như giới thiệu thành quả nghiên cứu địa danh và phương pháp lý luận địa danh học nước ngoài Điều này đã đặt nền móng cho sự phát triển và hình thành ngành địa danh học hiện đại Trung Quốc
1.1.2.3 Tình hình nghiên cứu hiện nay
Hiện nay, ngoài phương pháp truyền thống, các nhà nghiên cứu đã triển khai phương pháp và lý thuyết khoa học địa danh, chú trọng đến tính hệ thống, tính tổng hợp cũng như tính ứng dụng trong việc nghiên cứu địa danh Một mặt thúc đẩy việc xuất bản các loại sách báo về địa danh, từ điển địa danh và công trình viết về địa danh, mặt khác tăng cường sự giao lưu với quốc tế, thành lập cơ quan các cấp quản lý địa danh và khôi phục, tái tạo hoàn thiện cơ cấu học thuật về địa danh Năm 1977, Quốc vụ viện phê chuẩn việc thành lập Ủy ban Địa danh Trung Quốc, với chức năng xây dựng nguyên tắc định danh và thay đổi địa danh trong nước, lập ra nguyên tắc tiêu chuẩn hóa về cách dịch, cách viết địa danh trong và ngoài nước, tổ chức điều tra, thu thập chỉnh lý, thẩm định và lưu trữ tư liệu địa danh trong và ngoài nước, biên tập và xuất bản các loại sách báo về địa danh và giao lưu với quốc tế Sau khi thành lập Ủy ban Địa danh nhà nước, các huyện, thành phố và tỉnh đã dần dần xây dựng cơ quan địa danh địa phương Từ năm
1979 đến năm 1996, dưới sự chỉ đạo và tổ chức của Ủy ban Địa danh nhà nước, lần đầu tiên Trung Quốc triển khai điều tra địa danh trong phạm vi toàn quốc Nội dung điều tra gồm có tên gọi chuẩn hóa địa danh, xác định vị trí địa lý, lai lịch, ý nghĩa và lịch sử quá trình biến đổi địa danh cũng như tình hình xã hội, kinh tế, văn hóa, địa lý và lịch sử liên quan tới địa danh Với thành quả là đã điều tra hơn 5,5 triệu địa danh, trong đó có hàng loạt tư liệu địa danh vùng dân tộc thiểu số và 25 nghìn địa danh vùng biển Từ khi thành lập, Ủy ban Địa danh Trung Quốc, các tỉnh cũng lần lượt xuất bản các loại sách báo về địa danh như:
hương vực Trung Quốc của tỉnh Sơn Tây, Địa danh Trung Quốc của tỉnh Liêu
Trang 22Ninh, Tập san địa danh của tỉnh Vân Nam, Địa danh của tỉnh Phúc Kiến, Địa
danh Hồ Bắc, Địa danh Nội Mông, v.v [105;tr.63]
Đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều tác giả với công trình có ảnh hưởng to lớn trong sự phát triển khoa học địa danh học Trung Quốc như Chu Chấn Hạc,
Du Nhữ Kiệt với Tìm hiểu địa danh cổ Việt (1984)[123;tr.93-96], đã tìm hiểu về
đặc trưng của các địa danh Việt cổ ở khu vùng tỉnh Giang Tô và tỉnh Triết Giang;
Năm 1986 công trình hương ngôn và văn hóa Trung Quốc[124;tr.15] do hai tác
giả cộng tác, đã trình bày mối quan hệ giữa điạ danh với cảnh quan lịch sử văn hóa, địa danh và di dân, điạ danh và địa lý giao thông lịch sử, địa danh và lịch sử dân tộc, địa danh và địa lý dân tộc lịch sử cũng như phân lớp địa danh với phân lớp văn hóa trong chương thứ 5 Cách trình bày và phương pháp nghiên cứu trên
đã có ảnh hưởng rộng rãi tới ngôn ngữ học văn hóa, ngôn ngữ học, thậm chí ảnh
hưởng đến cách nghiên cứu địa danh học Trung Quốc Văn hóa địa danh Trung
Quốc[94;tr.26] của Ngưu Nhữ Thần tìm hiểu mối quan hệ giữa địa danh với văn
hóa Trung Quốc thông qua nghiên cứu phong tục sùng bái Totem và địa danh, họ tên và địa danh, di cư tộc người và địa danh, kinh tế xã hội và địa danh Từ đó tác giả đã phác họa sơ lược tình hình về văn hóa địa danh Trung Quốc Hoàng Gia
Giáo viết cuốn Nghiên cứu và ứng dụng của địa danh (1990), thảo luận và giải
thích nguyên tắc tiêu chuẩn hoá địa danh Nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc biên soạn ―Từ điển địa danh‖ và ―Điạ danh chí‖, nêu ra nghiên cứu địa danh phải tiếp cận quan hệ giữa địa danh với văn hoá lịch sử, ngôn ngữ và văn tự Ngoài ra,
còn có cuốn Trình bày và phân tích địa danh học của Chư Á Bình
Năm 1995 sau khi thành lập Sở nghiên cứu Địa danh Trung Quốc, ban tổ
chức đã biên tập Tập bản đồ địa danh tiêu chuẩn chính khu nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa, Đại từ điển địa danh xưa nay Trung Quốc, Kho sách nghiên cứu tiêu chuẩn hóa điạ danh Trung Quốc, v.v… Đại từ điển địa danh xưa nay Trung Quốc là một từ điển địa danh có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, với nội dung
đầy đủ nhất và có uy tín nhất từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời
Kho sách nghiên cứu tiêu chuẩn hóa Điạ danh Trung Quốc đã tổng kết một cách
Trang 23hệ thống và trình bày thành quả nghiên cứu địa danh học Trung Quốc, tiêu biểu
gồm các loại công trình sau: Khái luận cơ sở địa danh học, Khái luận địa danh
quản lý học, Khái luận cơ cấu địa danh, Khái luận nguồn gốc lịch sử học địa danh, Khái luận địa danh điều tra học, Khái luận chế độ tiêu chuẩn địa danh, Khái luận địa danh dân tộc thiểu số Trung Quốc, Khái luận thông tin hóa địa danh, Khái luận quy hoạch địa danh, Khái luận di sản văn hóa địa danh, Khái luận tiêu chuẩn hóa quốc tế địa danh [119;tr.4]
Các bài nghiên cứu về khoa học địa danh Trung Quốc hiện nay chủ yếu theo các hướng nghiên cứu sau: 1 Nghiên cứu nguồn gốc địa danh 2 Nghiên cứu quá trình phát triển và biến đổi 3 Nghiên cứu lý luận và phương pháp khoa học địa danh 4 Nghiên cứu việc ứng dụng địa danh 5 Nghiên cứu sự tiêu chuẩn hóa địa danh; 6 Nghiên cứu sự phân loại và hệ thống tra tìm địa danh 7 Nghiên cứu việc biên tập từ điển địa danh 8 Trao đổi kinh nghiệm quản lý địa danh
Các nhà nghiên cứu địa danh học Trung Quốc đang có xu hướng nghiên cứu
về mặt hệ thống hoá lý thuyết, thực tiễn hoá khoa học địa danh, đặc biệt là hiện nay địa danh học đã thu hút các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực: ngôn ngữ học, địa lý học, dân tộc học, sử học, bản đồ học, v.v , đang cố gắng phát triển hướng nghiên cứu địa danh học theo phương pháp liên ngành và cũng đã giành được rất nhiều thành quả to lớn
1.1.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu địa danh Việt Nam cũng có lịch sử lâu dài, nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh liên miên, việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam phát triển tương đối chậm Cho đến những năm gần đây địa danh học mới trở thành một môn khoa học mới và có những công trình chuyên sâu nghiên cứu về địa danh Các hướng nghiên cứu địa danh Việt Nam chủ yếu như sau: 1 Trình bày phân tích cội nguồn và sự diễn biến của địa danh theo hướng lịch sử văn hóa; 2 Vận dụng phương pháp ngôn ngữ học nghiên cứu địa danh.3 Nghiên cứu địa danh theo hướng liên ngành
Trang 241.1.3.1 Trình bày phân tích cội nguồn và sự diễn biến của địa danh theo hướng lịch sử văn hóa
Các công trình nghiên cứu địa danh Việt Nam trong thời kỳ phong kiến chủ yếu là ghi chép, phân tích và giải thích cội nguồn và sự diễn biến địa danh theo hướng lịch sử văn hóa Trong lịch sử Việt Nam, thư tịch địa lý nổi tiếng có những
công trình như sau:An Nam chí lược của Lê Trắc (1333), cuốn sách này được nhiều học giả đánh giá cao Dư địa chí của Nguyễn Trãi ở đầu thời kỳ nhà hậu Lê (1435, lại có tên An Nam Vũ cống) cuốn sách này ở Việt Nam được coi là ― Vũ
cống An Nam‖ Vì Dư địa chí mô phỏng thể thức Vũ cống, ghi chép các tình
huống đất đai, phong tục, sản vật và thuế khóa của các nơi miền bắc Việt
Nam[117;tr.82] Ngoài ra còn có Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1479)
và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821), An Nam nhất thống
chí của Ngô ThìSĩ (cuối thế kỷ 18), Lê Quang Định với Đại Việt nhất thống dư địa chí (1807), Nguyễn Văn Siêu với Đại Việt dư địa toàn biên (1833), Hoàng Việt địa dư chí (một loại An Nam địa lý toàn chí), Sử học bị khảo, mục Địa lý khảo ( thượng, hạ)của Đặng Xuân Bảng, Bắc thành địa dư chí của Lê Chất ở
cuối thời kỳ Gia Long (là một loại Bắc Kỳ toàn chí), An Nam chí của Phạm Đình
Hổ, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Cao Xuân Dục và các tác giả khác với Đại Nam nhất thống chí (1882) Trong các công trình này, Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài Đức là công trình quý báu và hiếm thấy với nội
dung về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa và lịch sử Hoa kiều của khu vực Gia
Định; Thư tịch cổ đại nổi tiếng nhất của Việt Nam là Đại Nam nhất thống chí, cuốn sách này dựa theo thể thức của Đại Thanh nhất thống chí Trung Quốc, nội
dung trình bày về hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, trường học, đồng ruộng, non nước, chùa miếu, nhân vật, sản vật và sự diễn biến, v.v… của hơn ba mươi
tỉnh từ Lạng Sơn đến Hà Tiên (xem Tây vực Nam hải sử địa khảo chứng dịch
tùng (1962) tr.59), được coi là một ―thư tịch địa lý hoàn thiện nhất của các tỉnh
miền Bắc, Trung và Nam‖ Những công trình này đều là những công trình viết bằng chữ Hán và nhắc đến địa danh Việt Nam sớm nhất
Trang 25Cũng như các thư tịch địa lý chí truyền thống Trung Quốc, các sách cổ về địa lý và địa danh Việt Nam tuy đã giải thích rất nhiều cội nguồn địa danh, nhưng đều thiên về ghi chép và giải thích địa danh cụ thể chứ không nâng tầm thành các công trình nghiên cứu một cách hệ thống
Cuối thế kỷ 20, Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19 (thuộc các tỉnh từ Nghệ
Tĩnh trở ra) do Dương Thị The và Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn (1981) đã sưu tập 10.994 địa danh tên làng xã
Ngoài ra còn có các công trình tiếp cận theo hướng nghiên cứu lịch sử văn
hóa như Đào Duy Anh với Đất nước Việt Nam qua các đời (1964); Thái Hoàng với Bàn về tên làng Việt Nam (1982); hương pháp vận dụng địa danh học trong
nghiên cứu địa lý học lịch sử cổ đại Việt Nam (1984) của Đinh Văn Nhật…
Một số vấn đề địa danh học Việt Nam (2000) cuả Nguyễn Văn Âu nghiên
cứu bằng phương pháp địa lý, lịch sử văn hóa Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca
dao Phú Yên (2001) của Nguyễn Đình Chúc, Lịch sử địa danh Việt Nam(2008)
của Vũ Ngọc Khánh, Kể chuyện tên làng Việt (2010) của Nguyễn Tọa, Di sản tên
nôm các làng văn hóa dân gian Việt Nam của Trần Gia Linh (2010) , Tìm hiểu địa danh lịch sử quân sự Việt Nam do NXB Quân đội Nhân dân xuất bản (2012),
đều là các công trình nói về đặc điểm và nguồn gốc địa danh dưới góc độ lịch sử văn hóa
1.1.3.2 Nghiên cứu địa danh theo ngôn ngữ học và nghiên cứu liên ngành
Gần đây, nghiên cứu địa danh theo hướng ngôn ngữ học được nhiều học giả Việt Nam quan tâm Các nhà ngôn ngữ học đều nhất trí rằng địa danh là thuộc về
từ vựng, chủ yếu nghiên cứu nguồn gốc địa danh, cách thức định danh, cấu tạo và
ý nghĩa của địa danh Hoàng Thị Châu với Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở
Đông Nam Á qua một vài tên sông (1965) là người đầu tiên nghiên cứu địa danh
bằng hướng ngôn ngữ học ở Việt Nam: nữ tác giả phân tích quá trình hình thành
tên gọi và nguồn gốc của các con sông Đông Nam Á Thử bàn về Địa danh Việt
Nam (1976) của Trần Thanh Tâm có nhắc đến một số vấn đề cơ bản về địa danh
và địa danh học Việt Nam
Trang 26Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20, các công trình nghiên cứu về địa danh Việt Nam ngày càng phong phú: Các tác giả nghiên cứu, khảo sát địa danh với tầm nhìn rộng hơn, nhưng vẫn lấy góc độ ngôn ngữ học làm chính để nghiên cứu nguồn gốc và đặc trưng địa danh, cấu tạo và ý nghĩa của địa danh cũng như cách đặt tên của cư dân bản địa Trong khi nghiên cứu địa danh Việt Nam, nhiều học giả chú trọng nghiên cứu địa danh bằng nhiều phương pháp Ví dụ: Lê Trung
Hoa, với Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1991), nghiên cứu địa danh dưới
góc độ ngôn ngữ học cũng như phân tích cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa địa danh, thể hiện hiện trạng và quá trình thay đổi của địa danh TP Hồ Chí Minh, đồng thời cũng đưa ra một số vấn đề lý luận để làm cơ sở cho việc nghiên cứu địa danh
Nguyễn Kiên Trường với Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (1996), Nguyễn Nhã Bản với Về địa danh Hội An (1999), Hoàng Tất Thắng với Địa danh
Đà Nẵng từ cách tiếp cận ngôn ngữ học (2003) hay Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004) của Từ Thu Mai, Địa danh Bến Tre (2005) của Nguyễn Thanh Lợi và Những đặc điểm chính của địa danh Đak Lăk (2005) của Trần Văn Dũng đều cho
thấy hướng tìm hiểu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học Địa danh học Việt Nam (2006) của Lê Trung Hoa là một công trình về địa danh học tương đối hệ thống,
vì công trình trình bày một cách hệ thống về tình hình nghiên cứu địa danh Việt Nam, phương pháp nghiên cứu địa danh, sự phân loại địa danh, v.v…
Hiện nay, có nhiều tác giả đề cập đến địa danh tiếng Kinh (Việt) và tiếng các dân tộc thiểu số, so sánh lịch sử từ góc độ ngôn ngữ học, đồng thời tiếp cận bằng
các phương pháp địa lý học, sử học, dân tộc học, v.v… Ví dụ như các bài viết Về
địa danh Cửa Lò (2000), Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa (2000), Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam (2001), vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị (2001),Một vài nhận xét về cách Hán Việt hoá địa danh Nôm tên làng: trường hợp địa danh Cổ Loa, (2005), Tiếp tục tìm hiểu về xuất xứ và ý nghĩa địa danh Cổ Loa (2005), Tên gọi của sông Hồng (2008 )của Trần Trí Dõi; Chuẩn hóa cách viết địa danh tiếng Việt
Trang 27(2005), Mấy suy nghĩ từ cách ghi địa danh Hà Nội thời thuộc Pháp (2007), Mấy nhận xét về địa danh Tày – Nùng (2008), Mấy nhận xét về địa danh ở Lạng Sơn (2009) của Vương Toàn;Nguyễn Văn Hiệu với Những địa danh gốc Hán ở một số vùng dân tộc Mông-Dao ở Việt Nam (2005), Vấn đề quốc ngữ hóa hệ thống phụ âm đầu trong các địa danh ở Việt Nam có nguồn gốc từ tiếng Hán quan thoại vùng Tây Nam Trung Quốc(2007),Một vài đặc điểm địa- văn hoá-nhân văn vùng Tây Bắc Việt Nam qua các địa danh gốc Hán Quan Thoại Tây Nam (2013)
Những bài viết này chủ yếu là tìm hiểu đặc điểm văn hóa lịch sử dân tộc bằng các tiếp cận ngôn ngữ học và ngôn ngữ học so sánh lịch sử
Nói chung các hướng tiếp cận địa danh Việt Nam có những đặc điểm như sau:1 Trình bày về nguồn gốc và sự diễn biến của địa danh theo hướng tiếp cận lịch sử văn hóa 2 Vận dụng phương pháp ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh
3 Nghiên cứu địa danh theo hướng liên ngành
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu địa danh đã có nhiều đóng góp cho việc xây dựng ngành địa danh học Từ giai đoạn phân tích nguồn gốc ý nghĩa địa danh bằng cách giới thiệu đơn điệu đến giai đoạn kết hợp ngôn ngữ học để nghiên cứu địa danh cũng như hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành địa danh học Từ giai đoạn nghiên cứu địa danh một cách lẻ tẻ đến giai đoạn nghiên cứu một cách hệ thống và có cơ sở lý thuyết phong phú Tuy nhiên địa danh học vẫn còn nhiều lĩnh vực còn chưa được khai thác hoàn thiện Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến việc mở rộng phạm vi nghiên cứu địa danh vượt qua ranh giới vốn có của nó Các tác giả đã bắt đầu so sánh địa danh trong vùng văn hoá lớn hơn và đa diện hơn Gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu về so sánh các địa danh xuyên biên giới hoặc so sánh địa danh giữa các nước khác nhau Trong lĩnh vực này còn nhiều vấn để chưa đươc triển khai nghiên cứu Cho nên xuất phát từ cảnh huống này chúng tôi muốn so sánh các địa danh dân tộc thiểu số có mối quan hệ mật thiết giữa hai nước khác nhau Xét trên tổng thể, cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về cấu tạo và ý nghĩa của địa danh thành phố Sùng Tả cũng như địa danh tỉnh Lạng Sơn Việt
Trang 28Nam Và cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu so sánh địa danh Choang với địa danh Tày-Nùng của hai nước Trung Quốc và Việt Nam Vì vậy, luận án của chúng tôi sẽ góp phần bổ sung cho mảng nghiên cứu còn trống này
1.1.4 Các hướng nghiên cứu địa danh Choang ở Trung Quốc
Những năm 30 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu địa danh dân tộc thiểu số, nhưng việc nghiên cứu địa danh Choang vẫn còn tương đối ít Các nhà nghiên cứu chủ yếu vận dụng địa danh Choang để nghiên cứu lịch sử văn hóa và tình hình phân bố của dân tộc Choang Sau cuộc cải cách mở cửa, việc nghiên cứu địa danh Choang ngày càng được coi trọng, các công trình nghiên cứu địa danh Choang ngày càng nhiều Chính quyền địa phương triển khai công cuộc điều tra cơ bản về địa danh Choang và công bố xuất bản địa danh chí của các huyện vùng dân tộc Choang cư trú Những công trình này đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu địa danh Choang sau này
Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu điạ danh Choang có những hướng nghiên cứu cơ bản như sau: a Nghiên cứu địa danh tiếng Choang theo hướng lịch sử văn hóa; b Nghiên cứu địa danh từ góc độ so sánh - lịch sử ngôn ngữ học và ngôn ngữ học văn hóa; c Hướng nghiên cứu liên ngành
1.1.4.1 Nghiên cứu địa danh Choang theo hướng lịch sử văn hóa
Địa danh Choang trong lịch sử có ghi trong Địa phương Chí, trong Địa lý
Chí của Chính sử cũng có ghi chép Bách sơn Tư chí của thời Thanh đã ghi các
địa danh Choang với số lượng khá nhiều Người chú ý đến điạ danh Choang sớm nhất là Khuất Đại Quân thời nhà Thanh Ông đã chỉ ra rằng ― Từ Dương Xuân đến Cao, Lôi, Liêm, Quỳnh, đều có những địa danh mang tên với Na, La, Đa,
Phù, Qua, Nha, Nga, Đà, Đả‖ trong cuốn sách Quảng Đông Tân Ngữ[100;tr.340] Khuất Đại Quân đúc kết lại đặc trưng của địa danh Choang và
sơ lược tình trạng phân bố địa danh Choang Cách ghi chép địa danh Choang trong sách cổ chủ yếu là giới thiệu gốc tích và sự diễn biến cuả địa danh, nhưng
đa số không viết bằng tiếng Choang Những nội dung ghi chép về địa danh Choang trong sách cổ viết bằng chữ Hán cũng tồn tại một số cách giải thích
Trang 29không thật chính xác
Nghiên cứu về địa danh Choang cổ chủ yếu là nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học để phân tích sự diễn biến của địa danh Choang cổ, nhằm tìm hiểu nguồn gốc các dân tộc Choang - Đồng Các tác giả với bài viết có ảnh hưởng khá lớn
như Chu Chấn Hạc và Du Nhữ Kiệt trong bài Tìm hiểu địa danh cổ Việt cho rằng
“Cô Tô” chính là tiếng Bách Việt, “Cô” là một từ phát âm ra không mang ý nghĩa Địa danh ―kiểu đều đầu‖ ngôn ngữ Bách Việt có hai hình thức cơ bản:
kiểu đặt trước và kiểu đặt sau ―Cô Tô‖ thuộc loại kiểu đặt trước điển hình ―Cô‖,
―Cú‖, và ―Vu‖ đều thuộc loại từ chỉ có âm tiếng mà không có ý nghĩa thực tế Lý
Như Long trong bài Địa danh và Ngôn ngữ học đã khảo sát các địa danh tiếng
Choang phân bố tại huyện Kiến Dương, huyện Sùng An và thành phố Thiệu Vũ trong khu Vũ Di Sơn của tỉnh Phúc Kiến; qua đó tìm ra tư liệu phong phú để chứng minh khu Vũ Di Sơn cũng là nơi hoạt động của người Choang cổ, nước
Mân Việt có mối quan hệ với người Choang cổ Lý Cầm Phương với Nội hàm
Văn hóa của Địa danh Bách Việt [82;tr.78-88], Trình bày sự Khác nhau và sự Giống nhau giữa Địa danh Bách Việt miền Đông và miền Tây Thời cổ[83;tr.42-46], tác giả vận dùng phương pháp so sánh - lịch sử ngôn ngữ học và
lý luận phân tầng ngôn ngữ kết hợp với phương pháp địa danh học, vận dùng tư liệu ngôn ngữ Choang – Đồng hiện nay và tư liệu ngôn ngữ hữu quan để giải thích thành tố chung của địa danh Bách Việt cổ, được ghi trong thư tịch phiên âm bằng tiếng Hán hơn mười loại, thời gian là từ thời kỳ Xuân Thu đến thời kỳ nhà
Hán Ngoài ra còn có bài Giải thích Địa danh Nhân danh tiếng Bách Việt cổ của Trình Trương Thượng Phương [125;tr.8-13] và Thăm dò Cú Cô của tiếng Bách
Việt cổ của La Ngọc Lan[91:tr.105-117], v.v…
Năm 1988, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Uỷ ban Địa danh Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây, Ủy ban Sự vụ dân tộc Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây và Ủy ban Công tác Văn tự Ngôn ngữ Dân tộc Thiểu số Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây cộng
tác biên tập và xuất bản Tuyển tập Địa danh tiếng Choang Quảng Tây Công
Trang 30trình này đã thu thập được 5500 địa danh, nhưng chỉ chiếm 8% địa danh tiếng Choang Quảng Tây, trong đó địa danh làng xóm tự nhiên chiếm 75% tổng số địa danh trong tuyển tập, các làng xóm tự nhiên phân bố trên vùng núi và vùng sâu vùng xa, ít bị văn hóa Hán đồng hóa, giữ được đặc trưng địa danh tiếng Choang tương đối tốt Các địa danh được lựa chọn, đa số đều dựa theo yêu cầu tiểu chuẩn hoá địa danh ghi các thông tin như tên gọi chuẩn, phiên âm tiếng Choang, phiên
âm tiếng Hán, vị trí địa lý, lai lịch địa danh, quá trình phát triển và biến đổi địa danh, ý nghĩa địa danh, phong tục tập quán, v.v Công trình này đã cung cấp tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu địa danh Choang Mặc dù những nghiên cứu này có nhiều quan điểm khá mới, nhưng đa số chỉ trình bày lẻ tẻ hoặc mang tính khảo chứng, thiếu sự nghiên cứu và phân tích một cách hệ thống
1.1.4.2 Nghiên cứu địa danh từ góc độ so sánh - lịch sử ngôn ngữ học và ngôn ngữ học văn hóa
La Thường Bồi trong Ngôn ngữ và Văn hóa nêu ra cách nghiên cứu ―kết
hợp lẫn nhau ngôn ngữ với văn hóa‖, trình bày ―tìm hiểu dấu tích di cư dân tộc từ địa danh‖ bằng cách kết hợp ngôn ngữ học với việc nghiên cứu văn hóa Từ đó bắt đầu dấy lên phong trào nghiên cứu địa danh bằng cách kết hợp ngôn ngữ địa
danh với văn hoá dân tộc Trương Tuệ Anh trong Ngôn ngữ và Văn hóa danh
xưng -Nguồn gốc nhân danh, địa danh và tộc danh vùng Đông Á[120;tr.52] tìm hiểu nhân danh, địa danh và tộc danh nói chung mà có liên quan trong các khu vực, các dân tộc và các nước Đông Á Qua đó tìm hiểu ra đặc điểm chung giữa phương ngôn tiếng Hán và phương ngôn dân tộc cũng như lịch sử văn minh thời
cổ của Trung Quốc, các nước Đông Nam Á và Đông Á Vi Thụ Quan trong Giải
thích từ圩(墟、虚) Khư, Hư [109;tr.42-45] áp dụng tư liệu địa danh khu vực
phương ngôn Hán và khu vực tiếng Choang, khảo sát mối quan hệ giữa các từ Khư, Khư, Hư của phương ngôn Hán miền Nam với từ Haw, Faw của tiếng Choang, qua đó phác họa nguồn gốc, ý nghĩa và dấu tích biến đổi ngữ âm của từ Khư, Hư trong phương ngôn Hán miền Nam Ngoài ra, còn có các bài viết như:
Vi Đặt với Sắc thái Văn hóa Địa danh Choang[108;tr.90-94]; Lữ Tung Tùng về
Trang 31Phép tu từ và Tư duy Cụ tượng trong Địa danh Choang[92;tr.109-113];Dương
Bôn, Hoàng Ngọc, Lý Bình với bài Giải thích Văn hóa Địa danh
Choang[115;tr.62-66];Tống Trường Đống với Tiếp xúc hòa nhập ngôn ngữ trong địa danh Lĩnh Nam[103;tr.62-66] v.v…
Phòng Anh và Pranee đã cộng tác hoàn thành công trình Nghiên cứu và So
sánh Địa danh Dân tộc Quảng Tây Trung Quốc với miền Đông bắc Thái Lan (đã
xuất bản tại Thái Lan ) [133;tr.120-132]
Công trình Ngôn ngữ và Văn hóa của Địa danh Choang của Đàm Phượng
Dư và Lâm Dịch [96;tr.32], trình bày một cách sâu sắc và toàn diện về ý nghĩa văn hóa và đặc trưng ngôn ngữ địa danh tiếng Choang ở 24 huyện và thành phố ở Trung Quốc Qua đó, tác giả cũng đã phân tích những đặc điểm về lịch sử, địa lý, văn hóa, phong tục và tín ngưỡng tôn giáo của người Choang Đúng như sự đánh giá của La Vĩnh Hiện, cuốn sách này là công trình đầu tiên phân loại một cách hệ thống các địa danh tiếng Choang ở tỉnh Quảng Tây với phương pháp ngôn ngữ học, khảo sát đặc trưng phương vị từ tiếng Choang bằng phương pháp phân tích
và thống kê, tìm hiểu sự khác nhau và giống nhau về mặt nhận thức phương vị và tính không cân bằng trong việc sử dụng phương vị từ giữa dân tộc Choang với dân tộc Hán Ngoài ra còn vận dụng phương pháp âm vận học phân tích mối quan hệ tương ứng ngữ âm trong việc phiên dịch địa danh giữa Choang và Hán cũng như các lớp lịch sử của từ mượn Hán, nhằm cung cấp tư liệu mới cho nghiên cứu so sánh - lịch sử các ngôn ngữ Hán – Thái[89;tr.203] Cho đến nay, đây
là một công trình nghiên cứu về địa danh tiếng Choang hệ thống nhất ở Trung Quốc Nhưng công trình này chủ yếu phân tích các ý nghĩa và các chức năng của địa danh Choang bằng phương pháp ngôn ngữ văn hoá Nội dung nói chung vẫn nghiêng về văn hoá địa danh Tác giả chưa phân tích cấu tạo địa danh Choang một cách hệ thống theo hướng ngôn ngữ học
1.1.4.3 Hướng nghiên cứu địa danh theo phương pháp liên ngành
Nghiên cứu địa danh bằng phương pháp liên ngành là một hướng chính để nghiên cứu điạ danh Choang ở Trung Quốc Hướng nghiên cứu này vận dụng các
Trang 32phương pháp nghiên cứu của dân tộc học, ngôn ngữ học, ngôn ngữ so sánh - lịch
sử, địa lý học, địa danh học, v.v… để tìm hiểu địa danh Choang qua đó phân tích nguồn gốc, cảnh huống văn hóa, những cuộc thiên di và sự phân bố của các dân tộc Choang - Đồng hoặc dân tộc Choang
Trong đó, Từ Tùng Thạch là một trong những người nghiên cứu tiểu biểu nhất đồng thời cũng là người nghiên cứu địa danh Choang Đồng sớm nhất Từ Tùng Thạch có đóng góp rất lớn trong việc nghiên cứu địa danh Choang Những
năm 30, công trình Lịch sử nhân dân lưu vực Việt Giang[112;tr.45] của tác giả là
sử dụng phương pháp khảo chứng địa danh để nghiên cứu lịch sử và văn hoá của
các dân tộc miền Nam Những năm 60 công trình Khảo sát về Người Thái, Người
Choang, Người Việt và Lịch sử Nhân dân Lưu vực sông Việt Giang [112;tr130]
Tiếp tục sử dụng phương pháp khảo sát địa danh, dựa vào sự phân bố của các địa danh đặc biệt mà khảo sát lịch sử các dân tộc thời cổ Trong hai công trình này tác giả đã có những thành quả như sau: một là lần đầu tiên đưa ra địa danh Choang với đặc điểm là không thể giải thích bằng tiếng Hán mà nó có ý nghĩa Choang của mình; những địa danh này chủ yếu là hai âm tiết; họ là những địa danh ―kiểu tế đầu‖ (thành tố chung rất đều đặn và đứng trước thành tố riêng so với tiếng Hán) v.v…Hai là liệt kê ra những yếu tố hay dùng trong địa danh và giải thích ý nghĩa của nó; Ba là trình bày ý nghĩa và đặc trưng của địa danh Choang, từ hình thức cơ cấu trong nội bộ và không gian phân bố của địa danh Choang chứng minh sự phân bố của nguồn gốc dân tộc Choang cũng như sự phát
triển và cuộc di cư của nó.Trong đó đã chỉ ra những địa danh lấy chữ Na, Bản,
Bách, Đô đứng đầu là địa danh ―kiểu tế đầu‖ của các ngôn ngữ Choang - Thái,
trong ―kiểu tế đầu‖ này vẫn giữ tại tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Nam, Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc cũng như các nước khác như Xiêm La, Miến
Điện và An Nam xưa (nay là Thái Lan, Myanmar và Việt Nam) Băng Cốc, kinh
thành Xiêm La xưa chính là kiểu tế đầu Có thể thấy rằng miễn là các nơi giữ điạ danh tế đầu với nghĩa Choang, nếu không phải là hiện nay thì là thời cổ đã có thế lực rất lớn của người Choang.‖ Tác giả tìm hiểu quan hệ nguồn gốc giữa dân tộc
Trang 33Choang với dân tộc Thái bằng cách ―khảo sát địa danh‖ Tác giả cho rằng: người Thái ở Thái Lan cùng gốc với người Choang, họ di cư từ Lĩnh Nam Người Choang ở Trung Quốc và người Thái, người Lào, người Thiền, người Tày và người Nùng của các nước Đông Nam Á đều bắt nguồn từ Bách Việt (Bách Việt là tên gọi chung của những bộ phận dân tộc thiểu số sống ở miền Nam Trung Quốc thời nhà Tần và nhà Hán, giới nghiên cứu Trung Quốc thường cho rằng các dân tộc nói tiếng Choang - Đồng ở miền Nam Trung Quốc hiện nay là hậu duệ các dân tộc Bách Việt cổ ) thời cổ Nội dung công trình này phong phú và tỉ mỉ Quan điểm và kết luận độc đáo của ông vẫn có giá trị tham khảo quan trọng đối với việc nghiên cứu địa danh Choang - Đồng cũng như việc nghiên cứu địa danh Thái và Choang Có thể nói, đây là bước khởi đầu cho việc nghiên cứu địa danh dân tộc Choang và dân tộc Thái của Trung Quốc
Phạm Hồng Quý cũng từng nhắc đến sự giống nhau và khác nhau giữa địa
danh quần tộc Choang và Thái trong công trình Dân tộc cùng gốc -Văn hóa và
Nguồn gốc các dân tộc Choang Thái [69;tr44] Ông đã áp dụng phương pháp
khảo cứu địa danh nghiên cứu quá trình di cư từ Hoa Nam đến Bán đảo Trung Nam của ―dân tộc Thiền Thái‖, chủ yếu khảo sát các địa danh với từ ―Bảng‖,
―Na‖, ―Lộng‖, ―Long‖, ―Lông‖, ―Đồng‖, ―Nam‖, ―Niệm‖, ―Bố‖, ―Bạch‖, ―Bắc‖,
―Mang‖, ―Mạnh‖, ―Mãnh‖, ―Xuyên‖ phân bố trong khu vực Hoa Nam và Bán đảo Trung Nam, nêu ra kết luận rằng: hậu duệ của người Tây Âu, tức là các dân tộc Choang - Thái được phát triển và phân chia từ một gốc chung, dân tộc Thái của Thái Lan, dân tộc Thiền của Miến Điện (Mynmar), dân tộc Lão Long của Lào, dân tộc Thái của Trung Quốc đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo (trừ dân tộc Thái ở Việt Nam); dân tộc Lào, dân tộc Mao Nam, dân tộc Lê của Trung Quốc và dân tộc Nùng Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Hán và môi trường địa lý khác nhau lại phát triển theo hướng khác; dân tộc Tày do sự ảnh hưởng của dân tộc Kinh lại theo hướng phát triển khác
Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình và bài báo như: Lý Cầm Phương
với Ngôn ngữ và Văn hóa Đồng -Thái[84;tr67] Cuốn sách này từ góc độ dân tộc
Trang 34học, văn hoá nông nghiệp và thương mai kinh tế giải thích ý nghĩa văn hoá của
địa danh và nhân danh của những người nói tiếng Đồng-Thái Lữ Tung Tùng viết
về Nội hàm Văn hóa của Địa danh Tịnh Tây, Khảo sát và Giải thích Câu Đinh và
các Địa danh Tây Lâm liên quan đến Câu Đinh -Tây Lâm Quảng Tây Từng là Trung tâm Chính Trị nước Câu Đinh[93;tr.118-124]; Phan Kỳ Húc với Tìm hiểu Dân tộc Choang và Dân tộc Thái từ Nguồn gốc chung Phân Hóa[99;tr.38-50], qua phương pháp so sánh Địa danh, Tìm hiểu mối Quan hệ Lịch sử Văn hóa giữa Dân tộc Choang và Dân tộc Thái từ Địa danh “Na” và hong tục Canh tác Lúa,
nêu ra địa danh Choang và Thái đều thuộc thế hệ địa danh kiểu đều đầu với mô hình ―từ trung tâm + tính từ‖, thể hiện dân tộc Choang và Thái không những chỉ
có ngôn ngữ cùng gốc, tổ tiên của họ là quần tộc người Việt cổ canh tác ở Lĩnh Nam mà còn sống chung hoặc sống trong khu vực gần nhau, có mối quan hệ chặt chẽ trong lịch sử văn hóa Sở dĩ có sự khác nhau là vì từ thời nhà Tần Hán đến thời Đường Tống theo đà phát triển của lịch sử và trong quá trình di cư phân hóa,
họ sống trong môi trường và đất nước khác nhau, có sự ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai mà dần dần biến đổi Về hướng nghiên cứu này, có thể kể thêm: Tống
Trường Đống với Ý nghĩa văn hóa trong những địa danh Lĩnh
Nam[104;tr.62-66]; Dương Bôn, Lý Bạch Trung với Tìm hiểu Nhân tố Văn hóa Địa danh huyện Lệ Phổ[115;tr.62-66]; Lưu Hướng Trinh về Tìm hiểu sự Truyền
bá Văn hóa Canh tác Đồng Đình từ các Địa danh Trung Quốc và Nhật Bản;
Trương Huệ Vinh với Nghiên cứu và So sánh các Địa danh với Văn hóa canh tác
Trung Quốc và Nhật Bản, v.v
Tóm lại, hiện nay chủ yếu có hai xu hướng nghiên cứu địa danh Choang đang phát triển mạnh mẽ Đó là hướng nghiên cứu chuyên ngành và hướng nghiên cứu liên ngành Trong hướng nghiên cứu chuyên ngành, các nhà khoa học chuyên đi sâu vào lĩnh vực riêng của mình như địa lý học, sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học, v.v… để nghiên cứu địa danh Choang Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu mới về địa danh Choang là nghiên cứu sử dụng kỹ thuật công nghệ điện tử Còn hướng nghiên cứu liên ngành trong nghiên cứu địa danh Choang thì ngày càng được các
Trang 35nhà khoa học chú ý Ví dụ họ nghiên cứu địa danh Choang - Thái bằng các phương pháp kết hợp sử học, ngôn ngữ học, dân tộc học cũng như địa lý học Các nhà khoa học của các lĩnh vực khác nhau cũng cộng tác với nhau nghiên cứu
về địa danh Choang và các đặc điểm văn hóa liên quan Những tư liệu nghiên cứu này rất có giá trị cho những người nghiên cứu sau tham khảo để nghiên cứu địa danh Choang và các vấn đề liên quan tới dân tộc Choang
1.1.5 Tình hình nghiên cứu địa danh Tày - Nùng ở Việt Nam
So với tình hình nghiên cứu địa danh tiếng Choang ở Trung Quốc, số lượng nghiên cứu về địa danh Tày - Nùng ở Việt Nam tương đối ít Đáng chú ý là nhà khảo cổ học, văn hóa học, Trần Quốc Vượng đã bỏ nhiều công sức vào vấn đề
địa danh Tày-Thái cổ trong cuốn sách Việt Nam cái nhìn Địa - Văn hóa (1998)
Trần Quốc Vượng phân tích các địa danh Tày-Thái cổ bằng cách nhìn lịch sử và địa lý văn hóa, đã rút ra nhiều quan niệm độc đáo của mình về những vấn đề liên
quan đến nguồn gốc người tày cổ Việt Nam Hoàng Lương với đề tài Những địa
danh Tày-Thái Cổ ở xung quanh vùng Hà Nội dựa trên cơ sở nghiên cứu về địa
danh Tày cổ của cố Trần Quốc Vượng phân tích ý nghĩa các địa danh Tày-Thái như Ta Lo,Ta Khai, Kẻ Đồng từ gốc đồ phân tích địa lý văn hoá và phong tục tập quán của dân tộc Tày-Thái cổ
Nguyễn Duy Hinh với Về chữ Lạng trong địa danh xứ Lạng trong Tuyển
tập luận văn hội nghị khoa học xứ Lạng Lạng Sơn (năm 1988) Tác giả sử dụng phương pháp địa danh học và địa danh học lịch sử cũng như ngữ âm và ngữ âm lịch sử để giải thích nguồn gốc và sự diễn biến của chữ Lạng trong địa danh Lạng Sơn Đưa ra giả thuyết từ Lạng là một từ Hán-Việt cổ, kết hợp với từ Lũng trong ngôn ngữ Tày-Nùng dưới dạng ngữ âm Hán-Việt cổ, theo ngữ nghĩa cổ, để chỉ địa danh các điểm cư trú Tày/Nùng
Năm 2009, Hội thảo khoa học của chương trình Thái học Việt Nam lần thứ
5 tập trung vào chủ đề: Tìm hiểu, nghiên cứu về địa danh các nhóm, vùng Tày -
Thái ở Việt Nam, và xuất bản Kỷ yếu với chủ đề: Địa danh và những vấn đề lịch
sử-văn hóa của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái Việt Nam Trong đó có
Trang 36phân tích các địa danh Tày-Thái theo từng vùng dân tộc Tày-Thái, theo hướng tiếp cận lịch sử văn hóa Tày/Nùng là một trong những dân tộc chính trong họ các dân tộc Tày-Thái Các địa danh Tày-Nùng cũng được giới thiệu và phân tích
một cách tỉ mỉ trong tập hợp công trình này, như Khám phá một số địa danh
Nùng của Mông Ký Slay, Về địa danh Tày-Nùng của Hoàng Văn Ma, Mấy nhận xét về địa danh ở Lạng Sơn của Vương Toàn Những bài viết này có phân tích về
cội nguồn, ý nghĩa, cấu tạo, đặc trưng định danh và cách chuẩn hóa, v.v… của các địa danh Tày - Nùng
1.2 Cơ sở lý thuyết
Địa danh thuộc về một loại từ vựng trong ngôn ngữ, các hệ thống từ vựng như:
địa danh, nhân danh Tên các tổ chức xã hội v.v… đều thuộc hệ thống tên riêng nằm trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (toponymic) và nhân danh học (athronymic) thuộc bộ môn khoa học có tên là danh xưng học (onomasiologie) Dưới đây, dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi sẽ khái quát một số vấn đề cơ bản của lý thuyết địa danh làm cơ sở cho việc khảo sát hệ thống địa danh thành
phố Sùng Tả và địa danh tỉnh Lạng Sơn
1.2.1 Khái niệm địa danh
Đa số học giả Trung Quốc cho rằng: ―Địa danh là tên gọi của thực thể địa lý Vì
nó có thể khái quát lại các thực thể mang tính địa lý như địa phương, khu vực, địa điểm, địa vật, v.v do thiên nhiên hoặc hoạt động nhân loại tạo thành‖[111; tr.38] Đàm Phượng Dư cho rằng: ―Địa danh là dấu hiệu ngôn ngữ chuyên môn cho một thực thể địa lý trong phương vị và phạm vi khác nhau, là dấu ấn ổn định trong hoạt động của nhân loại‖[96; tr.1]
Nhưng thực ra địa danh không chỉ biểu thị một thực thể, mà còn có thể chỉ một phạm vi địa lý nhất định Và nhiều khi trong các công trình văn học nghệ thuật có những địa danh là hư cấu, trong tình hình đó thì địa danh không phải biểu thị địa lý thực thể
Theo B.A Jutchkjevjtch (Liên Xô): ―Địa danh là một loại từ vựng chuyên môn,
Trang 37khi ngôn ngữ phát triển đến một giai đoạn nhất định mà giai đoạn đó tương đối muộn thì địa danh mới hình thành danh từ phổ thông Các tên gọi địa lý này sau khi tách ra từ từ vựng phổ thông sẽ trở thành một khái niệm trừu tượng thể hiện đặc trưng sự vật địa lý Những từ đó sau khi trở thành địa danh lại có ý nghĩa mới của nó‖[62; tr.9-13]
Quách Cầm Phù cho rằng: ―Địa danh có bốn đặc điểm ngôn ngữ, thứ nhất là mỗi địa danh đều có ý nghĩa tiêu chí; thứ hai là sự hình thành của địa danh là kết quả quy ước của xã hội; thứ ba là cấu tạo địa danh và cấu tạo ngôn ngữ cơ bản nhất trí; thứ tư là sự lưu thông của địa danh gồm có hình thức truyền khẩu và hình thức văn bản Hai hình thức này đa số trường hợp là nhất trí, nhưng cũng có trường hợp không thống nhất‖[73; tr 26-27]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh học đã tiếp cận địa danh từ hai góc
độ khác nhau là nghiên cứu địa danh từ góc độ địa lý – văn hoá và nghiên cứu địa danh từ góc độ ngôn ngữ học Những người nghiên cứu từ góc độ địa lý – văn hoá thiên về phân tích phương thức định danh, phân loại địa danh cũng như chức năng địa danh, v.v… Còn về khái niệm địa danh, họ không nhắc đến hoặc chỉ khái quát đơn giản thôi, ví dụ như Trần Quốc Vượng, Vũ Ngọc Khánh, Bùi Thiết, v.v… Trong đó Nguyên Văn Âu đưa ra khái niệm (Toponymie) để giải thích Địa danh học là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phương.[4; tr.5]
Những người nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học thì chủ yếu dựa vào quan niệm của A.V Superanskaja: Địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi ―những địa điểm, mục tiêu địa lý‖, ―những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể
tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất‖[40; tr.13] Ví
dụ như Nguyễn Kiên Trường: ―Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất‖.[52; tr.23] Từ Thu Mai:
―Địa danh là những từ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất‖[35; tr.19]
Theo Lê Trung Hoa: ―Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên
Trang 38riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều‖[28; tr 8]
Hà Quang Năng đã phân tích một cách hệ thống về khái niệm địa danh, không những xuất phát từ ngôn ngữ học mà còn liên quan đến địa lý học, quan niệm rằng: ―Địa danh chính là những từ, cụm từ được sử dụng để chỉ, để gọi tên các đối tượng, không gian địa lý, các đặc trưng địa hình, địa vật nào đó, theo đó,
nó có tác dụng khu biệt, định vị chính những đối tượng, không gian địa lý, những đặc trưng địa hình, địa vật được gọi tên đó với những đối tượng, không gian địa lý, những đặc trưng địa hình, địa vật xung quanh, môi trường xung quanh‖.[36; tr 8] Xét từ các quan niệm như trên và dựa vào quan niệm của Lý Như Long, theo tác giả: ―Địa danh là một danh từ chuyên môn do cộng đồng xã hội nhất định ước định cho một khu vực nhất định Các địa danh với các loại biệt, các tầng lớp khác nhau trở thành một hệ thống nhất định, những hệ thống này đều có liên quan với môi trường thiên nhiên của khu vực, phản ánh đặc trưng đời sống
xã hội trong lịch sử và hiện thực Địa danh có ý nghĩa ban đầu trong khi định danh, cũng có ý nghĩa đặc trưng sau khi định danh theo đà phát triển và mức độ danh tiếng của khu vực đó giành được, nhưng ý nghĩa cơ bản quan trọng nhất của địa danh vẫn là chỉ rõ phương vị, phạm vi và loại hình địa lý của một khu vực
nhất định‖[81; tr.6]
Chúng tôi có thể tóm lược lại khái niệm địa danh: là một ký hiệu ngôn ngữ của không gian địa lý với vị trí, phạm vi và hình thái đặc trưng nhất định do một nhóm người nhất định trong xã hội quy ước ra, là danh từ riêng nằm trong ngôn ngữ, chịu sự hạn chế của các quy tắc ngôn ngữ, địa danh còn mang tính ổn định
so với những danh từ riêng khác
Như vậy, địa danh có đặc trưng riêng của mình ―Thứ nhất là tính chỉ định, mỗi địa danh đều có sự liên quan đến đối tượng chỉ định, đều là tiêu chí chỉ định của một khu vực hoặc một địa điểm Thứ hai là tính ký hiệu, các từ vựng địa danh khác với từ vựng phổ thông, đa số để mất đi nội hàm của nó và làm một dấu hiệu biểu thị vật khác‖[94; tr.3] Nói một cách chính xác là nội hàm của nó được
Trang 39tạm thời giữ trong địa danh, có khi sẽ hoàn toàn mất đi Thứ ba là phải sử dụng trong một phạm vi tương đối lớn và được một cộng đồng xã hội quy ước ra
1.2.2 Chức năng của địa danh
Địa danh là một hiện tượng văn hóa xã hội phức tạp liên quan đến ngôn ngữ, địa lý, lịch sử, xã hội, văn hóa, dân tộc, v.v… nên chức năng địa danh cũng thể hiện tính đa dạng của nó Chúng ta tổng kết lại có ba chức năng như sau:
Thứ nhất, chức năng xã hội của địa danh
Với chức năng cá thể hóa đối tượng và định danh cho thực thể địa lý hoặc khu vực phạm vi địa lý Trong đời sống hàng ngày mọi người đều không thể tách
ra khỏi địa danh Chúng ta biết là mỗi câu chuyện đều có bốn yếu tố quan trọng,
đó là: thời gian, địa điểm, nhân vật và sự kiện Chính địa điểm phải thông qua địa danh cá thể hóa đối tượng để khu biệt ra đối tượng mới thể hiện ra được
Địa danh cũng là công cụ quản lý hành chính nhà nước Mỗi quốc gia đều quản lý các khu vực trong nước bằng cách phân vùng hành chính từng cấp khác nhau qua việc đặt tên gọi địa danh cho các nơi khác nhau
Thứ hai, chức năng lịch sử của địa danh
Địa danh là hóa thạch sống trong lịch sử nhân loại Chúng ta có thể tìm thấy các chứng cứ về sự kiện, nhân vật lịch sử, hoặc các hoạt động chính trị, văn hóa và quân sự từng xảy ra trong lịch sử Ví dụ: TP Long Châu của TP Sùng Tả
có một làng tên là Nội Doanh 内营, nơi đây có truyền thuyết cho rằng vì Địch Thanh đã từng cắm doanh trại ở đây
Thứ ba, chức năng thể hiện sự diễn biến trong ngôn ngữ văn hóa
Qua sự tìm hiểu kết cấu và các tầng lớp nghĩa của địa danh, chúng ta có thể hiểu biết được quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và sự diễn biến của nó Ngôn ngữ khác nhau thì âm, hình của địa danh sẽ khác nhau, nhưng do có sự tiếp xúc của con người, một số địa danh là một phức thể bao gồm hai hoặc ba ngôn ngữ trở lên Ví dụ:弄埠 Lộng Phụ (chợ hát), từ Lộng là từ gốc Choang, còn Phụ thì là từ Hán cổ
Vì vậy, địa danh không chỉ mang tính xã hội, tính thời đại, tính địa phương
Trang 40và tính dân tộc, mà còn mang tính trường tồn cũng như tính ổn định, nên giữ được rất nhiều thông tin lịch sử
1.2.3 Phân loại địa danh
Phân loại địa danh bằng cách khoa học có ích cho chúng ta tìm hiểu quy luật nội bộ địa danh và cũng có lợi cho việc đi sâu nghiên cứu địa danh một cách
hệ thống Mục đích phân loại địa danh là nhằm phân biệt ra sự khác nhau và giống nhau của nó, tìm hiểu mối quan hệ nội bộ của nó
Giáo trình Cở sở Địa danh học cho rằng,việc phân loại địa danh nên chia
thành ba bước: Trước hết phải xác định mục đích và yêu cầu trong sự phân loại địa danh; Sau đó phải so sánh sự khác nhau và giống nhau của địa danh, phân biệt và quy nạp một cách hợp lý; cuối cùng là lập ra phương án phân loại địa danh [61; tr.77]
Ở Trung Quốc, cách phân loại địa danh của Lý Như Long[80,tr.42] là một
mô hình phân loại khái quát và tương đối hệ thống và hoàn thiện Lý Như Long
có các cách phân loại địa danh như sau:
1.2.3.1 Từ góc độ các đối tượng do địa danh chỉ thị:
Bảng 1.1 Đối tƣợng địa danh
Trong hệ thống phân vùng hành chính các thời đại lịch sử đều có hệ thống riêng của mình