Bài báo giới thiệu cấu trúc tay máy song song có các dẫn động phân bố bên ngoài không gian làm việc – một loại tay máy song song mới đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Đồng
Trang 1Mô hình hóa vùng làm việc robot song song
có các chuỗi động phụ
Tóm tắt: Bài báo giới thiệu cấu trúc tay máy song song có các dẫn động phân bố bên ngoài không
gian làm việc – một loại tay máy song song mới đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Đồng thời, bài báo cũng trình bày cách sử dụng phương pháp vector để tiến hành giải bài toán động học của loại tay máy song song này và từ đó tiến hành mô hình hóa vùng làm việc của loại tay máy này dựa trên phương pháp khảo sát không gian tham số
Từ khóa: tay máy song song, chuỗi động phụ, động học, phương pháp vector, mô hình hóa vùng
làm việc, phương pháp khảo sát không gian tham số
1 Giới thiệu
Ngày nay, các kỹ thuật robot với sự hỗ trợ
của máy tính đã đáp ứng được độ chính xác cao,
thời gian thu nhận và xử lý các tín hiệu nhanh
chóng, tin cậy, đã làm tăng năng suất lao động,
hạn chế các tai nạn và độc hại cho con người…
Khác hẳn với robot nối tiếp là loại robot liên
tiếp có kết cấu hở được liên kết với các khâu
động học và được điều khiển tuần tự hoặc song
song thì robot song song là cơ cấu vòng kín
trong đó khâu tác động cuối được liên kết với
nền bởi ít nhất là hai chuỗi động học độc lập
Robot song song có được những ưu điểm
sau: độ cứng vững cơ khí cao, khả năng chịu tải
cao, gia tốc lớn, khối lượng động thấp và kết
cấu đơn giản Với những ưu điểm trên, robot
song song đã được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh
vực như y học, thiên văn học, trắc địa, máy mô
phỏng, các máy công cụ…
Tay máy song song có các dẫn động phân bố
bên ngoài không gian làm việc là một cấu trúc
mới của loại tay máy song song, đang thu hút
nhiều sự nghiên cứu của các nhà khoa học
Trong bài báo này, tác giả tiến hành nghiên
cứu động học của loại tay máy song song có các
dẫn động phân bố bên ngoài không gian làm
việc bằng cách sử dụng phương pháp vector và
tiến hành mô hình hóa vùng làm việc của loại
tay máy này bằng phương pháp khảo sát không
gian tham số
2 Tay máy song song có các chuỗi động phân
bố bên ngoài không gian làm việc
Tay máy song song có các dẫn động phụ phân bố bên ngoài không gian làm việc là tay máy gồm tấm dịch chuyển và bệ cố định Bệ cố định và tấm dịch chuyển được nối với nhau bởi
3 chuỗi động chính bởi các khớp cầu Mỗi chuỗi động chính gồm phần trên và phần dưới nối với nhau bằng khớp lăng trụ
Ngoài ra, tay máy song song này còn có 3 chuỗi động nối bệ cố định với các chuỗi động chính 3 chuỗi động phụ này cũng là các khớp lăng trụ
O
P
x y z
u v w
A 1
A 2
A 3
B 1
B 2
B 3
C 1
C 2
C 3
D 1
D 2
D 3
Hình 1: Tay máy song song có các chuỗi động phân bố bên ngoài không gian làm việc
3 Số bậc tự do của cơ cấu
Để tính bậc tự do của cơ cấu, ta sử dụng công thức:
F = λ n − 1 − ji=1ci (1) với
- F là số bậc tự do của cơ cấu
Trang 2- là số bậc tự do trong không gian làm việc
của cơ cấu
- n là số khâu trong cơ cấu, kể cả khâu cố định
- j là số khớp trong cơ cấu, giả sử mọi khớp
đều là 2 chiều
- ci là số số ràng buộc của khớp i
Hoặc
F = λ n − j − 1 + fi i (2)
với fi là số chuyển động tương đối được phép
của khớp i
Đối với tay máy song song có các dẫn động
phân bố bền ngoài không gian làm việc, ta có:
- Cơ cấu thực hiện được 6 chuyển động trong
không gian, nên = 6
- Cơ cấu gồm: bệ, tấm dịch chuyển, 6 chuỗi
động, mỗi chuỗi động gồm 2 khâu, nên n = 14
- Cơ cấu có 6 khớp lăng trụ và 12 khớp cầu
nên j = 18
Vậy F = 6(14 – 18 – 1) + 42 = 12
Do cơ cấu có 6 bậc tự do thụ động liên
quan đến 6 chuỗi động nên tấm dịch chuyển chỉ
có 6 bậc tự do
4 Động học đảo
Hai tọa độ Descartes A(x,y,z) và B(u,v,w)
được gắn tương ứng vào bệ cố định và tấm dịch
chuyển (hình 1) Các điểm A1, A2, A3, A4, A5 và
A6 nằm trên mặt phẳng x-y, các điểm B1, B2và
B3 nằm trên mặt phẳng u-v Trên hình 2, gốc O
hệ tọa độ cố định được định vị tại trọng tâm của
tam giác A1A2A3 và tam giác C1C2C3; trục x
cùng chiều với OA1 và OA4 Tương tự, gốc P
của hệ tọa độ chuyển động tại trọng tâm tam
giác B1B2B3 và trục u cùng hướng với PB1 Các
tam giác A1A2A3, A4A5A6 và B1B2B3 là các tam
giác đều với OA1 = OA2 = OA3 = h, OC1 = OC2
= OC3 = g và PB1 = PB2 = PB3 = q
C 1
C 2
C 3
A 2
A 3
B 1
B 2
B 3
q
u x
h
(a) Bệ cố định (b) Tấm dịch chuyển
Hình 2: Sơ đồ bố trí các điểm kềm chặt trên bệ
cố định và trên tấm dịch chuyển Biến đổi từ tấm dịch chuyển đến bệ cố định được mô tả bằng vector vị trí p = OP và ma trận quay 3x3 là ARB Gọi u, v và w là 3 vector đơn
vị của 3 trục tọa độ u, v và w; ma trận quay biểu diễn theo Roll-Pitch_Yaw của u, v và w là:
A
RB =
𝑢𝑥 𝑣𝑥 𝑤𝑥
𝑢𝑦 𝑣𝑦 𝑤𝑦
Gọi ai và Bbi là vector vị trí điểm Ai và Bi trong hệ tọa độ A và B tương ứng Tọa độ Ai và
Bi được cho theo:
a2 = −12ℎ, 32 ℎ, 0 T
(5)
a3 = −12ℎ, − 32 ℎ, 0 T
(6)
c2 = −12𝑔, 32 𝑔, 0 T
(8)
c3 = −12𝑔, − 32 𝑔, 0 T
(9)
B
B
b2 = −12𝑞, 32 𝑞, 0 T
(11)
B
b3 = −12𝑞, − 32 𝑞, 0 T
(12)
Trang 3bi
l i
ci
ai
l
O
P
Ai
Bi
Ci
Di
Hình 3: Sơ đồ vector các chuỗi động
Phương trình vector vòng với nhánh thứ i (i =
1 3) như sau:
- 𝐴 = 𝑂𝑃𝑖𝐵𝑖 + 𝑃𝐵 - 𝑂𝐴𝑖 𝑖
li = p + ARBBbi – ai (13)
- 𝑂𝐴 + 𝐴𝑖 = 𝑂𝐶𝑖𝐷𝑖 + 𝐶𝑖 𝑖𝐷𝑖
di = ai + l – ci = ai - 𝑙𝑙
𝑖
A
RBBbi - ci (14) Biết vector vị trí p và ma trận quay ARB của
hệ tọa độ B ứng với A, cần tìm chiều dài của 3
chuỗi động chính li (i = 1 3) và chiều dài của 3
chuỗi động phụ di (i = 1 3)
Để tính chiều dài của 3 chuỗi động chính li (i
= 1 3), từ phương trình (13), ta được:
li2 = (p + ARBBbi – ai)T(p + ARBBbi – ai) (15)
Để tính chiều dài của 3 chuỗi động phụ di (i
= 1 3), từ phương trình (14), ta được:
di2= (ai - 𝑙𝑙
𝑖
A
RBBbi - ci)T(ai - 𝑙𝑙
𝑖
A
RBBbi - ci) (16)
Ta tiến hành khảo sát tay máy song song có
các thông số cấu trúc h = 5 (m), g = 8 (m), q = 4
(m) và các thông số khảo sát động học p =
(0;0;5), các góc quay = 0o, = 0o và = 0o Ta
thu được chiều dài của các chuỗi động là l1 =
5,09 (m), l2 = 5,09 (m), l3 = 5,09 (m), l4 = 2,97
(m), l5 = 2,97 (m) và l6 = 2,97 (m), mô hình tay
máy song song tại vị trí và góc hướng này được thể hiện ở hình 4
Hình 4: Mô hình tay máy có vị trí tâm tấm dịch
chuyển là (0;0;5) và góc quay là = = = 0o
Ta tiếp tục tiến hành khảo sát tay máy trên tại
vị trí p = (1;2;4) và các góc quay là = /12,
= /8, = /6, ta thu được chiều dài của các chân là l1 = 4,64 (m), l2 = 5,62 (m), l3 = 5,62 (m), l4 = 2,99 (m), l5 = 3,09 (m) và l6 = 2,46 (m) (hình 5)
Hình 5: Mô hình tay máy có vị trí tâm tấm dịch
chuyển là (1;2;4) và góc quay là = /12, =
/8, = /6
5 Phương pháp điều tra không gian tham số
Phương pháp điều tra không gian tham số là phương pháp mà vùng không gian khảo sát được chia thành lưới các điểm (hay còn gọi là các nút) cố định theo hệ tọa độ Descartes hoặc theo hệ tọa độ cầu Tại các nút ấy, ta coi nút ấy
là tâm của khâu tác động cuối (tâm của tấm dịch chuyển) và tiến hành kiểm tra các ràng buộc,
Trang 4nếu thỏa thì nút ấy thuộc vùng vùng làm việc
Cụ thể các bước tiến hành như sau:
- Bước 1: Xác định vùng không gian khảo sát
Ta xác định khối hình hộp mà ta dự đoán rằng
vùng làm việc của tay máy sẽ nằm trong khối
hình hộp đó Sau đó ta chia khối hình hộp ấy
thành các nút Khoảng cách của các nút hoàn
toàn phụ thuộc số bước quét, số bước quét càng
lớn thì khoảng cách giữa 2 nút liền kề nhau càng
nhỏ, độ chính xác cũng tăng theo số bước quét
Nhưng đồng thời việc xử lý của chương cũng sẽ
kéo dài do số nút tăng lên khá đáng kể
- Bước 2: Ta lần lượt xét các nút Xem tọa độ
của nút chính là tọa độ tâm của tấm dịch
chuyển Ta giải bài toán động học ngược, kiểm
tra xem các điều kiện ràng buộc có thỏa mãn
hay không, nếu tất cả các điều kiện đều thỏa
nghĩa là nút ấy thuộc vùng làm việc của tay
máy, còn nếu có bất kỳ một điều kiện ràng buộc
không được thỏa mãn thì nút ấy không thuộc
vùng làm việc
Trong phạm vi bài viết này, ta chỉ xét đến 2
ràng buộc: ràng buộc về chiều dài của các chân
chính và ràng buộc về chiều dài của các chân
phụ Trên thực tế, còn rất nhiều ràng buộc khác
như là góc giới hạn của các khớp quay, sự giao
nhau của các chân
6 Vùng làm việc
Vùng làm việc có góc hướng hằng là vùng
mà vị trí tâm tấm dịch chuyển của robot có thể
đạt được với góc hướng cố định [3]
Ta tiến hành mô hình hóa vùng làm việc có
góc hướng hằng của tay máy song song có các
dẫn động phụ phân bố bên ngoài vùng làm việc
được mô tả ở phần 3 với các thông số khảo sát
sau: giới hạn của các chuyển động chính là [3
7]; giới hạn của các chuyển động phụ là [2 4];
giới hạn vùng quét trên Ox, Oy là [-6 6] và Oz
là [0 6]; = 0o, = 0o và = 0o; số bước quét
trên Ox, Oy và Oz là 10
Chương trình sẽ tiến hành khảo sát 1.331 cấu
hình và vùng làm việc thu được 522 điểm và
thời gian xử lý là 0,21 (s), mô hình vùng làm việc được thể hiện ở hình 6
Hình 6: Mô hình vùng làm việc
tại bước quét là 10
Ta tiếp tục khảo sát tay máy trên với bước quét trên các trục là 20, 30, 40 và 50 để xem xét ảnh hưởng của bước quét đến vùng làm việc Kết quả khảo sát như sau:
a Bước quét 20
b Bước quét 30
c Bước quét 40
Hình 7: Mô hình vùng làm việc tại các bước
quét khác nhau Bảng khảo sát:
Bước quét
Số cấu hình khảo sát
Số điểm trong vùng làm việc
Thời gian
xử lý
Trang 5Ta tiến hành khảo sát ảnh hưởng của các góc
quay đến vùng làm việc góc hướng hằng Ta
thực hiện với bước quét trên các trục Ox, Oy và
Oz là 20 với các góc quay lần lượt là 0, /12,
/8 và /6 Kết quả khảo sát:
Góc quay Số điểm trong vùng làm việc
a Góc quay là /12
b Góc quay là /8
Hình 8: Vùng làm việc tại các góc quay
khác nhau Qua các bước khảo sát trên, ta nhận thấy:
- Số bước quét ảnh hưởng đến số điểm trong
vùng làm việc và thời gian xử lý
- Góc quay ảnh hưởng đến số điểm trong vùng
làm việc
7 Kết luận
Trong bài báo này, tác giả đã giới thiệu một
loại tay máy song song mới, đó là loại tay máy
có các chuỗi động phân bố bên ngoài không
gian làm việc Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tiến
hành nghiên cứu giải bài toán động học của
robot này Tác giả đã tìm ra các công thức tính
chiều dài của các chuỗi động trong robot song
song này Đồng thời, tác giả đã ứng dụng
phương pháp điều tra không gian tham số để
khảo sát và mô hình hóa vùng làm việc góc
hướng hằng và góc hướng thay đổi của loại tay máy này
Qua quá trình thực hiện, ta nhận thấy việc xác định vùng làm việc bằng phương pháp điều tra không gian tham số có những đặc điểm sau:
- Cho phép xác định vùng làm việc với tất cả các điều kiện ràng buộc, mà cụ thể trong bài này
là ràng buộc về chiều dài của các chuỗi động học Nếu ta xét thêm các ràng buộc như giới hạn góc quay của các khớp cầu, sự va chạm giữa các chuỗi động học thì ta chỉ cần bổ sung vào điều kiện kiểm tra trong giải thuật là được
- Độ chính xác phụ thuộc vào số bước lấy mẫu dùng để tạo lưới không gian
- Thời gian tính toán cũng tăng theo số bước lấy mẫu làm ảnh hưởng đến độ chính xác và độ nhanh tính toán của giải thuật
- Vùng làm việc được thể hiện bằng số lượng lớn các điểm nên dung lượng lưu trữ rất lớn và đòi hỏi nhiều thời gian xử lý của máy tính
Từ giải thuật trên, ta có thể tiếp tục nghiên cứu để xây dựng các quỹ đạo làm việc của tay máy
8 Tài liệu tham khảo
[1] Trần Thế San, Cơ sở nghiên cứu & sáng tạo robot, Nhà xuất bản Thống kê, 2003
[2] Stewart D., A platform with 6 degrees of freedom, Proc Of the Institution of mechanical
engineers, 180 (Part 1, 15):371-386, 1965
[3] Jean - Pierre Merlet, Parallel Robots,
Kluwer Academic Publishers, 2000
[4] Trần Công Tuấn, Nguyễn Minh Thạnh, Mô hình hóa vùng làm việc của tay máy song song
có các dẫn động phụ phân bố bên ngoài vùng làm việc bằng phương pháp điều tra không gian tham số, Tuyển tập báo cáo khoa học kỷ niệm
25 năm thành lập Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa, trang 77-91, 2010
[5] Hồ Đắc Hiền, Giải bài toán động học ngược cơ cấu Hexapod 6 CTC, Hội nghị toàn
quốc lần 1 về Cơ Điện tử, Hà Nội, 2002
Trang 6[6] Nguyen Minh Thanh, Victor Glazunov, Tran
Cong Tuan, Nguyen Xuan Vinh, Multi-criteria
optimization of the parallel mechanism with
actuators located outside working space, The
11th International Conference on Control,
Automation, Robotics and Vision, IEEE 2010,
December 7-10, 2010, Singapore, (accepted)
[7] L Guan, Y Yun, J Wang and L Wang,
Kinematics of a Tricept-like parallel robot,
2004 IEEE International Conference on
Systems, Man and Cybernetics, pp 5312–5316,
October 10–13, 2004
[8] Wisama Khalil, Ouarda Ibrahim (2007),
General Solution for the Dynamic Modeling of Parallel Robots, Journal of Intelligent and
Robotics Systems, Vol 49, Issue 1, pp 19-37,
2007
[9] Nguyễn Minh Thạnh, Nguyễn Ngọc Lâm,
Trần Công Tuấn, Nguyễn Công Mậu, Xây dựng bài toán loại trừ dịch chuyển không-điều khiển trong vùng đặc biệt của tay máy song song, Tạp
chí Khoa học giáo dục kỹ thuật Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM số 5 (3/2007), trang 43-47, 2007