1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU- CHI Ở HUYỆN TRIỆU PHONG TRONG THỜI GIAN ĐẾN

17 415 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu- chi ở huyện triệu phong trong thời gian đến
Tác giả Lê Thị Hồng Bốn
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hải Đường
Trường học Trường Đại Học Quảng Trị
Chuyên ngành Quản lý ngân sách
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 36,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quản lý tài chính ngân sách cần phải tách bạch cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp ngân sách, theo hướng quốc hội quyết định dự toán ngân sách phân bổ ngân sác

Trang 1

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU- CHI Ở HUYỆN TRIỆU PHONG TRONG THỜI GIAN ĐẾN

3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu chi NSNN ở huyện triệu phong trong thời gian đến

Chịu ảnh hưởng của luật nhân sách nhà nước năm 2002, thông tư của bộ tài chính

số 107/2006/TT-BTC ngày 20/11/2006

Quyết toán thực hiện theo thông tư số 59/2003/ TT-BTC ngày 23/6/2003 của bộ tài chính Nghị định số 60/2003/NĐ- CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ

Quyết định số 139/2003/QĐ- TTg ngày 11/7/2003 của thủ tướng chính phủ

Nghị định số 73/2003/NĐ- CP ngày 23/6/2003 của chính phủ ban hành quy chế xem xét quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương

Quyết định số 387/2003/NQ – UBTVQH ngày 17/3/2003 của UBTVQH đối với NSTW

và NSNN

Nghị quyết số 68/2006/QH11 ngày 31/10/2006 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ mười

về dự toán ngân sách nhà nước năm 2007;

Nghị quyết số 69/2006/QH11 ngày 3/11/2006 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ mười về phân bổ dự toán ngân sách trung ương năm 2007;

Nghị quyết số 1051/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 7/11/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tỷ lệ phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Quyết định số 1506/2006/QĐ-TTg ngày 14/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2007;

Quyết định số 85/2006/QĐ – UBND ngày 22/12/2006 của UBND tỉnh Quảng trị

Nghị quyết số 7b/2006/NQ – HĐ ngày 22/12/2006 của Hội đồng nhân dân huyện Triệu Phong về dự toán thu chi và phân bổ ngân sách

Trang 2

Công tác quản lý ngân sách có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Đội ngũ cán bộ tham gia quản lý ngân sách nhà nước, cách thức tổ chức quản lý của chính quyền địa phương, ý thức của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn…

3.2 Mục tiêu và phương hướng tăng cường công tác quản lý thu chi NSNN ở huyện

TP

Mục tiêu năm 2008 đến năm 2010 là huy động các nguồn lực, bảo đảm, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế xã hội; quốc phòng an ninh; góp phần thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Huyện uỷ, HĐND huyện đã đề ra

Dự toán thu chi ngân sách nhà nước được xây dựng dựa vào hệ thống tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách nhà nước năm 2008 Quán triệt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật chống tham nhũng; đảm bảo việc xây dựng dự toán ngân sách, bố trí và sử dụng ngân sách thực sự tập trung, chặt chẽ, chống lãng phí nhằm nâng cao chất lượng dự toán và hiệu quả ngân sách

Trên cơ sở những nguyên tắc trên và số liệu giao kế hoạch thu chi của UBND tỉnh Quảng trị, UBND huyện lập dự toán thu, chi ngân sách năm 2008 với những nội dung như sau:

1/Thu ngân sách:

ST

SS

%

Dự toán năm 2008

T Số Huyệ

TỔNG THU NSNN

146, 8

82.59 5

79.89 7

2.69 8

A TỔNG THU NS ĐỊA BÀN

114, 5

14.47 3

11.77 5

2.69 8

1 Thu từ khu vực ngoài QD

140, 2

4.67

0 4.234 436

Trang 3

Thuế VAT và TNDN

143, 7

4.4

26

4.1

32

2

94

Thuế môn bài

102, 9

2

44

1

02

1

42 Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thu khác ngoài quốc doanh

-

2 Lệ phí trước bạ

124, 4

1.1

00

1.0

51

49

3 Thuế sử dụng dất NN

101, 7

1

31

1

31

3

32

99

2

33

1.0

40

40

1.0

00

6 Thuế chuyển quyền SDĐ

116, 0

70

21

49

7 Thu tiền sử dụng đất

104, 5

6.2

00

6.2

00

8 Tiền thuê đất

137, 6

80

80

9 Thu từ quỹ đất 5% và HLCS

100, 0

7

50

7

50

10 Thu khác

250, 0

1

00

50

50

-

Trang 4

8 2 52

1 Thu trợ cấp cân đối

100, 0

68.0

52

68.0

52

Bảng 1.1

Tổng thu ngân sách Nhà nước: 82.595 triệu đồng

Trong đó thu trên địa bàn: 14.473 triệu đồng (tăng so với dự toán năm 2007: 5.348 triệu đồng) Bao gồm các khoản thu sau:

-Ngành thuế thực hiện: 7.423 triệu đồng

-Thu từ đấu giá QSD đất: 6.200 đồng

-Thu tại xã: 800 triệu đồng

-Thu khác ngân sách: 50 triệu đồng

-Thu bổ sung ngân sách cấp trên: 68.052 triệu đồng

-Thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang để thực hiện cải cách tiền lương: 70 triệu đồng

Kế hoạch tỉnh giao thu ngân sách năm nay tăng so với năm 2007 trên tất cả các nguồn thu: thu từ khu vực ngoài quốc doanh 4.670 triệu đồng tăng so với dự toán năm 2007: 1.970 triệu đồng; lệ phí trước bạ tăng 400 triệu đồng

Thu từ đấu giá QSD đất kế hoạch tỉnh giao 6.200 triệu đồng tăng so kế hoạch tỉnh giao năm 2007 là 3.700 triệu đồng, so với KH huyện năm 2007 là 2.900 triệu đồng, so với thực hiện năm 2007 là 2.750 triệu đồng Nguồn thu này không cân đối vào việc chi ngân sách huyện mà thu đạt bao nhiêu thì được chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tương ứng, đây là nhiệm vụ quan trọng; các ngành, các xã thị trấn cần rà soát lại quỷ đất, điều chỉnh quy hoạch để thực hiện tốt kế hoạch đề ra

Thu tại xã năm nay được duy trì mức củ như năm 2007 là 800 triệu đồng, trong đó thu từ quỹ đất 5% và HLCS : 750 triệu đồng giảm so với năm 2007 là 50 triệu đồng là do quỹ đất 5 % của các xã giảm để bố trí xây dựng các công trình trên địa bàn, thu khác ngân

Trang 5

sách 50 triệu đồng, chỉ tiêu này năm 2007 không ghi thu, do có sự phân cấp quản lý thu tiền phạt vi phạm hành chính do đó bố trí thêm khoản thu vào dự toán năm 2008

2/Chi ngân sách:

- Sự nghiệp nông nghiệp, thuỷ lợi,

- Khắc phục thiên tai

- SN khoa học công nghệ và MT 365

2/ Sự nghiệp giáo dục và đào tạo 43.649

- Sự nghiệp đào tạo, dạy nghề 488

Trang 6

- Đoàn thể 1.124

Trong đó: chi chuyển giao 11.174

Tổng chi ngân sách: 82.595 triệu đồng giảm so với năm 2007: 15.030 triệu đồng chủ yếu

là giảm nguồn thu trợ cấp có mục tiêu

Chi đầu tư phát triển dự kiến giao 10.510 triệu đồng trong đó tỉnh phân cấp 4.100 triệu đồng, chi từ nguồn thu đấu giá QSD đất 6.200 triệu đồng, điều SN kinh tế xã: 210 triệu đồng

Chi thường xuyên: 71.400 triệu đồng Trong đó:

- Chi sự nghiệp kinh tế: 2.126 triệu đồng (bảng phân tích số liệu kèm theo)

- Chi sự nghiệp giáo dục đã bao gồm các khoản chi cho giáo viên mầm non ngoài biên chế theo NQ số 3.5/2004/NQ-HĐ của HĐND tỉnh ( Bao gồm phần tỉnh, huyện, xã)

- Chi sự nghiệp đào tạo tăng so với năm 2007 là 88 triệu đồng đây là khoản tiền lương, các khoản đóng góp và hoạt động thường xuyên của trung tâm dạy nghề tổng hợp huyện mới thành lập

- Chi sự nghiệp y tế chỉ tính phần lương, phụ cấp, các khoản đóng góp cho cán bộ trạm y

tế xã

- Chi sự nghiệp VHTT, ngoài định mức chi thường xuyên còn có định mức chi hoạt động

sự nghiệp 150 triệu đồng và bố trí 50 triệu đồng thực hiện công tác công nhận làng, đơn vị văn hoá, Đài phát thanh truyền hình 50 triệu đồng, TDTT 100 triệu đồng

Trang 7

- Chi đảm bảo xã hội kế hoạch giao: 1.245 triệu đồng bao gồm phân bổ theo đối tượng chính sách; trợ cấp người cao tuổi; trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, các đối tượng chính sách

xã hội theo quy định Nghị định 07/NĐ-CP, kinh phí hoạt động cứu trợ xã hội 150 triệu đồng Định mức trên đã bao gồm duy tu, sửa chữa nghĩa trang Liệt sĩ, các hoạt động đền

ơn đáp nghĩa, hỗ trợ cộng đồng dân cư khắc phục lũ lụt, thiên tai, phòng cháy, chữa cháy, cứu trợ xã hội với tổng số kinh phí 1.110 triệu số kinh phí này chưa tính việc truy lĩnh theo chế độ của Nghị định số 67/2007/NĐ – CP vì đây là nguồn kinh phí mà ngân sách

TW bổ sung như vậy kinh phí còn thiếu chưa bố trí xấp xĩ 3.400 triệu đồng, chi thực hiện

đề án làng không sinh con thứ 3: 25 triệu đồng, kinh phí xoá nhà tạm hộ nghèo: 50 triệu đồng, kinh phí xuất khẩu lao động và giải quyết việc làm: 60 triệu đồng

- Chi quản lý hành chính 6.364 triệu đồng thực hiện tiền lương theo NĐ 93,94/NĐ-CP

- Chi an ninh quốc phòng phân bổ theo kế hoạch của tỉnh và huyện có tăng thêm 10 triệu

để thực hiện nhiệm vụ của Ban chỉ đạo an toàn làm chủ và xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện

- Chi ngân sách xã sẽ chi theo kế hoạch của tỉnh giao và trong chi hành chính vẫn tiếp tục trích 10% tiết kiệm chi thường xuyên để bổ sung chi cải cách tiền lương

- Chi ngân sách xã 13.872 triệu đồng, được giao như KH tỉnh giao Mặt khác năm nay chi quản lý hành chính vẫn giữ nguyên định mức như năm 2007 Chi hoạt động cho cấp uỷ, HĐND, UBND,UMMT xã 10 triệu đồng/xã; chi mua sắm trang thiết bị 5 triệu đồng/xã; chi đào tạo lại cán bộ xã 5 triệu đồng/xã; chi họp 2 kỳ họp HĐND 5 triệu đồng/xã; kinh phí của Ban thanh tra nhân dân: 2 triệu đồng/xã; hoạt động ban giám sát đầu tư cộng đồng theo Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT KH&ĐT-UBMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 2 triệu đồng/xã, ngoài ra hoạt động của Đảng theo QĐ số 84/QĐ – TW và Thông tư số 225/2005/TTLT BTCQTTW – BTC đều đã được cân đối chi NS xã

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu chi NSNN ở huyện Triệu Phong

Để nâng cao chất lượng lập, thẩm định, quyết định và quyết định dự toán, quyết toán ngân sách địa phương, cần tập trung giải quyết tất cả các vướng mắc ở tất cả

Trang 8

các khâu trong quy trình lập, thẩm tra, quyết định dự toán, phê chuẩn quyết toán Bản thân em có những đề xuất sau:

Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý NSNN, xác định rõ mối quan hệ

giữa quốc hội và HĐND; giữa HĐND các cấp ở địa phương trong quy trình quản lý NSNN theo nguyên tắc phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm thông qua việc xoá bỏ cơ chế lồng ghép ngân sách

Tỉnh Quảng Trị nên phân cấp mạnh hơn cho chính quyền địa phương huyện trong hoạt động quản lý chi tiêu công cộng Huyện Triệu Phong là tổ chức đặc biệt thực hiện cung cấp các dịch vụ công phục vụ mọi cơ quan, tổ chức và công dân trong địa phương Chất lượng dịch vụ công phải do huyện Triệu Phong chịu trách nhiệm

Trong quản lý tài chính ngân sách cần phải tách bạch cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp ngân sách, theo hướng quốc hội quyết định dự toán ngân sách phân bổ ngân sách và phê chuẩn quyết toán NSTW HĐND các cấp quyết định dự toán ngân sách, phân bổ ngân sách và phê chuẩn NSĐP cấp mình

Hiện tại, Quốc hội quyết định dự toán NSNN (bao gồm cả NSĐP) theo lĩnh vực chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho địa phương đảm bảo đúng theo các chỉ tiêu do quốc hội quyết định HĐND cấp tỉnh xem xét quyết định lại các chỉ tiêu đã được quốc hội quyết định HĐND cấp dưới lại quyết định lại dự toán, phân bổ dự toán cấp trên

đã giao

Trong quy trình quyết định quyết toán, HĐND cấp dưới quyết định phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp mình lại được tổng hợp trình HĐND cấp trên phê chuẩn lại HĐND tỉnh, thành phố phê chuẩn quyết toán NSĐP lại được Trung ương tổng hợp Trình Quốc hội phê chuẩn lại lần nữa Việc phê chuẩn qua nhiều khâu sẽ không chỉ rõ được trách nhiệm thuộc về cấp nào trước tình trạng chi tiêu ngân sách kém hiệu quả

Xây dựng thời gian biểu về xây dựng, thẩm định dự toán và phân bổ

ngân sách hợp lý hơn

Với cơ chế lồng ghép ngân sách như hiện nay thời gian biểu xây dựng dự toán cần được bắt đầu từ tháng 4 năm trước, việc quyết định dự toán NSNN của Quốc hội phải

Trang 9

được thực hiện trước 1/10 hàng năm mới đảm bảo về thời gian cho việc quyết định ngân sách và phân bổ ngân sách giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách trước 31/12 năm trước Trường hợp bỏ cơ chế lồng ghép, thì thời gian biểu xây dựng dự toán bắt đầu từ tháng 6 như hiện nay là đảm bảo cho các cấp ngân sách thực hiện việc xem xét, thẩm tra và quyết định dự toán, phân bổ dự toán cho đơn vị sử dụng vào trước ngày 31/12 năm trước

Trước mắt, cần tổ chức lại và kéo dài tổng thời gian làm dự toán NSNN; đẩy sớm thời hạn chuẩn bị dự toán lên một vài tháng; bố trí thời gian hợp lý cho các bước, các khâu của quy trình dự toán NSNN

Sở dĩ phải kéo dài thời gian làm dự toán theo hướng đẩy sớm lên mà không kéo dài sang năm sau là vì nhiều lý do, trong đó:

+ Đảm bảo quỹ thời gian vật chất cần thiết để các Uỷ ban của Quốc hội, Quốc hội và HĐND các cấp có thể nghiên cứu, thẩm định, thảo luận kỹ về dự toán ngân sách Điều này càng đúng với hệ thống ngân sách lồng ghép nhiều cấp ở Việt Nam

+ Không kéo dài sang năm sau là để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc chấp hành: Dự toán NSNN phải được cơ quan lập pháp phê chuẩn và ban hành trước khi năm ngân sách được bắt đầu Điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế

Trong mô hình ngân sách lồng ghép ở nước ta, sau khi dự toán NSNN đã được Quốc hội quyết định, Chính phủ và HĐND cấp tỉnh còn phải giao dự toán cho cán bộ, ngành trung ương và các địa phương cấp dưới Việc giao dự toán phải kết thúc trước 31/12 hàng năm Với hệ thống ngân sách nhiều cấp(Trung ương, tỉnh , Huyện, xã) mỗi cấp đều có trách nhiệm và thẩm quyền về ngân sách thuộc phạm vi được quản lý, thì cần thiết phải có khoảng thời gian cần thiết để các cấp HĐND thảo luận, đi đến quyết định các vấn đề của địa phương

Các cấp chính quyền địa phương, cả UBND và HĐND(tỉnh, huyện ,xã) hiện chỉ có

40 ngày (20/11 đến 31/12) để xem xét và cho ý kiến về định mức phân bổ ngân sách và các căn cứ xây dựng dự toán thì quãng thời gian đó là khá ngắn Trong khi khối lượng công việc thẩm định hệ thống các định mức phân bổ ngân sách và những căn cứ xây dựng

dự toán ngân sách cho niên độ mới không phải là ít và có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác

Trang 10

định tổng mức thu, chi, bội chi ngân sách, cũng như định hướng sử dụng và phân bổ ngân sách

Tíêp theo đó, kể từ khi nhận được dự toán do chính phủ lập, Quốc hội nước ta cũng chỉ có gần 1 tháng(20/10 đến 15/11) để thảo luận, quyết định dự toán NSNN và phương

án phân bổ NSTW Như vậy, cho dù UBTVQH và các cơ quan của Quốc hội có tham gia

từ trước vào quy trình dự toán NSNN, thì khoảng thời gian đó cũng là khá ngắn để Quốc hội thảo luận kỹ hoặc điều chỉnh định hướng các vấn đề về dự toán ngân sách

Nếu giữ nguyên mô hình hệ thống NSNN lồng ghép như hiện nay thì nên tổ chức quy trình NSNN theo 2 bước:

Bước 1 Quốc hội quyết định các chỉ tiêu tổng hợp về NSNN như: (i) Tổng thu, tổng chi,

tổng mức bội chi NSNN,(ii) Giới hạn trần chi tiêu của NSTW;(iii) Tổng giới hạn trần của NSĐP;(iv) Tổng số bổ sung từ NSTW cho NSĐP;(v) Định hướng các quyết sách lớn mà trung ương và địa phương phải triển khai; các ưu tiên chủ yếu phải được tổ chức thực hiện…

Bước một được hoàn tất tại kỳ họp đầu năm và được thể hiện bằng một Nghị quyết của Quốc hội Những chỉ tiêu được quyết định trong bước một là những “số lớn”, mang tính

“giới hạn trần”, tạo cơ sở cho các cấp, các ngành bên hành pháp xây dựng dự toán Đồng thời, góp phần củng cố vị thế giám sát của Quốc hội, bảo đảm sự ổn định của tình hình tài chính của nhà nước

Đồng thời với việc đẩy sớm thời gian bắt đầu làm dự toán, cần thiết phải củng cố tổ chức

bộ máy phân tích dự báo, nâng cao trình độ và chất lượng dự báo kinh tế - tài chính nhằm tránh tình trạng phải thay đổi số liệu, hạn chế sự phụ thuộc quá nhiều vào số ước thực hiện năm trước

Bước 2, Quốc hội tập trung thảo luận về các quyết sách, các ưu tiên, các biện pháp lớn, cụ

thể, có liên quan đến cả nước; thảo luận chi tiết và quyết định phương án phân bổ NSTW cho các Bộ, ngành

Bước 2 có thể hoàn tất trong kỳ họp cuối năm của Quốc hội; kết quả được thể hiện bằng Nghị Quyết/Luật về dự toán ngân sách hàng năm Quốc hội cũng có thể quyết định điều

Trang 11

chỉnh một số chỉ tiêu đã xác định trong bước 1 nhưng phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn

và không nên hình thành như một cơ chế định sẵn

Việc xem xét, quyết định ngân sách theo hai bước sẽ tạo ra một khoảng thời gian hợp lý cho cả Quốc hội và các HĐND địa phương chuẩn bị, thảo luận, quyết định và phân

bổ dự toán ngân sách của thuộc thẩm quyền, sau khi những chỉ tiêu lớn, những định hướng lớn liên quan đến ngân sách đã được quyết định ở bước thứ nhất Đồng thời, cũng tạo điều kiện cho việc chuẩn bị tốt hơn các phương án phân bổ NSTW

Việc đề xuất quy trình 2 bước quyết định dự toán và kéo dài thời gian xây dựng dự toán ngân sách nằm trong phạm vi cho phép của pháp luật NSNN hiện hành nên nếu áp dụng thì cũng phải sửa đổi luật, chỉ cần điều chỉnh, hoặc ban hành các văn bản từ cấp nghị quyết của UBTVQH, Nghị định của Chính phủ trở xuống là đủ cơ sở pháp lý

Về lâu dài, cần nghiên cứu thay đổi hoặc giảm nhẹ tính lồng ghép của hệ thống NSNN

Lý do cơ bản là khi tính lồng ghép giữa các cấp ngân sách càng giảm thì một mặt

sẽ giảm bớt các nấc thang trung gian, tăng quyền chủ động thực sự của các cấp ngân sách thống nhất trong hệ thống NSNN Việc chi phối cấp thấp hơn nhằm kiểm soát tình hình, đảm bảo công bằng giữa các vùng lãnh thổ hoặc để thực hiện các mục tiêu chính trị khác, nên được thực hiện qua cơ chế giám sát, cơ chế điều hoà thu, chi hoặc cấp bổ sung ngân sách; không nên kiểm soát qua quy trình ngân sách lồng ghép Đồng thời, làm như vậy cũng là để tạo ra một khoảng thời gian cần thiết, hợp lý, giảm tính tuần tự, chồng chéo về công việc cho các cấp chính quyền địa phương, mỗi cấp có đủ và đủ chủ động hơn về thời gian để bàn sâu về dự toán và phân bổ NSĐP

Dù thiết kế hoàn thiện theo hướng nào thì điều quan trọng là cần tiến tới một quy trình ngân sách được công bố công khai và Dự toán NSNN, sau khi được cơ quan lập pháp phê duyệt, gồm dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW, dự toán NSĐP và phương án phân bổ NSĐP các cấp, cũng được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây là một hình thức dân chủ hoá trong quy trình NSNN nói chung

và NSĐP nói riêng Điều đó, vừa đảm bảo được phát huy tinh dân chủ ở cơ sở, vừa góp

Ngày đăng: 19/10/2013, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 - MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU- CHI Ở HUYỆN TRIỆU PHONG TRONG THỜI GIAN ĐẾN
Bảng 1.1 (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w